Đặc biệt, tác giả nhận thấy quá trình quốc tế hóa văn hóa trà đạo Urasenke tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng, đặt ra những vấn đề thú vị về sự tương tác giữa các loại hình
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Phan Hải Linh
Hà Nội - 2025
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn đã được báo cáo sau quá trình thu thập dữ liệu, xử lý số liệu nhằm phục vụ trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của tôi, do PGS.TS Phan Hải Linh
là người hướng dẫn
Hà Nội, ngày tháng năm 2025
Người cam đoan
Phạm Thị Nhung
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Em xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô ngành Chân Á học, khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn đồng hành, hỗ trợ và giảng dạy cho chúng em trong suốt quá trình học tập tại Khoa Em rất biết ơn những kiến thức quý báu và những động viên từ thầy cô
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phan Hải Linh - người giảng viên đã luôn tin tưởng và đồng hành cùng em từ những năm tháng sinh viên cho đến khi em chuẩn bị hoàn thành chương trình Thạc sĩ Nền tảng kiến thức và kinh nghiệm phong phú của cô đã góp phần quan trọng giúp cho luận văn thạc sĩ của em trở nên hoàn thiện hơn Nếu có cơ hội, em rất hi vọng rằng bản thân sẽ tiếp tục được cô dìu dắt trên con đường học tập đầy thử thách trong tương lai
Từ tận đáy lòng, em xin được dành lời cảm ơn chân thành nhất đến với những người thân yêu trong gia đình của mình Em cảm thấy vô cùng may mắn khi ông bà,
bố mẹ và anh chị đã luôn dành cho em sự ủng hộ vô điều kiện Nhờ sự hỗ trợ về mọi mặt của gia đình, em mới có thể yên tâm trong quá trình học tập và phát triển bản thân
Em xin chân thành cảm ơn đến những người bạn Lục Thanh Diệp, Vũ Thị Xuân Thu, Phạm Sỹ Hoàng, Trần Thị Thúy, Nguyễn Thị Thúy Ngân, Trương Thanh Hải, các thành viên trong CLB Trà đạo Tankokai và Urasenke USSH các khóa đã hỗ trợ
em rất nhiệt tình trong quá trình nghiên cứu đề tài Đặc biệt, em muốn dành lời cảm
ơn đến Đặng Trí Dũng - người bạn đã luôn ở bên cạnh và cùng em nỗ lực trong suốt quá trình học tập Sự giúp đỡ của mọi người sẽ luôn được em nhớ đến và trân trọng như là một trong những kỷ niệm đẹp nhất của cuộc đời em
Hà Nội, ngày tháng năm 2025
Người cam đoam
Phạm Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 3
DANH MỤC ẢNH 4
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do lựa chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Nguồn tư liệu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Cấu trúc luận văn 10
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRÀ VÀ TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN 12
1.1 Cây trà và lịch sử uống trà 12
1.1.1 Xuất xứ và đặc điểm của trà 12
1.1.2 Quá trình lan tỏa cây trà và văn hóa uống trà 20
1.2 Lịch sử trà đạo Nhật Bản 28
1.2.1 Sự xuất hiện của cây trà và trà đạo tại Nhật Bản 28
1.2.2 Các trà sư và các mốc chính trong lịch sử trà đạo Nhật Bản 31
Chương 2 PHÁI TRÀ URASENKE 41
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Urasenke 41
2.1.1 Người sáng lập Urasenke 41
2.1.2 Quá trình phát triển Urasenke 47
2.2 Đặc điểm của Urasenke 57
2.2.1 Triết lý của Urasenke 57
2.2.2 Bài trí trà thất và các nghi lễ trà 58
2.2.3 Tổ chức của Urasenke Nhật Bản 65
Trang 6Chương 3 QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA TRÀ ĐẠO URASENKE 68
3.1 Quá trình đưa trà đạo Nhật Bản ra thế giới 68
3.1.1 Hoạt động giới thiệu trà đạo trước Chiến tranh thế giới thứ Hai 68
3.1.2 Nỗ lực quảng bá trà đạo sau Chiến tranh thế giới thứ Hai 70
3.2 Quá trình quốc tế hóa Trà đạo Urasenke 73
3.2.1 Quá trình giới thiệu về Trà đạo Urasenke ra thế giới 73
3.2.2 Urasenke Tantokai Việt Nam 83
3.2.3 Câu lạc bộ Trà đạo Urasenke USSH 89
3.3 Đánh giá và đề xuất 93
3.3.1 Đánh giá hoạt động giới thiệu và phát triển Trà đạo tại Việt Nam 93
3.3.2 Đề xuất giải pháp phát triển trà đạo tại Việt Nam và trên thế giới 95
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1: Bảng các chất dinh dưỡng có trong trà 18
Bảng 1.2: Các mốc quan trọng trong lịch sử trà ở Trung Quốc và Thế giới 26
Bảng 2.1: Các trưởng môn phái Urasenke 55
Bảng 2.2: Mức hội phí của Urasenke Tankokai Việt Nam 66
Biểu đồ 3.1: Chi nhánh & Văn phòng liên lạc Urasenke tại các châu lục
giai đoạn 1951-2021 (Bảng do tác giả lập) 81
Trang 8DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1.1: Hình ảnh người phụ nữ Trung Hoa thu hoạch trà 15
Ảnh 1.2: Cây chè Shan Tuyết cổ thụ 16
Ảnh 1.3: Bản đồ phân bố cây trà trên thế giới giai đoạn 2015 – 2019 17
Ảnh 1.4: Kissa Yojoki của Thiền sư Eisai 21
Ảnh 1.5: Obaku sanmanpuku ji 29
Ảnh 2.1: Chân dung trà sư Sen Sotan (千宗旦) 42
Ảnh 2.2: Bên trong trà thất Konnichian 43
Ảnh 2.3: Bên ngoài trà thất Konnichian 43
Ảnh 2.4: Bên ngoài trà thất Yuni 44
Ảnh 2.5: Bên trong trà thất Yuni 45
Ảnh 2.6: Trà thất Kanuntei 46
Ảnh 2.7: Tokonoma 59
Ảnh 2.8: Trà thất Viên Đức Am – Entokuan 59
Ảnh 2.9: Bữa ăn nhẹ Kaiseki 61
Ảnh 2.10: Koicha (trà đặc) 62
Ảnh 2.11: Usucha (trà loãng) 62
Ảnh 2.12: Tác giả luận văn trình diễn pha trà Ryurei 64
Ảnh 3.1: Nơi giới thiệu văn hóa Trà đạo tại hội nghị G7 71
Ảnh 3.2: Phòng trà trong Japan House ở Đại học Illinois 72
Ảnh 3.3: Tiệc trà tại căn cứ 75
Ảnh 3.4: Nghi lễ dâng trà cầu nguyện hòa bình cho đài tưởng niệm USS
Arizona (Hawaii) 76
Ảnh 3.5: Trụ sở LHQ cầu nguyện hòa bình tại Chakai (New York) 76
Ảnh 3.6: Lễ dâng trà Thái tử Mohamad của Tiểu vương quốc Abu Dhabi 78
Ảnh 3.7: Lễ dâng trà cho Tổng thống Singapore bà Tony Tan Keng Yam,
tại Konnichian 78
Ảnh 3.8: Học viên Midorikai trong một buổi tập luyện 79
Ảnh 3.9: Hội thảo tiếng anh cho những người yêu thích Trà đạo tại Nhật Bản 80
Trang 9Ảnh 3.10: Bản đồ phân bố các Chi nhánh & Văn phòng liên lạc Urasenke
trên Thế Giới 80
Ảnh 3.11: Trà thất Viên Đức Am 83
Ảnh 3.12: Học sinh trung học cơ sở tại Hà Nội trải nghiệm trà đạo 85
Ảnh 3.13: Sinh viên Đại học Thăng Long trải nghiệm trà đạo 85
Ảnh 3.14: Trải nghiệm trà đạo trong Lễ hội Sakura tại Hà Nội 86
Ảnh 3.15: Trải nghiệm Trà đạo danh cho Top 15 Đại sứ Hoa Anh Đào
ngày 22/3/2019 86
Ảnh 3.16: Senpai K1 dạy trà cho K2 92
Ảnh 3.17: Sempai K2 dạy trà cho K3 92
Ảnh 3.18: CLB USSH với giảng viên và thành viên Urasenke Tankokai trong
sự kiện trà đạo tại làng cổ Đường Lâm 92
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các giá trị văn hóa truyền thống của nhiều quốc gia đang đối mặt với những thách thức lớn để bảo tồn và tìm ra hướng phát triển phù hợp Trà đạo Nhật Bản cũng không phải là một ngoại lệ Nếu trong thời cận - hiện đại, phái trà Urasenke đã nổi lên như một ví dụ thành công về khả năng cải cách và quốc tế hóa, thì ngày nay phái trà này đang tiếp tục dẫn đầu trong quá trình mở rộng mạng lưới toàn cầu, đồng thời đề cao những giá trị tinh thần cốt lõi được xây dựng qua nhiều thế hệ
Tác giả luận văn là thành viên của Câu lạc bộ Trà đạo Urasenke Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (sau đây xin gọi tắt là CLB USSH) từ tháng 9 năm 2019, đồng thời là thành viên của chi nhánh Urasenke Tankokai Việt Nam Với 5 năm tham gia các hoạt động trà đạo tại Việt Nam, tác giả mong muốn đóng góp một góc nghiên cứu về quá trình lịch sử và hiện trạng quốc tế hóa trà đạo của Urasenke nói chung và trường hợp ở Việt Nam nói riêng Đặc biệt, tác giả nhận thấy quá trình quốc tế hóa văn hóa trà đạo Urasenke tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng, đặt ra những vấn đề thú vị về sự tương tác giữa các loại hình văn hóa, sự thay đổi và phát triển của trà đạo khi chuyển đổi sang môi trường mới, những tác động của quá trình quốc tế hóa đến văn hóa truyền thống của chính nước Nhật và quốc gia sở tại Với mong muốn làm sáng tỏ các vấn đề này, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài "Urasenke và quá trình quốc tế hóa trà đạo” cho luận văn thạc sỹ của mình
Thông qua việc phân tích các yếu tố lịch sử, văn hóa và xã hội đã tạo nên sự phát triển của Urasenke, đồng thời khảo sát các phương pháp và chiến lược mà Urasenke áp dụng trong việc duy trì tính nguyên bản của trà đạo khi truyền bá ra thế giới, các hoạt động cụ thể của Urasenke tại Việt Nam, luận văn sẽ chỉ ra những thành công và vấn đề, thách thức mà trường phái này cần giải quyết để phát triển trà đạo tại một quốc gia đang trong quá trình hội nhập nhanh chóng Từ đó, tác giả luận văn mong muốn đưa ra một số đề xuất về giải pháp nâng cao hiệu quả truyền bá trà đạo và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống liên quan đến trà đạo
Trang 11lễ trà đạo, mà còn nhấn mạnh vai trò của trà trong văn hóa Nhật Bản
Về phái trà Urasenke, không thể không nhắc đến "Cha-no-yu: The Japanese Tea Ceremony" của A.L Sadler (NXB Tuttle, 1977) Tác phẩm trình bày chi tiết về các bước tiến hành nghi lễ, cách sắp xếp bàn trà và các quy tắc ứng xử trong các buổi lễ trà của phái Urasenke Bên cạnh đó, "Tea Life, Tea Mind" của Sen Soshitsu (NXB Weatherhill, 1979) tập hợp các bài viết và diễn văn của chính trà sư Soshitsu, người đứng đầu phái trà Urasenke từ năm 1964 đến năm 2002, cũng là một tài liệu quan trọng Tác phẩm nhấn mạnh quan điểm của tác giả về tầm quan trọng của trà đối với cuộc sống và tư duy của con người “Urasenke Chado Textbook” của Genshitsu Sen và Soshitsu Sen (NXB Tankosha , 2011) bổ sung thêm thông tin về lịch sử và triết lý của Urasenke, bên cạnh các quy tắc và thói quen trong trà đạo, các bài thơ và câu chuyện liên quan đến trà đạo Có thể nói các tác phẩm này là những tài liệu quan trọng cung cấp hệ thống thông tin đầy đủ về lịch sử và đặc điểm của phái trà Urasenke
Về quá trình quốc tế hóa trà đạo phải kể đến "Chado: The Way of Tea: A Japanese Tea Master s Almanac" của Sasaki Sanmi (NXB Tuttle, 2001) Tác phẩm tập trung trình bày về các sự kiện liên quan đến trà diễn ra trong một năm ở Nhật Bản Tác giả Sasaki mô tả chi tiết về các nghi lễ trong từng hoạt động, cũng như các đánh giá, các bài thơ chiêm nghiệm liên quan đến nghi lễ Trà đạo Tiếp đó, “The Way of Tea: Reflections on a Life with Tea" của Aaron Fisher (NXB Tuttle, 2022), lại cung cấp cho chúng ta thông tin về các thức thực hành trà đạo từ góc độ của một trà sư nước ngoài (Aaron Fisher) Cuốn sách này giải thích về các khía cạnh của Trà đạo và những trải nghiệm của tác giả trong hành trình khám phá nghệ thuật trà đạo
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về trà đạo Tiêu biểu là luận văn tốt nghiệp “Các trà sư Nhật Bản với lịch sử hình thành, phát triển trà đạo thời trung thế
Trang 12và sơ kỳ cận thế" của Mạnh Thị Thanh Nga (Khoa Đông phương học, 2000) Luận văn phân tích sâu về nguồn gốc của trà đạo và những đóng góp của các trà sư thời
kỳ trung thế và cận thế ở Nhật Bản Bên cạnh đó có luận văn tốt nghiệp “Cận đại hóa nghi lễ trà đạo Urasenke (Giai đoạn 1868 – 1945)” của Nguyễn Thị Thúy Ngân (Khoa Đông phương học,2025) Luận văn làm rõ đặc điểm quá trình Cận đại hóa nghi lễ trà của phái trong giai đoạn 1868-1945 “Nghệ thuật uống trà của Việt Nam
và trà đạo Nhật Bản” của Phạm Tấn Thiên (Tạp chí Khoa học Xã Hội Việt Nam, số
7 (80) ,tr 104-113, 2014) là bài viết so sánh trà đạo Nhật Bản với tục uống trà của Việt Nam Ngoài ra, bài viết “Thiền và trà đạo” (trong “ Những nét văn hóa của đạo Phật" của Thiền sư Thích Phụng Sơn, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995) tập trung làm sáng tỏ mối quan hệ giữa trà đạo và Thiền, với những phân tích sâu sắc về tầm quan trọng của trà đạo trong Phật giáo
Như vậy, việc nghiên cứu về Trà đạo Nhật Bản và Urasenke cũng như hoạt động truyền bá trà đạo ra nước ngoài đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện Tuy nhiên, chưa có công trình nào đặt mục tiêu nghiên cứu vào Urasenke và vai trò trong quá trình quốc tế hóa Trà đạo Là một thành viên của Câu lạc bộ Trà đạo Urasenke USSH thành lập năm 2019, tác giả luận văn muốn tập trung nghiên cứu về vấn đề này Đặc biệt, tác giả nhận thấy quá trình quốc tế hóa văn hóa trà đạo Urasenke tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển và đặt ra những câu hỏi thú vị về sự tương tác giữa các loại hình văn hóa, sự thay đổi và phát triển của trà đạo khi chuyển đổi sang môi trường mới, những tác động của quá trình quốc tế hóa đến văn hóa truyền thống của một quốc gia Đây là những vấn đề mà tác giả muốn tìm lời giải đáp trong quá trình thực hiện luận văn Với lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài "Urasenke
và quá trình quốc tế hóa Trà đạo” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phái trà Urasenke và hoạt động quốc tế hóa của phái trà này
Phạm vi không gian của nghiên cứu là nước Nhật, Việt Nam và một số khu vực có liên quan đến quá trình quốc tế hóa trà đạo của Urasenke
Phạm vi thời gian của nghiên cứu là từ khi cây trà được sử dụng làm thức uống thời cổ đại cho đến nay
Trang 134 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển, đặc điểm của phái trà Urasenke vai trò trong quá trình quốc tế hóa văn hóa trà đạo Đặc biệt thông qua trường hợp Urasenke Tankokai Việt Nam (tạm dịch là chi nhánh Urasenke tại VN) và câu lạc bộ Trà đạo Urasenke USSH (viết tắt là Urasenke USSH), tác giả muốn đánh giá các hoạt động quốc tế hóa Trà đạo của Urasenke tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền bá Trà đạo, góp phần bảo tồn văn hóa Trà đạo trong bối cảnh toàn cầu hóa Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu chính gồm:
1 Làm sáng tỏ lịch sử truyền bá trà vào Nhật Bản và lịch sử trà đạo Nhật Bản
2 Phân tích những mốc chính trong lịch sử phái trà Urasenke và các nhân vật có vai trò định hình phái trà này
3 Lý giải nguyên nhân và phương pháp quốc tế hóa trà đạo được Urasenke thực hiện từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai đến nay Lấy Việt Nam làm trường hợp phân tích sâu nhằm đề xuất đánh giá và giải pháp cho các vấn
đề đang đặt ra
5 Nguồn tư liệu
Luận văn khai thác các tài liệu được coi là kinh điển về Trà đạo như “Trà kinh” của Lục Vũ (780, bàn dịch tiếng Việt NXB Văn học, 2008), “Trà thư” của Okakura Kazuo (1906, bản dịch tiếng Việt của NXB Thế Giới 2009)
Bên cạnh đó, luận văn tham khảo các công trình tiêu biểu về Trà đạo của các
nhà nghiên cứu Nhật Bản như Akira Tani (茶人たちの日本文化 , NXB Kodansha,
2007), các nhà nghiên cứu phương Tây như Gretchen Mittwer (“What Is Chanoyu?”, NXB Tankosha, 2019), các nhà nghiên cứu Việt Nam như Mạnh Thị Thanh Nga (“Các trà sư Nhật Bản với lịch sử hình thành, phát triển Trà đạo thời trung thế và sơ kỳ cận thế”, Khoa Đông phương học, 2000), các trà sư như Sen Genshitsu và Sen Soshitsu (“Urasenke Chado Textbook”, NXB Tankosha, 2011)… Luận văn cũng khai thác thông tin trên một số trang web chính thức của các phái trà Nhật Bản, đặc biệt là Urasenke (https://www.urasenke.or.jp/texte/about/)
Trang 14Để làm có được các đánh giá riêng và cập nhật về Urasenke và hoạt động quốc
tế hóa trà đạo, tác giả luận văn thực hiện khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn sâu đối với thành viên Urasenke Tantokai Việt Nam và CLB USSH - hai tổ chức được Urasenke chính thức công nhận tại Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện từ góc độ tiếp cận liên ngành khu vực học Tác giả luận văn đã kết hợp một số phương pháp nghiên cứu của sử học, xã hội học và khu vực học
Trước hết, luận văn được trình bày theo phương pháp logic và lịch đại của sử học Các sự kiện liên quan đến lịch sử du nhập trà và lịch sử trà đạo Nhật Bản được sắp xếp theo trình tự thời gian Một số sự kiện quan trọng được so sánh theo phương pháp đồng đại
Các nội dung về thực hành trà đạo được tác giả thực hiện bằng phương pháp quan sát tham gia và phỏng vấn thông qua bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu của xã hội học
Phương pháp nghiên cứu trường hợp của khu vực học được tác giả lựa chọn khi phân tích sâu về một số nhân vật và sự kiện tiêu biểu của trà đạo nói chung, Urasenke và chi nhánh tại Việt Nam nói riêng nhằm minh chứng cho các lập luận của luận văn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương chính
Chương 1 Khái quát về Trà đạo Nhật Bản
Chương này khái quát lịch sử và sự phát triển của trà, từ nguồn gốc ở Trung Quốc, nơi trà được dùng như một phương thuốc và trở thành một phần của đời sống văn hóa, đến việc cây trà được du nhập vào Nhật Bản qua các nhà sư Thiền tông vào thế kỷ VIII Trà tại Nhật Bản phát triển thành một nghệ thuật mang triết lý sống thanh tịnh và hài hòa, với đỉnh cao là Trà đạo (chanoyu) được định hình vào thế kỷ XV-XVI bởi các trà sư như Sen no Rikyu cùng bốn nguyên tắc wa-kei-sei-jaku (hòa-kính-thanh-tịch) Chương cũng phân tích sự khác biệt giữa Trà đạo Nhật Bản
và văn hóa trà của Trung Quốc, Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Trà đạo như một biểu tượng văn hóa đặc sắc của Nhật Bản
Trang 15Chương 2 Phái trà Urasenke
Chương này nghiên cứu phái trà Urasenke, một trong ba phái trà lớn nhất Nhật Bản, được thành lập vào thế kỷ XVII bởi hậu duệ của Sen no Rikyu Với lịch
sử hơn 400 năm, Urasenke nổi bật nhờ sự linh hoạt trong việc duy trì truyền thống
và thích ứng với thời đại, lấy triết lý wa-kei-sei-jaku làm kim chỉ nam cho các hoạt động từ thiết kế phòng trà, lựa chọn trà cụ đến tổ chức nghi lễ trà Phái trà này không chỉ giữ gìn nghệ thuật Trà đạo mà còn truyền tải triết lý sống cân bằng
và thanh thản, đồng thời thúc đẩy giao lưu văn hóa thông qua hệ thống giáo dục và các trung tâm dạy Trà đạo trên toàn thế giới Urasenke đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Nhật Bản, tạo cầu nối với các nền văn hóa khác
Chương 3 Quá trình quốc tế hóa trà đạo của Urasenke
Chương này phân tích quá trình quốc tế hóa của phái trà Urasenke từ giữa thế
kỷ XX, với trọng tâm là việc xây dựng chi nhánh và câu lạc bộ trên toàn cầu để thúc đẩy giao lưu văn hóa và giáo dục quốc tế Tại Việt Nam, Urasenke Tankokai đã đạt nhiều thành tựu trong quảng bá Trà đạo thông qua biểu diễn, giảng dạy và hợp tác với Đại sứ quán Nhật Bản và các trung tâm văn hóa Đặc biệt, Câu lạc bộ Trà đạo USSH, được Urasenke công nhận, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các sự kiện dành cho sinh viên và cộng đồng Chương cũng chỉ ra các thách thức như cân bằng giữa bản địa hóa và tính nguyên bản, hạn chế cơ sở vật chất và đội ngũ giảng dạy, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quốc tế hóa, đảm bảo tính bền vững và hấp dẫn của Trà đạo
Trang 16Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRÀ VÀ TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN
1.1 Cây trà và lịch sử uống trà
Có lẽ trên thế giới, ít loại cây nào sánh được với cây trà về tầm quan trọng và mức độ lan tỏa trong đời sống sinh hoạt, văn hóa truyền thống của các cộng đồng cư dân Cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis, không chỉ là một trong những thức uống phổ biến nhất trên thế giới, mà còn là biểu tượng của văn hóa và gắn liền với lịch sử của nhiều quốc gia Khởi nguồn từ những vùng núi cao của châu Á, cây trà đã bắt đầu hành trình đặc biệt của mình, vượt qua biên giới quốc gia và sự khác biệt văn hóa, tín ngưỡng, để trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của hàng triệu người hiện nay Từ những nghi lễ trà truyền thống ở phương Đông đến những buổi tiệc trà chiều tao nhã ở phương Tây, trà không chỉ mang lại hương vị thơm ngon, sảng khoái mà còn chứa đựng những câu chuyện văn hóa và lịch sử đầy màu sắc Trong chương này, tác giả muốn trình bày khái quát về cây trà, bao gồm nguồn gốc, đặc điểm, sự sinh trưởng, quá trình lan tỏa, mở rộng ảnh hưởng trên thế giới nói chung và ở Nhật Bản nói riêng
1.1.1 Xuất xứ và đặc điểm của trà
Lá trà (Camellia sinensis - nguồn gốc của tất cả các loại trà hiện nay, gồm trà trắng, trà xanh, trà ô long, trà đen) được cho là được người tiền sử Homo Erectus ở miền Nam Trung Quốc sử dụng từ thời kỳ đồ đá cũ (khoảng 500 ngàn năm trước)1
Ở Trung Quốc có nhiều truyền thuyết về sự tích cây trà Tiêu biểu và nổi tiếng nhất là câu chuyện của người Hoa Bắc2 kể về nguồn gốc cây trà và tục uống trà xuất hiện từ trước Công nguyên, tương truyền từ thời Thần Nông (神农, khoảng 3330 -
3080 TCN)3 Thần Nông được coi là cha đẻ của ngành y học cổ truyền Trung Quốc Người ta cho rằng đóng góp lớn nhất của ông là kiến thức về thảo dược và y học
1 Nguồn: https://vannghemoi.com.vn/tan-man-ve-phong-vi-tra-trong-doi-song-van-hoa-nguyen-van-hung/, truy cập ngày 26/2/2025
2 Theo cách phân chia truyền thống trong lịch sử Trung Hoa, vùng lãnh thổ được chia thành ba khu vực chính dựa trên các con sông lớn Hoa Bắc là vùng đất nằm phía bắc sông Hoài, trong khi Hoa Nam bao gồm toàn
bộ khu vực từ sông Hoài kéo dài về phía nam cho đến đảo Hải Nam Hoa Trung là khu vực trung tâm nằm giữa hai con sông lớn, Hoàng Hà và Dương Tử
3 Thần Nông là vị hoàng đế thần thoại của Trung Quốc, một trong ba vị thần được gọi là Tam Hoàng gồm Nữ
Oa, Phục Hi và Thần Nông
Trang 17Trong sự tích Thần Nông có đoạn viết rằng: một lần, Thần Nông dừng chân nghỉ ngơi dưới một tán cây sau một hành trình dài Vốn cẩn thận về vấn đề vệ sinh, Thần Nông đun sôi nước để uống trước khi tiếp tục lên đường Khi đó, vô tình một vài chiếc lá trên cây rơi vào nồi nước Khi uống thứ nước này, trong ông trà ngập cảm giác bình yên và thư thái Đó chính là lá trà Cũng từ đó, nước đun lá trà được coi là
vị thuốc có tác dụng giữ tỉnh táo và tĩnh tâm Sang thời nhà Hán (206 TCN - 219 SCN), từ chỗ là vị thuốc, nước trà dần trở nên phổ biến trong đời sống sinh hoạt thường nhật4
Bên cạnh đó, thuyết của người Hoa Nam về Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨)5 cũng
đề cập đến cây trà Truyền thuyết kể rằng để thực hiện một lời thề, ông đã dành 9 năm thiền trong một hang động nhỏ Đến năm thứ 5, để giữ cho mình tỉnh táo, nhà
sư đã bứt lá từ cái cây gần đó và nhai chúng Đó là cây cây trà và những chiếc lá trà
đã giúp ông tỉnh táo đến khi hoàn thành lời nguyện của mình Một phiên bản khác lại kể rằng Bồ Đề Đạt Ma thật ra đã ngủ thiếp đi, khi tỉnh dậy ông giận mình nên đã cắt đi mí mắt để chúng không bao giờ khép lại Cây trà đã mọc ra từ chính chỗ ông ném mi mắt bị cắt đi6
Người Trung Quốc có câu: “Uống trà bắt đầu từ thời Thần Nông, truyền đến Chu Công nước Lỗ”7
Một số nhà nghiên cứu cho rằng câu nói này căn cứ trên ba cuốn sách cổ “Thần Nông bản thảo kinh” (神農本草經), “Thần Nông thực kinh” (神 農食經), “Nhĩ nhã” (爾雅) Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Đỗ Trọng Huề, các cuốn sách cổ này được viết sau thời Thần Nông (khoảng 3330 - 3080 TCN) Cụ thể là
“Thần Nông bản thảo kinh”, “Thần Nông thực kinh” được soạn trong thời Hậu Hán (25-221), còn “Nhĩ nhã” soạn khoảng năm 350 Các cuốn này có thể đã được chỉnh sửa vào khoảng thế kỷ VIII vì trước năm 725 chưa có chữ Hán biểu thị nghĩa “trà”
4 Đỗ Trọng Huề (1968), “Hương Trà”, NXB Hoa Lư, trang 9
5 Tương truyền Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma, còn được gọi là Pu Tai Ta-Mo trong tiếng Trung và Daruma Daishi trong tiếng Nhật) lớn lên gần Madras, Ấn Độ, trong gia tộc Sardili vào thế kỷ thứ V Ông là một hoàng tử trẻ giàu có và được quý mến Khi còn là một chàng trai trẻ, ông đã tình cờ nhận gặp được lời dạy của Đức Phật và sau đó dành cả cuộc đời để tu học và thiền định Ông đã đến vùng núi của dãy Tung Sơn để
ở lại chùa Thiếu Lâm để tu tập Truyền thuyết kể rằng để thực hiện một lời thề, ông đã dành 9 năm để thiền trong một hang động nhỏ tại đó
Trang 18Theo Emil Bretschneider8, chữ Hán biểu thị ý nghĩa “trà” trở nên thông dụng nhờ cuốn “Trà kinh” của Lục Vũ9
Như vậy, dù các truyền thuyết về nguồn gốc của trà đa dạng và phong phú, việc xác định chính xác giai đoạn con người bắt đầu để ý đến cây trà và sử dụng thức uống từ lá trà lại không hề đơn giản Cây trà có thể đã xuất hiện từ trước Công nguyên ở một khu vực rộng lớn trải dài từ Bắc Ấn Độ đến Tây Tạng và Tây Nam Trung Quốc, nơi có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp cho sự sinh trưởng của loại thực vật này Có thể các cộng đồng cư dân bản địa đã phát hiện công dụng của trà và sử dụng nó từ sớm Sau đó, các thương nhân Trung Quốc trên hành trình buôn bán đã khám phá ra lợi ích của tập quán này từ những cộng đồng địa phương
và bắt đầu truyền bá cho việc sử dụng trà như một loại dược liệu
Trà thực sự trở thành một phần quan trọng trong đời sống hàng ngày của người dân Trung Quốc vào thời nhà Đường (618-907) - thời kỳ được xem là “kỷ nguyên vàng” của văn hóa trà Sự ưu ái của triều đình dành cho trà không chỉ phản ánh tầm quan trọng của thức uống này mà còn đánh dấu thời kỳ phát triển mạnh
mẽ của các hình thức thưởng trà - một phần quan trọng trong đời sống văn hóa và
xã hội Trung Quốc Đây chính là khi Lục Vũ (陆羽, 733-804), một hòa thượng Phật giáo, đã biên soạn "Trà Kinh" (茶经) Cuốn sách của ông được coi là tư liệu
cổ nhất còn giữ được đến nay, giới thiệu một cách hệ thống về cây trà, bao gồm chủng loại, công năng, cách thức pha chế và lợi ích từ việc thưởng trà Lục Vũ đã nâng cao vị thế của cây trà khi coi thưởng trà là một phần của thẩm mỹ, của đời sống tinh thần Quan điểm của ông chịu ảnh hưởng của ba tư tưởng là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Các giáo lý mà ông trình bày tập trung vào nghi lễ của trà đạo truyền thống – phương thức không chỉ giúp con người tìm thấy sự hài hòa và giản dị trong cuộc sống, mà còn cảm nhận được mối liên kết với thiên nhiên và vũ trụ rộng lớn
8 Emil Bretschneider (1833-1901) là nhà Hán học người Đức Baltic và thành viên thông tấn của Viện Hàn lâm Pháp, hoạt động tại Đế quốc Nga Ông tốt nghiệp ngành y tại Đại học Dorpat, Estonia, và từng làm bác sĩ cho phái đoàn Nga tại Tehran từ năm 1862 đến 1865 Từ năm 1866 đến 1883, ông tiếp tục phục vụ với vai trò bác sĩ cho các phái đoàn Nga tại Bắc Kinh
9 Đỗ Trọng Huề (1968), sdd, trang 9
Trang 19Sau thời Đường, văn hóa thưởng trà tiếp tục mở rộng ảnh hưởng và đạt được
sự phát triển mạnh mẽ trong thời Tống (960-1280) Trong thời kỳ này, nhiều tác phẩm thơ ca và nghệ thuật phản ánh sự tinh tế trong văn hóa trà và tầm quan trọng của trà trong đời sống văn hóa, tôn giáo ở Trung Quốc Cũng trong giai đoạn này, ảnh hưởng của cây trà và tục uống trà đã lan rộng ra nhiều nước ở Viễn Đông
Ảnh 1.1: Hình ảnh người phụ nữ Trung Hoa thu hoạch trà 10
Tên khoa học của trà là "thea" hay "camellia sinensis" đã phản ánh nguồn gốc liên quan đến Trung Quốc của loại thực vật này Trong các đặc tính của trà người ta nhấn mạnh tính kích thích vừa phải
Về đặc điểm thực vật học, cây trà là loại cây xanh lưu niên Hiện nay trà thường mọc dạng bụi hoặc cây nhỏ và được xén tỉa để giữ cho chiều cao dưới 2m, nhằm thuận lợi cho việc thu hoạch Tuy nhiên, trong tự nhiên ta có thể bắt gặp các cây trà cổ thụ cao từ 5m đến 20 m Lá cây trà màu xanh đậm, có hình bầu dục hoặc hình elip, dài từ 5-10 cm và rộng 2-3 cm Lá có độ bóng, mép lá hơi răng cưa, và gân lá nổi bật Lá non thường được thu hoạch để chế biến trà vì chúng chứa nhiều
10 Nguồn ảnh
https://baophapluat.vn/chuyen-cua-tra-ky-1-nhung-huyen-tich-ve-xuat-xu-cua-cay-tra-post442938.html,%20truy%20c%E1%BA%ADp%20, truy cập ngày 18/5/2023
Trang 20chất dẫn vị và hợp chất hữu ích Hoa của cây trà thường màu trắng, có 5-7 cánh, và tỏa ra hương thơm nhẹ Hoa mọc đơn lẻ hoặc thành từng cụm nhỏ Quả cây trà là một loại quả hạch, chứa từ 1 đến 3 hạt11
Ảnh 1.2: Cây chè Shan Tuyết cổ thụ12
Về điều kiện sinh trưởng: Cây trà ưa khí hậu ẩm và mát mẻ, thường phát triển tốt ở độ cao từ 500 đến 2500 mét so với mực nước biển Nhiệt độ lý tưởng cho sự phát triển của cây trà là từ 13°C đến 30°C Cây có thể thích nghi với nhiều loại đất nhưng ưa đất pha cát, giàu humus, có độ pH từ 4,5 đến 6,5 Đất cần có khả năng thoát nước tốt để tránh ngập úng gây hại cho rễ Cây cần lượng mưa từ 1.200 đến 2.500 mm mỗi năm, phân bổ đều qua các tháng Sự phân bổ không đều của mưa có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và năng suất của cây Vì vậy, trên thế giới cây trà phân bố chủ yếu từ vĩ độ 30°N đến 40°B13
Trang 21Ảnh 1.3: Bản đồ phân bố cây trà trên thế giới giai đoạn 2015 - 201914Trên thực tế, các thức uống giải khát do con người tạo ra được chia thành 2 loại là loại chứa cồn và loại không chứa cồn Đồ uống có cồn mang đến cảm giác mạnh mẽ nên thường được cho là có tính kích thích, nhưng thực ra lại có tác dụng làm yếu tinh thần Sự hưng phấn tinh thần thực sự đến từ ba loại thức uống không chứa cồn là trà, cà phê và ca cao Cà phê tác động mạnh vào tâm trí, trong khi ca cao tác động lớn đến thận Trà nằm ở vị trí trung lập giữa cà phê và cacao, có tính kích thích ở mức độ vừa phải đối với các chức năng sinh lý15 Có lẽ vì thế nên ngày nay, sau nước, chè là đồ uống phổ biến nhất trên thế giới - phổ biến hơn cả cà phê, nước ngọt và rượu cộng lại Khoảng 84% người Anh thưởng thức một ly trà hàng ngày, nhiều người uống trung bình ba đến bốn cốc mỗi ngày Ngành công nghiệp chế biến chè thế giới đạt doanh số 200 tỷ USD và dự kiến sẽ tăng thêm 50% vào năm 202516
14 thich-su-phan-bo-cac-cay-cong-nghiep-chinh-t, truy cập ngày 19/5/2023
https://khoahoc.vietjack.com/question/830180/doc-thong-tin-va-quan-sat-hinh-213-hay-nhan-xet-va-giai-15 Theo gioi-sau-nuoc-881352.vov, truy cập ngày 1/2/2024
https://vov.vn/the-gioi/cuoc-song-do-day/lich-su-it-biet-den-ve-tra-do-uong-pho-bien-thu-hai-the-16 Theo 32648.vna#:~:text=*%20T%E1%BB%95ng%20quan%20s%C6%A1%20l%C6%B0%E1%BB%A3c%20v% E1%BB%81,%C4%91%E1%BA%BFn%20b%E1%BB%91n%20c%E1%BB%91c%20m%E1%BB%97i%2 0ng%C3%A0y., truy cập ngày 16/10/2024
Trang 22https://nvsk.vnanet.vn/su-kien/ngay-che-the-gioi-21-5-che-do-uong-pho-bien-thu-hai-the-gioi-2-Trà có nhiều tác dụng, đặc biệt là về mặt dinh dưỡng và kích thích Dưới đây
là bảng tổng hợp các tác dụng chính của trà xanh – loại trà thông dụng nhất hiện nay tại Nhật Bản
Bảng 1.1: Bảng các chất dinh dưỡng có trong trà17
Chất
dinh
dưỡng
Catechin Ức chế sự phát triển của tế bào ung thư
và sản xuất nitrosamine gây ung thư
Làm giảm hoạt động của các enzym và ngăn cản chúng chuyển hóa tinh bột thành glucose Giúp kiểm soát lượng đường trong máu và mỡ trong máu
Giúp tiêu diệt vi khuẩn tả trong đường ruột gây tiêu chảy và làm tăng lợi khuẩn bifido là sinh vật thân thiện trong đường ruột
Kiểm soát mức độ LDL18
trong máu
Ức chế sự phát triển của vi khuẩn trong khoang miệng là nguyên nhân gây sâu răng và hôi miệng
1 tách trà có khoảng 70-120
mg catechin
Caffeine Giúp kích thích các dây thần kinh và
não bộ, khiến bạn cảm thấy sống động
LDL Cholesterol có tên đầy đủ là Low density lipoprotein Cholesterol Nó có chứa mật độ lipoprotein thấp
và được xem là một loại Cholesterol xấu đối với cơ thể Cholesterol xấu này có thể gây ra các bệnh lý nguy hiểm cho cơ thể như đột quỵ, xơ vữa động mạch, sỏi thận, nhồi máu cơ tim,… khiến người bệnh tử vong (Theo https://medlatec.vn/tin-tuc/hoi-dap-ldl-cholesterol-la-gi-trong-xet-nghiem-mo-mau-s195-
n21503#:~:text=LDL%20Cholesterol%20c%C3%B3%20t%C3%AAn%20%C4%91%E1%BA%A7y,khi% E1%BA%BFn%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20b%E1%BB%87nh%20t%E1%BB%AD%20vong.), ngày 17/6/2023
Trang 23và tỉnh táo
Là thuốc lợi tiểu
Giúp đốt cháy chất béo
Giúp loại bỏ rượu ra khỏi cơ thể và làm giảm triệu chứng nôn nao
Kích thích tim thúc đẩy tuần hoàn máu
Theanine Giúp chống lại caffeine
Cho phép các tế bào thần kinh trong não thư giãn
Rất nhiều theanine có thể được tìm thấy trong Sencha, Gyokurocha, Kabusecha chất lượng cao hoặc lá trà được bọc trước khi cắt
Vitamin C Giúp bồi bổ cơ thể, chống cảm lạnh và
làm đẹp da Catechin giúp ngăn vitamin
C hòa tan trong nước nóng Uống 5 tách trà tương đương với uống 100g nước chanh vì cả hai đều có 50mg vitamin C
Thông thường, cơ thể con người cần 100 mg vitamin C mỗi ngày, tương đương với
Saponin Giúp tăng cường chức năng hoạt động
của insulin, để cơ thể có năng lượng
Ngăn ngừa huyết khối là nguyên nhân của các mạch máu đông máu
Khi trộn Funmatsucha và Matcha với nước và khuấy đều sẽ xuất hiện bọt khí do saponin tạo ra bọt khí
Trang 241.1.2 Quá trình lan tỏa cây trà và văn hóa uống trà
Phần này xin tập trung trình bày về quá trình mở rộng ảnh hưởng của cây trà ở một số khu vực tiêu biểu của châu Á và châu Âu19
Trong các thời Tống (960-1279), Nguyên (1279-1368), Minh (1368-1660) kéo dài khoảng 1042 năm, trà từ chỗ được coi là một vị thuốc, trở thành thức uống phổ biến trong đời sống sinh hoạt và là mặt hàng có giá trị thương mại ở Trung Quốc Trà còn trở thành một danh mục nộp thuế và được vận chuyển rộng rãi từ vùng sản xuất sang các xứ sở xa xôi Để dễ dàng vận chuyển, người ta đã sáng tạo ra nhiều cách bảo quản lá trà như phơi khô, ép thành bánh hay còn gọi là chuyên trà (塼茶,
còn viết là 磚茶) Thậm chí, người ta còn coi trà là vật trung gian sử dụng trong quá trình trao đổi hàng hóa Văn hóa uống trà và ngành sản xuất trà không chỉ lan rộng, thấm sâu trong đời sống người dân, mà còn được phản ánh trong các tác phẩm văn chương, lưu lại trong sử sách Cũng trong thời gian này, cùng với sự phát triển kỹ thuật chế tác đồ gốm sứ, các trà cụ đã trở nên phong phú và đa dạng
Trà và văn hóa uống trà đã mở rộng ảnh hưởng từ Trung Quốc tới các quốc gia lân cận, trong đó có Nhật Bản Theo nhà nghiên cứu Miyazaki Masafusa (宮崎正房) trong cuốn sách Nihoncha no Rekishi (日本茶の歴史, tức “Lịch sử trà Nhật Bản”), cây trà bắt đầu được đưa từ Trung Quốc vào Nhật Bản khoảng đầu thế kỷ VIII Ông cho rằng Nemotoki (根本記) của chùa Kofuku (興福寺) và Ogisho (黄衣抄) là hai tài liệu đề cập đến việc nhập khẩu cây trà từ Trung Quốc vào Nhật Bản Lúc đầu trà được đặc biệt sử dụng cho các nghi lễ Phật giáo Từ thời Thiên Hoàng Shomu (聖武
天, 701-756) tục uống trả dần phổ biến hơn trong tầng lớp sư tăng Phật giáo Tương truyền Thiền sư Gyoki (行基, 658-749) đã dành cả cuộc đời mình để xây dựng 49 ngôi chùa và trồng trà trong vườn của các ngôi chùa đó Từ đó, các vườn trà nhỏ bắt đầu xuất hiện quanh các tự viện Trà từ chỗ là một phần của nghi lễ đã trở thành phương tiện để tăng cường sự tỉnh táo trong quá trình thiền định của các sư tăng Người có công phát triển việc trồng và uống trà ra ngoài ranh giới các tự viện
là Thiền sư Myouan Eisai (明菴榮西, 1141-1215) Sau khi từ Trung Quốc trở về Nhật Bản, Eisai không chỉ mang về hạt giống trà mà còn viết Kissa Yōjōki (喫茶養生記,
19 Đỗ Trọng Huề (1968), “Hương Trà”, NXB Hoa Lư, tr7-42
Trang 25tức “Ghi chép về dưỡng sinh bằng cách uống trà”, hoàn thành năm 1214) Trong cuốn sách này, ông nhấn mạnh lợi ích của trà đối với sức khỏe và hướng dẫn cách trồng trọt, pha chế trà
Ảnh 1.4: Kissa Yojoki của Thiền sư Eisai20Trong các cách pha chế trà đương thời, cách thức được ưa chuộng nhất là nghiền lá trà xanh thành bột mịn bằng cối đá Bột này được gọi là mạt trà, hay ngày nay chúng ta quen với cái tên Nhật Bản: matcha (抹茶) Sự xuất hiện matcha tạo tiền
đề cho nghệ thuật trà đạo Nhật Bản chanoyu (茶の湯) sau này Từ thế kỷ XIII, trà nhanh chóng trở thành một phần quan trọng trong các nghi lễ của giới quý tộc và võ
sĩ cấp cao Trong nghi lễ uống trà, người ta không chỉ thưởng thức hương vị của trà
mà còn chia sẻ những cảm thức về thiên nhiên và các triết lý sống mang đậm nét Thiền Đây là nét đặc trưng của văn hóa Trà khi phát triển tại Nhật Bản Về trà đạo Nhật Bản xin tiếp tục trình bày ở chương sau
Trà cũng được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm Do chính sách cướp bóc
và triệt phá các nguồn tài liệu của người Việt dưới thời Minh (1414-1427), chúng
ta không có nhiều thông tin về đời sống sinh hoạt của người Việt trước thế kỷ XV Một số nhà nghiên cứu cho rằng cây trà đã được đưa vào Việt Nam dưới thời Bắc thuộc, có thể là thời Đường Những suy luận này dựa trên ba cơ sở chính Thứ nhất là vai trò của các sư tăng Phật ở vùng Giao Châu, bao gồm việc truyền giáo
và giao lưu văn hóa Thứ hai là sự phát triển mạnh mẽ của vùng sản xuất trà Hoa
Trang 26Nam và thương mại thời Đường khiến trà có thể trở thành mặt hàng trao đổi giữa thương nhân hai nước Thứ ba là chính sách đô hộ thời Bắc thuộc có thể đã thúc đẩy việc tiêu thụ trà tại Giao Châu như một phần của nỗ lực làm giàu cho chính quốc Sự kết hợp của các yếu tố văn hóa, thương mại và chính trị này làm tăng khả năng trà đã được giới thiệu và trở thành một phần của đời sống văn hóa tại Việt Nam thời Bắc thuộc
Không chỉ có khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trà còn lan tỏa sang phía Tây, đến các nước châu Âu Các thương nhân, nhà truyền giáo, nhà lữ hành phương Tây
du hành giữa hai châu lục đã ghi lại những hiểu biết về nền văn hóa trà của các nước phương Đông Trà được cho là đã lan sang Nga qua các đoàn lạc đà từ Trung Quốc, đi theo của Con đường Tơ lụa trên lục địa Trong các ghi chép sớm về trà phải kể đến ghi chép của Marco Polo (1254-1324) về các xứ sở phương Đông Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVII, trà mới thực sự gây được tiếng vang ở châu Âu thông qua việc các thương nhân Hà Lan chính thức nhập khẩu trà năm 1610 Đó là thời điểm đầu tiên trà từ Nhật Bản và Trung Quốc được vận chuyển đến châu Âu bằng tàu của Công ty Đông Ấn Hà Lan21 Sự yêu thích đối với trà mau chóng lan tỏa khắp các đô thị châu Âu như Amsterdam, Paris và London Dù vậy, do giá thành cao, chỉ các gia đình Hoàng thất hay tầng quý tộc mới có thể thưởng thức trà Thú vui uống trà trở thành biểu tượng của sự sang trọng và tinh tế trong xã hội thượng lưu châu Âu đương thời
Sự phát triển của trà ở phương Tây không thể không kể đến vai trò của Đế quốc Anh Ban đầu, người Anh không hào hứng đón nhận trà và cà phê được coi là thức uống của giới mày râu Năm 1657, Thomas Garraway mở cửa hàng bán trà đầu tiên tại Anh, nhập khẩu trà từ Hà Lan Trà dần nhận được sự hưởng ứng của phụ nữ, đặc biệt là các bà nội trợ bởi sự thanh lịch và nhẹ nhàng Từ đó các quán trà xuất hiện ở London và trà cũng trở thành thực uống tại các tiệm cà phê Sự ưa chuộng trà ở Anh càng tăng lên khi Catherine of Braganza (1638-1705), công chúa
Trang 27Bồ Đào Nha, kết hôn với Charles II (trị vì 1649-) Bà mang theo tình yêu với trà và giới thiệu việc thưởng thức trà tại triều đình Anh Không lâu sau đó, Công ty Đông
Ấn Anh22, đối thủ của Công ty Đông Ấn Hà Lan, đã mở rộng ảnh hưởng của mình tại phương Đông bằng cách thiết lập một điểm thu mua trà ở Macao, chính thức bắt đầu giao thương trà với châu Á Đầu thế kỷ XVIII, Công ty Đông Ấn Anh đã trở thành thế lực thương mại hàng đầu, giữ vị trí độc quyền trong việc kinh doanh trà với Trung Quốc Với việc thiết lập các điểm giao dịch tại Ấn Độ, bao gồm Bombay, Bengal và Madras, Công ty đã trở thành công cụ mở rộng ảnh hưởng chính trị của
Đế quốc Anh Tuy nhiên, các biến động chính trị như Cách mạng Mỹ và Chiến tranh Pháp và Ấn Độ năm 1763 đã làm lung lay vị thế độc quyền của Công ty Đông
Ấn Anh Thêm vào đó, Công ty cũng đối mặt với các vấn đề về quản lý tài chính không ổn định, lòng tham và việc tăng cường săn lùng trà bất hợp pháp, làm suy giảm uy tín và hiệu quả hoạt động
Trong suốt thế kỷ XVIII-XIX, ngay cả khi Công ty Đông Ấn Anh còn vị thế thống trị, Trung Quốc vẫn là nguồn cung chính cho thị trường trà của phương Tây
Để giải mã bí quyết trồng và chế biến trà, cũng như giảm bớt sự lệ thuộc vào nhập khẩu trà từ Trung Quốc, Ủy Ban Trà Anh đã lựa chọn Robert Fortune (1812-1880)
- một nhà thực vật học người Anh - cho một sứ mệnh đặc biệt: giả làm thương nhân
để tìm hiểu các phương pháp canh tác và xử lý trà ở Trung Quốc Robert Fortune đã thu thập mẫu trà và đưa các chuyên gia trồng trà từ Trung Quốc về Anh Những chuyên gia này sau đó đóng vai trò quan trọng giúp hỗ trợ Anh phát triển trồng trà tại Ấn Độ Năm 1823, sĩ quan quân đội Anh là Robert Bruce (1789–1824) vô tình khám phá sự tồn tại của giống trà tự nhiên ở Assam - khu vực ở Đông Bắc Ấn Độ Điều này mở ra một cơ hội lớn cho Công ty Đông Ấn Anh trong việc mở rộng việc canh tác trà từ Assam sang các vùng lân cận, đặc biệt là Darjeeling - vùng đất nằm ở chân dãy Himalaya thuộc Đông Bắc Ấn Độ Tiến sĩ Thomas Colin Campbell (sinh
22 Công ty Đông Ấn (tiếng Anh: East India Company) hay còn được gọi bằng những cái tên khác như Công
ty thương mại Đông Ấn (tiếng Anh: East India Trading Company), Công ty Đông Ấn Anh (tiếng Anh: English East India Company) và sau Đạo luật Liên minh nó mang tên là Công ty Đông Ấn Anh Quốc (tiếng Anh: British East India Company) là một trong những công ty cổ phần đầu tiên của nước Anh nó được thành lập ban đầu nhằm mục đích thương mại với Đông Ấn, nhưng thực ra nó chỉ giao dịch chủ yếu với tiểu lục địa
Ấn Độ và Trung Quốc
Trang 28ngày 14 tháng 3 năm 1934 - nay, 90 tuổi), một nhân viên của Công ty, đã tiên phong trong việc trồng trà bằng cách gieo hạt tại vườn nhà mình ở Beechwood thuộc Darjeeling Ông đã đạt được thành công đầu tiên năm 1847 Chính phủ Anh sau đó
đã mở rộng quy mô canh tác bằng cách phát triển các đồn điền trà quy mô lớn trong khu vực Sự mở rộng này không chỉ tạo ra một ngành công nghiệp trà thịnh vượng ở
Ấn Độ mà còn giảm bớt sự phụ thuộc vào trà nhập khẩu từ Trung Quốc
Giống như ở châu Âu, trà được giới thiệu tại Mỹ vào giữa thế kỷ XVII, thông qua khu định cư New Amsterdam của người Hà Lan Khi Anh chính thức kiểm soát khu vực này vào năm 1664 và đổi tên thành New York, thương mại trà nhanh chóng phát triển, đặc biệt là trong cộng đồng phụ nữ thuộc địa và giới thượng lưu Lúc này, Công ty Đông Ấn Anh đã thuyết phục được Quốc hội Anh thông qua các luật thuế cao nhằm cải thiện tình hình tài chính của họ và loại bỏ các thương nhân địa phương khỏi chuỗi cung ứng Điều này làm gia tăng sự bất bình trong cộng đồng cư dân bản địa Đỉnh điểm của sự căng thẳng này là sự kiện Tiệc trà Boston, nơi nhóm người phản đối cải trang thành thổ dân Mỹ, đổ trà từ các tàu của Công ty Đông Ấn Anh xuống biển để phản đối mức thuế cao của Anh Sự kiện này đã trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776
Mặc dù bị ảnh hưởng bởi cách mạng tại Mỹ, Công ty Đông Ấn Anh vẫn tồn tại nhờ quy mô và ảnh hưởng rộng lớn quy mô thế giới Các thương nhân trà bản địa
ở Mỹ, tiêu biểu là Richard Twining, đã tiếp tục cuộc đấu tranh chống độc quyền, phơi bày những hành vi bóc lột của Công ty Năm 1874, chính phủ Anh đã buộc phải chấm dứt thể chế độc quyền của Công ty Trong thập niên 1850, tận dụng việc Đạo luật Điều hướng (vốn quy định mọi hàng hóa phải được vận chuyển thông qua nước Anh) hết hiệu lực, tàu chở hàng của Mỹ bắt đầu trực tiếp nhập khẩu trà từ Trung Quốc Các tàu clipper, sở hữu ba cột buồm lớn, có thiết kế với thiết kế mảnh mai, có thể đạt tốc độ tối ưu, đã nhanh chóng trở thành lựa chọn hàng đầu cho việc vận chuyển hàng hóa Cả người Anh lẫn người Mỹ lao vào cuộc đua trên biển nhằm vận chuyển trà từ châu Á, chủ yếu là Trung Quốc, đến Anh Nhờ đó, trong thế kỷ XIX, phong tục uống trà tại Mỹ đã có những biến đổi lớn
Trang 29Thói quen uống trà đá được cho là bắt đầu tại Hội chợ Thế giới năm 1904 ở St Louis, bang Missouri, khi một nhà buôn trà quốc tế muốn phục vụ trà miễn phí cho khách tham quan Do thời tiết nắng nóng trà không thu hút được nhiều người, khiến nhà buôn này nảy ý định xin đá từ quầy kem lân cận để pha vào trà Từ đó, trà đá - một truyền thống uống trà đặc trưng của Mỹ - đã bắt đầu Ngày nay, trà đá chiếm khoảng 80% lượng trà tiêu thụ tại Hoa Kỳ Túi lọc trà ban đầu được làm một cách thủ công từ vải muslin hoặc lụa, khâu tay với sự tỉ mỉ nên chủ yếu sử dụng trong các gia đình khá giả Năm 1903, Thomas Sullivan, một nhà kinh doanh trà ở New York, đã giới thiệu túi trà thương mại đầu tiên, mở đầu cho việc phổ cập thói quen dùng trà túi lọc sản xuất hàng loạt
Như vậy, quá trình lan tỏa cây trà và văn hóa uống trà trên thế giới là một hành trình dài và đa dạng, phản ánh sự giao thoa văn hóa và kinh tế giữa các quốc gia và các châu lục Từ nguồn gốc ở Trung Quốc, cây trà và văn hóa uống trà đã mở rộng ra khắp châu Á, châu Âu, và toàn thế giới Mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ đã phát triển và duy trì các truyền thống uống trà đặc trưng của riêng mình, từ trà xanh, trà đen, trà oolong, cho đến các phong cách pha trà và thưởng thức trà độc đáo Sự phát triển của văn hóa uống trà không chỉ là kết quả của việc trao đổi hàng hóa mà còn là sự chuyển giao kiến thức và kỹ thuật trồng trọt cũng như chế biến trà Những
nỗ lực như của Robert Fortune ở Trung Quốc hay sự khám phá loài trà bản địa ở Ấn
Độ đã góp phần làm phong phú thêm nguồn cung cấp trà trên thế giới, giảm bớt sự phụ thuộc vào một nguồn gốc duy nhất và tạo điều kiện cho sự đa dạng hóa của văn hóa uống trà
Văn hóa uống trà gắn liền với lịch sử, chính trị, và xã hội của mỗi quốc gia, khu vực Các sự kiện như Tiệc trà Boston đã chứng minh tầm quan trọng của trà không chỉ là một thức uống mà còn là biểu tượng của tự do và độc lập Trong khi
đó, sự xuất hiện của túi trà và trà đá là minh chứng cho sự sáng tạo và thích ứng với thời gian, góp phần làm cho trà trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của con người Quá trình lan tỏa cây trà và văn hóa uống trà là một chứng minh cho sự kết nối và tương tác giữa các nền văn hóa Nó không chỉ là một phần của lịch sử thương mại toàn cầu mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng và duy trì các truyền thống văn hóa đặc sắc khắp thế giới
Trang 30Bảng 1.2: Các mốc quan trọng trong lịch sử trà ở Trung Quốc và Thế giới23
1 Khoảng năm
2737 TCN
Theo truyền thuyết, Thần Nông phát hiện ra lá trà khi vô tình nấu nước dưới gốc cây trà, tạo ra thức uống giúp tỉnh táo và thư giãn
Trung Quốc
2 Khoảng năm 500
TCN
Lá trà được sử dụng như một vị thuốc trong các văn bản y học cổ
đại Trung Quốc
Trung Quốc
3 Khoảng năm 729 Cây trà từ Trung Quốc được du
nhập vào Nhật Bản, phổ biến trong các tự viện Phật giáo
Nhật Bản
4 Năm 760
(Đường)
Thời Đường, trà trở thành thức uống phổ biến và mặt hàng thương mại có giá trị, phản ánh trong Trà Kinh của Lục Vũ
Trung Quốc
5 Năm 804 Thiền sư Nhật Bản, Saichō, mang
trà từ Trung Quốc về Nhật Bản, bắt đầu truyền bá văn hóa uống trà tại Nhật
Trung Quốc
7 Năm 1214 Thiền sư Eisai viết Kissa Yōjōki ,
hướng dẫn về lợi ích và cách pha chế trà
Nhật Bản
23 Bảng do tác giả luận văn tự lập trên cơ sở tổng hợp thông tin từ cuốn “Hương Trà” của Đỗ Trọng Huề (1968) và "History of tea" của Laura C Martin (2019)
Trang 318 Năm 1368 (Minh) Văn hóa trà thời Minh trở nên
phong phú hơn, với việc sử dụng lá trà rời thay vì chuyên trà, hình thành phong cách pha trà hiện đại
Trung Quốc
9 Thế kỷ XIII Matcha xuất hiện, đặt nền móng
cho nghệ thuật trà đạo chanoyu tại Nhật Bản
Nhật Bản
10 Năm 1610 Hà Lan nhập khẩu trà vào châu Âu
lần đầu tiên, mở đầu thương mại trà tại châu Âu
Châu Âu
11 Năm 1657 Thomas Garraway mở cửa hàng
bán trà đầu tiên tại Anh, dần phổ biến trà trong xã hội
Anh
12 Năm 1773 Sự kiện Tiệc trà Boston diễn ra,
phản đối việc đánh thuế trà của Anh tại các thuộc địa Mỹ
Mỹ
13 Năm 1823 Dr Thomas Campbell thành công
trồng trà tại Darjeeling, đánh dấu sự phát triển trà Ấn Độ
Ấn Độ
14 Năm 1903 Thomas Sullivan phát minh túi trà
thương mại, thay đổi cách thưởng thức trà hiện đại
Mỹ
15 Năm 1904 Hội chợ Thế giới St Louis, Mỹ:
Trà đá được giới thiệu, trở thành thức uống phổ biến
Mỹ
Trang 321.2 Lịch sử trà đạo Nhật Bản
1.2.1 Sự xuất hiện của cây trà và trà đạo tại Nhật Bản
Phần này xin đi sâu phân tích về lịch sử trà đạo Nhật Bản Như đã trình bày, truyền thống uống trà tại Nhật Bản được du nhập từ Trung Quốc từ khoảng thế kỷ VIII Trà du nhập vào Nhật Bản đồng thời với Phật Giáo và lan tòa nhờ sự nỗ lực của nhiều tầng lớp xã hội, từ sư tăng, quý tộc, võ sĩ đến tầng lớp thị dân, thương nhân Theo Mạnh Thị Thanh Nga, Nihon Koki (日本後記, 815) đã ghi lại việc Thiên hoàng Saga (嵯峨, 786-842), trong một chuyến thăm đến tỉnh Omi (nay là tỉnh Shiga),
đã được nhà sư Eichu (永忠) đã dâng lên một loại trà dược được đun sôi trong nước (
煎じ茶) Loại trà được ông sử dụng được ghi là heicha (餅茶, bính trà là một cách gọi khác của chuyên trà, tức trà bánh) Sau đó, Thiên hoàng Saga đã khuyến khích việc trồng trà tại một khu vực rộng từ Kinai, Omi, Tamba đến Harima (tương đương các tỉnh Kyoto, Osaka, Hyogo, Nara, và Shiga hiện nay) Thời Heian, trà được coi là thức uống sang trọng, được sử dụng trong các nghi lễ tại hoàng cung hoặc các ngôi chùa lớn Tuy nhiên, khi chế độ phái cử sứ giả sang Trung Quốc bị đình chỉ thì nguồn cung cấp trà trở nên khan hiếm, khiến tục uống trà dần bị lãng quên
Thời Kamakura, tục uống trà được phục hồi nhờ nỗ lực của Thiền sư Eisai hay Yosai (栄西, 1141-1215), người sáng lập phái Lâm Tế (臨済) Năm 1191, Eisai đã mang hạt giống trà từ Trung Quốc sang Nhật Bản và trồng ở chùa Ryosen (霊仙寺, thuộc tỉnh Saga ngày nay) Như đã trình bày, năm 1214, Eisai hoàn thành cuốn
“Khiết trà dưỡng sinh ký” (喫茶養生記), phổ biến phương pháp trồng, chế biến và lợi ích của trà Loại trà được sử dụng lúc này là sancha (散茶,tản trà là cách gọi chung các loại trà không đóng bánh) Từ Kyushu, hạt trà được nhà sư Myoe (明恵, 1173-1232) mang đến Kyoto trồng ở chùa Kozan (高山寺) Vườn trà chùa Kozan là vườn trà đầu tiên ở Nhật Bản và là khởi nguồn cho vùng trà Uji (宇治茶) nổi tiếng hiện nay Cuối thời Kamakura, trà được trồng phổ biến ở Nhật Bản Cách chế biến trà phổ biến lúc này là tencha (碾茶,chiển trà tức trà được nghiền) hay hikicha (挽茶,vãn trà tức trà được xay) Đây là các cách gọi loại trà được xao khô và nghiền nhỏ mà ngày nay chúng ta gọi là matcha Tục uống trà được tầng lớp quý tộc và võ sĩ ưa chuộng Họ không chỉ
Trang 33uống trà mà còn thi đấu khả năng thưởng thức và nhớ hương vị và nguồn gốc của từng loại trà bằng cách tổ chức các cuộc đấu trà gọi là Tocha (闘茶)24
Trong thời Muromachi, một mặt việc uống trà được nâng lên thành nghi thức trong giới thượng lưu (nội dung này sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau) Mặt khác trà trở nên phổ biến trong đời sống thường nhật của tầng lớp bình dân Sang thời Edo, trà và phương pháp pha trà hình thành thời Minh ở Trung Quốc được truyền bá đến Nhật Bản Đây là lần thứ ba trà được truyền vào Nhật Bản với cách pha trà mới gọi là encha (淹茶,yêm trà) Phương pháp pha này giống cách chúng ta uống trà hiện nay: người ta không đun bánh trà hay lá trà, cũng không uống bột lá trà như các giai đoạn trước Thay vào đó, người ta cho lá trà đã sao khô vào ấm, rót nước sôi rồi đổ nước trà ra chén và chỉ uống nước trà Lúc này, một nhà sư Trung Quốc là Ingen (Ấn Nguyên,1592-1673)25 đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá nhiều yếu tố văn hóa Trung Quốc vào Nhật Bản, bao gồm cả cách pha chế, các dụng cụ thưởng trà như ấm pha trà, bát uống trà, lọ đựng trà…
Ảnh 1.5: Obaku sanmanpuku ji 26
24
Mạnh Thị Thanh Nga (2000), “Các trà sư Nhật Bản với lịch sử hình thành, phát triển Trà đạo thời trung thế
và sơ kỳ cận thế”, luận văn tốt nghiệp Khoa Đông phương học, Trường Đại học KHXH&NV, trang 11-15
25 Ingen Ryūki là một thiền sư nổi tiếng người Trung Quốc, thuộc về truyền thống Lâm Tế, và là đệ tử thế hệ thứ 31 của Thiền sư Thiên Đồng Viên Ngộ (密雲圓悟) Nhận lời mời từ Dật Nhiên (逸然), một nhà sư Nhật Bản, Ingen đến Nhật Bản năm 1654 để truyền bá tông phái Hoàng Bá 黃檗宗) Ingen được ban tặng danh hiệu Đại Quang Phổ Chiếu Quốc Sư (大光普照國師), nhờ công lao trong việc truyền bá Phật giáo và văn hóa Trung Quốc tại Nhật Bản
26 Nguồn: https://www.alit.city.iruma.saitama.jp/070/030/010/20200101163000.html,
truy cập ngày 2/3/2024
Trang 34Vào giữa thời kỳ Edo, nhà sư phái Thiền Obaku là Gekkai Gensho (月海元照) trở thành một bicha-o (売茶翁, tức người bán trà) Ông vừa bán sencha vừa truyền
bá cho Thiền đạo ở Kyoto Sự xuất hiện của Gekkai Gensho trong thị trường trà đã nhận được sự ủng hộ của tầng lớp tri thức, trở thành đề tài cho các tác phẩm của nhiều nhà văn và học giả nổi tiếng thời Edo như Ueda Akinari (上田 秋成) và Rai Sanyo (頼 山陽) Nhờ vậy, tục uống sencha bắt đầu phổ biến trong đời sống Bên cạnh đó, các phương pháp chế biến sencha mới cũng phát triển Đáng chú ý, vào năm 1738, Nagatani Soen (永谷宗円), một nông dân tại Uji, đã sáng tạo phương pháp sản xuất trà sencha mới bằng cách hấp lá trà thay vì sao khô như trước đó Phương pháp này, sau đó được biết đến là “phương pháp Uji”, đã được Yamamoto Kahei (山本嘉兵衛), một thương nhân kiêm trà nhân ở Edo, ca ngợi và nhanh chóng trở nên phổ biến do giữ được màu sắc tươi sáng tự nhiên và hương thơm dễ chịu của
lá trà Kể từ đó, sencha hấp đã trở thành một sản phẩm sang trọng tại Edo và dần dần trở nên phổ biến hơn từ những năm 1750 Ngày nay, khi nói đến "trà xanh" Nhật Bản người ta thường chỉ sencha hấp - loại trà đã trở thành thương hiệu của trà Nhật và không thể thiếu trong văn hóa trà hiện đại
Trong quá trình tìm kiếm phương pháp làm tăng chất lượng của sencha, các nhà sản xuất trà đã thử nghiệm các kỹ thuật trồng trà đặc biệt, trước đây chỉ được dùng cho tencha, vào việc sản xuất sencha Đến năm 1835, Yamamoto Kahei (山本 嘉兵衛) đã phát triển một dòng trà cao cấp và đặt tên là gyokuro (玉 露 )27 bằng cách cải tiến quy trình thu hoạch lá trà Ông che phủ cho cây trà khỏi ánh nắng trực tiếp trước khi thu hoạch để tăng cường vị umami (うま味 - vị bùi ngọt) của trà
Cũng trong thời Edo, các nhóm thương nhân trà tham gia các phường hội gọi
là Chabu Nakama (茶舗仲間) hay Cha Nakama (茶仲間) theo các khu vực Việc phân phối trà bằng giấy phép do các phường hội và giới chức địa phương cấp trở nên phổ biến Vào năm 1858, Mạc phủ Edo đã ký kết Hiệp định Hữu nghị và Thương mại
Trang 35với Mỹ, dẫn đến việc mở cửa các cảng Nagasaki, Yokohama và Hakodate vào năm
1859 Vào thời điểm này 181 tấn trà đã được xuất khẩu như một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật Bản, bên cạnh lụa thô Trong thời Meiji (1868-1912), việc xuất khẩu trà của Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, chủ yếu hướng đến thị trường Âu Mỹ, với sự hỗ trợ của chính phủ
Cũng trong thời kỳ này đã diễn ra quá trình chuyển đổi chủ sở hữu các vườn trà từ tầng lớp võ sĩ quý tộc sang nông dân và các thương nhân Quá trình tập trung hóa các vườn trà không chỉ thúc đẩy việc hình thành các vùng sản xuất lớn mà còn góp phần thúc đẩy ngành chế biến, hệ thống phân phối, việc đào tạo thương nhân, người môi giới bán buôn trà Đặc biệt cơ giới hóa được áp dụng trong quy trình chế biến trà mà đỉnh cao là máy nghiền lá trà do Takabayashi Kenzo (高林健三,1832 -
1899) phát minh, giúp tiết kiệm lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm
1.2.2 Các trà sư và các mốc chính trong lịch sử trà đạo Nhật Bản
Như đã nói ở trên, Trung Quốc là nơi sinh ra tục uống trà Ở Trung Quốc trà đã trở thành thú chơi cầu kỳ sang trọng của giới quan lại quý tộc với những dụng cụ đắt tiền và cũng phổ biến trong nghi lễ tôn giáo và đời sống dân chúng như một thức uống mang lại sự tỉnh táo, bổ sung dinh dưỡng Nhưng tục uống trà ở Trung Quốc dù
có những quy định cầu kỳ cũng không được gọi là “Trà đạo" Tương tự như vậy, trà
đã trở thành một phần không thể thiếu của nhiều nền văn hóa trên thế giới, nhưng nâng các nguyên tắc và triết lý về trà lên thành “đạo” thì chỉ có ở Nhật Bản
Trước khi phân tích về lịch sử trà đạo Nhật Bản, tác giả xin trình bày về khái niệm trà đạo sado (茶道) hay cha no yu (茶の湯) Theo Okakura, trà đạo là một triết
lý sống thể hiện sự tôn trọng đối với thiên nhiên, sự giản dị, và sự hài hòa giữa con người với thế giới xung quanh Ông viết: "Teaism is a cult founded on the adoration
of the beautiful among the sordid facts of everyday existence It inculcates purity and harmony, the mystery of mutual charity, the romanticism of the social order." (tạm dịch “Trà đạo là một giáo phái được thành lập dựa trên sự tôn thờ cái đẹp giữa những thực tế tầm thường của cuộc sống hàng ngày Nó khuyến khích sự thanh khiết và hài hòa, bí ẩn của lòng nhân ái lẫn nhau, sự lãng mạn của trật tự xã hội.”)28
28 Okakura Kakuzo (1096), "The book of tea", Fox, Duffield & Company, tr.1
Trang 36Đặc biệt Okakura cho rằng trà đạo là sự kết hợp giữa nghệ thuật, văn hóa và triết học, mang tinh thần Thiền tông
Trong cuốn sách "The Japanese Way of Tea: From Its Origins in China to Sen Rikyu" của Soshitsu Sen XV, tác giả trích dẫn một quan điểm nổi tiếng của Sen Rikyu về bản chất của trà đạo: "Tea is nothing but this: first you boil water, then you make the tea and drink it That is all you need to know"29 (tạm dịch: "Trà chỉ đơn giản là: đầu tiên bạn đun nước, sau đó pha trà và uống Đó là tất cả những gì bạn cần biết") Câu nói này phản ánh triết lý cốt lõi của Sen Rikyu, nhấn mạnh sự giản dị và tập trung vào bản chất của trà đạo Theo Rikyu, trà đạo không phải là một nghi thức phức tạp hay cầu kỳ, mà là một nghệ thuật sống, nơi sự đơn giản và chú tâm trong từng hành động được tôn vinh Triết lý này đã đặt nền móng cho trà đạo hiện đại, khuyến khích con người tìm thấy vẻ đẹp trong những điều giản dị nhất của cuộc sống thường ngày
Học giả về Thiền và văn hóa Nhật Bản Suzuki T Daisetz cho rằng trà đạo không chỉ là một nghi thức uống trà mà còn là một phần mở rộng của Thiền tông, nơi việc pha trà và thưởng trà phản ánh tinh thần hòa hợp giữa con người và vũ trụ Ông viết: "The principle of cha-no-yu is the spirit of harmonious blending of Heaven and Earth and provides the means for establishing universal peace" (tạm dịch "Nguyên tắc của cha-no-yu là tinh thần hòa hợp giữa Trời và Đất, đồng thời cung cấp phương tiện để thiết lập hòa bình toàn cầu")30
Như vậy, chúng ta có thể tổng hợp rằng trà đạo không chỉ là nghi thức pha và thưởng trà, mà còn là một triết lý sống, giúp con người tìm thấy sự hòa hợp, tĩnh lặng và thanh tịnh thông qua việc trân trọng từng khoảnh khắc Trong suốt quá trình phát triển, trà đạo đã chứng kiến sự đóng góp và ảnh hưởng sâu sắc của nhiều trà sư vào quá trình từ du nhập, sản xuất trà, đến chế biến, lưu thông sản phẩm trà và đặc biệt là xây dựng hoàn thiện quy trình nghi lễ thưởng trà lên thành một nghệ thuật đặc sắc
Trang 37Dưới đây là các giai đoạn chính trong lịch sử trà đạo Nhật Bản gắn với các trà
sư tiêu biểu
Giai đoạn tiền thân của trà đạo (trước thế kỷ XIV)
Như đã trình bày trong phần trước, trà được du nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc trong thời cổ đại nhưng trải qua nhiều bước thăng trầm Chỉ đến khi trà sư Eisai chắp bút cuốn Kissa Yōjōki (喫茶養生記, tức “Khiết trà dưỡng sinh ký”, 1214)
và tích cực truyền bá phương thức uống trà, tác dụng của trà đối với sức khỏe thì trà mới thực sự trở thành một thức uống được sử dụng phổ biến Đây chính là tiền
đề cho sự ra đời của trà đạo Nhật Bản
Giai đoạn hình thành trà đạo (thế kỷ XIV-XVI)
No Ami (能阿弥, 1397-1471)
No Ami là một nghệ nhân đa tài được coi là một trong ba nhân vật hàng đầu của lịch sử mỹ học Nhật Bản31 Ông xuất thân từ gia đình võ sĩ và sớm theo môn phái Thiền Ông là thành viên của nhóm Doboshu (同朋衆, một nhóm nghệ nhân được Tướng quân và các daimyo sủng ái) No Ami được ca ngợi vì tài sáng tác thơ renca (連歌), vẽ tranh, cắm hoa và đánh giá thẩm định cổ vật Với mối quan hệ thân thiết với tướng quân Ashikaga Yoshimasha ( 足利義政, 1436 - 1490), ông đã đóng góp cho việc xây dựng những nguyên tắc cơ bản của Trà đạo, điều được các đại trà
sư như Rikyu và Juko ca ngợi
Đóng góp đầu tiên của No Ami là Nhật hoá và đổi mới nghệ thuật đấu trà Tocha Khi du nhập vào đời sống của tầng lớp quý tộc, đấu trà vốn là một hình thức phô trương, nhưng nhờ No Ami, nghi thức này giảm dần tính phô trương, thay vào
đó đề cao triết lý Thiền, hiểu biết sâu sắc về trà, kết hợp với nghệ thuật thi ca Phong cách kiến trúc Shoin zukuri (書院造) do No-Ami sáng tạo là biểu hiện rõ nét của triết lý Thiền tông, nhấn mạnh tính đơn sơ, giản dị, thanh tịnh, mà điểm nhấn là
31 No Ami (能阿弥,1397-1471), Gei Ami (芸阿弥, 1431-1485), và Sō Ami (相阿弥,1455-1525) là ba nhân vật hàng đầu trong lịch sử mỹ học Nhật Bản No Ami, nghệ nhân đa tài thời Muromachi, nổi tiếng với hội họa và trà đạo, được coi là người tiên phong trong nghệ thuật tranh thủy mặc và triết lý wabi-sabi Con trai ông, Gei Ami, là bậc thầy về tranh thủy mặc và thẩm định nghệ thuật, tiếp tục phát triển thẩm mỹ tinh tế trong nghệ thuật Nhật Bản Cháu nội của No Ami, Sō Ami, nổi bật với phong cách kết hợp giữa hội họa Trung Hoa và Nhật Bản, đồng thời tinh chỉnh nghi thức trà đạo, đưa mỹ học Nhật Bản đến đỉnh cao của sự thanh nhã và hài hòa
Trang 38các khung cửa vòm tròn kiểu Thiền tự và góc kotonoma Trà thất kiểu Shoin có diện tích giới hạn, trang trí mộc mạc, hài hòa với khung cảnh thiên nhiên xung quanh
No Ami còn sáng tạo phương pháp trang trí daisu (台子) trong trà thất Daisu vốn là cách gọi cái giá hoặc bàn đơn giản để bày vật phẩm dâng lên đức Phật trong các ngôi chùa ở Trung Quốc No Ami đã biến daisu thành một phần quan trong nghi
lễ trà với quy định về trật tự bố trí trà cụ trên giá Ông còn phát huy hiểu biết về cung đạo trong nguyên tắc sử dụng chashaku (柄杓, muôi múc nước) hay động tác múa và di chuyển của nghệ sĩ kịch No trong nguyên tắc di chuyển của chủ trà No Ami cũng đặc biệt chú trọng đến quy định về trang phục của người tham gia lễ trà, phân biệt theo địa vị xã hội, nhấn mạnh sự tôn trọng chủ- khách Ngoài ra, No Ami còn được biết đến với công lao đánh giá, phân loại, đặt tên gọi cho hệ thống bảo vật của dòng họ Ashikaga, bao gồm trà cụ, các bức tranh chữ và hội họa của Trung Quốc - những yếu tố trở thành một phần quan trọng của văn hóa trà Nhật Bản Nhờ đóng góp của ông, nghi lễ uống trà ở Nhật Bản đã phát triển thành một phong cách riêng biệt, thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc Cha-no-yu mà No Ami đề xướng
đã trở thành nền tảng quan trọng cho sự định hình trà đạo sau này
Murata Juko (村田珠光, 1422–1502)
Murata Juko không để lại cho người đời sau rõ lai lịch về gia đình cũng như thủa ấu thơ như thế nào, chỉ biết được rằng ông xuất thân từ tầng lớp bình dân ở Nara Ông được No Ami đề cao là trà sư Murata Juko Murata chịu ảnh hưởng của hòa thượng Ikkyu Sojun (一休
宗純.,1394 - 1481), đã cải cách trà đạo, đưa triết lý Phật giáo thấm nhuần vào các thao tác và tâm thế của nghi lễ uống trà Ông là người đầu tiên ghép từ “đạo” vào “trà” và đưa ra thuật ngữ "Trà đạo" Ông phê phán trà đạo hình thức và thiếu tâm thành, coi trọng việc tìm kiếm chân lý và triết lý ẩn sau việc thưởng thức trà Vì vậy Murata được No Ami và sau này là Rikyu tôn vinh là "vị sư tổ khai sáng trà đạo"
Murata Juko là người có công định hình quy trình của nghi lễ trà, đặt nền móng cho triết lý trà đạo “tâm và tính bình đẳng” Cụ thể là khác với No Ami, thế giới trà đạo của Murata không phân biệt địa vị xã hội, không có quy định riêng về giai tầng qua trang phục và nghi thức tiếp đãi Murata nhấn mạnh quan điểm Ichigo-ichie (一期一会, tức lần gặp gỡ trong trà đạo là cơ duyên duy nhất và không lặp lại)
Trang 39Vì vậy, chủ và khách đều bình đẳng, trân trọng chia sẻ từng thao tác, từng hiểu biết
về trà lễ trong không gian trà thất tôn nghiêm mà gần gũi Murata phê phán tửu sắc,
đề cao duy trì phẩm hạnh, khuyến khích người tham gia Trà đạo xoá bỏ sự tự mãn
và ích kỉ, làm sạch tâm hồn, cảm nhận được giá trị tinh thần cao quý qua những thao tác chuẩn mực của trà đạo
Ông là người đầu tiên đưa vào triết lý Trà đạo khái niệm wabi (侘び) - tư tưởng mỹ học về vẻ đẹp giản dị, tự nhiên, nhấn mạnh ý nghĩa và giá trị thực sự của mỗi sự vật, hiện tượng Mặc dù ông qua đời trước khi phát triển sâu hơn tinh thần wabi, nhưng ý tưởng tôn vinh vẻ đẹp trong sự giản đơn và tự nhiên của ông đã đặt nền móng cho sự phát triển của Trà đạo Thẩm mỹ wabi ảnh hưởng đến việc lựa chọn trà cụ và phong cách kiến trúc trà thất của Murata, Ông đề ra quy định mới về kích thước của phòng trà, giới hạn ở bốn chiếu rưỡi, đặt tên là Sukiya (数奇屋) nhấn mạnh sự gần gũi và tập trung cao độ giữa người pha và thưởng thức trà Phong cách wabi còn lan tỏa đến trang trí trong và ngoài trà thất Ông đưa ra nguyên tắc tạo vườn cảnh nhỏ Tsubo no naka (坪の中) và con đường dẫn vào trà thất Roji (露地) Cách bài trí và từng chi tiết của vườn cảnh và trà cụ đều được cân nhắc thể hiện tính thanh đạm, hợp lý, tiện dụng mà tinh tế Bức tranh treo của Thiền sư Engo và chén trà Tenmoku được coi là hai vật dụng tiêu biểu cho phong cách trà thất của Murata
Sự đổi mới từ quan niệm đến vật dụng này đã này nhanh chóng được cả quý tộc, võ
sĩ đến tầng lớp bình dân hơn hưởng ứng Điều này khuyến khích sự phát triển của tầng lớp thương nhân chuyên buôn bán trà và sự xuất hiện của các quán trà phục vụ tầng lớp bình dân
Takeno Joo (武野紹鴎, 1502–1555)
Takeno Joo, thuộc dòng họ võ sĩ Takeda đang lên ở Nhật Bản thế kỷ XVI Tuy xuất thân võ sĩ nhưng sau khi gia đình chuyển đến Sakai, cha Takeno trở thành thương nhân giàu có Khác với cha, từ nhỏ Joo đã say mê nghệ thuật truyền thống Ông theo học và trở thành một trà sư, sáng lập ra phái trà riêng và thu nạp Rikyu làm đệ tử Ông là người có công lao khai triển triết lý Wabi-cha, tôn vinh vẻ đẹp của sự giản dị và sự không hoàn hảo Ông là người sưu tầm và đưa nhiều sản phẩm gốm sứ Trung Quốc gọi chung là Karamono (唐物) vào nghi lễ trà của Nhật, đồng thời đề cao và khuyến khích các sản phẩm riêng của Nhật Bản
Trang 40Takeno Joo luôn đề cao việc rèn luyện và sáng tạo Bản thân ông là người tiên phong trong việc sáng tạo cách sử dụng trà cụ, dùng các bức tranh treo ghi thơ waka
về chủ tình yêu trong trà thất, thách thức quan niệm truyền thống về tính tôn giáo trang nghiêm Dựa trên quan điểm của Murata, Takeno tiếp tục cải tiến lễ trà, loại
bỏ nghi thức không cần thiết để ưu tiên sự giản dị và tinh thần thực chất của trà đạo Đặc biệt, ông phát triển và phổ biến khái niệm wabi, coi trọng không gian thưởng trà giản dị thay vì sang trọng quyền quý Ông xây dựng trà thất biệt lập với thiết kế đơn, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc làm cho trà đạo gần gũi hơn với cuộc sống
Ông không chỉ phát hiện ra vẻ đẹp mang tinh thần wabi trong cuộc sống hàng ngày mà còn thúc đẩy việc sử dụng các đồ dùng hàng ngày, thay vì những đồ dùng Trung Quốc sang trọng, trong các buổi lễ trà Điều này nâng cao giá trị của nghệ thuật đồ gốm Nhật Bản và khẳng định quan điểm đổi mới: xây dựng cá tính hơn là tuân theo truyền thống một cách mù quáng Nhờ những đóng góp này, ông được coi
là người đưa trà đạo Nhật Bản vào giai đoạn chấn hưng, tạo tiền đề cho các đệ tử của ông phát triển trà đạo thành một nghệ thuật độc đáo trong thời kỳ Azuchi Momoyama (1573 - 1600)
Giai đoạn hoàn thiện nguyên tắc và triết lý trà đạo (thế kỷ XVI-XIX)
Sen no Rikyu (千利休, 1522–1591)
Sen no Rikyu là người hoàn thiện Trà đạo và đưa ra các nguyên tắc wa – kei – sei - jaku (和-敬-清-寂, nghĩa là hòa, kính, thanh, tịch) Rikyu được coi là trà sư vĩ đại nhất trong việc hình thành nghệ thuật Trà đạo như ngày nay
Sen Rikyu, tên thật là Sen Yoshiro, sinh ra trong một gia đình thương nhân giàu có ở Sakai nhưng không muốn theo nghiệp kinh doanh Từ nhỏ, ông đam mê Trà đạo và học với Kitamuki Dochin (北向道陳, 1504-1562) Đến 19 tuổi, sau khi Dochin nói với ông rằng không còn gì để dạy, Rikyu được giới thiệu sang làm đệ tử của Joo và đổi tên thành Shoeki (宗易) Ông trở thành một trà sư hàng đầu ở Sakai sau khi Joo mất Khi Oda Nobunaga (織田信長, 1534-1582) phát triển Sakai thành trung tâm quyền lực kết hợp với thương mại và văn hóa, Rikyu trở thành trà sư của