1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

thiết kế và sử dụng trắc nghiệm khách quan trong môn tin học thpt

47 492 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế và sử dụng trắc nghiệm khách quan trong môn tin học THPT
Tác giả Nguyễn Thế Dũng
Trường học Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
Chuyên ngành Tin học THPT
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2006
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 550,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá thường do các chuyên gia trắc nghiệm soạn thảo, thử nghiệm, tu chỉnh, mỗi câu trắc nghiệm được gắn với các chỉ số cho biết thuộc tính và chất lượng của nó độ

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Nguyễn Thế Dũng

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG MÔN TIN HỌC THPT

HUẾ 2-2006

Trang 3

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

TRONG MÔN TIN HỌC THPT

I Một số vấn đề về kiểm tra và đánh giá kết quả học tập

I.1 Kiểm tra, đánh giá là một bộ phận quan trọng của quá trình giáo dục

Bất kỳ một quá trình giáo dục nào mà một con người tham gia cũng nhằm tạo ra những biến đổi nhất định trong con người đó Muốn biết những biến đổi đó xảy ra ở mức

độ nào phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất định Sự đánh giá cho phép chúng ta xác định, một là mục tiêu giáo dục được đặt ra có phù hợp hay không

và có đạt được hay không, hai là việc giảng dạy có thành công hay không, người học có tiến bộ hay không

Trước hết xin đưa ra đây một số khái niệm cơ bản của đánh giá trong giáo dục [34]

PP trắc nghiệm có thể là khách quan (objective) hoặc chủ quan (subjective)

Đánh giá

Evaluation (đánh giá) là việc nhận định sự xứng đáng của một cái gì đó, chẳng hạn việc đánh giá một chương trình, một nhà trường, một chính sách Lượng giá người học thường là các thành tố của đánh giá giáo dục Đánh giá có thể là định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (qualitative) dựa vào các ý kiến và giá trị

Trong các tài liệu về khoa học đo lường và đánh giá, những định nghĩa và phân loại nêu trên đây chưa phải thật thống nhất và rạch ròi

Dù sao, việc đánh giá nói chung phải được xem là một bộ phận quan trọng và hợp thành một thể thống nhất của quá trình giáo dục

Trang 4

I.2 Ý nghĩa và các yêu cầu đối với kiểm tra đánh giá [39]

Chất lượng Giáo dục thể hiện qua năng lực người học sau khi hoàn thành khoá học hay bậc học Bốn thành tố tạo nên chất lượng năng lực đó là: 1- Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được học; 2- Kỹ năng kỹ xảo được huấn luyện; 3- Năng lực nhận thức

và năng lực tư duy được đào tạo và 4 - Phẩm chất nhân văn được rèn luyện

Khoa học đo lường và đánh giá giáo dục thường phân các cuộc thi theo 3 loại: Loại thứ 1- Thi để xác nhận mức độ tiếp thu môn học (thi kết thúc môn học) Đề thi khi đó tập trung kiểm tra kiến thức để đánh giá xem người học có năng lực nhận thức hoặc kỹ năng kỹ xảo thuộc môn học đạt đến mức độ nào (theo Bloom), về nhận thức có 6 bậc: nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá; về kỹ năng kỹ xảo có 5 bậc: bắt chước, hoàn thành, chuẩn hoá, phối hợp và tự động hoá

Loại thứ 2- Thi để chứng nhận trình độ học vấn (thi hết khoá) Đề thi khi đó mang tính chất tổng hợp, nhiều môn, bao quát toàn bộ chương trình hoá học Tuỳ theo trình độ

và bậc học, tuỳ theo yêu cầu chất lượng mà nhằm đánh giá kiến thức là chính (tốt nghiệp phổ thông) hay đánh giá năng lực là chính (tốt nghiệp khoá huấn luyện)

Loại thứ 3- Thi để tuyển chọn (thi học giỏi, thi tuyển sinh, thi tuyển nhân sự) Đề thi khi đó nhằm đánh giá năng lực theo đúng các tiêu chí tuyển chọn dự kiến Không phải một cuộc thi lúc nào cũng chỉ nhằm một mục tiêu, mà có thể nhằm đồng thời hai, ba mục tiêu Khi đó đương nhiên đề thi phải ra như thế nào để đáp ứng cùng một lúc các mục tiêu của cuộc thi đó

Một đề thi, có thể bao gồm một vài câu hỏi (thường là câu tự luận) hoặc từ vài chục đến hơn một trăm câu hỏi (thường là câu trắc nghiệm) và luôn có bốn chỉ số chính liên quan mật thiết với nhau, dùng để đánh giá đề thi đạt hay không đạt yêu cầu, đó là độ khó,

độ phân biệt, độ giá trị và độ tin cậy Độ khó thường được tính qua tỷ lệ thí sinh làm đúng Độ phân biệt thường được tính qua hiệu số giữa tỷ lệ thí sinh khá làm đúng và tỷ lệ thí sinh kém làm đúng (phân biệt giữa thí sinh khá và thí sinh kém) Tuỳ theo mục tiêu cuộc thi mà yêu cầu cao hay thấp về hai chỉ số này Thi để đánh giá tiếp thu môn học và trình độ học vấn thì độ khó và độ phân biệt không cần cao và thang điểm đánh giá khi đó không cần quá chi tiết (thang điểm 4 mức: A,B,C và D, hay thang điểm 10 mức như trước đây nước ta đã dùng là đủ) Nhưng thi để tuyển chọn thì lại cần độ khó và độ phân biệt cao và thang điểm phải chi tiết (thang điểm 100 hay 800 điểm, như nhiều nước hiện nay đang sử dụng)

Có hai cách điều chỉnh độ khó và độ phân biệt cho phù hợp với mục tiêu cuộc thi Một là phải xây dựng ngân hàng câu hỏi thi chuẩn, có độ khó và độ phân biệt phù hợp với mục tiêu qua các cuộc thi thăm dò các nhóm người thi tiêu biểu rồi mới lấy ra làm đề thi Hai là không cần ngân hàng câu hỏi thi chuẩn, ra đề và cho thi rồi thay đổi đáp án cho

có độ khó và độ phân biệt phù hợp với những người dự thi

Trong thực tế, chúng ta áp dụng cách thứ hai vì nó dễ tiến hành, hơn nữa về mặt biểu kiến thì thấy trước mắt ít tốn kém hơn cách thứ nhất mà vẫn đạt mục đích của cuộc thi Tuy nhiên với các cuộc thi dùng đề thi tự luận như hiện nay kéo theo những bất cập của đề thi tự luận, đó là độ giá trị và độ tin cậy thấp (vì đánh giá kém chính xác), tốn công sức và thời gian chấm (đấy mới là tốn kém thực và rất lớn thì lại không thấy) Cũng

Trang 5

vì vậy, lâu nay đã có nhiều khuyến cáo nên dùng ngay đề thi trắc nghiệm khách quan để giảm bớt các bất cập của các đề thi tự luận như đã nêu trên

Mặt khác do không nắm vững thang bậc chất lượng của sản phẩm giáo dục nên phần lớn đề thi đánh giá tiếp thu môn học trong nhà trường hiện nay chủ yếu nhằm đánh giá ở mức nhận thức thấp, tức là kiểm tra thuộc kiến thức là chính (biết, hiểu và vận dụng) nên người học có thể quay cóp mà không cần tư duy để trả lời (nói một cách khác là dạy và học đều không cần tư duy) Điều đó lý giải vì sao tiêu cực trong thi cử nhiều, điểm số cao nhưng năng lực không cao, sản phẩm giáo dục và đào tạo chất lượng còn thấp Do đó, chúng ta cần nhanh chóng đổi mới mục tiêu của đề thi nhằm đánh giá năng lực nhận thức (mang tính chất lượng) chứ đừng chỉ đánh giá thuộc kiến thức (mang tính số lượng) của người học làm chính như hiện nay

I.3 Phân loại các hình thức trắc nghiệm [35]

Về cách chuẩn bị đề trắc nghiệm, có thể phân chia thành trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá

và trắc nghiệm dùng ở lớp học

- Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá thường do các chuyên gia trắc nghiệm soạn thảo, thử nghiệm, tu chỉnh, mỗi câu trắc nghiệm được gắn với các chỉ số cho biết thuộc tính và chất lượng của nó (độ khó, độ phân biệt, nội dung và mức độ kỹ năng phản ánh), mỗi đề thi trắc nghiệm có gắn với một độ tin cậy xác định, ngoài ra có những chỉ dẫn cụ thể về cách triển khai trắc nghiệm và giải thích kết quả trắc nghiệm

- Trắc nghiệm dùng ở lớp học (hoặc trắc nghiệm do GV soạn) là trắc nghiệm do GV

tự viết để sử dụng trong quá trình giảng dạy, có thể chưa được thử nghiệm và tu chỉnh công phu, thường chỉ sử dụng trong các kỳ kiểm tra với số lượng học sinh không lớn và không thật quan trọng

Về việc đảm bảo thời gian để làm trắc nghiệm, có thể phân chia loại trắc nghiệm theo tốc độ và trắc nghiệm không theo tốc độ

- Trắc nghiệm theo tốc độ thường hạn chế thời gian, chỉ một ít thí sinh làm nhanh mới có thể làm hết số câu của bài trắc nghiệm, nhằm đánh giá khả năng làm nhanh của thí sinh

- Trắc nghiệm không theo tốc độ thường cung cấp đủ thời gian cho phần lớn sinh có thể kịp suy nghĩ để làm hết bài trắc nghiệm

Về phương hướng sử dụng kết quả trắc nghiệm, có thể phân chia ra trắc nghiệm theo chuẩn (norm-referrenced test) và trắc nghiệm theo tiêu chí (criterion-referrenced test)

- Trắc nghiệm theo chuẩn: là trắc nghiệm được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các các nhân khác cùng làm một bài trắc nghiệm

- Trắc nghiệm theo tiêu chí: là trắc nghiệm được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với một tiêu chí xác định nào đó cho trước

I.4 Các PP đánh giá trong chương trình phổ thông [35]

Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học hoặc để tuyển chọn một số

người có năng lực nhất vào học một khoá học

Trang 6

Có thể phân chia các PP trắc nghiệm ra làm 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết

I.4.1 Loại quan sát giúp xác định những thái độ, những kỹ năng thực hành hoặc

một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu

I.4.2 Loại vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người học

là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phản ứng khi phỏng vấn, thường dùng để kiểm tra miệng,…

I.4.3 Loại viết thường được sử dụng nhiều nhất, vì nó có những ưu điểm sau:

- Cho phép kiểm tra nhiều học sinh một lúc

- Cho phép học sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời

- Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao

- Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh để dùng khi chấm

- Người ra đề không nhất thiết phải tham gia chấm bài

Trắc nghiệm viết được chia thành 2 nhóm chính

Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm buộc trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự trình bày

ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra Người ta gọi trắc nghiệm theo kiểu này là kiểu tự luận (essay) Thi, kiểm tra tự luận rất quen biết với tất cả

Trắc nghiệm tự luận

Nhiều lựa chọn

Trắc nghiệm khách quan

Trả lời ngắn

Điền khuyết

Đúng sai

Tiểu luận

Trang 7

học sinh Các bài kiểm tra thực hành trên máy vi tính rất đặc thù của môn Tin học - THPT có thể được xem là hình thức trắc nghiệm tự luận

Nhóm các câu trắc nghiệm mà trong đó đề thi thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu Người ta thường gọi nhóm các câu trắc nghiệm này là trắc nghiệm khách quan (objective test) Trắc nghiệm khách quan tuy còn mới trong nhà trường ở nước ta nhưng đã khá phổ biến trong xã hội

PP tự luận thường được dùng trong các trường hợp sau:

1 Khi thí sinh không quá đông

2 Khi muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt

3 Khi muốn tìm hiểu ý tưởng của thí sinh hơn là khảo sát kết quả học tập

4 Khi có thể tin tưởng khả năng chấm bài tự luận của GV là chính xác

5 Khi không có nhiều thời gian soạn đề nhưng có đủ thời gian để chấm bài

Còn PP trắc nghiệm khách quan nên dùng trong những trường hợp sau:

1 Khi thí sinh rất đông (chẳng hạn thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh toàn quốc)

2 Khi muốn chấm bài nhanh

3 Khi muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm bài

4 Khi phải coi trọng yếu tố công bằng, vô tư, chính xác và muốn ngăn chặn sự gian lận trong thi cử

5 Khi muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt và giảm thiểu sự may rủi

II Trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánh giá môn tin học THPT

Trong các phần dưới đây chúng ta sẽ thảo luận các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan, ưu nhược điểm của từng loại và các kỹ thuật viết các loại câu hỏi đó thông qua các

ví dụ minh họa là các câu hỏi trong môn Tin học THPT Nếu không có sự nhầm lẫn, chúng ta sẽ gọi tắt trắc nghiệm thay cho trắc nghiệm khách quan (TNKQ)

Trắc nghiệm khách quan có thể chia làm 4 loại chính [24]:

II.1 Loại câu hỏi trắc nghiệm "đúng - sai"

Loại này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và học sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn một trong hai phương án thường là: đúng (Đ) hay sai (S) Có thể thay chữ

"đúng" , "sai" bằng cách chữ "giống nhau" - "khác nhau", mạnh" - "yếu" hoặc "lớn hơn' -

Trang 8

- Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện Có thể đạt được nhiều câu hỏi trong một bài trắc nghiệm trong thời gian được cố định Do đó

có thể làm tăng độ tin cậy của bài trắc nghiệm, nếu các câu trắc nghiệm được soạn kỹ càng, không tối nghĩa và tránh được sự đoán mò

- Viết các câu trắc nghiệm đúng sai trông có vẻ dễ dàng vì người soạn không cần phải tìm ra thêm nhiều câu phát biểu khác nữa để học sinh so sánh và lựa chọn Loại câu hỏi trắc nghiệm đúng sai có cấu trúc đơn giản hơn, do đó ít phạm những lỗi lầm hơn về mặt kỹ thuật so với các loại câu hỏi trắc nghiệm khác Ngoài ra, cũng giống như các loại trắc nghiệm khách quan khác, loài câu hỏi này còn có các ưu điểm là mang tính chất khách quan khi chấm điểm

b Khuyết điểm:

- Có thể khuyến kích học sinh đoán mò Mặc dù GV có thể áp dụng công thức hiệu chỉnh nhưng học sinh vẫn có khuynh hướng đoán may rủi để có 50% hy vọng trả lời đúng

- Loại trắc nghiệm đúng sai có độ tin cậy thấp Học sinh có thể được điểm cao nhờ đoán ra câu trả lời

- Nếu đề thi là những câu có sẵn trong sách giáo khoa, sẽ tập cho học sinh thói quen học thuộc lòng hơn là phải tìm hiểu, suy nghĩ

- Có những câu hỏi thoạt tiên trông có vẻ như là đúng hoặc sai, theo nhận xét của người soạn nhưng khi đem ra sử dụng thì lại gặp những thắc mắc nhiều khi rất chính đáng của học sinh về tính cách đúng hoặc sai của các câu phát biểu ấy

- Việc chỉ chọn đúng hay sai có thể làm cho học sinh giỏi khó chịu hay thất vọng khi họ thấy phải có điều kiện rõ ràng hơn mới quyết định xem câu phát biểu đúng hoặc sai hoặc có thể có những trường hợp ngoại lệ chứ không phải chỉ có hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai

Do tồn tại những ưu điểm và khuyết điểm như trên Nên khi sử dụng cần lưu ý một

Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý tưởng, tránh những câu phức tạp quá nhiều chi tiết

Không nên chép nguyên văn những câu trích từ sách giáo khoa, vì làm như vậy chỉ khuyến kích học sinh học thuộc lòng một cách máy móc

II.2 Loại câu hỏi có nhiều câu chọn (Multiple choice question - MCQ)

Loại này gồm một câu phát biểu căn bản gọi là câu dẫn dắt hay câu hỏi đi với nhiều câu trả lời để thí sinh lựa chọn khi trả lời Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi có dạng giống

Trang 9

nhau, gồm một từ, một cụm từ hay một câu hoàn chỉnh Thí sinh phải chọn một câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất

Câu dẫn dù là câu hỏi hay câu bỏ lững, phải tạo cơ bản cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm ấy muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp

Phần lựa chọn gồm nhiều lời giải đáp có thể lựa chọn, trong số đó có một lựa chọn được cho là đúng hay đúng nhất gọi là "phương án đúng", còn những phần còn lại được gọi là những "phương án nhiễu" Chúng tác động như là các câu nhiễu đối với học sinh

có năng lực tốt và tác động như các ý thu hút học sinh năng lực kém

C-Ngôn ngữ lập trình bậc cao D-A và B đều đúng

Câu 3: Chương trình dịch có chức năng gì ?

A-Chạy chương trình B-Dịch ngôn ngữ khác sang ngôn ngữ máy

C-Thể hiện giải thuật D-Tất cả đều sai

Câu 4: Nhược điểm của ngôn ngữ máy là gì?

A-Giao diện xấu B-Không thể hiện tường minh

C- Chương trình chạy chậm D- A và C

Câu 5: Pascal là ngôn ngữ gì?

A-Ngôn ngữ máy B- Hợp ngữ

C-Ngôn ngữ bậc cao D- Tất cả đều sai

Loại câu hỏi MCQ cho phép người soạn thoải mái hơn, so với loại câu "Đúng - Sai", trong việc lựa chọn các khái niệm khảo sát, tùy theo mục tiêu mà ta đặt ra cho bài trắc nghiệm Hình thức này có ưu điểm là rất linh động, có thể được trình bày dưới nhiều dạng khác nhau Các câu dẫn có thể là một câu hỏi, hay một câu bỏ lửng, tiếp theo là một

số chọn lựa Câu dẫn cũng có thể là vẽ hình, đồ thị và tiếp theo là một loạt các câu hỏi Đây là loại trắc nghiệm để thẩm định trí nhớ, mức hiểu biết, khả năng áp dụng, phân tích tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn Khi viết các câu hỏi loại này cần lưu

Trang 10

Câu kiểm tra không được chứa một đầu mối nào để đoán ra câu trả lời và câu đúng phải đúng một cách không tranh cãi được Điều này có nghĩa là một và chỉ một câu được xác định từ trước là đúng

Các phương án nhiễu phải không đúng song vẫn có vẻ hợp lý đối với học sinh kém hơn

Để thực hiện đều này ta có thể sử dụng những quan niệm sai hoặc những lầm lẫn thường gặp của học sinh để làm câu nhiễu, hoặc làm câu nhiễu tương tự câu đúng về kích thước, số trị kết quả hoặc mức độ phức tạp trong cách phát biểu

+ Không nên dùng câu chọn "tất cả đều đúng" hay "tất cả đều sai" Khi dùng câu

"tất cả đều sai" thì đôi khi câu này phải là câu đúng ở một vài câu kiểm tra trong toàn bộ bài kiểm tra Nếu dùng câu "tất cả đều đúng" thì nó phải đúng một cách thực sự

+ Tránh có sự tương tự về từ trong câu dẫn và câu đúng Không được đưa vào hai câu trả lời cùng một ý nghĩa, và mỗi câu kiểm tra chỉ viết xoay quanh một nguyên tắc hay nguyên lý mà thôi

+ Không nên đặt những câu kiểm tra đòi hỏi học sinh phải nhớ những sự kiện vụn vặt không quan trọng và ngược lại cũng không được bắt học sinh phải tính toán dài dòng

II.3 Trắc nghiệm loại ghép đôi (Trắc nghiệm kết hợp)

Trắc nghiệm loại ghép đôi cũng khá thông dụng Trong loại này có hai cột gồm những chữ, nhóm chữ hay câu Dựa trên một tiêu chuẩn nào đó định trước ở câu dẫn, học sinh sẽ ghép mỗi chữ, nhóm chữ hay câu của cột thứ nhất (cột câu hỏi) với một phần tử tương ứng của cột thứ hai (cột trả lời) Số phần tử trong hai cột có thể bằng nhau hay khác nhau Mỗi phần tử trong cột trả lời có thể dùng một hay nhiều lần để ghép với các phần tử trong cột câu hỏi

Để đo lường kiến thức về các mối tương quan, học sinh có thể ghép các từ với ý nghĩa tương ứng Chẳng hạn: các thao tác với các lệnh tương ứng; các chữ, tên với các phần khác nhau của một sơ đồ thuật toán, một tên của hệ điều hành, hệ quản trị cơ sở dữ liệu Người ta cũng có thể cho học sinh sắp các chữ, các câu thành từng loại dựa trên câu chỉ dẫn và các kiến thức căn bản nào đó cho trước Thí dụ như phần các kiến trúc hệ cơ

sở dữ liệu được phân loại theo cách tổ chức, sắp các câu lệnh trong ngôn ngữ lập trình Pascal theo tiến trình thực hiện một bước nào đó trong thuật toán

Ví dụ:

Câu 1:

Hãy ghép mỗi hệ điều hành sau phù hợp với chức năng của nó

1 Windows A Đa nhiệm, nhiều người sử dụng

2 MS-DOS B Đa nhiệm, một người sử dụng

3 Mạng C Đơn nhiệm, một người sử dụng

D Giao tiếp tự do

Trang 11

a Ưu điểm của trắc nghiệm loại ghép đôi: (xem [24])

Trắc nghiệm loại ghép đôi rất thích hợp với các câu hỏi bắt đầu bằng những chữ

"ai", "ở đâu", "khi nào", "cái gì" Các GV có thể dùng loại này cho học sinh ghép một số

từ ghi trong một cột với ý nghĩa trong cột thứ hai

Các câu hỏi ghép đôi dễ viết và dễ dùng, rất thích hợp với việc thẩm định các mục tiêu ở mức năng lực thấp và phần lớn học sinh ở tuổi phổ thông cơ sở rất thích hợp với loại câu hỏi ghép đôi này, tuy nhiên việc lựa chọn loại câu hỏi trắc nghiệm nào để dùng nên dựa vào mục tiêu cần kiểm tra hơn là sở thích học sinh

Khi được soạn kỹ, loại câu hỏi ghép đôi đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị tốt trước khi kiểm tra vì yếu tố đoán mò giảm đi nhiều, nhất là khi ghép những cột ít nhất tám đến mười phần tử giống nhau Nếu số phần tử ở cột câu hỏi và cột trả lời khác nhau, yếu tố may rủi càng giảm đi nhiều

Người ta có thể dùng loại trắc nghiệm ghép đôi để đo các mức trí năng khác nhau Loại ghép đôi được xem như hữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập những mối tương quan Tuy nhiên, nếu được soạn thảo khéo léo loại trắc nghiệm này có thể được dùng như loại câu hỏi MCQ để trắc nghiệm những mức trí năng cao hơn

b Khuyết điểm:

Nếu muốn soạn câu hỏi dạng ghép đôi để đo các mức kiến thức cao thường đòi hỏi nhiều công phu, nên thường các GV chỉ dùng loại câu hỏi này để trắc nghiệm những kiến thức như: ngày tháng, tên, định nghĩa, biến cố, công thức dụng cụ hoặc để lập các hệ thức, phân loại

Trắc nghiệm loại ghép đôi cũng không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng như sắp đặt và áp dụng các kiến thức, nguyên lý

Nếu danh sách trong mỗi cột quá dài, học sinh sẽ mất nhiều thời gian để đọc cả cột mỗi lần muốn ghép đôi

Khi xây dựng câu hỏi loại ghép đôi cần lưu ý những điểm sau: (xem [24])

Số câu đáp ứng phải đủ nhiều để câu đầu tiên đến câu cuối cùng vẫn còn nhiều khả năng để lựa chọn

Phải chỉ dẫn kỹ lưỡng cho việc kết hợp các câu hỏi và câu đáp ứng, đồng thời cần nói rõ là một đáp ứng chỉ được sử dụng một lần hay nhiều hơn hoặc cho tất cả khả năng

II.4 Trắc nghiệm loại điền khuyết hay có câu trả lời ngắn

Trắc nghiệm điền khuyết là loại câu hỏi gồm một mệnh đề hỏi được bỏ đi một hay nhiều bộ phận và thí sinh phải điền thêm vào đó Trắc nghiệm điền khuyết hay trắc nghiệm có câu trả lời ngắn thực ra chỉ là một loại, chỉ khác nhau về dạng thức Nếu được trình bày dưới dạng câu hỏi, chúng ta gọi là loại câu có câu trả lời ngắn, nếu được trình bày dưới dạng một câu phát biểu chưa đầy đủ, chúng ta gọi là câu điền khuyết Đây là loại trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tự do

Ví dụ:

Câu 12: Trường là một của bảng để thể hiện 1 thuộc tính cần quản lí

Trang 12

Câu 13: File dữ liệu của MS Access có tên với phần mở rộng ngầm định là

Loại trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn dễ soạn hơn loại ghép đôi hoặc MCQ Tuy nhiên, không nên lấy nguyên văn từ sách giáo khoa (SGK) rồi chỉ bỏ bớt vài chữ hoặc sửa thành dạng câu hỏi Loại trắc nghiệm điền khuyết thích hợp hơn loại tự luận khi dùng để kiểm tra những điều đòi hỏi trí nhớ Nhờ vào câu trả lời ngắn, số câu hỏi có thể ra thi trong thời gian có hạn sẽ được nhiều hơn so với loại tự luận, do đó loại trắc nghiệm điền khuyết có độ tin cậy cao hơn và việc chấm điểm cũng khách quan hơn Nhưng các câu hỏi tự luận lại có thể đánh giá khả năng lý luận và sắp đặt ý tưởng hữu hiệu hơn

Các câu hỏi điền khuyết hay có câu trả lời ngắn thích hợp cho những vấn đề như tính toán, cân bằng phương trình hóa học, nhận biết các vùng trên bản đồ hay giản đồ, đánh giá mức hiểu biết các nguyên lý, giải thích sự kiện, diễn đạt ý kiến, thái độ Bên cạch đó nó còn giúp học sinh luyện trí nhớ Tất nhiên sự ghi nhớ ở đây không chỉ căn cứ hoàn toàn trên trí nhớ mà ghi nhớ ở đây là nhớ những điều căn bản để suy luận hay áp dụng vào các trường hợp khác cũng là một điều cần thiết

Nhiều câu hỏi loại điền khuyết ngắn và gọn, có xu hướng đề cập các vấn đề không quan trọng hoặc không liên quan với nhau Phạm vi khảo sát thường chỉ giới hạn vào chi tiết, các sự kiện vụn vặt

Việc chấm bài mất nhiều thời gian so với loại trắc nghiệm "đúng - sai" hoặc trắc nghiệm MCQ

Khi có nhiều chỗ chừa trống trong một câu hỏi, học sinh có thể rối trí Kết quả điểm

số thường có sự tương quan cao với mức thông minh hơn là với thành quả học tập của học sinh Do đó độ giá trị của bài thi giảm

Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm Mặc dầu phương pháp chấm điểm loại trắc nghiệm "điền khuyết" có tính chất khách quan hơn loại tự luận, GV vẫn gặp nhiều phiền phức hơn khi chấm các câu trắc nghiệm "điền khuyết" vì giới hạn câu trả lời đúng rộng rãi hơn GV có thể phải chấm một phần hay toàn phần cho một câu trả lời khác với đáp

Trang 13

án để chấm bài Do đó các nhân viên phụ việc không thể chấm giúp, cũng như không thể dùng phương pháp chấm bằng máy

Khi xây dựng câu hỏi loại điền khuyết hay có câu trả lời ngắn cần lưu ý những điều sau:

Câu kiểm tra phải được đặt sao cho chỉ có thể có một câu trả lời ngắn ngọn, giản đơn

Câu hỏi phải trực tiếp và câu kiểm tra với các khoảng trống phải có đủ ý để cho học sinh hiểu được họ phải làm gì

Câu hỏi phải có quan hệ với điểm chính của câu nhận định, đặt vấn đề trống ở cuối câu

Ngoài ra còn có thể kể thêm loại trắc nghiệm đòi hỏi sắp thứ tự các phương án theo một trật tự nào đó

Kiểm tra trắc nghiệm đòi hỏi học sinh học tự giác và chủ động tích cực học tập Điều này chống được tình trạng học lệch, học tủ, ít bị may rủi nên làm cho việc học nghiêm túc hơn

Thời gian làm mỗi câu từ 1 đến 3 phút Hạn chế nạn chép tài liệu và quay cóp Khi làm bài thi trắc nghiệm khách quan, học sinh sử dụng nhiều hơn thời gian để đọc và suy nghĩ, có tác dụng rèn luyện kỹ năng nhanh nhẹn, phát triển tư duy học sinh

Do số câu hỏi nhiều, có sẵn trong ngân hàng đề thi nên có thể tiến hành kiểm tra theo từng học phần ở nhiều nơi, nhiều lớp trong cùng một lúc

GV đỡ căng thẳng trong coi thi, hỏi thi, chấm thi dồn dập ở cuối mỗi học kỳ

Rất ít tốn công sức chấm bài, nhiều người (thậm chí khác môn) đều có thể chấm bài đựơc Đặc biệt, có thể chấm bằng máy rất nhanh, rất thuận lợi khi có số lượng thí sinh đông

Việc chấm điểm hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào trạng thái tâm lý của người giám khảo, không có sự chênh lệch điểm số đối với giám khảo khác nhau Một bài thi đều được đánh giá cùng một số điểm đối với những thời điểm chấm khác nhau PP này được gọi là trắc nghiệm khách quan là vì vậy

Kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan có độ may rủi thấp hơn rất nhiều so với tự luận, không có trường hợp trúng tủ đối với học sinh yếu kém, nên không kích thích học sinh đoán mò, học lệch

Trang 14

Điểm thi của bài thi trắc nghiệm hầu như do khả năng thực sự của học sinh quyết định, hạn chế tác động bên ngoài Với sự hỗ trợ của máy tính, có thể soạn đề thi tương đương có cùng nội dung bằng cách xáo trộn thứ tự các câu hỏi và phương án trả lời Thí sinh ngồi gần nhau sẽ nhận các đề thi khác nhau về hình thức, phải đánh dấu các câu trả lời theo các cách khác nhau nên khó xảy ra tình trạng quay cóp người bên cạnh

b Nhược điểm:

Việc ra những câu hỏi đúng chuẩn là công việc khó khăn, yêu cầu người ra đề phải

có chuyên môn khá tốt, có kinh nghiệm và thời gian đầu tư làm đề Điều khó nhất là phải tìm cho được một câu trả lời đúng nhất trong lúc các phương án trả lời khác để chọn cũng phải có vẻ hợp lý Thêm vào đó, các câu hỏi phải đo được các mục tiêu cao hơn chỉ ở mức trí nhớ Những câu hỏi được chọn phải có quả trình thử nghiệm với số lượng học sinh đông đảo và được hiệu chỉnh nhiều lần mới có độ tin cậy cao

Do có sẵn phương án trả lời nên khó đánh giá được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi tự luận soạn kỹ Bên cạnh đó, do các câu trả lời có sẵn nên không giúp học sinh phát triển khả năng viết văn, trình bày bài làm, không đánh giá được khả năng tư duy trừu tượng, cảm xúc văn học nghệ thuật Nếu số lượng đề thi không đủ lớn thì không bảo mật được và học sinh sẽ dựa vào câu dẫn trong đề kiểm tra cũ để chuẩn bị các phương án trả lời

Do số lượng câu hỏi nhiều và trải đều cho cả chương trình nên nội dung câu hỏi thường ngắn gọn, kiến thức yêu cầu không khó giải quyết do đó hạn chế việc phát triển tư duy cao của các học sinh khá giỏi Thí sinh nào có sáng kiến có thể tìm ra câu hay hơn phương án đúng đã cho, nên họ không thỏa mãn hay cảm thấy khó chịu Các câu trắc nghiệm MCQ có thể không đo lường được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi tự luận soạn kỹ

Ngoài ra các khuyết điểm nhỏ khác là tốn nhiều giấy để in loại câu hỏi này so với các loại câu hỏi khác và học sinh cần nhiều thời gian để đọc câu hỏi

III Qui trình chuẩn bị và triển khai một kỳ thi trắc nghiệm khách quan

Người ta có thể áp dụng PP trắc nghiệm để tổ chức thi, kiểm tra ở các lớp học thông thường với số thí sinh không đông lắm; cũng có thể áp dụng ở các kỳ thi quy mô lớn hàng nghìn, hàng vạn thí sinh Trong trường hợp thứ hai, bất kỳ một sơ suất nhỏ nào cũng

có thể dẫn đến những hậu quả xấu và những phản ứng xã hội bất lợi Do đó, để triển khai một kỳ thi quy mô lớn người ta phải chuẩn bị hết sức cẩn thận về đề thi, quy trình thi, thể thức chấm điểm, cách công bố kết quả Quá trình chuẩn bị đó hết sức công phu và tốn kém mà một kỳ thi thông thường ở lớp học không thể làm nổi Kỳ thi được chuẩn bị công phu như vậy được gọi là kỳ thi tiêu chuẩn hóa Đặc biệt, các câu hỏi trong một đề thi tiêu chuẩn hóa là các câu đã được thử nghiệm, phân tích, gọt giũa trau chuốt và định cỡ (tức

là xác định được độ khó, độ phân biệt của từng câu và độ tin cậy, độ giá trị của cả bài) Quy trình tổ chức một kỳ thi trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa rất phức tạp Có thể mô tả tóm tắt các bước của quy trình đó như sau [34]:

1 Xác định các môn thi và những nội dung tổng quát cần kiểm tra đối với từng môn Đồng thời, định ra yêu cầu về các mức kỹ năng, chẳng hạn: nhớ, hiểu, biết vận dụng, phân tích, tổng hợp Để thực hiện bước này người ta thường lập một ma trận 2 chiều: các dòng phân theo các phần nội dung, các cột phân theo các mức kỹ năng, trong

Trang 15

mỗi ô ghi số câu hỏi cần thiết (hoặc tỷ lệ phần trăm) của phần nội dung và mức kỹ năng tương ứng

2 Phân công cho các GV, mỗi người viết một số câu trắc nghiệm theo các yêu cầu

cụ thể về nội dung và mức kỹ năng đã xác định

3 Trao đổi trong nhóm đồng nghiệp Kinh nghiệm cho thấy quá trình trao đổi này rất quan trọng, giúp tác giả phát hiện và sửa chữa được nhiều sai sót mà bản thân không cảm thấy;

4 Biên tập và đưa các câu trắc nghiệm vào "ngân hàng" lưu trong máy tính Phụ trách biên tập phải là người am hiểu cả về chuyên môn lẫn kỹ thuật viết trắc nghịêm Ngân hàng câu hỏi được quản lý bằng các phần mềm chuyên dụng

5 Lập đề thi và tổ chức thi thử trên một số nhóm thí sinh; các nhóm này là "mẫu" đại diện cho đối tượng thí sinh chung của bài trắc nghiệm

6 Chấm thi và phân tích thống kê các kết quả thi thử PP thống kê cho phép xác định các đặc trưng của mỗi câu trắc nghiệm như độ khó, độ phân biệt, qua đó có thể đánh giá độ tin cậy của bài trắc nghiệm, phân loại chất lượng các câu trắc nghiệm

7 Gia công các câu hỏi kém chất lượng và thay các câu đã được gia công vào ngân hàng đề thi

8 Ra đề thi chính thức: căn cứ vào dàn bài (phân bố câu theo nội dung và mức độ

kỹ năng tương ứng với bảng đặc trưng hai chiều), nhờ phần mềm để chọn một cách ngẫu nhiên từ ngân hàng số câu hỏi cần thiết với các đặc trưng xác định (độ khó, độ phân cách, mức kỹ năng) để lập nên một đề thi

Các phần mềm có thể tạo ra các đề thi tương đương có cùng nội dung nhưng khác nhau về hình thức bằng cách đảo lộn thứ tự các câu hỏi (khi có thể đảo lộn) và các phương án trả lời A, B, C, D

9 In đề thi và tổ chức thi: đề thi được in sẵn, phát cho từng thí sinh trong phòng thi

10 Chấm và phân tích thống kê các kết quả thi: ngày nay người ta có thể chấm bài trắc nghiệm trên các hệ thống tự động gồm một máy quét quang học và một máy tính có phần mềm hỗ trợ việc chấm thi Cũng có phần mềm cho phép thực hiện các phép phân tích thật tỉ mỉ về chất lượng các câu trắc nghiệm và nhiều yếu tố liên quan đến bài làm của thí sinh

11 Công bố kết quả thi

Trong toàn bộ quy trình, các bước từ 2 đến 7 phải lặp lại nhiều lần để hoàn thiện dần và tăng số lượng các câu trắc nghiệm trong ngân hàng Qua đó có thể thấy rằng ngân hàng các câu trắc nghiệm không phải là kho lưu trữ bất động mà như một cơ thể sống, luôn được bổ sung, loại bỏ, hoàn thiện và phát triển

Cần phải nhấn mạnh rằng các câu trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá trong ngân hàng và đề thi trắc nghiệm phải được bảo mật trước khi đem ra sử dụng Những đề thi và những câu hỏi đã được dùng chính thức thường được công bố ở các tài liệu dùng cho tham khảo hoặc luyện thi

Một tác dụng hết sức quan trọng của các kỳ thi đại trà bằng trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa là: những thông tin thu được qua việc phân tích thống kê toàn bộ bài làm của thí sinh qua các kỳ thi là những số liệu hết sức quý báu để đánh giá định lượng về tình hình giáo

Trang 16

dục của từng khu vực, từng cộng đồng, từng nhóm thí sinh và đánh giá xu thế phát triển của chất lượng giáo dục theo thời gian

Ngoài các bài trắc nghiệm chuẩn hóa, do các nhà chuyên môn soạn và được nhà xuất bản phân phối trên thị trường, chủ yếu để trắc nghiệm về trí thông minh, khả năng, nhân cách, sở thích Trong trường hợp kiểm tra đánh giá thành tích học tập vẫn có những bài trắc nghiệm chuẩn, nhưng thường thì chúng không đáp ứng nhu cầu của GV, vì nó không phù hợp các mục tiêu giảng dạy của họ Dưới đây là các bước và các kỹ thuật căn bản để soạn một bài trắc nghiệm Một số ví dụ cũng được đưa ra, nhưng xin thú thật là thật ra chúng chưa hẳn đã chuẩn vì chúng chưa được kiểm chứng qua thực nghiệm

III.1 Qui trình biên soạn đề thi trắc nghiệm

Bước 1: XÁC ĐỊNH MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Đề kiểm tra là phương tiện để đánh giá kết quả học tập sau khi học xong một chủ

đề, một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình hay một cấp học Ngoài ra còn là phương tiện để dự đoán khả năng của người được trắc nghiệm trong tương lai Người GV qua bài trắc nghiệm để đánh giá học sinh nhưng không chỉ đơn thuần phân loại học sinh

mà còn qua đó đánh giá lại kết quả dạy và học của cả Thầy và Trò, để định hướng cho việc dạy tiếp theo tốt hơn

Bước 2: XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU GIẢNG DẠY

Để một đề trắc nghiệm đo được cái cần đo, tức là đo được mức độ đạt các mục tiêu

cụ thể của môn học, cần phải thiết kế và viết đề thi trắc nghiệm bám sát mục tiêu của môn học Một đề thi tốt kết hợp với việc tổ chức kỳ thi tốt sẽ làm cho kỳ thi đạt được độ giá trị cao Trước hết, cần xác định mục tiêu muốn kiểm tra đánh giá cho rõ ràng Để giảng dạy tốt một môn học cần có một danh mục chi tiết về các mục tiêu giảng dạy, thể hiện ở năng lực hay hành vi cần phát triển của người học qua quá trình giảng dạy Để viết một bài trắc nghiệm tốt cho môn học đó cần dựa vào các mục tiêu đã đề ra cho môn học

Vì vậy việc làm rõ mối quan hệ giữa mục tiêu môn học và đánh giá thành tích học tập của học sinh, đặc biệt là việc cụ thể hóa mục tiêu môn học thành các thao tác có thể

đo lường gọi là các tiêu chí đánh giá là một vấn đề quan trọng trong việc dạy và học,

cũng như kiểm tra và đánh giá thành quả học tập của học sinh

Mục tiêu môn học là kết quả dự kiến tối thiểu mà học sinh phải đạt được sau khi quá trình học tập, nó được thể hiện bởi các yêu cầu khái quát về kiến thức, kỹ năng và

thái độ của học sinh Các mục tiêu môn học phải được cụ thể hóa để xác định các chuẩn

và các tiêu chí đánh giá đối với một môn học Quá trình thao tác hóa mục tiêu được chia

Trang 17

môn chính là hệ thống mục tiêu của một lớp Ma trận trên được gọi là bảng mục tiêu môn học Dựa vào bảng các mục tiêu môn học, tùy thuộc vào mức độ quan trọng của từng mục tiêu của từng phân trong môn học, thời gian làm bài để đưa ra số câu hỏi cho mỗi mục tiêu Từ đó, có thể xây dựng được đề thi cho bài, chương hay một môn học

Trong thực tế các mục tiêu giảng dạy môn học không phải bao giờ cũng có sẵn đủ chi tiết để có thể soạn thảo một bài trắc nghiệm Trong trường hợp đó cần xây dựng lại chi tiết danh mục các mục tiêu đó Việc xây dựng mục tiêu thường được triển khai trong một nhóm những người cùng giảng dạy môn học đó phối hợp với một chuyên gia hiểu biết về cách viết các câu hỏi trắc nghiệm Trước hết cần liệt kê các mục tiêu cụ thể liên quan đến các năng lực cần đo lường đối với từng phần của môn học, sau đó tuỳ thuộc mức độ quan trọng của từng mục tiêu ứng với từng phần của môn học mà quyết định là cần bao nhiêu câu hỏi

+ Khái niệm CSDL - Kiến thức: Nắm được các vấn đề thường giải

quyết trong một bài toán quản lý và sự cần thiết phải có CSDL, khái niệm CSDL và hệ CSDL cùng các đặc trưng của nó

- Kỹ năng: chưa đòi hỏi các thao tác cụ thể

- Thái độ: nhìn nhận vấn đề lưu trữ và xử lý

hồ sơ có hệ thống hơn

+ Hệ quản trị CSDL - Kiến thức: Nắm được các chức năng của một

hệ quản trị CSDL

- Kỹ năng: chưa đòi hỏi thao tác cụ thể

- Thái độ: Xác định vai trò của mình với một

hệ CSDL, là người sử dụng, quản trị CSDL hay lập trình ứng dụng

Bảng mục tiêu môn học của chương 1 - Tin học lớp 12 THPT

Có thể cụ thể hóa các mục tiêu DH thành các mức độ chi tiết hơn về các mức nhận thức của học sinh Hệ thống phân chia được biết tới nhiều nhất là: "Nguyên tắc phân loại Giáo dục" của B.S.Bloom Nguyên tắc này cung cấp sự phân loại các mục tiêu giáo dục trong các lĩnh vực về nhận thức theo 3 lĩnh vực của hoạt động giáo dục sau đây:

Lĩnh vực về nhận thức (cognitive domain)

Lĩnh vực về hoạt động (psychomator domain)

Lĩnh vực về cảm xúc, thái độ (affective domain)

Lĩnh vực nhận thức thể hiện ở khả năng suy nghĩ, lập luận, bao gồm việc thu thập

các sự kiện, giải thích, lập luận theo kiểu diễn dịch và quy nạp và sự đánh giá có phê phán

Lĩnh vực hành động liên quan đến những kỹ năng đòi hỏi sự khéo léo về chân tay,

sự phối hợp các cơ bắp từ đơn giản đến phức tạp

Lĩnh vực cảm xúc liên quan đến những đáp ứng về mặt tình cảm, bao hàm cả những

mối quan hệ như yêu ghét, thái độ nhiệt tình, thờ ơ, cũng như sự cam kết với một nguyên tắc và sự tiếp thu các lý tưởng

Trang 18

Các lĩnh vực nêu trên không hoàn toàn tách biệt hoặc loại trừ lẫn nhau Phần lớn việc phát triển tâm linh và tâm lý đều bao hàm cả 3 lĩnh vực nói trên

Bloom và những người cộng tác với ông ta cũng xây dựng nên các cấp độ của các mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất như sau:

- Nhớ (Knowledge): được định nghĩa là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức

- Hiểu (Comprehention): được định nghĩa là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu Điều đó có thể thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các từ sang số liệu), bằng cách giải thích tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng) Kết quả học tập ở cấp độ này cao hơn so với nhớ, và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật

- Áp dụng (Application): được định nghĩa là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, PP, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết Kết quả học tập trong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây

- Phân tích (Analysis): được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận, và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm Kết quả học tập ở đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu

- Tổng hợp (Synthesis): được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án nghgiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới

- Đánh giá (Evaluation): là khả năng xác định giá trị của tài liệu Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí Kết quả học tập trong lĩnh vực này là cao nhất trong các cấp bậc nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác

Các vấn đề về quá trình cụ thể hóa mục tiêu môn học, có thể xem một cách chi tiết trong các tài liệu [24],[27],[33],[34]

Ví dụ: Mức độ nhận thức đơn giản của chương I - Tin học 12 - THPT

Chương Mạch kiến thức Nhớ Hiểu Áp dụng

Hiểu được các vấn đề như tạo lập, cập nhật hồ sơ

Trang 19

Các bài toán dẫn đến sự cần thiết phải cso CSDL

Nắm được các chức năng hệ QTCSDL

Hệ QTCSDL? Cho ví dụ về các

chức năng

Hệ CSDL cùng các đặc trưng của nó

Hệ CSDL bao gồm cái gì?

Các yêu cầu cơ bản của một hệ CSDL như tính cấu trúc, toàn vẹn

Bước 3: THIẾT LẬP MA TRẬN PHÂN BỐ CÂU HỎI CỦA ĐỀ THI

Từ bảng các mục tiêu môn học như đã nói ở trên, khi muốn ra đề kiểm tra một bài,

một chương hay toàn bộ môn học, ta đi thiết lập một ma trận tạm gọi là ma trận phân bố

câu hỏi của đề thi Ma trận này bao gồm các hàng là các mục kiến thức, kĩ năng và thái

độ của mục tiêu môn học của bài, chương, môn cần kiểm tra và các cột là các mức độ nhận thức cần đánh giá Khi đó các ô của ma trận sẽ là số câu hỏi và trọng số điểm dành cho các câu hỏi trong ô đó

Các mức kiến thức, kỹ năng và thái độ của các mục tiêu môn học ta sẽ gọi là các mạch kiến thức

Dựa vào tầm quan trọng của từng mục tiêu và mức độ nhận thức, thời gian ấn định

để làm bài thi, trọng số điểm cho từng mục tiêu, từng mức độ nhận thức để quyết định số câu hỏi có trong từng ô của ma trận

Cụ thể các bước như sau:

- Xác định tỷ lệ thời gian của từng phần và trọng số điểm cho từng phần, căn cứ dựa trên số tiết quy định trong phân phối chương trình và mức độ quan trọng của mục tiêu đó trong chương trình

- Xác định trọng số điểm cho từng hình thức câu hỏi nếu có kết hợp trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận

- Xác định trọng số điểm cho từng mức độ nhận thức

Quyết định số lượng câu hỏi cho từng mục tiêu tùy thuộc vào mức độ quan trọng của mục tiêu đó, thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm cho từng mục kiến thức trong mục tiêu, từng mức độ nhận thức

Ví dụ: Ma trận phân bố câu hỏi của đề thi kiểm tra chương I - Khái niệm về CSDL

và hệ quản trị CSDL - Tin học lớp 12 - THPT (chỉ đánh giá 3 mức nhận thức cơ bản là: nhớ, hiểu và áp dụng và đề thi có kết hợp TNKQ và TNTL)

Các vấn đề thường giải quyết trong

một bài toán quản lý

1 0.5

Hệ CSDL cùng các đặc trưng của nó 1

0.5

1 0.5

1 0.5

Trang 20

Nắm được các chức năng hệ

QTCSDL

1 0.5

1

1 Phương thức hoạt động của hệ

QTCSDL

1 0.5

1 0.5

Trong môn Tin học ở THPT có những phần nếu kiểm tra thực hành trên máy vi tính

sẽ có hiệu quả tốt hơn Ở lớp 12, Chương II - Hệ quản trị CSDL Access - Tin học 12, ở lớp 11 chương trình tập trung vào ngôn ngữ lập trình PASCAL ngoài mục tiêu rèn luyện ngôn ngữ, rèn luyện tư duy thuật toán, còn có mục tiêu rèn luyện kỹ thuật lập trình cho học sinh Các phần nói trên, nếu có điều kiện tổ chức kiểm tra trên máy tính sẽ rất có hiệu quả Lúc này,người GV cũng sẽ vẫn phải lập bảng mục tiêu môn học để giảng dạy được tốt hơn và điều này cũng giúp cho họ xác định được rõ ràng các tiêu chí đánh giá sẽ được yêu cầu ở bài kiểm tra thực hành

Hình thức kiểm tra thực hành có thể thực hiện bởi nhiều cách khác nhau như:

+ Đánh giá kỹ năng, thao tác, kỹ thuật lập trình của học sinh qua các giờ thực hành + Đánh giá qua các đề tài thực hành đã giao trước cho học sinh theo cá nhân hay theo nhóm

+ Đánh giá qua bài thi thực hành và tất cả lớp cùng thực hành ngay trên máy tính, sau đó GV sẽ chấm sản phẩm

Các hình thức trên được xem như là hình thức TNTL Cũng có thể tiến hành chấm

tự động bằng máy tính một cách khách quan nhờ lập sẵn các bộ test kết quả để test chươngtrình của học sinh lập ra Cách làm trên cũng có thể xem là một hình thức của TNKQ Tuy vậy, cách làm này chỉ đánh giá được kết quả thực hiện chương trình của học sinh, chứ rất khó đánh giá được rất nhiều yếu tố cần đánh giá khác như: khả năng ngôn ngữ, cách trình bày, thao tác đúng hay sai, thuật toán, các ý tưởng sáng tạo của học sinh Thường thì chúng ta thường bỏ qua hoặc không làm tốt việc xây dựng ma trận phân

bố câu hỏi và xây dựng thang điểm cho bài kiểm tra thực hành Mặc dù đây là bài kiểm tra hết sức đặc trưng của bộ môn Tin học ở THPT Tuy vậy, các vấn đề nói trên dành cho bài kiểm tra thực hành, rất tiếc nó không nằm trong chủ đề về trắc nghiệm khách quan của tài liệu này

Bước 4: BIÊN SOẠN CÂU HỎI

Mức độ đo đạc, nội dung kiến thức và hình thức câu hỏi được biên soạn dựa trên hệ thống mục tiêu đã xác định ở bước 2 và 3

Căn cứ vào xác suất đoán mò của mỗi dạng câu hỏi để đưa ra số dạng câu hỏi hỏi với số lượng câu hỏi của từng dạng hợp lý

Một số khuyến khích cần lưu ý:

Ma trận phân bố câu hỏi phải được chuẩn bị trước và có thảo luận với tổ nhóm chuyên môn về các mục tiêu của bài kiểm tra Nên chuẩn bị số câu hỏi nhiều hơn dự kiến cần dùng

Các câu hỏi nên đặt ở dạng xác định hơn phủ định và tránh dùng nguyên văn những câu trích từ trong sách khi soạn các câu hỏi có dạng đúng/sai hay điền khuyết vì như vậy

Trang 21

là khuyến khích học sinh học "vẹt" Cũng nên tránh các câu hỏi mẹo, hỏi mang tính "lừa gạt" thí sinh, tránh các câu mà học sinh có thể trả lời được nhờ dữ kiện cho bởi một câu hỏi khác

Về mặt tâm lý thì nên sắp câu hỏi theo độ khó, đặt các câu hỏi cùng loại hơn là các câu hỏi về cùng một chủ đề cần kiểm tra về một chỗ

Tránh sắp gần nhau các câu hỏi trả lời đúng cùng một kiểu, chẳng hạn như các phương án đúng theo một qui luật nào đó, hoặc trong câu hỏi đúng/sai thì GV hay đưa ra các câu hỏi mà câu trả lời phần nhiều là "đúng" hay phần nhiều là "sai" học sinh nhanh trí

có thể đoán ra được

Các chỗ chừa trống để điền khuyết nên dài bằng nhau, không phụ thuộc vào câu trả lời cần điền

Nên cho học sinh trả lời trên một tờ trả lời riêng biệt để dễ chấm hơn

Các câu hỏi phải viết thế nào để chỉ có một câu trả lời đúng Thoạt nghe thì có vẻ hiển nhiên, nhưng GV rất hay vấp phải điều này

Bước 5: XÂY DỰNG ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM

a) Biểu điểm với hình thức TNKQ

Cách 1: Điểm toàn bài là 10 điểm được chia đều cho số lượng câu hỏi trong toàn bài, hoặc chia theo độ khó của câu hỏi

Cách 2: Điểm tối đa của toàn bài bằng số câu hỏi (trả lời đúng 1 điểm và sai 0

điểm) Sau đó qui về thang điểm 10 theo công thức: 10x/y, với x=số điểm đạt được và y

là số điểm tối đa của đề Lưu ý điểm cho theo thang điểm chỉ là điểm thô, còn có các loại điểm khác như điểm hiệu chỉnh, điểm dẫn xuất xin xem thêm các phần dưới

b) Sự phân phối điểm theo từng phần TNKQ hay trắc nghiệm tự luận hay các phần trong đề thi tuân theo nguyên tắc:

- Tỷ lệ thuận với thời gian dự định học sinh làm bài phần đó

- Mỗi câu TNKQ nếu trả lời đúng nên có số điểm như nhau

c) Biểu điểm của đề thi có kết hợp trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan Cách 1: Điểm tối đa của toàn bài là 10 Sự phân phối điểm cho từng phần phụ thuộc theo thời gian ước định học sinh hoàn thành theo từng phần Mỗi câu TNKQ nếu đúng có

số điểm như nhau

Cách 2: Điểm tối đa của toàn bài phụ thuộc vào số lượng câu hỏi của đề thi Sự phân phối điểm theo nguyên tắc:

+ Tỷ lệ thuận với thời gian dự định học sinh hoàn thành từng phần

+ Mỗi câu TNKQ đúng được 1 điểm, sai 0 điểm

+ Tính điểm của phần TNKQ trước, sau đó tính điểm tối đa của TN tự luận theo

Bước 6 XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

Rõ ràng là không nên sử dụng một bài trắc nghiệm trong nhiều năm, nhưng một câu hỏi trắc nghiệm tốt có thể được sử dụng lại trong nhiều năm, chừng nào mà nó còn phù

Trang 22

hợp với nội dung và mục đích của chương trình giảng dạy Tập hợp các câu hỏi tốt sẽ tạo thành một ngân hàng câu hỏi

Để bảo đảm tính khách quan và bảo mật của đề thi, cũng như tránh để học sinh học

"vẹt", học sinh biết trước các câu hỏi hay các câu dẫn nên học tủ, học thuộc một cách máy móc phương án đúng trước, nên các câu hỏi trong ngân hàng được giữ kín Đó là lý

do các đề thi TNKQ thường được giữ lại sau khi thí sinh thi xong Tuy vậy, nếu các câu hỏi trong ngân hàng là chuẩn và có một lượng đủ lớn, trải đều khắp các tiêu chí đánh giá của môn học, các tiêu chí ấy là chuẩn mực cho tất cả các trường các lớp có cùng chuẩn đánh giá, thì một ngân hàng đề thi như thế sẽ trở thành một chuẩn kiến thức mà học sinh cần phải đạt được trong quá trình học bộ môn Vì vậy theo chúng tôi lúc này có thể công

bố ngân hàng câu hỏi ấy cho học sinh theo đó để học tập và thi cử

Khi xây dựng một ngân hàng câu hỏi như thế và lưu trữ nó trên máy tính cần có lưu

ý sau: xây dựng mã câu hỏi phải bao hàm các thông tin gồm chương mục, nội dung và kỹ năng nào mà câu hỏi cần kiểm tra, đáp án đúng để tiện chọn lựa và sắp đặt trong các đề thi trắc nghiệm khác nhau

Ví dụ: Khi lưu các câu hỏi TNKQ trên một file cơ sở dữ liệu, một câu hỏi sẽ là một bản ghi có thể gồm các trường sau: nội dung, chương - bài trong môn học tương ứng, đáp

án, các phương án chọn, độ khó, độ phân biệt

III.2 Thực hành các bước ra đề trắc nghiệm khách quan

1) Sử dụng sách Tin học lớp 12, sách dành cho GV, hãy lập bảng mục tiêu môn học cho các chương 2, 3, 4 của chương trình Tin học lớp 12 THPT

2) Hãy lập bảng mục tiêu môn học cho toàn bộ môn học Tin học lớp 12 THPT 3) Xây dựng ma trận phân bố câu hỏi cho đề thi kiểm tra các chương 2,3, và 4 Tin học lớp 12 THPT

4) Trong chương trình Tin học lớp 12 được phân bố 2 tiết kiểm tra học kỳ, 1 dành cho học kỳ 1 và 1 dành cho học kỳ 2 Theo chúng tôi, nếu bố trí dạy chương III trước chương II (theo sách hướng dẫn GV Tin học 12 thì điều này là được phép) là hợp lý hơn Trong trường hợp này

+ Hãy xây dựng ma trận phân bố câu hỏi cho chương I và chương III để xây dựng 1

đề kiểm tra học kỳ 1, gồm TNKQ và TNTL

+ Hãy xây dựng bảng mục tiêu môn học cho chương II và chương IV, để xây dựng

1 đề kiểm tra học kỳ bao gồm 1 phần TNKQ cho chương IV và kiểm tra thực hành trên máy tính đối với chương II

Sau khi biên soạn đề thi, quá trình tiếp theo trong đánh giá thành quả học tập của học sinh là: tổ chức cho học sinh thi¸ đánh giá kết quả dạy và học, cũng như đánh giá chất lượng đề thi qua kết quả thi của học sinh Các phần này sẽ được bàn bạc trong các phần dưới đây

IV Sử dụng trắc nghiệm trong dạy và học môn tin học THPT

Các bài trắc nghiệm trước hết là sự xác định các mục tiêu giảng dạy cho học sinh

Đừng để học sinh xem bài trắc nghiệm là một sự đe dọa hơn là sự hỗ trợ, bầu không khí căng thẳng gắn với trắc nghiệm sẽ ức chế việc học tập và cũng đừng để học sinh xem bài trắc nghiệm là một phương tiện duy nhất để phân loại họ, thậm chí là "đánh giá thấp" họ Lúc này các bảng báo cáo kết quả học tập và mối quan tâm về bộ môn của học sinh, đôi

Trang 23

khi không đáng tin cậy lắm trong việc đánh giá phân loại nhưng cũng có ích khi học sinh quyết định việc học có dẫn đến hành vi mong muốn hay không Hơn nữa nó còn giúp học sinh xác định điều gì đang đợi họ phải đạt được, ngoài ra lúc này học sinh phải có khả năng đánh giá, thẩm định các kết quả đã học, cũng có thể cao hơn là mức sáng tạo

Bài trắc nghiệm còn được xem như là một phương tiện cung cấp thông tin phản hồi,

GV và học sinh nên cùng nhau thảo luận các câu hỏi khó của bài trắc nghiệm Không nên phản đối việc tiến hành nhiều trắc nghiệm trong một môn học, mỗi khi nó không trở nên nhàm chán, căng thẳng Nhiều GV than phiền "Tôi không có thời gian để trắc nghiệm và thảo luận các câu trắc nghiệm, vì như thế sẽ không đủ thời gian hoàn thành nội dung phải giảng dạy" Như vậy, họ có thể chưa hiểu hết ý nghĩa của trắc nghiệm và các PP giảng dạy tích cực hóa hoạt động của người học Không có gì đảm bảo việc chạy theo nội dung

DH thông qua việc giảng giải một cách hình thức sẽ đạt hiệu quả tốt Vì vậy, khi thiết kế một chương trình TNKQ ở trường học, cầm lưu ý ngoài việc cho học sinh trả lời các câu hỏi, cho điểm đơn thuần, nên có thêm chức năng thống kê các câu trả lời của học sinh đối với từng câu hỏi, kể cả câu đúng hay câu nhiễu Điều này giúp cho GV biết có thể câu hỏi chưa tốt, bị nhiễu do cách dùng từ ngữ, câu hỏi chưa sát với tiêu chí cần đánh giá và quan trọng là học sinh của họ chưa làm tốt câu hỏi đó do đâu, phần đông bị nhầm lẫn kiến thức đó vì sao để có hướng khắc phục những lệch lạc đó ngay cho học sinh

IV.1 Sử dụng trắc nghiệm để đánh giá phân loại học sinh

Các bài trắc nghiệm là một công cụ để đánh giá thành tích học tập của học sinh, có nhiều cách tiếp cận đối với việc cho điểm hay xếp hạng Dưới đây, chúng ta sẽ thảo luận

về việc cho điểm và xếp hạng thế nào đối với các kết quả trắc nghiệm của học sinh

IV.1.1 Phân loại theo đường cong phân bố

Đường cong phân bố thường được dựa vào là đường cong phân bố chuẩn có hình quả chuông - với giả định dựa vào các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các đặc tính thể chất của con người khi đo lường các kết quả có phân bố chuẩn

GV có thể dựa vào tỷ lệ phần trăm số câu trả lời đúng để xếp hạng

Ngày đăng: 01/07/2014, 12:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng mục tiêu môn học của chương 1 - Tin học lớp 12 THPT. - thiết kế và sử dụng trắc nghiệm khách quan trong môn tin học thpt
Bảng m ục tiêu môn học của chương 1 - Tin học lớp 12 THPT (Trang 17)
Hình thức kiểm tra thực hành có thể thực hiện bởi nhiều cách khác nhau như: - thiết kế và sử dụng trắc nghiệm khách quan trong môn tin học thpt
Hình th ức kiểm tra thực hành có thể thực hiện bởi nhiều cách khác nhau như: (Trang 20)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w