Cùng bàn về vị trí, xuất phát điểm của sự vật, tác giả Nguyễn Đức Dân trong Légic và Tiếng Việt xem điểm nhìn như một vị trí gốc về không gian để định vi hiện thực: “Sự phát ngôn phụ thu
Trang 1ĐẠI HOC QUOC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG THỊ KIỂU
VẬN DỤNG LÍ THUYET DIEM NHÌN VÀO DAY HỌC MỘT SO
TRUYỆN NGAN SAU 1975 CHO HỌC SINH TRUNG HOC PHO
THÔNG THEO CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018
LUẬN VĂN THAC SĨ SƯ PHAM NGỮ VAN
HÀ NỘI - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOANG THỊ KIỂU
VẬN DỤNG LÍ THUYET DIEM NHÌN VÀO DAY HỌC MỘT SO
TRUYỆN NGAN SAU 1975 CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHO
THÔNG THEO CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018
LUẬN VĂN THAC SĨ SU PHAM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BO MON NGỮ VAN
Mã số: 8140217.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Chính
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho tôi
những tri thức chuyên môn quý giá trong quá trình học tập và thực hiện đề
tài này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến
PGS.TS Nguyễn Văn Chính — người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hết
sức tận tình trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã
luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên dé tôi có thé hoàn thành tốt luận văn.
Dù rất tâm huyết và có gắng song nội dung của luận văn chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô
và các đồng nghiệp xa gần dé luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm on!
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2021
Tác giả
Hoàng Thị Kiều
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIET TAT
Stt Viết đầy đủ Viết tắt
1 Diém nhin DN
2 | Đôi chứng ĐC
3 Giáo viên GV
4 Học sinh HS
5 | Kiêm tra đánh giá KTĐG
6 Người kê chuyện NKC
7 | Người tiêu điêm hóa NTĐH
8 | Nhân tổ được tiêu điểm hóa NTDTDH
9 Phuong phap day hoc PPDH
Trang 5DANH MỤC CAC BANG
Bảng 1.1: Thống kê số lượng GV và HS lớp 12 một số trường THPT 37
Bảng 3.1 Thống kê chỉ tiết kết quả bài kiểm tra tại trường THPT Tống Văn Trân 133Bảng 3.3 Thống kê kết quả kiểm tra theo các phô điểm tại trường THPT Tống Văn Trân
Trang 6MỤC LỤC
LOI CẢM ON - 5252212 2E1E2121127121121111121111211211111 211111 111.1 reg IDANH MỤC CÁC CHU VIET TẮTT -2-2 5¿+£+EE+£E+EE+EE++EEerxtzreerxerxerrsee IIIM.9028)/10/99 (08:79)ca a Il
MO ĐẦU 5-52 S1 2E E21 211271211211271211 2111121111111 11 11.11111111 reg |tỏi |
2 Lich sử nghiên cứu vấn đề -+ + + x+Ek+EE£EEEEEEEEEEE 7171712121211 2
3 Muc dich nghién 0u T1 7
4 Nhi€M Vu NGHIEN CUU 8 7
5 Khách thé va đối tượng nghiên cứu o ceccecceccsscesessessessessessessessessessessessessesseeseeseesees 8
6 Phương pháp nghiÊn CỨU - - c3 3221351833131 9111 1 9111 1 1 H1 HT HH Hư 8
7 Những đóng góp của đề tai c.ceececcccccccessesssessesssessessesssessesssessessesssessessessessesssesseessees 9
8 Đóng góp mới của để tài :-5-©s+keSk£EEEEEEEEE217171211121711111111111 te 9
9 Dự kiến cau trúc luận VAM - ¿+ St SE EEEE+E£EEEESEEEEEEEEEEEEEEEEEkrkerkrkererkerrree 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN 2-2 52 s2>se2zzcx2 11
1.1 Lý thuyết điỀm nhìn co.cc ccscsscescssesscsscssessessecsessessessessssessessessessesseeseeseeaes 11
1.1.1 Quan niệm về diém nhìn 2 2 SE +E£EE+EEEEEEEEEEEEEEErEerEeEkrrerkereeg 111.1.2 Các yếu tố của điểm nhìn -¿2 ¿+ 2E +E££E£+E££E££E£EEEEEeEEerErkerkerkerree 181.1.3 Tính chất của điểm nbhinia.e.c.ccccccccsecscsesecsesessesescsesececseseceescacseeseacaneeesteneaees 261.2 Lý thuyết về truyện ngắn ¿- -©Sc+E£SESEEEEEEEEEEEEEEEE 21212171211 cErke 29
1.2.1 Khái niệm truyện ngắn ¬— 291.2.2 Đặc điểm truyện ngắn 2-2 +¿++++EE+2EE+2EEEEEEEEE2EE 22.21 EE.crkree 291.3 Truyện ngắn Việt Nam sau 9/75 -¿2 ©5£ + +k£EESEE£EEEEEEEEEEEEEEErkrrkerrerree 32
1.3.1 Bối cảnh lịch sử: -¿-2-55: 22+22E2E 2212212212712 212111121 ccrrrree 32
1.3.2 Những thay đổi về thi pháp truyện ngắn Việt Nam sau 1975 34
1.4 Thực trạng dạy học Văn trong nhà trường THPT nói chung và dạy học truyện
ngắn Việt Nam sau 1975 nói riÊng ¿+ + +E£+E£EE£EE£EEEEEEEEeEEeEErrkerkerkerkee 36
1.4.1 Thực trạng day học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay 36
1.4.2 Thực trạng dạy học truyện ngắn sau năm 197Š -s«<+++++ssss2 40Tiểu kết chương Ì ¿- 2% k+SE+SE£EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEE7171111111111111.11T cre 44
1V
Trang 7CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT MOT SO BIEN PHÁP DẠY HỌC TRUYỆN NGAN VIET
NAM SAU 1975 TRONG CHƯƠNG TRINH NGỮ VĂN THPT 2018 THEO LÍTHUYET DIEM NHÌN 52 222++2EHH HH re 452.1 Mục tiêu dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong chương trình Ngữ VănTHPT 2018 theo lí thuyết Điểm nhìn -2-22 522E£+Ex+2EE++EE+2EEtzrxzrxezrxerred 45
2.1.1 Tác phẩm Muối của rừng - Nguyễn Huy Thiệp -2-5-5:45
2.1.2 Tác phẩm Mây trắng còn bay - Bảo Ninh - - c5 5scsczxecxerxered 46
2.2 Nguyên tắc dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong chương trình Ngữ VănTHPT 2018 theo lí thuyết Điểm nhìn 2-22 522S+2EE+2EE+2EE+2EE+zrxzrxezrxerree 41
2.2.1 Bam sát mục tiÊU - ĂĂ E11 1111112111111 1 91 1111190 1 111g 1v ng vn 47
2.2.2 Bam sát đối tượng người học . ¿- ¿©+¿+c+22xt2rxttrxrrxxerrxerrrerseee 472.2.3 Bám sát đặc trưng thê loại truyện ngắn ¬— 482.2.4 Bám sát văn bản văn học và hướng tiếp cận văn bản theo lí thuyết Điểm nhìn
— 48
2.3 Một số biện pháp dạy học phần truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 theo hướng
vận dụng lí thuyết Điểm nhìn -2-2-2 ©££©+++EE£+EE++EE+£EE+£EE+2EErzrxrrrxrrrkrrree 53
2.3.1 Trải nghiệm sáng tạo qua các điểm nhìn khác nhau -. -s- 55
2.3.2 Đổi mới hệ thống câu hỏi đọc - hiểu dé tiếp cận tác phâm dưới góc độ của lithuyết Điểm nhìn .-¿- ¿SE £EEEEEEEEEEEEEEEEE171211 1111111111111 11 11.1 tr re 652.3.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá phần truyện ngắn Việt Nam sau 1975 theo địnhhướng vận dụng lí thuyết Điểm nhìn nhằm phát triển năng lực người hoc 72Tiểu kết chương 2 ccccccccccsessessessessessessecsessessecsecsessessessecsessessessessessessessessessessecseeseeses 95CHƯƠNG 3 THUC NGHIỆM: VAN DUNG LÍ THUYET DIEM NHÌN VÀOGIẢNG DẠY TRUYỆN NGAN MUOI CUA RUNG CUA NGUYEN HUY THIỆP
Trang 83.4 Kế hoạch và tổ chức day học thực nghiệm 2 2 2 2+s£+E+xz+xz+zzei 132
3.5 Phương pháp thực nghiỆm - - - + + 3 93123191193 9v vn nh ghi 132
3.6 Kết quả thực nghiệm ¿-2 2 £+S£+E£+EE+EE+EEEEE2E2E12112112112112171 1.1, 1323.7 Đánh giá kết quả thực nghiệm -+ 2 ¿+ £+S£+E£+E+E££E£EtzEerErrerrerreee 136Tidu két ChUON Sa: : ÔỎ 139KET LUẬN VA KHUYEN NGHI o scssssssssssssessesssessecsssssecsvsssecsecsusesessecssessesseseses 140{0 nh -:-1 140
2 Khuyến nghị - 5c SE EEEEEEEEEE 217121121 711217121 111112111111 141TÀI LIEU THAM KHẢO 2 2 ©£2SE+SE£SEE£EE£EEEEEEEEEEEEEEEEECEEEEEErrkrrrreee 142
PHỤ LỤC
VI
Trang 9MỞ DAU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong thực tiễn giao tiếp hàng ngày, mọi lời nói của con người đêu biểu hiện
điểm nhìn, không có lời nói phi điểm nhìn Bởi lẽ, khi phát ngôn, người nói luôn đứng
trên một vị trí nhất định (không gian, thời gian, tâm lí, cảm xúc, quyền uy ) Trongtác phẩm văn chương - tác phẩm nghệ thuật ngôn từ được xây dựng thông qua lăngkính chủ quan của nhà văn, điểm nhìn là một van đề quan trọng Nó thé hiện khả năng
trình bày và kĩ thuật kề chuyện của nhà văn Nó chi phối việc sử dụng từ ngữ, hình
ảnh, kết cấu lời nói, kết cầu văn bản, giọng điệu , thậm chí cả sự tiếp nhận của ngườinghe, người đọc Vì vậy, tiếp cận văn bản văn học từ góc độ điểm nhìn sẽ giúp chúng
ta không chỉ thay được tang sâu ý nghĩa tạo nên giá trị của tác phẩm mà còn có cơ sở
để lí giải một số hiện tượng văn học, đánh giá phong cách và tầm tư tưởng của nhà
văn, cũng như một trào lưu hay một giai đoạn văn học.
1.2 “Văn học thực chất là cuộc đời Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời
mà có Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi di tới cua văn học” Nhận định d6 của
Tố Hữu đã cho thấy mối quan hệ bền chặt không thé tách rời giữa văn học và đời
sông Có lẽ vì vậy mà trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, nhà văn luôn được đặt
ở vi trí trung tâm của đời sống và đại diện cho lợi ích của cộng đồng Người kế chuyện
trong những truyện ngắn 1945 - 1975 thường đồng nhất cái nhìn của mình với chân
lí Đó là cái nhìn “toàn tri”, được bảo đảm bằng kinh nghiệm cộng đồng Nhưng, sau
1975, đất nước hòa bình, nhu cầu đổi mới toàn diện đời sống xã hội được ý thức và
văn học cũng không thê viết theo lối cũ Các nhà văn Việt Nam buộc phải thoát ra
khỏi ánh hào quang của những hình mau kỳ diệu và lý tưởng dé trở về nhịp điệu của
cuộc sống đời thường với tất cả những biểu hiện đa dạng, phức tạp của nó Quan niệm
về hiện thực và con người đã được đôi mới, từ đó “mở rộng biên độ” của văn học.Văn học tiếp cận đời sống một cách biện chứng Tác giả, nhân vật và người đọc đượcđặt trong mối quan hệ đa chiều đề tranh biện và đi tìm chân lí Chính điều đó đã tạo
nên sự vận động mới mẻ trong điểm nhìn của tác phẩm văn chương Các điểm nhìn
tran thuật được cá thé hóa, được gia tăng, được lồng ghép làm nên sự phong phú vềgiọng điệu trần thuật Điều này thể hiện rõ trong truyện ngắn Truyện ngắn đã chứng
Trang 10tỏ là thé loại năng động, có khả năng nam bắt vấn đề một cách nhanh nhạy, kịp thời
mà vẫn chuyên tải được những van dé quan trọng của đời sống đương thời
1.3 Chương trình giáo dục phố thông mới coi việc hình thành năng lực và phẩm chatcho học sinh làm mục đích then chốt Đối với bộ môn Ngữ Văn, năng lực văn học vànăng lực ngôn ngữ là những năng lực chuyên biệt cần đạt được Do vậy, dạy học NgữVăn cần bám sát vào đặc trưng thể loại, để từ việc đọc - hiểu một tác phẩm văn học,học sinh có năng lực dé đọc hiểu những tác phẩm khác cùng thé loại, tránh hiện tượnghọc và làm theo “văn mẫu” Từ đó, bộ môn còn góp phần hình thành năng lực tự chủ
và tự học, tư duy và sáng tạo cho học sinh Dạy học một sỐ truyện ngắn Việt Namsau 1975 trong trường trung học phổ thông dưới sự soi sáng của lý thuyết về điểmnhìn ngôn ngữ sẽ góp phần hình thành những năng lực và phâm chất cần thiết cho
học sinh.
Vì những lí do đó, chúng tôi chọn đề tài Vận dung li thuyết về điển nhìn vào
day học một số truyện ngắn Việt Nam sau 1975 cho học sinh trung học phổ thông
theo chương trình Ngữ Van 2018 dé làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về điểm nhìn ngôn ngữ
2.1.1 Ở nước ngoài
Vấn đề điểm nhìn (point of view) được nghiên cứu từ những năm đầu thế
kỉ XX trong những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Những tên tuôi gắn liềnvới nó là: M.Bakhtin (Những van dé thi pháp Dostoievski, Lí luận và thi pháp tiểuthuyết), Ju.Lotman (Cấu trúc văn bản nghệ thuật ngôn từ), T.Todorov (Thi pháphọc cấu trúc)
Trong công trình Thi pháp kết cấu (1970), B.Uspensky đã có những nghiêncứu có tính chất quyết định vào sự phát triển của lí thuyết điểm nhìn và tác động quantrọng đến tự sự học Trong công trình này, điểm mới của tác giả là đã xây dựng mô
hình điểm nhìn trên nhiều bình diện (ý thức hệ, ngữ cú, tâm lí và không gian/thời
gian) thay vì một bình diện như quan niệm của tự sự học truyền thống.
Trong ngôn ngữ học, điểm nhìn được quan tâm nhiều ở Ngữ dụng học vàPhong cách học Nếu như Ngữ dụng học chú ý đến điểm nhìn ở vị trí về quyền uy và
Trang 11thân hữu, về chiếu vật và chỉ xuất thì với Phong cách học, theo quan niệm củaFrederick Crew, điểm nhìn là “dia điểm quan sát thái độ, viễn cảnh tỉnh than, conđường nhìn sự vật có nhiễu suy xét hơn` [Dẫn theo 23; 20]
Xuất phát từ cái gốc là tiểu thuyết, các nhà Thi pháp học cũng đưa ra nhữngquan niệm về điểm nhìn M.Bakhtin cho rằng: điểm nhìn là “cdi lập rường mà xuấtphát từ đó câu chuyện được kể, hiện tượng được miêu tả hay sự việc được thôngbdo” Còn G.Yle quan niệm: điểm nhìn là “vi tri về quyền lực và thân hữu” của người
nói trong mối quan hệ với người nghe [Dan theo 23; 89]
2.1.2 Ở trong nước
Những tác giả đặt nền móng cho việc nghiên cứu điểm nhìn ở Việt Nam là GS
Đỗ Hữu Châu, GS Nguyễn Đức Dân, GS Đặng Anh Đào Những nghiên cứu của
tác giả Đỗ Hữu Châu trong lĩnh vực Ngữ dụng học về phạm trù nhân xưng, phạm trù
chỉ xuất không gian - thời gian có thé xem là những định hướng quan trọng cho việc
xác định điểm nhìn Cùng bàn về vị trí, xuất phát điểm của sự vật, tác giả Nguyễn
Đức Dân trong Légic và Tiếng Việt xem điểm nhìn như một vị trí gốc về không gian
để định vi hiện thực: “Sự phát ngôn phụ thuộc vào điểm nhìn mà người nói đặt ra”
[Dẫn theo 23; 254]
Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong lĩnh vực Phong cách học có bài viết Điểmnhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện Trong đó, tácgiả đã phân biệt và chỉ ra đặc trưng của điểm nhìn nghệ thuật: “Điểm nhìn nghệ
thuật là xuất phát điểm của một cầu trúc nghệ thuật, hơn thé nữa là một cấu trúctiềm ẩn được người đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức
hợp giữa người kể và văn bản, giưa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể
bản là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm
thụ thế giới của tác gia” [Dẫn theo 23; 184]
Trang 12Các tác giả của Từ điển Thuật ngữ văn học thì cho rằng: Điểm nhìn hay điểm
Một trong những công trình đầu tiên xem điểm nhìn trong tác phẩm văn học
là một đối tượng, một xuất phát điểm quan trọng dé từ đó hiểu được giá tri của tácpham là Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975(Điểm nhìn và ngôn ngữ kế chuyện) của Nguyễn Thị Thu Thủy Trong đó, tác giả đãxác lập một quan niệm về điểm nhìn khá toàn diện, bao quát với các nhân tố và tínhchất của điểm nhìn
Ngoài ra, nhiều đề tài nghiên cứu khác cũng khai thác điểm nhìn đưới góc độcủa ngôn ngữ học như: Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và
Nguyễn Minh Châu (Đỗ Thị Hiên), Điểm nhìn trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái
(Hoàng Thu Thủy), Điểm nhìn trong thơ Han Mặc Tử (Lưu Thị Khanh)
Như vậy, có thê nói, điểm nhìn có vai trò quan trọng trong việc hiểu, lí giải
một phát ngôn hay một văn bản.
2.2 Những nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 và tiếp nhận truyệnngắn Việt Nam sau 1975 dưới góc độ điểm nhìn
Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình
quan tâm.
Bài viết Máy nhận xét về nhân vật của văn xuôi Việt Nam sau 1975 của NguyễnThị Bình đã khang định nét mới rõ nhất trong việc xây dựng nhân vật là sự thay đôimối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, giữa nhà văn và bạn đọc
Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn dé nghiên cứu và giảng dạy là kỉ yêuHội thảo khoa học Quốc gia do khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tôchức Trong đó, bài viết M6t vài khuynh hướng vận động của điểm nhìn trong văn
xuôi Việt Nam sau 1975 của Nguyên Văn Hiêu đã tìm hiéu về sự vận động của diém
Trang 13nhìn nghệ thuật trong tiến trình của văn xuôi sau 1975 Bài viết đã chỉ ra những
khuynh hướng vận động nỗi bat của điểm nhìn như: khuynh hướng cá thể hóa, khuynhhướng đối thoại, khuynh hướng gián cách Người viết khang định:
“Dầu ấn cá tính trong điểm nhìn tran thuật dan trở thành một tiêu chi củagiá trị, một mối quan tâm cua văn chương Cá thé hóa là khuynh hướng vận động tatyếu của điểm nhìn, phù hợp với nhu câu của nhà văn và yêu cau của thời dai”; “Sứcnặng của điềm nhìn mang tinh đổi thoại, một mặt xác lập các chuẩn mực mới, nhưngmặt khác nó đã làm nảy sinh ở người đọc tâm lí tự vấn trước hiện thực được kế đến”:
“Nhà văn là người kế chuyện thường di chuyển điểm nhìn theo nhiều chủ thể khácnhau”; “Gián cách đòi hỏi người cam bút phải tim cách viết khác, người đọc phảihình thành một thị hiếu khác, phê bình văn học phải hình thành bậc thang giá trị
khác” [20; 301]
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng chú ý đến các luận án, luận văn,
báo cáo khoa học, bài tạp chí Thành quả khoa học của những người đi trước là
những gợi dẫn quan trọng dé chúng tôi triển khai thực hiện đề tài
Luận án tiến sĩ Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi Việt Nam 1980 đến
1986 qua bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu - Nguyễn Khải - Ma Văn Kháng - NguyễnMạnh Tuấn của Nguyễn Thị Huệ đã mô tả và lý giải sự chuyên đổi trong quan niệmnghệ thuật về hiện thực và con người qua bốn tác tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn; đồng thời nhận diện một số dấu hiệu vận
động của thể loại và sự chuyên động của ngôn ngữ
Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ kế chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975
(Điểm nhìn và ngôn ngữ kề chuyện) của Nguyén Thị Thu Thủy đã xây dựng được cơ
sở lý thuyết về điểm nhìn, đưa ra một khái niệm điểm nhìn cụ thé và khái quát chonhiều góc độ, chỉ ra được các nhân tố, các tính chất của điểm nhìn mà các công trình
trước đây chưa đề cập một cách có hệ thống Tính thực tế của đề tài cũng rất cao: đưa
ra cách xác định, phân tích và thể hiện điểm nhìn trong truyện một cách có căn cứ,dựa vào lý thuyết điểm nhìn có thé phân loại truyện ngắn Việt Nam sau 1975 mộtcách thấu đáo
Trang 14Luận án tiến sĩ Văn xuôi Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975 - 1985) của NgôThu Thuỷ đã góp phần khăng định mối quan hệ giữa văn học và đời sống xã hội, đồng
thời cung cấp cái nhìn hệ thống về văn xuôi giai đoạn này trong bước chuyền của lịch
sử văn học Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận án là văn xuôi nói chung baogồm cả tiêu thuyết và truyện ngắn Vì thế, đặc trưng của thé loại truyện ngắn chưa
được tác gia làm rõ.
Đề tài Tim hiểu một vài thành tựu đổi mới nồi bật về văn xuôi Việt Nam từ sau
1975 qua hai tác giả: Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải của Lê Thị Thanh Hà đãtìm hiểu văn xuôi Việt Nam từ sau năm 1975 ở phương diện đổi mới về khuynh hướngvăn xuôi, đề tài, quan niệm nghệ thuật về con người, thủ pháp nghệ thuật thé hiện
(đổi mới về giọng điệu và về nhân vat)
Đề tài Một số van dé về đổi mới thi pháp thể loại trong truyện ngắn Việt Namđương đại của Trần Thanh Việt đã chỉ ra những yếu tố đổi mới, cách tân trong thờigian, không gian trần thuật, trong điểm nhìn và giọng điệu
Bài viết Xu hướng vận động của điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi Việt Namsau 1975 của Nguyễn Thị Tuyết Minh cũng cho người viết cái nhìn khái quát vềnhững điểm mới trong điểm nhìn của những sáng tác giai đoạn sau 1975 Do là xu
hướng nhạt dần điểm nhìn đại diện cộng đồng, gia tăng điểm nhìn cá thể hoá; xu
hướng đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật (luân phiên, lồng ghép điểm nhìn; giao điểm
nhìn cho những nhân vat “không dang tin cậy”).
Bài viết Dạy đọc - hiểu truyện ngắn sau 1975 trong chương trình ngữ văn
trung học phổ thông, máy van đề can lưu ý (Báo văn hóa Nghệ An, số ra 13/5/2015)
của Đặng Lưu đã định hướng cho người tiếp nhận nói chung, đặc biệt là người dạyhọc cách tiếp cận hai truyện ngắn Chiếc thuyén ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
và Một người Hà Nội của Nguyễn Khải trong quan hệ đối sánh với giai đoạn vănhọc day tính sử thi trước đó Trong bài viết cũng dé cập đến sự đổi mới của điểm
nhìn nghệ thuật.
Đề tài nghiên cứu khoa học Vận dụng lý thuyết giao tiếp và điểm nhìn ngônngữ vào dạy học tác phẩm văn chương ở trường trung học phổ thông của nhóm tácgiả Nguyễn Thị Thu Thủy, Đinh Văn Thiện, Trần Thị Kim Dung đã có những định
Trang 15hướng quan trọng trong việc dạy học tác phẩm văn chương dưới sự soi sáng của ngônngữ học Đề tài cũng đã gợi ý hướng dạy học một s6 tác phẩm như: bai ca dao Tatnước dau đình, đoạn trích Trao duyên (trích Truyện Kiéu - Nguyễn Du), truyện ngắnChí Phéo - Nam Cao, bài thơ Việt Bắc - Tố Hữu.
Luận văn Dạy học truyện ngắn sau 1975 trong chương trình Ngữ Văn lớp 12theo hướng tiếp cận liên văn bản của Nguyễn Thị Châm (Đại học giáo dục - Đại họcQuốc gia Hà Nội, 2015) đã nghiên cứu hướng dạy học truyện ngắn Việt Nam sau
1975 bằng cách tiếp cận liên văn bản rất mới mẻ và thú vị
Ngoài ra, các cuốn sách: Thiét kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trườngphổ thông (tập 2, NXB Giáo dục, 1998) của tác giả Phan Trọng Luận, Tìm hiểuchương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông (NXB Giáo dục,2006) của tác giả Đỗ Ngọc Thống cũng là những nguồn tài liệu tham khảo quýgiá trong quá trình dạy học Ngữ Văn nói chung và dạy học truyện ngắn Việt Nam
sau 1975 nói riêng.
Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu này, chúng tôi rút ra được
những kiến thức cơ bản về phần truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 phục vụ choviệc nghiên cứu dé tài Tuy nhiên, chưa có cuốn sách hay công trình nghiên cứu nàotìm hiểu cụ thê về việc vận dụng lý thuyết điểm nhìn vào giảng dạy một số truyệnngắn Việt Nam sau 1975 cho học sinh trung học phổ thông theo chương trình Ngữ
Văn 2018.
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các hướng vận dụng lí thuyết về điểm nhìn vào việc giảng dạy một sốtruyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong chương trình Ngữ văn trung học phố thông
2018 Từ đó, góp phần phát triển năng lực đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh
trung học phô thông.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài;
- Xây dựng hướng vận dụng lý thuyết về điểm nhìn ngôn ngữ vào việc giảng
dạy một số truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong chương trình Ngữ Văn trung học
phổ thông 2018;
Trang 16- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của hướng
tiếp nhận văn bản văn học đã đề xuất
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học văn học ở trường trung học phô thông ở Việt Nam
5.2 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống lý luận về điểm nhìn trong tác phẩm văn học;
- Hoạt động dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong trường trung họcphé thông theo chương trình 2018 và việc vận dụng lý thuyết về điểm nhìn ngôn ngữvào việc giảng dạy những truyện ngắn ấy Cụ thé là 2 truyện ngắn:
+ Muối của rừng - Nguyễn Huy Thiệp
+ Mây trắng còn bay - Bao Ninh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp điều tra
- Tiến hành dự giờ quan sát các giờ day học đọc hiểu nhằm bồ sung cho lý luận;
- Điều tra về chất lượng học sinh ở các lớp dé lựa chọn lớp thực nghiệm và đối chứng;
- Sử dụng phiếu điều tra, bảng hỏi, dự giờ, phỏng van, tham khảo giáo án, số
điểm của giáo viên
6.2 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các giảng viên và giáo viên có nhiều kinh
nghiệm về vận dụng lý thuyết về điểm nhìn ngôn ngữ vào việc giảng dạy một số
truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong trường trung học phổ thông; những thuận lợi,
khó khăn của họ khi tổ chức dạy học truyện ngăn dưới góc độ của ngôn ngữ học.
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tổ chức giảng dạy thực nghiệm, phát phiếu điều tra; so sánh đối chiếu kết
quả trước và sau quá trình thực nghiệm ở từng lớp và giữa các lớp, chiều hướng biếnđổi năng lực của học sinh giữa các lớp đối chứng và các lớp thực nghiệm;
- Lớp thực nghiệm: là lớp được dạy truyện ngắn Việt Nam sau 1975 theohướng vận dụng lý thuyết điểm nhìn;
Trang 17- Lớp đối chứng: là lớp không được dạy truyện ngắn Việt Nam sau 1975 theo
hướng vận dụng lý thuyết điểm nhìn
theo chương trình Ngữ văn 2018;
- Đề xuất được các hoạt động vận dụng lý thuyết về điểm nhìn ngôn ngữ vàoviệc giảng dạy một số truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong trường trung học phổthông, tiếp cận với yêu cầu của chương trình Ngữ văn mới, nhằm phát triển năng lực
văn học của học sinh.
8 Đóng góp mới của đề tài
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:
- Khăng định vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng lý thuyết về điểm nhìn ngônngữ vào việc giảng dạy một số truyện ngắn Việt Nam sau 1975 cho học sinh trunghọc phổ thông theo chương trình Ngữ văn 2018;
- Phản ánh được thực trạng dạy và học Ngữ văn, thực trạng việc tô chức
hoạt động dạy - học truyện ngắn ở trường trung học phổ thông từ góc độ của
ngôn ngữ học;
- Đề xuất một số hình thức vận dụng lý thuyết về điểm nhìn ngôn ngữ vào việc
giảng dạy một số truyện ngắn Việt Nam sau 1975 cho học sinh trung học phổ thông
chương trình Ngữ văn 2018.
Trang 189 Dự kiến cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị, danh mục các chữ viết tat, tài liệutham khảo; luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 - Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 - Đề xuất một số biện pháp dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trongchương trình Ngữ văn trung học phổ thông 2018 theo lí thuyết điểm nhìn
Chương 3 - Thực nghiệm: vận dụng lí thuyết điểm nhìn vào giảng dạy truyện ngắn
Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp
10
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
1.1 Lý thuyết điểm nhìn
1.1.1 Quan niệm về điểm nhìn
Thuật ngữ DN được định danh bằng nhiều từ khác nhau trong các tài liệu như
viewpoint, view, point of view, vision, the out look Thực té cho thay, cac nha li
luận phê bình cũng dùng rất nhiều các thuật ngữ khác nhau dé nói về khái niệmnày DN với Henry Jame là trung tâm của nhận thức, với Percy Lubbock là điểmnhìn, với Jean Pouillon là tam nhìn, với Allen Tate là vi tri quan sát, với CleanthBrooks và Robert Penn Warren là tiéu điểm truyén kể, với Tzevan Todorov là thé,với G Genette là tiéw cự [Dẫn theo 24; 134] Sự khác nhau của DN dẫn đến sự
khác nhau trong cách đánh giá.
Cần phân biệt DN của lời trong giao tiếp với DN trong truyện Trong giao tiếp,hành động ngôn ngữ là một van đề quan trọng, được Ngữ dụng học hết sức quan tâm.Bat cứ một hành động nói nao trong giao tiếp đều phản ánh một hay một số DN củanguoi noi, thé hiện một vị thé giao tiếp trong một tình huống cụ thé, với không gian,thời gian cụ thé, được phân biệt bằng thao tác suy ý về một hay một số quan hệ Changhạn, hành động cảm ơn thường gặp trong giao tiếp hàng ngày có thé được hiện thực
hoá thành các diễn ngôn:
(1) Cam on!
(2) Cảm ơn nhé!
(3) Cảm ơn bác a!
(4) Chau cảm ơn bac a!
Mỗi diễn ngôn thé hiện một DN: vị thé được xác định với người nói so với
người nghe (trong câu 1, 2 là ngang hang; trong câu 3,4 là thấp hơn), thái độ của ngườinói với người nghe (trong câu 1, 2 là lịch sự nhưng có chút sudng sã; trong câu 3,4 làlịch sự và kính trọng) Ngoài ra, phải tính đến ngữ điệu và các yếu tố phi lời như ánh
mắt, cử chỉ, vẻ mặt, điệu bộ để suy ra thái độ chân thành hay giả dối, nghiêm túc hay
giéu cot Như vay, DN của lời nói giao tiếp là toạ độ của hai trục lời nói tường minh
với hành động giao tiếp; đồng thời nhờ phép suy ý người nhận có thể tiếp thụ được
11
Trang 20DN trong truyện được gọi là DN nghệ thuật Trong nghiên cứu tự sự học nói riêng và nghiên cứu văn học nói chung, thuật ngữ DN nghệ thuật đã không còn xa lạ.
Mặc dù vậy, trong việc tạo dựng, xác lập mô hình cau trúc tác phẩm, DN có tam quan
trong, vi tri va vai tro nhu thé nào, nó chi phối nghệ thuật kê chuyện ra sao - đó vẫn
là điều gây ra nhiều bàn cãi Dé xác lập các mô hình truyện kể, rất nhiều tac giả củacác công trình chuyên khảo về nghệ thuật kể chuyện đã dựa trên lí thuyết DN HenryJames trong Nghệ thuật văn xuôi cho rằng “PN là sự lựa chọn cự li trần thuật nào
đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép
văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hon” [Dẫn theo 24; 135] Tiđiển Thuật ngữ văn học ghi mục DN nghệ thuật là “vị tri từ đó người tran thuật nhìn
ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếu không có BN, bởi
nó thể hiện sự chú y, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cải nhìn
nghệ thuật” (14; 113].
Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi
sử dụng lý thuyết về điểm nhìn của PGS.TS Nguyễn Thu Thủy được trình bày trong
luận án Ngồn ngữ kề chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Từ đó, quan niệm về DN của luận văn là vi tri, xuất phát điềm mà từ đó hiệnthực được quan sát và được kể lại Theo nghĩa rộng, vi tri, xuất phát điểm có thê được
hiểu là vi trí, xuất phát điểm về không gian, thời gian, khoảng cách về quyền uy vathân hữu, xuất phát điểm về tâm lý cảm xúc, xuất phát điểm về nhận thức, xuất phátđiểm về văn hóa, đạo đức, ý thức hệ Cụ thể như sau:
- Vị trí, xuất phát điểm về không gian:
Vị trí, xuất phát điểm về không gian được thể hiện ở điểm gốc chủ thé dingquan sát, khoảng cách và hướng nhìn trong không gian Từ điểm gốc đó, chủ thé điểm
nhìn có thể ở trong quan sát hoặc ngoại biên khoảng quan sát đó.
Khoảng cach trong không gian là khoảng cách địa ly giữa vi trí không gian
chủ thé với đối tượng quan sát Khoảng cách đó có thé ở gần hay xa, toàn cảnh hay
phạm vi Nếu khách thê được nhìn từ xa thì hiện thực thu được sẽ nhỏ bé, không rõ,
thấy cảnh nhưng không rõ vận động của cảnh Nếu nhìn từ dưới lên có thê thấy cảnh
rât to, người rât cao lớn.
12
Trang 21Hướng nhìn là phương hướng vật lý hay phương hướng tâm lý từ chủ thé đến
đối tượng quan sát Hướng nhìn có thé từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới hoặc
ngược lại
Vị trí, xuất phát điểm về không gian có thé căn cứ vào các phụ từ trong câu
Đó là các phụ từ chỉ hướng, chỉ nơi chốn giúp xác định vị trí, khoảng cách, hướng
nhìn trong không gian.
- Vị trí, xuất phát điểm về thời gian:
Vị trí, xuất phát điểm về thời gian được thể hiện ở điểm mốc thời gian quansát, chiều và khoảng cách thời gian Điểm móc về thời gian quan sát chính là gốc thờigian chủ thé bắt đầu thực hiện hành vi quan sát Vị trí gốc đó có thê ở quá khứ, hiệntại hoặc tương lai Chiều thời gian có hai chiều: từ thời điểm quan sát hướng về trướcthời điểm quan sát (quá khứ) hoặc hướng về sau thời điểm quan sát (tương lai) Sự
kiện hay chuyện trong thực tế thường diễn ra theo trật tự tuyến tính, trước sau không
thé đảo ngược Nhưng khi kể lại, người kế có thé sắp xếp các sự kiện tạo nên chuyện
theo một trật tự khác Các truyện tình báo thường bắt đầu bằng một cái chết (tức sự
kiện xảy ra sau cùng của vụ án) rồi mới lần gid lại đầu đuôi của vụ án đó từ lúc khởiđầu cho đến lúc kết thúc, thông qua sự phá án của các tình báo viên Mà sự phá án lạiđược ké theo trình tự ngược lại với trình tự của vụ án Thời gian sự kiện (thời giancủa chuyện, thời gian lịch sử) được tô chức lại thành thời gian của truyện (thời gian
tự sự) Chăng hạn, trong truyện Bữa rượu máu của Nguyễn Tuân, thời gian sự kiện
theo trật tự: quan Đồng lí gọi Bát Lê đến giao việc - Bát Lê tập chém - Bát Lê tổng diễn tập chém - Bát Lê chém người ở pháp trường Thời gian tự sự trong truyện lại
theo trật tự: Bát Lê tập chém - quan Đồng lí gọi Bát Lê đến giao việc - Bát Lê tổngdiễn tập chém - Bát Lê chém người ở pháp trường Như thé, thời gian tự sự lay thờiđiểm Bát Lê tập chém trên mặt thành làm điểm gốc
Khoảng cách thời gian cũng góp phần thẻ hiện tính chất của sự việc được quansát Khoảng cách gần làm cho sự việc mang tính thời sự nóng héi Bài thơ Đoànthuyên đánh cá được Huy Cận viết năm 1958 nhân chuyến đi thực tế của tác giả ở
Hon Gai - Quảng Ninh Ở đó, nha thơ được thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên vùng
biển, chứng kiến và tham gia vào hoạt động lao động của ngư dân; đồng thời cảm
13
Trang 22nhận được niềm vui của ngư dân trước cuộc sống mới Nhịp đập nóng hồi của đờisông ngư dân vùng mỏ đã in dấu vào từng câu thơ, được hiện thực hoá một cách daychất thơ trong cảnh đoàn thuyền đánh cá lên đường với tâm trạng náo nức của conngười, cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biên và cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trongbình minh Ra đời gần thời điểm với Đoàn thuyén đánh cá của Huy Cận là bài thơTiếng hát con tàu của Ché Lan Viên Theo GS Hà Minh Đức trong Nha văn nói vềtác phẩm, bài thơ này được Chế Lan Viên làm trong hoàn cảnh đau yếu, không đi đâuđược, trong khi các bạn đồng nghiệp đi thực tế ở nhiều nơi Bài thơ được viết ra như
là dé tự an ủi mình, với nhan đề ban đầu là Con tau Tây Bắc Biêu tượng về khát vọng
và niềm hân hoan lên đường này có cơ sở từ thực tế: những năm 1958 - 1960 có mộtcuộc vận động lên Tây Bắc xây dựng kinh tế miền núi Chỉ có điều, vào thời điểm ấychưa hề có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc Cho nên, Tây Bắc ở đây không chỉ
dừng lại ở ý nghĩa một địa danh cụ thể mà nó còn có ý nghĩa biểu trưng cho cuộc
sông của nhân dân, là mảnh đất lớn chứa đựng nhiều hứa hẹn, nơi khởi nguồn củamọi cảm hứng nghệ thuật chân chính Những tác phẩm như Đoàn thuyén đánh cá,
Tiếng hát con tàu đều mang tính thời sự của thời điểm lịch sử lúc đó Còn với
khoảng cách xa, tính thời sự của sự việc giảm đi nhưng lại tăng tính chiêm nghiệm
lâu dài Tập truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân được xuất bản lần đầu năm
1940, hầu hết các truyện đều có khoảng cách xa so với thời điểm có thé xảy ra câu
chuyện Nói như nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại: “Tập truyện
đã lam sống lại cả một thời phong kiến đã qua với những nghệ thuật cổ thanh cao,
những nếp sống, sinh hoạt xã hội nho phong của một nên văn minh xưa cũ, nó cũng
là niềm nuối tiếc của một tâm hôn hoài cổ trước những cải hay, cải đẹp, những nghệthuật cầu kỳ của một thời đại đã qua, cái thời ấy nay đã chết rồi, chỉ còn dé lại mộttiếng vang: Vang Bóng Một Thời” Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng với nhữngcâu thơ thật lăng đọng:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thay hon lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa dong dua
14
Trang 23Bài thơ được viết năm 1948, sau khi Quang Dũng đã rời xa binh đoàn TâyTiến Điểm mốc về thời gian của bài thơ là ở hiện tại nhà thơ nhớ về quá khứ, nhớ vềđơn vị và những người đồng đội cũ, nhớ về núi rừng Tây Bắc và những kỉ niệm trênchặng đường hành quân Độ lùi về thời gian khiến cảm xúc của đoạn thơ cũng nhưbài thơ trở nên sâu lắng.
- Khoảng cách về quyén uy và thân hữu:
Quyên uy và thân hữu là hai trục của quan hệ liên cá nhân Quyền uy là địa vịcủa con người trong xã hội, dia vị đó được qyét định bởi nhiều yếu tố: chức quyền,tudi tác, nghề nghiệp, quan hệ huyết thống Quyên uy là trục phi đối xứng với haicực cao - thấp Dựa trên các yếu tố đó, quyền uy được phân làm ba mức độ: quyềnlực cao, quyền lực ngang bằng, quyền lực thấp Người có quyền lực cao là người cóchức vụ, tuôi tác, tài sản cao Trong khi đó, những người có tuổi tác, chức vụ tai sảntương đương nhau thì có quyền lực ngang bằng nhau; người có quyền lực thấp hơn
là người có tuổi tác, chức vụ, tài sản thấp hơn Ở mỗi giai đoạn lich sử, địa vị xã hội
phụ thuộc vào quan niệm văn hoá của từng xã hội mà có sự khác nhau Trong xã hội
phong kiến, người làm nghề ca múa bi xem là có địa vi xã hội thấp, thường bị gắn
với mây chữ xướng ca vồ loài Ngày nay, quan niệm đó đã không còn, địa vị của nghệ
sĩ đã được coi trọng hơn trong xã hội Trước năm 1945, cư dân thành thị được xem
là có địa vị xã hội cao hơn cư dân ở nông thôn, và người hàng văn được xem là có
địa vị xã hội cao hơn người hàng võ (trọng văn khinh võ) Khi các giá trị tuổi tác,chức vụ, tài sản xuất hiện đồng thời thì vấn đề đặt ra là nhân tốt nào được xem là ưu
tiên Ở xã hội Việt Nam, đặc biệt ở vùng nông thôn, tuổi tác và quan hệ huyết thống
là những yếu tô quan trọng dé xác định quyền uy Nói năng mà hỗn với người già cảthì dù địa vị xã hội cao đến đâu vẫn bị xem là thiếu văn hoá Người Việt Nam cótruyền thống di hởi già, không chỉ bởi người già nhiều kinh nghiệm mà đó còn làquyền uy người cao tuôi có sức ảnh hưởng với những người xung quanh Tuy nhiên,điều này không thực sự đúng ở các nước phương Tây Quan hệ quyền uy thường bền
vững, không thay đổi trong quá trình giao tiếp.
Quan hệ thân hữu thể hiện ở khoảng cách quan hệ xã hội ở các vai giao tiếp,với hai cực thân tình và xa lạ Quan hệ đó được xác định bang lượng kinh nghiệm của
15
Trang 24con người với ba mức độ: Tính thân hữu cao, tính thân hữu bình thường và tính thân
hữu thấp Những người giao tiếp có sự thuận chiều hoặc chênh lệch nhất định về tỉ lệgiữa mức độ thân cận với mức độ hiểu biết về nhau Thông thường, thân nhau sẽ dễnói chuyện và càng hiểu nhau, nhưng không nhất thiết là đã hiểu nhau thì sẽ thânnhau Những kẻ thâm thù hoặc không đội trời chung với nhau lại tìm hiểu đối phươngrất thấu đáo dé có cách ứng phó Nếu quyền uy là trục phi đối xứng thì thân cận làtrục đối xứng Trong quá trình giao tiếp, nếu người nói thể hiện sự thân tình với người
nghe thì người nghe cũng sẽ đáp lại sự thân tình đó của người nói và ngược lại Như
vậy, khoảng cách có thé thay đổi trong quá trình giao tiếp
Giữa quyền uy và thân hữu có sự tương ứng Đa phần, càng xa về khoảng cáchđịa vị xã hội bao nhiêu thì càng xa lạ về thân hữu bấy nhiêu Trong giao tiếp, cácthoại nhân cần xây dựng hình ảnh tinh thần về nhau qua quyền uy và thân hữu Trongcác ngôn ngữ, đặc biệt trong tiếng Việt, xưng hô chịu áp lực mạnh của quyền uy vàthân hữu Qua xưng hô, các nhân vật có thể nhận biết được quan hệ vi thế và quan hệthân cận của nhau Chăng hạn, lần đầu tiên Thuý Kiều diện kiến Tú Bà, mụ đã xưng
hô mẹ - con với nang và gọi Mã Giám Sinh là cậu - tức là xác định quan hệ vợ - chồng
với họ Mã:
Dạy rằng: “Con lạy mẹ đâyLạy rồi sang lạy cậu mày bên kia”
(câu 951 -952)
Tuy nhiên, khi biết Kiều thất thân với Mã Giám Sinh, mụ đã tỏ rõ uy quyền
của một mu chủ chứa bằng cách chuyên sang cách xưng hô xách mé con kia - lão kia
- mày - tao:
Con kia đã ban cho ta Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây
Lão kia có giở bài bây
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe
(câu 971 - 974)
Sau đó, khi thấy mối lợi có nguy cơ bị mat do Thuý Kiều quyết quyên sinh,
mu lai giở giọng “mon man gỡ dan” bằng lời lẽ ngọt nhạt Từ 16 mang, mu trở thành
16
Trang 25lịch sự, ngọt ngào, một lần nữa mu lại đổi cách xưng hô, gọi Kiều là con dé rút ngắn
khoảng cách từ sơ thành thân, nhằm từng bước đưa Kiều trở thành gái làng chơi,
mang lại lợi ích cho mụ.
Mặt khác, cũng cần khăng định, trong tác phẩm văn chương, dia vi xã hội
và mức độ thân cận của những người tham gia giao tiếp không phải lúc nào cũngthé hiện đúng vị trí thực sự của họ mà có khi được phản ánh theo điểm nhìn của
người nói.
- Xuất phát điểm về tâm lí, cảm xúc:
Khi thực hiện một hành động nào đó (quan sát hoặc phát ngôn), con người
không thể tránh khỏi sự phụ thuộc vào trạng thái, tâm lý xúc cảm của mình Đó cóthể là các trạng thái: vui, buôn, xót xa, phan nộ, dau đớn, hi vong Doan tho sautrong bai tho Dat Nudc cua Nguyén Dinh Thi:
Mùa thu nay khác rồiTôi đứng vui nghe giữa núi đôi
Gió thối rừng tre phat phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha ”
đã miêu tả sinh động chân thực hình ảnh đất trời Việt Nam vào thu Đó cũng làhình ảnh của một đất nước mới mẻ tỉnh khôi, rộn rã sau ngày giải phóng Qua đoạnthơ, tac giả không giấu nồi niềm vui sướng, hân hoan, tự hào của con người được
làm chủ đất nước.
- Xuất phát điểm về nhận thức:
Người nói hay chủ thê điểm nhìn có những nhận thức khác nhau về thế giới
được miêu tả Mức độ nhận thức đó sẽ tạo ra sự đánh giá khác nhau Người có nhận
thức xã hội tốt, hiểu biết tốt sẽ đánh giá sự việc họ quan sát được một cách kháchquan, thấu đáo và ngược lại Hãy đọc những lời thoại của nhân vật Cả Khang trongtruyện Thuốc của Lỗ Tan:
- Cam đoan thé nào cũng khỏi An còn nóng hôi hồi thé kia cơ ma! Bánh bao
tam máu người như thé, lao gì ăn chẳng khỏi
17
Trang 26- Cụ Ba đến là khôn! Giá cụ ta không đem thằng cháu ra thú thì cả nhà mắtđâu hết Nay thì được bao nhiêu là bạc! Còn cdi thang nhãi con ấy thì chẳng ra cáitha gì hết Nam trong tù roi mà còn dám rủ lão đề lao làm giặc!
Ta thấy xuất phát điểm về nhận thức của nhân vật Cả Khang cũng như phầnđông người dân trong thôn nói riêng và người dân Trung Quốc thời điểm bấy giờ làmột thứ nhận thức mê muội, lạc hậu, là căn bệnh tinh thần mang tên đớn hèn, trong
khi những người cách mạng thì hoản toàn xa lạ với nhân dân Qua nhận thức của nhân
vat Cả Khang, Lỗ Tan mong muốn kêu gọi dân tộc mình hãy nghiêm cần, suy nghĩthấu đáo về một phương thuốc dé cứu Trung Hoa
- Xuất phát điểm về văn hóa, đạo đức, ý thức hệ:
Những đặc điểm về lối song phong tục, tập quan, dao đức, ý thức hệ cũng là
điểm xuất phát dé chủ thé DN thực hiện hành vi quan sát, cảm nhận, đánh giá về đốitượng Không ít các sáng tác dân gian Việt Nam thường có DN xuất phát từ đặc điểmvăn hoá giao tiếp e dé, kín đáo, tế nhị nhưng cũng rat hom hinh, thông minh của ngườiViệt Ai trong chúng ta hắn cũng quen thuộc với bài ca đao:
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta
Tóm lại, theo tác giả Nguyễn Thi Thu Thủy thì “da ở phương điện nào: không
/thoi gian, quyên lực và thân hữu, tam lý, cảm xúc, nhận thức, văn hóa, đạo đức, ythức hệ thì ĐN đêu mang đặc trưng là tính vị trí, điểm xuất phát, tính khoảng cách
và hướng nhìn ” [31; 18].
1.1.2 Các yếu tố của điểm nhìn
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, điểm nhìn có bảy nhân tố: Người tiêuđiểm hóa, nhân tô được tiêu điểm hóa, người phát ngôn, người nhận (độc giả), tiêu
điêm, tiêu cự, hình thức ngôn ngữ.
18
Trang 271.1.2.1 Người tiêu điểm hóa (NTĐH)
NTDH là người thực hiện hành vi nhìn, quan sát, cảm nhận, đánh giá để địnhhướng cho sự phát triển ý nghĩa của tác phẩm
Trong tác phẩm văn học nói chung, trong truyện ngắn nói riêng, NTĐH xuấthiện rất đa dạng Có khi đó chính là NKC, có khi là nhân vật, có khi vừa là NKC vừa
là nhân vật, lại có khi NTĐH không phải là NKC cũng không phải là nhân vật Trong
truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu, NTĐH là nhân vật Nhĩ - người tự bộc
lộ những suy nghĩ của mình về người vợ, về bến quê với nỗi niềm nuối tiếc của một
con người cả cuộc đời đã đi rất nhiều nơi, nhưng đến cuối đời mới nhận ra cái bếnquê quen thuộc lại là nơi mình chưa từng đặt chân tới và sẽ không thể tới được nữa.Trong khi đó, Một Người Hà Nội của Nguyễn Khải lại là truyện ngắn mà NTĐH vừa
là NKC vừa là nhân vật trong tác phẩm, được ké bằng ngôi kể ứôi - một anh lính mộc
mạc với cái nhìn về một người phụ nữ Hà Nội Từ đó, nhân vật nhận ra một lối sống,một cách ứng xử đầy văn hóa; đồng thời trân trọng và nuối tiếc về vẻ đẹp của mộtthời đã qua, nay chỉ còn vang bóng Trong những tác phẩm thơ trữ tinh, NTDH chính
là chủ thé trữ tình bộc lộ cảm xúc:
Tôi muốn tắt nang di
Cho màu đừng nhạt mắt
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay di
(V6i Vàng - Xuân Diệu)
Chủ thé trữ tình ở đây ngắm nhìn cuộc sống tran đầy màu sắc, tràn ngậphương thơm và khát khao một cách mãnh liệt, táo bạo có thể đoạt quyền tạo hóavạn năng dé giữ lai sắc mau va hương vi cua đời, dé duoc sống một cuộc sống
Trang 281.1.2.2 Nhân to được tiêu điểm hóa (NTĐTĐH)
NTĐTĐH là nhân vật thuộc về thế giới được miêu tả trong tác phẩm, là đối
tượng được NTDH nhận thức và phan ảnh.
Trong các tác phâm tự sự, NTDTDH là các nhân vật thuộc thế giới của truyện,
là đối tượng được quan sát và ké lại Đó có thé là NKC, nhân vật hoặc chính NTĐH.Trong trường hợp NTĐH tự quan sát mình, tự cảm nhận về mình thì anh ta chính làNTDTDH Chang han, NTDTDH trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp viết
về đề tài lịch sử chính là các nhân vật lịch sử như Quang Trung, Chúa Nguyễn hayHoàng Hoa Thám, Trương Chi Các truyện này chủ yếu được ké lại bởi người trầnthuật tường minh (Ma Nhã Nam, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Trương Chi, chi
có truyện ngắn Chit thoáng Xuân Hương được kê bởi người tran thuật hàm an) Khaithác đề tài này, người trần thuật của Nguyễn Huy Thiệp thường dẫn dắt bạn đọc đếnvới những câu chuyện “khác” với những chuyện đã được biết đến về một nhân vậtlịch sử nào đó Cái khác ở đây tạo nên sự khác biệt gần như đối lập về điểm nhìn củangười trần thuật đối với những nhân vật này (điểm nhìn được hiểu theo nghĩa quanđiểm, cách thức nhìn nhận chứ chưa đề cập đến cách thức xác lập vi trí trong lời kê).Bằng cách kế những câu chuyện mới về những con người “cũ” ấy, bằng cách đề cập
đến phần con người - phần nhân tính mà nhiều khi không lấy gì làm cao cả của họ,
người trần thuật của Nguyễn Huy Thiệp đã lên tiếng đối thoại, chất vấn lại lịch sử vốn chỉ ghi nhận những nhân vật này ở sự cao cả
-Đối với các tác phâm thơ trữ tình, NTDTDH có thé là chủ thé trữ tình, nhânvật hoặc thé giới trong tác phẩm NTDTDH là chủ thể trữ tình khi NTDH tự quan sát,
tự phát ngôn và bộc lộ cảm xúc của chính mình Còn NTĐTTĐH là nhân vật khi đóng
vai trò là đối tượng được quan sát, miêu tả, cảm nhận
Ngoài ra, NTĐTĐH còn là thế giới trong tác phẩm đó, có thể là thế giới thựcnhưng cũng có thé là thé giới của tâm linh Chang hạn, khổ đầu tiên trong bài thơ Đầy
Thôn Vĩ Dạ của thi sĩ Han Mặc Tử:
Sao anh không về chơi thôn VĩNhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quả xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ dién
20
Trang 29Thế giới Vĩ Dạ được tái hiện trong nỗi nhớ của nhà thơ vừa là cảnh thực (cảnh
ngôi làng Vĩ Dạ bên bờ sông Hương thơ mộng với những vườn cây lá), vừa là thếgiới của cảm xúc, của tâm tưởng (được tái hiện bằng tình yêu, bang nỗi đau, bang cả
nỗi mặc cảm của một con người đang phải chịu sự giay vò của bệnh tật, sự ghẻ lạnh
của người doi).
Như vậy, dù là nhân tố nào thi NTĐTĐH khi được tái hiện trong phát ngôn là
đã mang dau ấn DN của NTDH, không còn là hiện thực bên ngoài cuộc sống nữa
1.1.2.3 Người phát ngôn
Trong hoạt động giao tiếp, DN được thé hiện ra bằng phương tiện ngôn ngữ(dạng nói hoặc dạng viết) Trong đó, người nói là chủ thé của DN Điều mà anh tanói ra xuất phát từ DN của chính anh ta Còn khi anh ta mượn DN người khác thì anh
ta không phải là chủ thé của DN Như vậy, người phát ngôn chính là người thé hiện,
bộc 16 DN.
Khao sát 43 truyện ngắn được in trong hai tap Tướng về hưu và Không có vua
của Nguyễn Huy Thiệp (NXB Văn hóa Thông tin xuất ban năm 2011), chúng tôi nhận
thấy, có 24 truyện được dẫn dắt bởi người trần thuật tường minh Trong số đó, có 12truyện người trần thuật xuất hiện với tư cách tác giả và 11 truyện xuất hiện với tưcách một nhân vật trong truyện ngắn Riêng trong Tội ác và trừng phạt, tôi - ngườitrần thuật đồng thời kể lại nhiều câu chuyện theo quan điểm của bản thân đề nêu lênnhững vấn dé có tính chất luận đề về tội ác và trừng phạt Ở Vang lia, biểu thức chỉxuất người trần thuật tường minh ôi xuất hiện ở ngay đầu truyện ngắn: “Ong Quách
Ngọc Minh, ngụ ở Tu Lý, huyện Đà Bắc viết thư cho tôi: Tôi đã đọc truyện ngắn
Kiếm sắc của ông ké về t6 phụ tôi là Đặng Phú Lân Riêng chỉ tiết gặp Nguyễn Dutôi không thích Nhân vật người trẻ tuổi trong quán trong trẻo lạ ling, tâm hôn sạchnhư nước ở núi ra không ra gì Bài hát Tài mệnh tương đồ co ý gán cho Nguyễn Du
là không khéo léo vậy Ông gắng thu xếp lên chơi, tôi sẽ cho ông xem vài tư liệu, biết
đâu giúp ông có cách nhìn khác Con gái tôi là Quách Thị Trình sẽ mời ông món canh
nấu khế ông thích Nhận được thư tôi đã lên thăm gia đình ông Quách NgọcMinh ” Người trần thuật tường minh zôi cũng có thé xác định được ở ngay phan
mở đầu truyện ngắn Phẩm tiết: “Ông Quách Ngọc Minh (bạn đọc đã làm quen với
21
Trang 30ông qua hai truyện ngắn Kiếm sắc và Vàng lửa của tôi) ngờ rằng ngôi mộ này là của
bà Ngô Thị Vinh Hoa sống cách đây gan hai trăm năm Truyén thuyết người Mườngvùng này kể rang ba đã lập ra dòng họ Quách Câu chuyện này kể về người phụ nữnằm trong ngôi mộ ay”
1.1.2.4 Người nhận
Đây là một yếu tố không thé thiếu trong cau trúc của một DN người nhận, nói
cách khác chính là người nghe, người đọc người tiếp nhận DN va làm cho DN trở nên có ý nghĩa trong việc đánh giá tác phẩm.
Người nhận có thê được gọi tên ngay trong tác phẩm, tham gia trực tiếp trongtác phẩm Trong bài thơ Phdi nói, Xuân Diệu đã gửi đến nhân vật Em những lời khan
cầu tha thiết:
Em phải nói, phải nói và phải nói
Bằng lời riêng nơi cuối mắt dau màyBằng nét vui, vẻ then, chiều say,
Bang dau ngả, bằng miệng cười, tay riétBang im lặng, bằng chi anh có biết
Cốt nhất là em chớ lạnh như đông
Chớ thản nhiên bên một kẻ cháy lòng
Trong truyện ngắn của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã đưa người nhận vào khunggiao tiếp bằng các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai: bạn, bạn đọc, chị, chị bạn, cậu, cô:
“Tôi sẽ kể chuyện này cho chị, vì chị, chị ban a, bởi đến bốn mươi tuổi chị đã thành
bà lão Tôi sẽ kể chuyện này cho cậu, cậu im di, cậu còn trẻ quá, cậu là thằng ngốc Tôi sẽ kể chuyện này cho cô, rồi cô sẽ di lấy chẳng Lúc ấy chỉ toàn những nhọc nhan
thôi, không ai kề chuyện cho cô nghe ca Ở Nhã Nam, thang Tư có mưa Chuyện thénày Một câu chuyện nhỏ về Hoàng Hoa Tham ” (Mưa Nhã Nam); “Tôi đã ghi lạinguyên văn lời ké của người chủ quán Trong bản ghi chép, tôi có sửa tên vài ba nhânvật và có thêm bot ít dau cham phẩy dé cho dé đọc Nhân dịp ngày Xuân, vậy xin hiếntặng bạn đọc thân mến goi là món quà mừng năm moi” (Chú Hoạt tôi) Người trầnthuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường hướng về người đọc như họ đanghiện hữu bằng xương băng thịt trước mặt mình, trực tiếp lên tiếng đối thoại với người
22
Trang 31đọc Trong truyện ngăn Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp, người trần thuật với tưcách tác giả (thông qua việc dùng biểu thức tường minh ứôi) xuất hiện ở cuối truyện
thực hiện vai trò trực tiếp đối thoại với người nhận: “76i, người viết truyện này gan
đây lên Đà Bắc, đến Tu Lý ở trong nhà một người Mường Chủ nhà tên là QuáchNgọc Minh có cho xem bài vị thờ tổ tiên Tôi hết sức ngạc nhiên khi ông Quách NgọcMinh cho biết tổ tiên ông là người Kinh ( ) Tôi còn được con gái ông Quách NgọcMinh tên là Quách Thị Trinh hát cho nghe một bài hát xưa, có lẽ rất thanh tao vềnhững chổi cây xanh ( ) Viết truyện ngắn này, tôi muốn dé tặng gia đình ôngQuách Ngọc Minh để cám ơn thịnh tình của gia đình ông với riêng tôi Tôi cũng xincảm ơn một số nhà nghiên cứu lịch sử và bạn bè quen biết đã giúp tôi sưu tam va
chỉnh lí những tư liệu cân thiết cho công việc viết văn, vốn rất nhọc nhan, phúc tap,
lai buồn tẻ nữa của tôi ”
Dạng người nhận thứ hai chính là độc giả hàm ấn (không xuất hiện trong tác
phẩm), chỉ hình ảnh người đọc xuất hiện trong niềm mong đợi của nhà văn khi quátrình sáng tạo vừa khởi động, và hình ảnh này phần nào chuyên thành một yếu tố hiện
diện trên văn bản Khi sáng tác, nhà văn bao giờ cũng mường tượng tới hình ảnh
người tiếp nhận sản phẩm tinh than của mình Có nhà van khang định chi viét chomình mà thôi, nhưng cái mình cũng là một dạng người đọc tiềm ân Có lẽ vi thế matrong lời tự thuật của nhiều nhà văn nồi tiếng về công việc viết văn, ta đều thay lờikhuyên về việc đọc lại tac pham của mình Nguyễn Công Hoan đặt ra câu hỏi: “Cácbạn có đọc lại tác phẩm của các bạn thật, nhưng các bạn đọc lại bằng tai, bằng mắt
nào, bằng dau óc của ai?” [25; 317] Ông cho rang nhà văn phải “tách minh ra khỏi
vị trí chủ thé, trở thành một độc giả đơn thuần ” dé sửa chữa bản thảo một cách hiệuquả nhất Có thể khăng định, phải có sự hình dung trước về người đọc thì công việcsáng tác của nhà văn mới được bắt đầu Bởi vay, trong tác phẩm văn học mới ton tạilời kể, lời bộc bạch, lời tự sự Trong bài thơ Lỡm học trò của Hồ Xuân Hương, từnhan đề đến những câu thơ:
Khéo khéo di đâu lũ ngắn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ
đều xác định đối tượng tiếp nhận bai tho là người học trò dốt
23
Trang 32Như vậy, người nhận hàm an tiếp nhận tác phẩm băng vốn văn hóa, kinh
nghiệm riêng; từ đó có những cảm nhận, đánh giá khác nhau Khi tác gia sáng tạo nên
tác phâm luôn chú trọng đến đối tượng tiếp nhận của mình Với mỗi người nhận khácnhau sẽ có DN khác nhau DN tiếp nhận văn học là một khâu quan trọng trong quátrình sản xuất và tiêu dùng tác phẩm văn học
giọng nói và không dé dàng dé xác định Chang hạn, phát ngôn “Cái tay trông đẹp
nhỉ? ” có thé là một lời khen trong hoàn cảnh giao tiếp thông thường, nhưng khi là lờicủa người mẹ nói với đứa con gái trong truyện ngắn Bài học quét nhà của Nam Caothì lại là lời chê, chế giéu đứa con chưa thành thạo trong việc quét nhà, tay cầm chối
vẫn còn lóng ngóng.
1.1.2.6 Tiêu cự
Tiêu cự chính là khoảng cách từ NTDH đến NTDTDH Trong tác phẩm truyện
đó là khoảng cách từ NTDH hoặc NKC đến nhân vật, từ NKC đến độc giả Khoảng
cách đó có thé được xác định dựa trên các yếu tố: Không gian, thời gian, quyền lực
và thân hữu, đạo đức, văn hóa, kinh nghiệm, trí tuệ Những yếu tố này càng ngắn
thì tiêu cự càng nhỏ dần Tiêu cự càng nhỏ thi DN càng trở nên rõ ràng hơn Khi tiêu
cự bang 0 thì NKC là người biết hết, biết trước tất cả sự việc được kẻ Khi tiêu cự
bên trong nhân vật thì NKC phải thông qua nhân vật và chỉ được kê những gì nhân
vật biết Còn khi tiêu cự ở bên ngoài, NKC miêu tả lời nói và hành động của nhân
vật, không miêu tả nội tâm, không phân tích tâm lý và cũng không đưa ra những bình luận, đánh giá chủ quan Xác định được tiêu cự cũng tức là chúng ta xác định được
DN của NTDH hay NKC.
24
Trang 331.1.2.7 Hình thức ngôn ngữ
Khi muốn bộc lộc điểm nhìn, chủ thé bắt buộc phải sử dụng dụng các hìnhthức ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là phương tiện để xây dựng DN, vừa là hình thứcbiểu hiện cua DN Cùng một nội dung nhưng DN khác nhau sẽ dẫn đến nhữnghình thức ngôn ngữ khác nhau Hai khổ thơ trong bài Mua xudn của nhà tho
Nguyễn Bính là một VD:
Em xin phép mẹ vội vàng di
Me bảo xem về ké mẹ nghe
Mưa bụi nên em không ướt áo Thôn Đoài cách có một thôi đê!
Minh em lam lũi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê
Áo mỏng che dau mua nặng hạt
Lạnh lùng thêm túi với canh khuya.
Cùng một dải đê ấy, cùng một chủ thể nhìn là cô gái nhưng lúc trước thì khoảng
cách không gian ngắn ngui (có một thôi đê), lúc sau lại xa cách vời voi (có ngắn giđâu một dai dé) Sự thay đổi đó được chi phối bởi điểm nhìn tâm lý Lúc trước đến
với hội chèo làng Đặng, cô gái mang tâm trạng háo hức, đợi chờ, mong được gặp người thương như lời hò hẹn Nhưng khi không được gặp chàng trai, nơi hò hẹn người
thương trở thành nơi chỉ toàn là người lạ, từ nơi ay trở về, cô lại mang tâm trạng buồntủi, thất vọng, bẽ bàng
DN trong lời nói cũng như trong tác phẩm văn học được thé hiện bằng nhiềuhình thức ngôn ngữ nhưng tập trung nhất và dé nhận biết nhất là các biéu thức ngôn
ngữ chỉ không gian - thời gian, cách xưng hô, cách gọi tên nhân vật, các hình thức
bình luận, đánh giá Nhân vật Chí Phèo của Nam Cao được xưng hô bằng rất nhiều
từ ngữ bởi các nhân vật khác nhau: Lang Vũ Đại gọi Chí là han, nó, thằng; Ly Cườnggọi Chí là may, cái thang không cha, không mẹ; Bá Kiến gọi Chí là anh Chi, anh, ChíPhèo hoặc xưng hô trống không; vợ Bá Kiến gọi Chí là nó; Thi No sau lưng cũng gọiChí là nd, hắn nhưng trước mặt thì nói trống không Có thé thấy, trong con mắt của
25
Trang 34nhà văn Nam Cao cũng như trong cách nhìn nhận chung của cả làng Vũ Đại, Chí
Phéo không được trân trọng Từ hắn và nó là hai từ cơ bản được dùng dé chỉ nhân vật
này, (trong đó, từ hắn xuất hiện với tần số cao nhất, 356 lần trong toàn bộ tác phẩm).
Dù tác giả có cảm thông đến may với nhân vật của mình, ông cũng thé hiện rat rõràng một quan điểm: Con người này không phải là đại diện cho cái thiện, cái chínhdiện, cái cao cả, bởi hắn đã từ một con người bình thường trở thành “một con quỷ đữcủa làng Vũ Đại, kẻ đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao cảnh yên vui, đạp đồ
bao nhiêu hạnh phúc ”
Nói tom lại, DN có bảy nhân tô: Người tiêu điểm hóa, nhân tố được tiêu điểmhóa, người phát ngôn, người nhận, tiêu điểm, tiêu cự và hính thức ngôn ngữ Trong
đó, NTĐH và NTĐTĐH giữ vai trò quan trọng hơn cả Lựa chọn va xuất phát điểm
của hai nhân tố này sẽ kéo theo đặc điểm của các nhân tô khác và ảnh hưởng đến cáctính chất của điểm nhìn
1.1.3 Tính chất của điểm nhìn
Trong phan lý thuyết này, chúng tôi tiếp thu những thành tựu của công trình
nghiên cứu Ngôn ngữ ké chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Điểm nhìn
và ngôn ngữ ké chuyện) của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy Từ đó, chúng tôi nhậnthấy DN có các tính chat: tính hàm ẩn, tinh di động, tính khúc xạ, DN bên trong và
DN bên ngoài, DN trong lời nói va DN trong truyện.
1.1.3.1 Tính hàm ẩn
Tính hàm an của DN được thé hiện ở chỗ: DN chỉ có thé được nhận ra qua các
hình thức ngôn ngữ bang các thao tác suy ý Nói như Frederik Crews, “khi chúng tanhìn nhận được những điều nhà văn nói hàm ẩn trong sự miêu ta của anh ta thì DN
của nhà văn trở thành DN của chính chúng ta” [Dẫn theo 31; 27] Trong truyện, tính
chất này là một kỹ xảo làm cho các sự kiện được tường thuật trở nên sinh động hấpdẫn Nó tạo ra những lời văn nghệ thuật đa thanh có sức lôi cuốn người đọc
1.1.3.2 Tính di động
Tính di động của DN là tinh thay đổi vị trí, xuất phát điểm dé nhìn hoặc thay
đôi vị trí quan sát tính chất di động của DN sẽ tạo nên độ căng nội tại cho lời văn kế
chuyện, tạo nên những 6 ca só khác nhau đê nhìn vào thê giới của tác phâm hoặc
26
Trang 35giúp hé mở bức màn nội tâm của nhân vật, tạo nên những câu văn phức điệu đa thanh,
đem lại sự sinh động, phong phú cho hiện thực Tính chất di động cua DN có được là
do kĩ thuật kế chuyện của tác giả cũng như sự thay đổi của NTDH và NTDTDH Cónhững chuyện, DN của nó được thay đôi từ NTDH này sang NTDH khác Đoạn văn
tả nhân vật Chí Phèo ăn cháo hành trong truyện ngăn Chí Phèo của Nam Cao liên tục
có sự thay đôi như vậy: “Hắn càng ăn mo hôi lại càng nhiễu Thi No nhìn hắn, lắcdau thương hại (DN của Thị No) Hắn thấy lòng thành trẻ con Hắn muốn làm niingvới Thị như với me (DN của Chí Phèo) Ôi, sao mà hắn hiển Ai dám bảo đó là cáithằng Chí Phèo vẫn đập dau, rạch mặt ma đâm chém người ?” (DN của Thi No) Sựluân phiên DN này đã tạo ra kịch tính thầm kín cho truyện
Ngoài ra tính chất di động của DN còn có thé do sự thay đổi vị trí, xuất phátđiểm của chủ thé trên phương diện quyền lực và thân hữu nhưng không thay đổi
NTDH và NTĐTĐH Tính chất di động của DN cũng có thé do sự thay đổi của
NTDTDH từ nhân vật này đến nhân vật kia hoặc thay đôi vị tri không gian, thời gian
Trong tác phẩm văn học tính khúc xạ thé hiện qua hình ảnh của các sự vật, con
người, thế giới trong thực tế được đưa vào tác phẩm, thông qua cái nhìn chủ quan của
tác giả không bao giờ có sự trùng khớp hoàn toàn.
Tính khúc xạ này có được là do sự thay đôi vị trí nhìn, góc nhìn của NTDH,
thay đổi về quan điềm lập trường, về tâm lý, nhận thức Cũng nhờ tinh chat này mahiện thực khách quan của đời sống trở nên phong phú, sinh động hơn va DN của nhavăn cũng mang tính cá thể
1.1.3.4 DN bên trong, DN Bên ngoài, PN toàn tri
Khi nghiên cứu tác phẩm văn học, đặc biệt là truyện ngắn và tiêu thuyết, cóthé thấy những tính chất này của DN mang đặc trưng cho từng giai đoạn, từng thời
kỳ văn học.
27
Trang 36DN bên trong là DN chủ quan, mang tâm lý, cảm xúc NTDH quan sat, cảm
nhận, bộc lộ cảm xúc từ bên trong của nhân vật hoặc của chính mình Đó cũng chính
là khi tiêu cự giữa NTDH và NTĐTĐH được thu hẹp lai ở mức tối đa, thậm chí gần
không đi sâu vào tâm lý, cảm xúc của nhân vật.
DN toàn tri là NTDH vừa quan sát, vừa mô tả thế giới bên ngoài cũng như nội
tâm của nhân vật, nhưng không thâm nhập quá sâu Góc nhìn của NTDH được mở
rộng, đa chiều thông suốt tất cả các sự kiện và nhân vật
1.1.3.5 DN trong lời nói va DN trong truyện
Tính chất của DN trong lời nói va DN trong truyện là khác nhau.
DN trong lời nói: Lời nói là hình thức giao tiếp trực tiếp, có tính chất haichiều DN của người nói hay quan hệ giữa người nói - người nghe bi ảnh hưởng
và chi phối bởi việc người nghe có thé chấp nhận hoặc không chấp nhận DN ma
người nói đề nghị Điều này phụ thuộc vào hành động hồi đáp của người nghe.Nếu lời hồi đáp tạo thành cặp kế cận tích cực với lời dẫn nhập thì tức là ngườinghe chấp nhận DN của người nói Mặt khác, trong lời nói, người nói đồng thời làNTĐH nên dễ nhận biết DN của họ qua bề mặt ngôn ngữ nói như từ xưng hô và
hành động ngôn ngữ.
DN trong truyện: Truyện là hình thức giao tiếp gián tiếp, có tính chất một
chiều, chỉ có NKC nói DN của NKC chủ yếu thể hiện qua mối quan hệ giữa NKC
với nhân vật chứ không phải với độc giả, vì độc giả không phải là một cá nhân nào
cụ thé Người đọc phải dựa vào rất nhiều yếu tố trong tác phẩm như ngôn ngữ, kiểu
nhân vật, giọng điệu, sự kién, dé xác định DN của NKC.
28
Trang 371.2 Lý thuyết về truyện ngắn
1.2.1 Khái niệm truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại văn học Nó thường là các câu chuyện kế bằng
văn xuôi và có xu hướng ngăn gọn, xúc tích và hàm nghĩa Thông thường, truyệnngắn có độ dài từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiêu thuyết không thêdừng lại ở con số đó
Tuy là một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ nhưng nội dung của truyện ngăn lại cóthé bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thé sự, sử thi Truyệnngắn mang tính chất tự sự rõ nét nên khá gần với tiểu thuyết Tác giả Lại Nguyên
An cho rằng: “Truyện ngắn ít nhiều mang tinh tư duy của tiểu thuyết” [1; 361].Tác giả Bùi Việt Thắng cũng đưa ra khẳng định: “Truyện ngắn là một bộ phậncủa tiểu thuyết” [25; 46]
Các nhà văn, bằng trải nghiệm thực tế của mình, đã đưa ra những đúc kết vừariêng biệt vừa thống nhất: “Truyện ngắn là truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không
bình thường hiện ra như cái bình thường và cái gì bình thường hiện ra như một cái
không bình thường” (Tautopx) Tác giả Aimatop lại chú ý đến đặc trưng lao động
nghệ thuật của thé loại này: “Zruyén ngắn giống như một thứ tranh khắc go, lao động
nghệ thuật ở đây doi hỏi chặt chẽ, cô đúc, các phương tiện phải được tính toán một
cách tỉnh tế, nét vẽ phải chính xác ” [Dan theo 25; 128] Trong khi đó nhà văn NguyễnCông Hoan cho rằng: “Truyén ngắn không phải là truyện mà là một van dé được xâydựng chỉ tiết” [25; 2§1]
29
Trang 38thừa một chỉ tiết nào” Truyện ngắn có sức chứa, sự dồn nén và khả năng phản ánhcao độ nhờ tính súc tích Chỉ cần một chỉ tiết, một vài trang văn xuôi, tác phâm có thê
“no tung trong tình cảm và ý nghĩ của người đọc những điều rất sâu xa và da diétcủa con người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc di đọc lại mãi không
trước đôi thay của cuộc sống, bắt nhịp kịp thời với hơi thở của thờ đại, thậm chí phải
đặt ra những vấn đề mới, những dự cảm về tương lai
1.2.2.3 Là thể loại văn xuôi tự sự với đây đủ các yếu to
Là thé loại văn xuôi tự sự với đầy đủ các yếu tố cốt truyện, chi tiết, cách kếtthúc tác phẩm, kết cấu, nhân vật, giọng điệu Cụ thể như sau:
Cốt truyện là yếu tố quan trọng của truyện ngắn, nó “thudng tu giới hạn vềthời gian, không gian ” [1; 112] Cốt truyện của truyện ngắn thường tập trung vào mộtkhoảnh khắc của đời sống, từ đó xây dựng nên tình huống truyện Nhà văn NguyễnMinh Châu gọi đó là tinh thé xảy ra truyện: “Với truyện ngắn và với một tác giả cókinh nghiệm viết, tôi nghĩ rằng đôi khi người ta nghĩ ra được một cái tình thé xảy ra
câu chuyện thật hay, thé là coi như xong một nửa ” [25 ; 233] Nếu tiểu thuyết là cuộc
đời trong sự trọn vẹn của nó thì truyện ngắn lại là một “mặt cắt của dòng doi” Nếutiểu thuyết “diễn tả một quá trình vận động của cuộc sống” thì truyện ngắn lại tậptrung vào một tình thế, thê hiện một bước ngoặt, một truường hợp hay một tâm trạngnhân vật Nếu tiểu thuyết “mo ra một điện ” thì truyện ngắn “tập trung xoáy vào một
việc” [25; 143].
Chỉ tiết là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong truyện ngắn Nhà văn NguyênNgọc cho rằng: “7ruyện ngắn có thé có cốt truyện, thậm chi cốt truyện li kỳ, gay can,
kế được Truyện ngắn cũng có thé chẳng có cốt truyện gì cả, không kề được nhưng
truyện ngắn không thể nghèo chỉ tiết Nó sẽ như nước la” [25; 79] Thậm chí M.Gorki
30
Trang 39khang định rằng: “chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lón” Nói như vậy đủ dé thay nhữngchỉ tiết đắt giá có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc có sức ám ảnh ghê gớm với người đọc.Chỉ tiết Hoàng và vợ đọc Tam Quốc vào mỗi đêm trước khi đi ngủ trang trọng nhưmột lễ nghi trong truyện ngắn Đôi Mat của Nam Cao, chỉ tiết bát cháo hành của Thị
Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, chỉ tiết bát cháo cám trong Vo nhặtcủa Kim Lân, tiếng sáo mùa xuân trong Vo chồngA Phủ của Tô Hoài là những chi
tiết độc đáo, được các nhà văn dụng công đưa vào, tạo nên giá trị cho tác phẩm.
Cách kết thúc tác phẩm tạo nên sức hấp dẫn cho cốt truyện Nhà văn Nga
D.Phuốc-ma-tôp khẳng định: “sức mạnh của cú đấm (nghệ thuât) là thuộc về đoạn
cuối ” [Dẫn theo 25; 89] Chính vì vậy đề nới rộng biên độ cho đoạn kết và kéo ngườiđọc vao quá trình đồng sáng tạo, nhiều nhà văn đã tạo ra một khoảng trống tự do ởcuối truyện Điều đó được thê hiện rõ nét trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Huy
Thiệp; truyện ngắn Mudi cua rừng là một trong số đó.
Kết cấu của truyện ngắn có vai trò tổ chức tác phẩm sao cho chủ đề, tư tưởng
luôn luôn thống nhất, thắm sâu vào toàn bộ các bộ phận của tác phẩm, kế cả những
chỉ tiết nhỏ nhất Lê Lưu Oanh quan niệm: “Kế: cấu là sự tổ chức, sắp xếp các yếu
tô trong tác phẩm dé tạo dựng được thé giới hình tượng giàu ý nghĩa thẩm mĩ, có khả
năng khái quát đời sống, thể hiện tư tưởng của nhà van” [Dẫn theo 25; 249] Dé tao
thành những sinh mệnh nghệ thuật có sức sống, tái hiện những bức tranh đời sốnggiàu tính khái quát, nghệ sĩ phải thực hiện công việc tổ chức các yếu tố của tác phẩm
dé tạo thành một chỉnh thé mang giá trị nghệ thuật Việc tô chức này rất sinh động và
vô cùng phong phú Trong tác phẩm văn học, nhiệm vụ của kết cấu đi sâu hơn vàoviệc tổ chức nội dung, xây dựng tính cách Việc xây dựng kết cấu của tác pham vănhọc phải được chỉ đạo thường xuyên của chủ đề và tư tưởng, phải phù hợp với nhữngquy luật của đời sống xã hội và những quy luật vận động của tư tưởng Do đó, kếtcau tạo điều kiện dé người đọc có khả năng khái quát hóa được chủ đề và tư tưởng,năm bắt được tinh cách nhân vật một cách trực tiếp theo quy luật và trình tự phát triển
của nội dung hiện thực của tác phẩm Hà Minh Đức cho rằng: “Nhìn bên ngoài thìkết cầu như một cái sườn cầu tạo bao gốm các bộ phận và biện pháp thuần túy hình
thức cua tác pham Nhưng thực ra nhiệm vụ trọng yếu và sâu xa hơn của kêt cáu là
31
Trang 40sự tổ chức nội dụng mà trực tiếp nhát là việc xây dựng tính cách và hoàn cảnh ” [Dẫn theo25; 249] VD, trong truyện ngắn Chí Phéo của Nam Cao, nếu không có sự xuất hiện chitiết bát cháo hành của Thị Nở vào đúng lúc Chí Phèo bị bệnh và không một ai xót thươngthi chắc chắn giá trị nhân đạo của tác phẩm sẽ không được sâu sắc như nó vốn có Cáchình thức kết cấu trong tác phẩm văn học không còn giữ nguyên kết cau tự nhiên của đờisống mà đã có sự tái tạo lại Kết cầu của truyện ngắn rất đa dạng: kết cấu theo trình tự củathời gian, kết câu bằng cách đi thăng vào giữa truyện, kết cầu theo hai tuyến nhân vật, kếtcau tâm lý Thậm chí, có những kiểu kết cau độc đáo khó gọi tên trong sáng tác củaPhạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp
Nhân vật là một trong những yếu tố không thê thiếu của truyện ngắn Nhân vật
trong truyện ngắn thường được khai thác ở một bước ngoặt một tình huống, một trạng
thái Nói như Tô Hoài, “nhdn vật là nơi duy nhất tập trung hết thay, giải quyết hếtthảy trong một sáng tác ” Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Nhân vật văn học
là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể
có tên riêng (Tam, Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thé không có tên riêng như
` A
“thang ban tơ”, “một mu nao” trong Truyện Kiéu” [14; 202] Như vậy, nhân vật van
học được tạo bởi từ nhiều hiện tượng trong cuộc sống, nó rất phong phú, không chỉ
là con người mà còn là thế giới loài vật, những hình ảnh từ cuộc sống bước vào tácphẩm mang ý nghĩa khái quát cao Với mỗi nhân vật, nhà văn lại có sự thé hiện khácnhau Dù nhân vật là con người hay loài vật, được mô tả đầy đặn hay chỉ một góc
cạnh thì mỗi nhân vật đều có vai trò rất quan trọng trong sáng tác của nhà văn.
Giọng điệu là yếu tố không thê thiếu dé làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu đã phát biểu rất đúng về giọng điệu khi nhận xét truyện ngắn của
Đỗ Chu: “Những điều anh nói đều quen thuộc, chẳng có gì lạ, cái chính là giọng nói,
là giọng điệu kể chuyện đã đóng vai tro nội dung” [25; 231] Giọng điệu trong truyện
ngắn hiện đại và hậu hiện đại ngày càng có xu hướng đa thanh, đa giọng, phức hợp.1.3 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975
1.3.1 Bối cảnh lich sử
Văn học ra đời và phát triển cùng với giai đoạn lịch sử sinh ra nó, thực hiện
các nhiệm vụ mà lịch sử trao cho nó Vì thê, bôi cảnh lịch sử chi phôi rât mạnh đên
32