Trong SGK Ngữ văn lớp 10 của chương trình GDPT 2006 và chương trình Ngữ văn 2018, thơ thất ngôn bát cú Đường luật được phân định rõ ràng.Đồng thời qua thực tiễn dạy học chúng tôi nhận th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ KIM NGÂN
TO CHỨC DAY HỌC ĐỌC HIẾU THO THAT NGÔN BAT CÚ
ĐƯỜNG LUẬT CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO CHƯƠNG
TRÌNH GIÁO DUC PHO THONG MÔN NGỮ VĂN 2018
LUẬN VĂN THAC SĨ SƯ PHAM NGỮ VAN
HÀ NỘI - 2022
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ KIM NGÂN
TO CHỨC DẠY HỌC ĐỌC HIẾU THO THAT NGON BAT CÚ
DUONG LUẬT CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO CHUONG
TRÌNH GIÁO DỤC PHỎ THÔNG MÔN NGỮ VĂN 2018
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn ngữ văn
Mã số: 8140217.01
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYEN ĐỨC KHUÔNG
HÀ NỘI - 2022
Trang 3LOI CẢM ON
Tôi xin bày tỏ lòng biết on sâu sắc tới TS NGUYEN ĐỨC KHUONG
người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên
cứu khoa học này với tất cả sự tâm huyết và tinh thần trách nhiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Sư
phạm, thầy cô giáo giảng dạy lớp Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn
Ngữ văn khóa QH-2020-S Trường Đại học Giáo dục — Đại học Quốc gia Hà
Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu khoahọc, đã trang bị cho tôi những tri thức chuyên môn quý giá làm cơ sở để tôithực hiện đề tài này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trườngTHPT Ngô Quyền, THPT Công Nghiệp — Thành phố Hòa Binh, tỉnh HòaBình đã cộng tác và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, nghiên cứu, kiểmchứng kết quả nghiên cứu đề luận văn được hoàn thành đúng tiến độ
Trong một thời gian ngắn, tôi vừa trực tiếp giảng dạy và làm công táckiêm nhiệm trong nhà trường phố thông vừa nỗ lực trong việc nghiên cứu và
hoàn thiện đề tài Do vậy luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp, chia sẻ của quý thầy cô và bạn bè đồngnghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 8 năm 2022
Tác giả
Lê Kim Ngân
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIET TAT
STT Viết day du Viết tắt
1 Đối chứng ĐC
2 Giáo dục phô thông GDPT
3 Giáo dục phô thông 2018 GDPT 2018
4 Giáo viên GV
5 Học sinh HS
6 Kế hoạch bài dạy KHBD
7 Năng lực NL
8 Nha xuat ban NXB
9 Sach giáo khoa SGK
Trang 5DANH MỤC BANG BIEU
Bang 1.1 Điểm khác biệt về đánh giá trong môn Ngữ văn giữa chương trình
2018 với chương trình 2006.
Bang 1.2 Luật thơ thất ngôn bát cú đường luật
Bảng 1.3.Thống kê thực trạng đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật của
HS lớp 10
Bảng 3.1 Đối tượng dạy học thực nghiệm và đối chứng
Bảng 3.2 Thống kê kết quả bài kiểm tra
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả bài kiểm tra của HS lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng
Bảng 3.4 Thống kê kết quả xếp loại sản phẩm sáng tạo của HS
Bang 3.5.Tổng hợp kết quả xếp loại sản phẩm sáng tao của HS lớp thựcnghiệm và lớp đối chứng
11
Trang 6MỤC LỤC
00990900 iDANH MỤC CHU VIET TẮTT c¿ 55ctccxttttEktrrrrtrrrrrtrrrrtrrerrrkeg ii
DANH MỤC BANG BIEBU - 2-22 ©5£©2E£2EE£EE££EEt2EEvEEEerxeerxerrrerreee il
MO 00 |
1 Lý do chọn đề tài -+ + S221 2E EEEEE1E711111111111111 1.11 re 1
2 Lich sử vấn đề nghiên COU o eceecceccessesseessessesssssessessessssssessessssseessessesseesseeees 3
2.1 Những nghiên cứu về day đọc hiểu thơ Đường luật -¿52 32.2 Những nghiên cứu về day đọc hiểu thơ thất ngôn bat cú Đường luật 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên CỨU - 2 + + + + E+kE+eeEseeEseeeeeeeese 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ¿2° + s2 x+EE+EE+E++E++EEzEzrrrered 74.1 Đối tượng nghiên cứu -2 2 2+ + +E£EE£EE£EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEErkerkrred 7
4.2 Phạm vi nghién CỨU - G6 6 E111 1911911111911 1v vn ng 7
5 Phương pháp nghiÊn CỨU - ¿c6 S+ + E311 E*EE+EESeEEeeeEseererrrkrskrrree 7
6 Những đóng góp của đề tài: :- 5+2 2k EEEE22E1221271211211 1121 re 7
An na 7
6.2 VỀ thực tIỄN: 6 Set E3 EEk S33 x11 E111111111111111117111101111 Txe 7
7 Cấu trúc của luận văn - ¿tt +x+EE1SESEEEE2EEE1211511121111115121111211 1E Ex 8
CHƯƠNG 1: CO SỞ LY LUẬN VA CƠ SỞ THUC TIEN CUA DE TẢI 9
1.2.1 Vị trí của thơ thất ngôn bát cú Đường luật trong chương trình Ngữ văn
2006 và chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018 - «+55 «<< +2 30
1V
Trang 71.2.2 Khảo sát việc dạy và học thơ thất ngôn bát cú Đường luật cho HS lớp
10 theo chương trình Ngữ văn 2006 .- 2-5 3+3 EEsseirsrerrsrsreree 31
CHƯƠNG 2: DE XUẤT CÁCH THUC TÔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC HIẾU THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT THEO CHƯƠNG TRÌNHGIÁO DỤC PHO THONG MON NGỮ VĂN 2018 - -s 392.1 Nguyên tắc tổ chức day học đọc hiểu thơ thất ngôn bat cú Đường luật cho
hoc sinh lớp 10 theo chương trình GDPT môn Ngữ Van 2018 39
2.1.1 Bám sát mục tiêu dạy học Ngữ văn và yêu cầu cần đạt của việc dạy đọchiểu văn bản thơ cho học sinh lớp 10 của chương trình GDPT 2018 39
2.1.2 Bam sát đặc trưng thể loại - se s©xeEk#E£EEEEEEEEEEEEEEErkerkerkee 40
2.1.3 Tích cực hóa hoạt động Doc của học sinh - - -«++-s++ss++s+2 43
2.1.4 Kết hợp giữa dạy học với đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng
phát triển năng lực học sinh - 2-22 2+ E+EE£E+EE+EE£EEEZEEEEEerkrrkerrerred 44
2.2 Trình tự tổ chức day học đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật cho
HS lớp 10 theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018 - 47
2.2.1 Xác định mục tiêu bài học - 555 + 22113322 verreeeerzeee 47
2.2.2 Xây dựng kế hoạch bai dạy đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật 492.2.3 Hướng dẫn học sinh tìm kiếm thông tin liên quan đến bài học đọc hiểuthơ thất ngôn bát cú Đường luật ¿+ E+Sx+EE£EE+EEEEEEEEEEzErkerrerkee 522.2.4 Thực hiện các hoạt động dạy học đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường
luật theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018 5+ +55 +++s+++ 55
2.3 Đánh giá kết qua sau khi dạy học doc hiểu tho thất ngôn bat cú Duong
1 ẳẳ 5 71
CHUONG 3: THUC NGHIEM SU PHAM Qu ecececesesesseseeseseeeeseseseseseeneeseens 76 3.1 Mục đích và nhiệm vụ cua thực nghiệm sư pham - - 76
3.2 Thời gian, đối tượng, dia bàn, nội dung thực nghiệm sư phạm 76
3.2.1 Thời gian, đối tượng, dia bàn thực nghiệm -5- «+55 s<++ 76
3.2.2 Nội dung thực nghiỆm - 5 2 1 3321133211151 EEEEEErrerrre 76
Trang 83.3 Cách thức tiễn hành thực nghiỆm - c3 +sesrereersreerreeree T7
3.3.1 Xây dựng kế hoạch thực nghIỆm - - -5 53+ ++evseeersseersesss 77
3.3.2 Trién khai thuc 30195000077 T7
3.3.3 Thu thập xử lý số liệu đánh giá kết quả thực nghiệm 79
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 2-2 2 2£E£E£+EE+£++rxzrerrxee 96
3.5.1 Kết quả phiếu đánh giá của giáo viên -©5¿©cs+cs+cxzzecrsee 96
3.5.2 Kết quả sản phẩm của học sinh 2-2 2222£x+£E2££+£xerxezrzzrxee 97 KET LUẬN VÀ KHUYEN NGHHỊ, -¿- ¿©sSt+E‡EE+EEEEEEESEeEEeEtzEerxerered 101
1 KẾT luận - St S121 1511 1151E11115111111111111111111111111111.1111 TeE 101
2 Khuyến nghị, -¿- 2 Ss 1+ E213 2E1111111111111111 11111111 11 11 xe 102
TÀI LIEU THAM KHẢO -¿2S k+ESEEEE‡EEEEEEEEEEEEEEEEEEEErEerkerrrrrrke 104
PHU LUC
VI
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Chương trình giáo dục phô thông 2006 được ban hành theo nghị quyết
số 40/2000/QH10 ngày 09/12/2000 của Quốc hội và được triển khai trong
toàn quốc từ năm 2002 Chương trình GDPT 2006 là một bước đột phá so với
chương trình GDPT trước đó Kết quả giáo dục gần 20 năm qua đã chứng tỏ
tác động tích cực của chương trình GDPT 2006 Tuy nhiên, đất nước đã bước
sang một giai đoạn mới, đặt ra những yêu cầu mới về phát triển nguồn nhânlực phát triển con người Trong bối cảnh đó, ngày 27/3/2015 Thủ tướng chính
phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt đề án đổi mới chương
trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông Thực hiện các Nghị quyết củaĐảng, Quốc hội và quyết định của thủ tướng chính phủ, Bộ giáo dục và đào
tạo đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông 2018 dé nâng cao chất
lượng giáo dục, đáp ứng đòi hỏi thực tế, bắt kịp xu thế chung của thế giới
Chương trình GDPT 2018 đã chính thức được triển khai ở lớp 1 và lớp 6 từ
năm học 2020 -2021, tiếp tục triển khai ở lớp 10 trong năm học 2022 - 2023
1.2 Một trong những quan điểm khi xây dựng Chương trình giáo dục phổ
thông môn Ngữ văn 2018 là hướng đến lấy việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp
(Đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học Các kĩ năngĐọc, viết, nói và nghe, là tiền đề quan trọng dé hình thành và rèn luyện cho
HS năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ với nhiều cấp độ khác nhau [31, tr.27]
Kĩ năng Đọc, đặc biệt là đọc hiểu văn bản được chú ý nhiều hơn cả “Trong
chương trình GDPT môn Ngữ van 2018, việc rèn luyện ki năng đọc cho học
sinh THPT chiếm khoảng 50%.” [5, tr 22] Vì thế, đối với việc hướng dẫn HSđọc hiểu văn bản nói chung và văn bản văn học trong nhà trường có vai trò vô
cùng quan trọng.
1.3 Trong hệ thống thể loại của văn học Việt Nam, Thơ Đường luật tuy làmột thể thơ ngoại nhập nhưng lại là một trong sỐ những thé loại có lịch sử
Trang 10phát triển lâu đời và trong một thời gian khá dai có vị trí gần như là độc tôn
trên thi đàn Việt Nam Theo các tài liệu nghiên cứu thơ Đường luật đã xuất
hiện từ văn học Viết Việt Nam Như vậy thơ Đường luật đã tồn tại ở ViệtNam ngót 10 thé ki Trong suốt 10 thé ki ay nền thơ Việt Nam đã đạt đến đỉnh
cao của nghệ thuật thơ ca cô điển một phần là có sự góp mặt của thé thơ độc
đáo này Trong đó thé loại thơ thất ngôn bát cú là một trong những dang thé
cơ bản và đạt thành tựu xuất sắc trong thơ Đường luật Chính vì vậy thơ thất
ngôn bát cú đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình GDPT Những tác
phẩm tiêu biéu được đưa vào chương trình và SGK là những tác phẩm tiêubiểu, xuất sắc đại điện cho thơ Đường luật của hai dân tộc như một sự khẳngđịnh vị thế của thơ Đường luật trong quá khứ và trong cuộc sống hiện đại
Mặt khác thơ thất ngôn bát cú Đường luật cũng là văn bản khó trong tiếp nhận
vì rất nhiều lí do thuộc bản thân đối tượng và người dạy người học nhất là khi
chương trình GDPT 2018 sẽ được chính thức triển khai ở khối THPT trongnăm học 2022 — 2023, khi mà chúng ta phải lấy cái mới dé dạy, để hiểu mộtcái đã cũ ra đời cách người dạy và người học hơn 10 thế kỉ
1.4 Trong SGK Ngữ văn lớp 10 của chương trình GDPT 2006 và chương
trình Ngữ văn 2018, thơ thất ngôn bát cú Đường luật được phân định rõ ràng.Đồng thời qua thực tiễn dạy học chúng tôi nhận thấy có những khoảng trốngcần phải bổ sung trong quá trình hướng dẫn HS đọc hiểu
Xuất phát từ những lí do trên đây đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài:
“Tổ chức dạy học đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật cho học sinhlớp 10 theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018” đểnghiên cứu Chúng tôi mong muốn góp phần đưa ra những hướng dẫn cụ thể
dé triển khai nội dung dạy học đọc hiểu thơ Thất ngôn bát cú Đường luật cho
học sinh lớp 10, đồng thời đáp ứng xu thé day học phát triển PC và NL HS
trong nhà trường THPT theo định hướng của chương trình GDPT môn Ngữ
văn 2018.
Trang 112 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về dạy đọc hiểu thơ Đường luật
Thơ Đường luật đã cách chúng ta một khoảng thời gian dài - hơn 1000
năm Trong suốt thời gian ay tho Đường luật đã nhận được rất nhiều sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu Nhiều công trình nghiên cứu về thơ Đường luật
đã được ra đời Dau tiên phải ké đến công trình “Về thi pháp thơ Duong” củaNguyễn khắc Phi, Tran Dinh Sử, “Thi pháp thơ Duong” của Quách Tan, “Thi
pháp thơ Đường” của Nguyễn Thị Bích Hải Trong các công trình này tác giả
đã nêu những đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật cũng như giá trị đặc
thù của thơ Đường luật đã giúp ích rất nhiều cho việc dạy học thơ Đường luật
trong nhà trường phô thông
Vấn đề dạy học thơ Đường luật đã được đề cập đến trong một số công
trình Trong công trình Bình giảng thơ Đường (2005) Nguyễn Thị Bích Hải
đã đề xuất một cách tiếp cận, thơ Đường luật Đó là phân tích các bài thơ thấtngôn bát cú Đường luật của Việt Nam làm theo thể đường luật chia làm 4phan: Dé, Thực, Luận, Kết nhưng vẫn tôn trong mach cảm xúc Trong côngtrình này tác giả đã có một số gol ý hết sức quan trọng cho việc dạy học thơĐường luật “đặc trưng của thơ Đường luật là tạo lập các mối quan hệ nênngười đọc thơ Đường luật cần phải phát hiện các mối quan hệ ấy trong thơ
Đường” [14].
Năm 2006 tác giả Lê Xuân Soan xuất bản sách dạy học các tác phẩmthơ Đường tác giả đã nêu 10 biện pháp dé nâng cao chất lượng giảng day thơ
Đường: Đối chiếu nguyên tác, lay cái Tâm cái chí của nhà thơ dé cắt nghĩa
thơ Đường luật, khai thác các cách mở bài, kết bài, chú ý khai thác ý tại ngônngoại, phân tích nghệ thuật chấm phá, phép đối, phân tích giá trị của biệnpháp tu từ, Niêm luật, Phân tích chất họa, chất nhạc, giải thích điển có, điểntích, tô chức cho HS hoạt động nhóm, vận dụng thích hợp các yếu tố lịch sử.phân tích và dạy học thơ Đường luật theo bố cục và mạch cảm xúc [29]
Trang 12Năm 2009 tác giả La Nhâm Thìn đã cho ra mat cuốn sách Phân tích tác
phẩm văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn thể loại, tác giả đã nêu ra 4
cách tiếp cận một bài thơ của thể loại này đó là tính quy phạm của thé loại,kết cau, đối, câu thơ cuối [34]
Luận văn Dạy Đọc hiểu thơ Đường luật theo đặc trưng thể loại của
Phan Thị Hiền đã đề cập hướng tiếp cận và đưa ra các biện pháp dạy đọc hiểu
thơ Đường theo đặc trưng thể loại nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức
trong học tập của học sinh [16].
Các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo rất bổ ích
cho nhiều giáo viên, học sinh Mặc dù các công trình nghiên cứu chưa đi sâu
vào vấn đề dạy học đọc hiểu thơ Đường luật trong chương trình giáo dục
trung học phổ thông theo hướng phát triển phẩm chất năng lực người học,
nhưng những công trình trên đây đã đem lại những gợi ý vô cùng quý giá giúp
chúng tôi thực hiện đề tài này
2.2 Những nghiên cứu về dạy đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật là một trong ba dạng cơ bản của thơĐường luật Ra đời từ rất sớm ở Trung Quốc, bắt nguồn từ thơ bay chữ cổ
phong (thất ngôn cô thê) đến đời Đường, thơ thất ngôn bát cú phát triển rằm
rộ Trong quá trình giao lưu hội nhập văn hóa một nghìn năm Bắc thuộc, hìnhthức thơ này đã du nhập vào Việt Nam, sau này được các nhà thơ cô điển ViệtNam ưa chuộng, tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Binh Khiêm, NguyễnKhuyến, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan Về lý thuyết cơ bản,người Việt Nam vẫn lay những quy định của các thi nhân đời Đường và mộtphần đời Tống làm chuẩn Các sách nghiên cứu lý luận và văn học sử ViệtNam vẫn nhắc tới năm điểm cơ bản là: niêm, luật, vần, đối, bố cục giống như
quy định của các thi nhân đời Đường Trong suốt một thời gian dài của văn
học Trung Đại thơ Đường luật nói chung và thơ thất ngôn bát cú đường luật
nói riêng đóng vai trò quan trọng trên thi đàn văn học dân tộc Nhưng trong
4
Trang 13quá trình tìm hiểu chúng tôi nhận thấy phan lớn các đề tài đều tập trung vàonghiên cứu thơ Đường luật, còn đối với thơ thất ngôn bát cú Đường luật mà
cụ thé hơn là những nghiên cứu về day đọc hiéu thơ thất ngôn bát cú Đườngluật trong nhà trường vẫn là một lãnh địa cần được các nhà nghiên cứu dànhthời gian quan tâm nhiều hơn nữa Trong phạm vi nghiên cứu của luận vănchúng tôi chỉ tìm hiểu những dé tài nghiên cứu có liên quan đến việc day đọc
hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật trong nhà trường cụ thể:
Trước hết là dé tài nghiên cứu của Lê Viết Thắng “Sw phát triển vềhình thức thơ Thất ngôn bát cú trong thơ Nôm Đường luật qua Nguyễn Trãi,
Nguyễn Binh Khiêm, Hô Xuân Hương, Nguyễn Khuyến” mới chỉ ra sự phát
triển về cấu trúc, nhịp điệu, ngôn ngữ của thơ thất ngôn bát cú về mặt hình
thức[33] Tác giả mới chỉ đề cập đến vấn đề Việt hóa thê thơ Thất ngôn bát cú bằng chữ Nôm đã diễn ra và phát triển như thế nào qua sáng tác của các nhà
thơ Trung Đại.
Tiếp theo là công trình nghiên của Trần Bình Trọng “Một vài ý kiến vềphương pháp dạy thơ Thất ngôn bát cú đường luật” đã đề cập đến một sốphương pháp tìm hiểu, phân tích, tiếp cận, thơ Thất ngôn bát cú cho học sinh
THPT [35] Tác giả đã đưa ra bốn bước trong khi tiếp cận văn bản thơ thất
ngôn bát cú Đường luật đó là: Tìm hiểu sơ lược về thơ thất ngôn bát cú
Đường luật; Nhận dạng thể thơ của văn bản chuẩn bị tìm hiểu; Tìm hiểu khai
thác bài thơ theo một hệ thống câu hỏi ; Đánh giá khái quát chung về bài thơ.Như vậy đề tài nghiên cứu mới chỉ chú ý đến các bước trong quá trình đọc
hiểu mà chưa coi trọng các bước chuẩn bị trước khi đọc hiểu
Đề tài nghiên cứu của Trịnh Thị Ngọc “Nâng cao chất lượng đọc hiểuthơ trữ tình Trung đại Việt Nam”, tác gia đã đưa ra cách đọc hiểu thơ trữ tìnhtrung đại nói chung trong đó có thơ Thất ngôn bát cú đường luật là dựa trên
sự khai thác tìm hiêu kêt câu, niêm thơ, luật băng trắc, đôi, vân, tứ thơ, ngôn
Trang 14ngữ [22] Như vậy trong đề tài nghiên cứu này tác giả tập trung vào việc nâng
cao chất lượng đọc hiểu thơ trữ tình cho HS theo đặc trưng thé loại
Trên cơ sở khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đềtài nghiên cứu về dạy đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật trong nhà
trường mới chỉ chú ý đến phương pháp dạy học nhăm truyền tải được hết kiến
thức của bài học mà chưa chú ý đến việc phát triển NL và PC người học
Chúng tôi cũng nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào dé cập đến việc
tố chức day học đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật cho học sinh lớp 10nhằm phát trién PC và NL người học theo mục tiêu chương trình giáo dục phô
thông môn Ngữ văn 2018 Có lẽ là do chương trình mới và việc tiến hành dạy
học cho học sinh lớp 10 theo chương trình GDPT 2018 bắt đầu được thựchiện từ năm học 2022 - 2023 Đây cũng là vấn đề trăn trở của rất nhiều GV
đang giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường THPT, đặc biệt ở thời điểm
giao thời giữa chương trình 2006 và 2018
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất cách thức tô chức dạy học đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường
luật cho học sinh lớp 10 theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018, qua đó
góp phần nâng cao năng lực đọc hiểu thơ trữ tình cho HS, đồng thời nâng caochất lượng dạy học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay và đáp ứng yêu cầuphát triển PC, NL của HS trong chương trình mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở cho dạy họcĐọc hiểu thơ Thất ngôn bát cú Đường luật cho học sinh lớp 10 theo chương
trình GDPT môn Ngữ văn 2018
- Khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng dạy học Đọc hiểu thơ Thấtngôn bát cú Đường luật cho học sinh lớp 10 ở trường phô thông hiện nay
Trang 15- Dé xuất cách thức tô chức day đọc hiéu thơ Thất ngôn bát cú Đường
luật cho học sinh lớp 10 theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018.
- Thực nghiệm sư phạm.
4 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quy trình tổ chức các hoạt động đọc hiéu thơ Thất ngôn bát cú Đường luật
cho học sinh lớp 10 theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
4.2 Pham vi nghiên cứu
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật trong SGK ngữ văn 10, Bộ Kết nối tri
thức, chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
Trường THPT trên địa bàn thành phố Hòa Bình
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phương pháp quan sát, điều tra giáo dục
- Phương pháp khảo sát và thực nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
6 Những đóng góp của đề tài:
6.1 Về lí luận:
- Hệ thống hóa được cơ sở lí luận của việc tô chức dạy học đọc hiểu thơ thất
ngôn bát cú Đường luật cho HS lớp 10 theo chương trình GDPT môn Ngữ
văn 2018, nhằm phát triển năng lực đọc hiểu văn học cho HS
6.2 Về thực tiễn:
- Đánh giá được những hạn chế trong dạy và học thơ thất ngôn bát cú Đường
luật cho HS lớp 10 ở chương trình GDPT 2006.
- Đề xuất cách thức tô chức dạy học đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật
cho học sinh lớp 10 theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
Trang 167 Cau trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiên của dé tài
Chương 2: Dé xuất cách thức tổ chức day hoc đọc hiểu thơ Thất ngôn bát cú
Đường luật theo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17CHUONG 1
CO SO LY LUAN VA CO SO THUC TIEN CUA DE TAI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Những điểm mới của môn Ngữ văn trong chương trình GDPT 2018
1.1.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình
Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính
toàn cầu đặc biệt với những quốc gia đang phát triển trong đó có Việt
Nam Trong quá trình đổi mới có một thực tế cho thấy không có một chươngtrình nào được thiết kế xây dựng mới hoàn toàn mà luôn phải kế thừa những
yếu tố nền tảng, ôn định truyền thống và những yếu tố cập nhật, đổi mới phát
triển Trong lần đổi mới này Chương trình Ngữ văn 2018 đã dựa vào những
thành tựu của Chương trình 2006 dé lựa chọn kế thừa và phát triển tiếp theo
định hướng mới.
Điểm mới thứ nhất trong quan điểm xây dựng chương trình môn Ngữ
văn 2018 là lay việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói, nghe) làm
trục chính xuyên suốt ba cấp học [5, tr 4] Lần đầu tiên việc xây dựng chươngtrình Ngữ văn được thống nhất cùng một hệ thống là kĩ năng giao tiếp, giúpcho việc tích hợp tốt hơn thé hiện rõ đặc điểm của chương trình phát triểnnăng lực, không lấy việc trang bị kiến thức làm mục tiêu giáo dục
Điểm mới thứ hai trong quan điểm xây dựng chương trình môn Ngữvăn 2018 là xây dựng chương trình theo hướng mở Đây là điểm mới thực sựtrong việc xây dựng chương trình môn ngữ văn Tính chất mở của chươngtrình được thé hiện ở những điểm quan trọng sau: Một là không quy định chitiết về nội dung dạy học, nhất là các văn bản chỉ quy định những yêu cầu cần
đạt về đọc, viết, nói và nghe cho mỗi lớp; quy định một số kiến thức cơ bản cốt lõi về tiếng Việt, văn học và một số văn bản có vị trí ý nghĩa quan trọng
của văn học dân tộc Cho phép GV được chủ động trong việc lựa chọn SGK,
sử dụng một hay kêt hợp nhiêu sách, nhiêu nguôn tư liệu khác nhau trên cơ sở
9
Trang 18bám sát mục tiêu đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình Việc đánh giá kết
quả học tập không dựa trên các ngữ liệu đã học trong SGK Ngữ văn mà lay
yêu cầu cần đạt nêu trong văn bản chương trình môn học làm căn cứ dé biênsoạn đè kiểm tra, đánh giá [5, tr 5]
Điểm mới thứ ba trong quan điểm xây dựng chương trình môn Ngữ văn
2018 là dựa trên cơ sở khoa học đó là các thành tựu, kết quả nghiên cứu về
giáo dục học, tâm lý học, ngôn ngữ học, văn học Thực hiện chủ trương một
chương trình nhiều SGK, phân cấp quản lí và phát triển chương trình nhàtrường, địa phương dựa trên chương trình quốc gia Đồng thời cũng dựa trên
kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Ngữ văn của Việt Nam và cập nhật
xu thế quốc tế trong phát triển chương trình [5, tr 16]
1.1.1.2 Mục tiêu chương trình
Toàn văn mục tiêu nêu trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn
Ngữ văn 2006 gồm 3 nội dung: Thứ nhất môn Ngữ văn cung cấp cho HSnhững kiến thức phé thông cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ vàvăn học Thứ 2 môn Ngữ văn hình thành và phát triển ở HS các năng lực sử
dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập,
tư duy Thứ ba môn Ngữ văn bồi dưỡng cho HS tình yêu tiếng Việt, văn học,
văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc Đâychính là cấu trúc “truyền thống” của mục tiêu giáo dục trong nhà trường phôthông từ trước đến nay khi tập trung vào 3 nội dung (kiến thức, kỹ năng
và thái độ) Khác với cách nêu mục tiêu của chương trình môn Ngữ văn 2006,
Chương trình môn Ngữ văn 2018 dựa trên đặc trưng của môn Ngữ văn, dựa
trên yêu cầu của các văn kiện chính trị như Nghi quyết 29 của ban chấp hành
Trung ương Đảng về đôi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo; Quyết định 404 của chính phú về đôi mới chương trình và SGK giáo dục phô thông
đáp ứng nhu cầu đổi mới đất nước và về giáo dục bôi dưỡng thế hệ trẻ Dựa
trên sự tham chiêu mục tiêu môn Ngữ văn của một sô nước có nên giáo dục
10
Trang 19tiên tiễn, Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 đã xác định
mục tiêu chung của môn Ngữ văn như sau:
a Môn Ngữ văn góp phần hình thành và phát triển cho học sinh nhữngphẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm;
bôi dưỡng tâm hôn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính.
b Môn Ngữ văn góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung:
năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết
vấn đề và sáng tạo Đặc biệt, môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực
đặc thù đó là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học.
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 cũng xác định
mục tiêu cụ thé của chương trình môn Ngữ văn trung học phô thông như sau:
a) Giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất đã được hình thành ở trung học cơ sở; mở rộng và nâng cao yêu cẩu phát triển phẩm chất
với các biểu hiện cụ thể: có bản lĩnh, cá tính, có lí tưởng và hoài bão, biết giữ
gin và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam; có tinh than hội nhập và ý thức
công dân toàn cau
b) Tiếp tục phát triển các năng lực đã hình thành ở trung học cơ sở với
các yêu câu cần đạt cao hơn: đọc hiểu được cả nội dung tường mình và hàm
ẩn cua các loại văn bản với mức độ khó hơn; đọc hiểu với yêu cẩu phát triển
tu duy phản biện; vận dụng được các kiến thức về đặc điểm ngôn từ văn học,
các xu hướng — trào lưu văn học, phong cách tác giả, tác phẩm, các yếu tổ
bên trong và bên ngoài văn bản để hình thành năng lực đọc độc lập
Dé đạt được mục tiêu đặt ra trong môn Ngữ văn, việc dạy học phải
thông qua những kiến thức phổ thông cơ bản về tiếng Việt, văn học và bằng
các hoạt động Đọc, viết, nói, nghe các kiểu loại văn bản Có nghĩa là với
chương trình 2018 hệ thong kiến thức tiếng Việt và văn học là phương tiện déđạt được mục tiêu phát triển PC va NL, trong đó NL ngôn ngữ va NL văn học
là hai NL trực tiếp của môn Ngữ văn trong nhà trường Điều này cũng có
11
Trang 20nghĩa là cái đích của dạy học ngữ văn không phải là trang bị thật nhiều kiến
thưc, biết thật nhiều thơ văn mà vẫn không có NL, đọc văn bản van không
hiểu, viết vẫn sai chính tả, ngữ pháp, không có nội dung, lòng vòng luan quan,
nghe không hiểu, nói không rõ ràng, mạch lạc và thiếu thái độ văn hóa phù
hợp khi giao tiếp Chương trình 2018 không hướng tới chạy theo kiến thức màtập trung vào thực hành, vận dụng tạo ra năng lực giao tiếp đọc, viết, nói và
nghe Cũng có nghĩa là, muốn có được phẩm chất và năng lực, HS cũng phải
có kiến thức; nhưng kiến thức không phải là mục tiêu cuối cùng mà chỉ làphương tiện dé đạt được mục tiêu môn học
1.1.1.3 Nội dung giáo dục.
Chương trình giáo dục phổ thông môn ngữ văn 2018 đã nêu một sô
điểm đổi mới cụ thé về nội dung dạy học của chương trình 2018 như sau :
Nội dung giáo dục của chương trình 2018 góp phần chuyền đổi nền
giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng giúp HS vận dụng kiến
thức học vào thực tiễn của chương trình hiện hành sang nền giáo dục phát
triển toàn diện PC và NL người học thông qua kiến thức cơ bản, hiện đại thiết
thực và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học giúp HS hình
thành và phát triển những pham chat và năng lực mà nhà trường và xã hội kỳ
vong.
Chương trình Ngữ van 2006 được xây dung với những trục khác nhau
ở những khối học khác nhau như khối THPT dựa vào trục thé loại và lich sửvăn học dé tổ chức chương trình Chương trình môn Ngữ văn 2018 dựa trênmột trục tích hợp duy nhất là lay các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe)làm trục chính xuyên suốt ba cấp học
Khác với sự quy định chặt chẽ các nội dung cụ thể cho từng lớp, bắt
buộc tác giả SGK, GV phải tuân thủ của chương trình GDPT môn Ngữ van
2006 Nội dung Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 đảm
bảo những nội dung giáo dục côt lõi bắt buộc đôi với học sinh toàn quôc.
12
Trang 21Chương trình Ngữ văn 2018 bám sát mục tiêu phát triển NL ngôn ngữ va NL
văn học với mỗi kỹ năng cơ bản Đọc, viết, nói và nghe chương trình đều quy
định rõ các yêu cầu cần đạt đồng thời xem đây là trục triển khai nội dung giáodục cơ ban Chang hạn yêu cầu về kĩ năng đọc hiểu môn Ngữ văn ở trung học
phổ thông được thể hiện ở bốn yêu cầu gồm : Đọc hiểu nội dung, đọc hiểu
hình thức, liên hệ, so sánh, kết nối, đọc mở rộng, bốn loại yêu cầu này là
chung cho tất cả các loại văn bản trong chương trình.
Với chương trình trình GDPT môn Ngữ văn 2006 ngữ liệu văn bản
chính là nòng cốt của chương trình việc này dẫn đến khi ôn thi người học chỉ
cần năm chắc kiến thức của những văn bản ngữ liệu đó, khắc phục hạn chế
này chương trình Ngữ văn 2018 chỉ định hướng về các kiểu văn bản và thể
loại được dạy ở từng lớp Đây là một trong những điểm khác biệt lớn nhất cần quan tâm khi nghiên cứu chương trình ngữ văn mới Nếu trong chương trình
GDPT môn ngữ văn 2006, văn bản thông tin chưa có tên gọi và chưa được
phân loại chính thức, chưa được dạy và học có ý thức thì chương trình ngữ văn 2018 văn bản thông tin chính thức trở thành một trong ba loại văn bản
chính.
1.1.1.4 Phương pháp giáo dục
Dé chuyền từ day học nội dung sang dạy học phát triển NL, chươngtrình Ngữ văn 2018 ngoài việc kế thừa những phương pháp dạy học tích cực
đã và đang được thực hiện trong chương trình hiện hành thì còn cần vận dụng
và đáp ứng một số yêu cầu chung về phương pháp giáo dục nhằm phát huy
tính tích cực của HS GV cần chú ý hình thành cho HS cách học, phương
pháp tiếp nhận và tạo lập văn bản thực hành và luyện tập nhiều kiểu văn bản
khác nhau để các em có thể tiếp tục học tập suốt đời và có khả năng giải quyết
vấn đề trong cuộc sống Nhiệm vụ của giáo viên không chỉ là người traotruyền tri thức mà phải là người tô chức các hoạt động học tập cho HS, giám
13
Trang 22sát, hướng dẫn hỗ trợ dé HS từng bước hình thành và phát triển các PC và NL
mà chương trình giáo dục mong đợi.
Một trong những định hướng chung của phương pháp giáo dục môn
Ngữ văn 2018 là đa dạng hóa các phương pháp hình thức tổ chức và phương
tiện dạy học GV có thể tổ chức cho HS làm việc nhóm, làm việc độc lập, tổ
chức giờ học ở trong lớp và ngoài lớp, cho HS tham quan trải nghiệm, quan
sát viết báo cáo, thực hiện dự án [12, tr 27] Về phương pháp dạy học GV
không tuyệt đối hóa một phương pháp trong dạy đọc, viết, nói và nghe màphải biết vận dụng các phương pháp phù hợp với đối tượng bối cảnh, nộidung và mục đích của giờ học Kết hợp thuyết trình với nêu câu hỏi, cho Hsthảo luận trình bày kết quả nghiên cứu trước lớp, hướng dẫn HS cách dùng sơ
đồ dé thé hiện các ý tưởng Khuyến khích HS thực hiện các nghiên cứu cá
nhân hay theo nhóm, thu thập chọn lọc tài liệu sử dụng các phương tiện công
nghệ thông tin dé hỗ trợ cho việc trình bày
1.1.1.5 Kiểm tra đánh giá
Trong môn Ngữ văn 2018 thông qua các hoạt động đọc, viết nói và
nghe giáo viên đánh giá PC va NL chung, NL đặc thù và sự tiến bộ của HS
Trong đó đánh giá hoạt động Đọc hiểu tập trung vào yêu cầu HS hiểu nộidung, chủ đề của văn bản, quan điểm và ý định của người viết, xác định cácđặc điểm thuộc về phương thức thể hiện (kiểu loại văn bản ngôn ngữ sửdụng), khả năng trả lời những câu hỏi theo cấp độ tư duy khác nhau theothang nhận thức Bloom cải tiến, bước đầu lý giải cho hiéu biết của mình, nhận
xét đánh giá về giá trị và sự tác động của văn bản đối với bản thân, thé hiện
cảm xúc với những vấn đề đặt ra trong văn bản, liên hệ so sánh giữa văn bảnvới văn bản, văn bản với đời sống
“Đánh giá kết quả giáo dục môn ngữ văn 2018 nhằm cung cấp thông
tin chính xác, kịp thời có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về PC,
NL và những tiến bộ của HS trong suốt quá trình học Từ đó góp phần điều
14
Trang 23chỉnh các hoạt động học, quản lý và phát triển chương trình, đảm bảo sự tiến
bộ của từng học sinh chứ không chỉ tập trung vào đánh giá dé xếp hang, phân
loại HS Chú trọng đánh giá quá trình, giúp HS biết tự đánh giá và nâng cao
của cuộc sông.
- Vì sự tiên bộ của người học so với chính họ
- Găn với bôi cảnh học tập và thực
tiên cuộc sông của người học
- Gắn với nội dung họctập (Những kiến thức kĩ
năng thái độ) được học
trong nhà trường.
Nội dung
đánh giá
- Sự kết hợp kiến thức kĩ năng
thái độ giữa các môn Ngữ văn với
các môn học khác, hoạt động giáo dục và trải nghiệm của bản thân
HS trong cuộc sống xã hội (Tập
trung vào năng lực thực hiện)
một nội dung đã được học
15
Trang 24Hình thức
và công cụ
đánh giá
- Hình thức đa dạng gôm câu
hỏi, nhiệm vụ, bài tập găn với các
tình huống, bối cảnh thực
- Câu hỏi bài tập nhiệm
vụ găn với các tình huông
ít tính thực tiễn
Thời điểm
- Đánh giá trong moi thời
điểm của quá trình dạy học, chútrọng đến đánh giá trong khi học
- Thường diễn ra ở những
thời điểm nhất định trong
quá trình dạy học, đặc đánh giá
biệt là trước và sau khi
dạy học.
- Năng lực người học phụ | - Năng lực người học phụ
Kết quả | thuộc vào độ khó của nhiệm vụ | thuộc vào số lượng câu
đánh giá | hay bài tập đã hoàn thành hỏi, nhiệm vụ hay bài tập
đã hoàn thành.
1.1.2 Thơ Đường luật và thơ thất ngôn bát cú Đường luật
1.1.2.1 Thơ Đường luật
Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ Đường cách luật xuất
hiện từ thời nhà Đường (618-907) ở Trung Quốc Thơ Đường luật đã phát
triển mạnh mẽ tại chính quê hương của nó và lan tỏa ra nhiều quốc gia lânbang trong đó có Việt Nam với tư cách thê loại tiêu biểu nhất của thơ Đường
nói riêng và tinh hoa thi ca Trung Hoa nói chung Thơ Đường luật còn được
gọi với tên thơ cận thé dé đối lập với thơ cô thé ra đời trước thời Đường
“Thực chất khái niệm tho Đường luật dùng dé chỉ một thé loại thơ ca, chứkhông phải một thời đại, một loại hình hay một trào lưu thơ ca, không thênhằm nó với khái niệm tho Đường (Một khái niệm rộng, dùng dé chỉ toàn bộ
thơ ca được sáng tác vào doi Đường 618-907, thời đại hoàng kim cua lịch sử
phát triển thơ ca Trung Quốc) Khái niệm thơ Đường luật không thé nhằmvới khái niệm /udt thi, dùng dé chỉ loại thơ that ngôn bát cú cách luật mà
nhiêu sách lý luận đã xác định rõ Càng không thê nhâm với khái niệm 7ø cô
16
Trang 25điển (một loại hình thơ ca trung đại)” [25, tr 35] Nhu vậy, khái niệm ThoĐường luật phải được hiểu đúng là khái niệm loại thể và phân biệt hoàn toànvới các khái niệm nhằm lẫn nêu trên
Thơ Đường tôn tại ở hai thé chính là Cô thé và Cận thé (gồm luật thi và
tuyệt cú) Tương ứng với mỗi thể có những đặc trưng riêng về thi pháp Thơ
cô thé gồm có hai dang là Cổ phong và Nhạc phủ Cổ phong là thơ của thi
nhân trước đời Đường thường là thơ 5 chữ hoặc 7 chữ Nhạc phủ là tên gọi
chung của nhiều loại khác nhau có nguồn gốc từ thơ nhạc phủ Thơ Cổ thékhông có niêm luật nhất định, không hạn định số câu trong bài và số chữ
trong câu tương đối tự do, thường là 5 chữ, 7 chữ nhưng cũng có khi câu dài
câu ngắn không đều Thể này không quy định niêm luật và cũng không yêu
cầu đối ngẫu “Thơ Cận thể hay còn gọi là thơ Đường luật có ba dạng thức chính: Luật thi, Tuyệt cú và bài luật Luật thi gồm thất ngôn bát cú luật thi
(gọi tắt là thất luật) và ngũ ngôn bát cú luật thi (gọi tắt là ngũ luật) Tuyệt cú
hay còn gọi là tứ tuyệt là thơ chỉ có 4 câu, gồm Thất ngôn tuyệt cú và Ngũ
ngôn tuyệt cú Thơ bài luật là dang kéo dai của thơ Đường luật Về hình thức,thơ Đường luật có các dạng "thất ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu bảy chữ)
được xem là dạng chuan và phô biến nhất; biến thé có các dạng: "thất ngôn tứ
tuyệt" (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), "ngũ ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu nămchit), "ngũ ngôn bát cú" (tam câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng it phổbiến khác” [25] Nhìn chung thơ Đường luật có một hệ thống quy tắc chặtchẽ, nghiêm ngặt được thể hiện ở 5 điều sau: Niêm, Van, Luật, Đối và Bồ
cục.
Tho Đường luật được coi là một trong những đỉnh cao của ngôn ngữ
thơ ca nhân loại Ngôn ngữ thơ Đường luật thường đơn giản nhưng rất hàm
súc, tinh luyện, có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế và phong phú Đó làngôn ngữ hàm súc, đa nghĩa, ngôn ngữ đậm chất nhạc, chất họa Tính hàm
súc, đa nghĩa trong thơ Đường luật trước hết là nhờ công phu tinh luyện của
17
Trang 26các nhà thơ làm sao với một mã tối thiểu có thể đưa lại một lượng thông tin
tối đa Con chữ tinh luyện cao độ có khả năng bao quát và chứa đựng nhiều
ân ý, khơi gợi trường liên tưởng mạnh mẽ Các nhà thơ Đường chủ trương
không nói hết ý, "ý tại ngôn ngoại", ý ngoài lời, "Ngôn tận nhi, ý bat tận" lời
hết ý chưa hết, không trực tiếp nói lên ý mình Đó chính là cái diệu trong
ngôn ngữ thơ Đường Một trong những yếu tố tạo nên sự đặc sắc của ngôn
ngữ tho Đường đó là yếu tô nhạc, họa "Thi trung hữu nhạc" hay "Thi trung
hữu hoa" Vì vậy trong thơ Đường luật người ta sử dụng từ ngữ gợi tả hình
tượng mau sắc, đường nét dé làm nỗi bật được "bức tranh" trước mắt người
xem.
Thơ Đường luật xây dựng tứ thơ độc đáo, mới lạ Người xưa có câu
"Học thơ cô là học tinh thần sáng tạo của các nhà thơ" Đó chính là tinh thần
sáng tạo tứ thơ, hình ảnh thơ độc đáo, mới lạ Dựa trên tư duy quan hệ, tứ thơ
trong thơ Đường luật tập trung làm nổi bật các mối quan hệ từ đó bật nổi
những tư tưởng độc đáo Các nhà thơ chú tâm khai thác các mối quan hệ
tương đồng và đối lập giữa các sự vật, các trạng thái tình cảm, khai thác các
mối quan hệ xưa và nay, mộng và thực, tiên và tục, vô cùng và hữu hạn, không gian và thời gian Từ tứ thơ độc đáo đó gửi gắm những nỗi niềm, tâm
sự của thi nhân.
Không gian nghệ thuật trong thơ Đường luật tập trung thê hiện hai loạikhông gian chính; “Không gian vũ trụ - môi trường tồn tại của con người vũtrụ và không gian sinh hoạt - môi trường tồn tại của con người sinh hoạt Tuynhiên thơ Đường luật chủ yếu xây dựng trên tư duy quan hệ, khai thác môi
quan hệ hài hòa của con người với thiên nhiên do vậy không gian vũ trụ là
không gian chiếm ưu thế và có ý nghĩa thi pháp trong thơ Đường luật” [15, tr192] Không gian trong thơ thơ Đường luật chủ yếu không gian cao rộng,
khoáng dat, bộc lộ tư tưởng "đăng cao" của con người vũ trụ với khát vọng
chiêm lĩnh bê cao của không gian và "viên du" đê chiêm lĩnh bê rộng cua
18
Trang 27không gian Dé diễn tả cái cao rộng, khoáng dat và tính giãn nở trong khônggian thời Đường thường thấy xuất hiện không gian: con đường, dòng sông,lầu cao, núi cao, sông dài, trời rộng Không gian thơ thất ngôn bát cú Đường
luật là không gian mang tính đối xứng giữa con người với vũ trụ, khiến con
người cảm thấy bé nhỏ, cô độc giữa vũ trụ vô hạn, vô cùng, con người dây lên
khát vọng hòa nhập vào vũ trụ, khát vọng chiếm lĩnh không gian Do đó nênkhông gian luôn mang tính mở, có xu hướng giản nở để đưa tâm hồn conngười vượt không gian, có mặt trong "thiên địa chí du du" Ngoài tính chất
cao rộng, khoáng đạt trong không gian, thơ Đường luật, đặc biệt là thơ cách
luật, chú tâm xây dựng khai thác sự tương đồng, đối lập trong không gian:
Quá khứ và hiện tại, ngày xưa và ngày nay, hiện tại và tương lai nhằm thé
hiện sự biến thiên dâu bề, hoài vọng về thời gian và bộc lộ nỗi niềm của thinhân.
Thơ Đường luật các thi nhân tập trung xây dựng nên hai hình tượng
con người: Con người vũ trụ và Con người xã hội Quan niệm về con người
vũ trụ là con người đứng giữa giao điểm của không gian, thời gian mà lêntiếng Chính vì vậy con người luôn có khát vọng hòa nhập với thiên nhiên, ởgiữa trời đất, cảm hứng với trời đất, tiếng nói hòa âm cùng vũ trụ [15] Trongthơ Đường luật có xuất hiện con người xã hội nhưng chưa phổ biến Conngười xã hội chủ yếu là sự phản ánh trong quan hệ tương phản, đối lập Chínhphản ánh này đã khiến cho thế giới nghệ thuật trong thơ sáng tác theo khuynhhướng hiện thực là thế giới của sự bất bình Tuy có hai kiểu con người như
vậy, nhưng do sự chi phối của mỹ học truyền thống nên con người vũ trụ vẫn
chiếm ưu thế và có vị trí quyết định trong thi pháp thơ chữ Hán
Sau khi du nhập vào Việt Nam, thơ Đường luật phát triển và đạt nhiều
thành tựu rực rỡ đặc biệt dưới thời nhà Trần (1225-1400) Lúc đầu thê thơ nàymới du nhập vào Việt Nam được viết bằng chữ Hán, đến đời Trần, Nguyễn
19
Trang 28Hàn Thuyén là người đầu tiên sử dụng chữ Nôm dé sáng tác, nên Đường luật
còn được gọi là Hàn luật (mà đến nay đã thất truyền).
1.1.2.2 Thơ thất ngôn bát cú Đường luật
a Khái niệm và nguồn gốc
Theo Từ điển văn hóa Giáo dục Việt Nam “Thơ thất ngôn bát cú đườngluật là một trong ba dạng cơ bản của thơ Đường luật Mỗi bài gốm tám câu,
mối câu có 7 chữ, cả bài có 56 chữ chữ cùng luật lệ gò bó, khó làm nhất
nhưng lại được ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm, ý chí, ngâm
vịnh, xướng họa” [24].
Thơ thất ngôn bát cú là cô thi, xuất hiện sớm ở Trung Quốc Đếnđời nhà Đường mới được các nhà thơ đặt quy định cụ thể, rõ ràng, kéo dàitrong chế độ phong kiến và ké từ đó thì có tên gọi là thơ thất ngôn bát cú
Đường luật Thể thơ này đã được các triều đại Phong kiến của Trung Quốc
và Việt Nam dùng cho việc thi cử tuyển chọn nhân tài Ở Việt Nam thơ thất
ngôn bát cú đường luật rất thịnh hành vào thời Bắc thuộc, chủ yếu được
những cây bút quý tộc sử dụng Thẻ thơ có luật rất chặt chẽ Tuy nhiên, trongquá trình tồn tại và phát triển nhất là vào phong trào thơ Mới tại Việt Nam từ
năm 1925, bằng sự sáng tạo của mình, các tác giả đã làm giảm bớt tính gò bó,
nghiêm ngặt của luật băng - trắc dé tâm hồn lãng mạn của thi nhân có thé baybồng trong từng câu thơ
Trong suốt 10 thế kỉ của văn học Trung Đại thơ thất ngôn bát cú trởthành độc tôn trên thi đàn Sau này thơ thất ngôn bát cú Đường luật viết bằng
chữ Nôm đã đạt được những thành tựu rực rỡ trong thơ của Nguyễn Trãi, Hồ
xuân Hương Đầu thế kỷ XX, kể từ phong trào thơ Mới trở đi, khi chúng ta
tiếp cận với văn hóa phương Tây, chữ Quốc ngữ được sử dụng rộng rãi, số
người biết chữ Hán, chữ Nôm dan dan ít đi nên số người làm thơ luật đã giảmđáng ké Tuy nhiên, đây là một thé thơ có sức sống mạnh mẽ Một số thi nhân
giai đoạn này vẫn sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường luật như Ngân
20
Trang 29Giang, Quách Tan, Hàn Mặc Tử Hiện nay, tuy không phổ biến nhưng trong
nhiều câu lạc bộ thơ của người cao tuổi ở nhiều nơi, vẫn tiếp tục sáng tác thơ
thất ngôn bát cú Đường luật tiếng Việt chữ Quốc ngữ
b Đặc điểm thi pháp của thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Thơ thất ngôn bát cú đường luật là dạng cơ bản và phổ biến của tho
Đường luật cho nên nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm về ngôn ngữ, tứthơ, không gian, thời gian nghệ thuật, quan niệm về con người của thơ Đườngluật được chúng tôi trình bày ở trên Thé tho thất ngôn bát cú Đường luật saukhi du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một thé thơ rất phô biến
và quen thuộc trong tho ca Việt Nam trung đại Các nhà thơ Việt Nam rất ưathích làm kiểu thơ cổ Trung Hoa nay Đây là một thé thơ có niêm luật chatchẽ, thể hiện ở những đặc điểm chủ yếu sau đây: luật, niêm, van, đối, bố cục
và nhịp điệu, cu thể
* Luật Bằng Trắc
Luật Bằng Trắc là cách sắp đặt các tiếng Băng và tiếng Trắc trong bài
thơ Luật ấy đã được đặt ra nhất định từ thời nhà Đường (618-907) ở TrungQuốc, người làm thơ bắt buộc phải tuân theo, luật chỉ quy tắc phối thanh dé
liên kết các câu thơ theo trục ngang Luật Bằng trắc trong thơ thất ngôn bát cú
Đường luật có 2 cách:
- Luật bằng: luật thơ mà nhất định chữ (tiếng) thứ hai của câu 1 phải là bằng
- Luật trắc: luật thơ mà nhất định chữ (tiếng) thứ hai của câu 1 phải là trắc
(Tiếng trắc: là những âm khi phát ra hoặc từ thấp lên cao, hoặc từ cao
xuống thấp Đó là những chữ có dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng Tiếng bằng (chữ
Hán là Bình): là những âm phát ra bằng phăng đêu đêu Tiếng Bằng là những
chữ không dấu tức thanh ngang và những chữ có dấu huyền).
Kí hiêu: B = tiếng bằng, T = tiếng trắc, V = van, Bat luận:0
- Luật bang: Câu đầu tiên của bai tho bắt dau bằng hai tiếng bang
+ Luật bang van bằng:
21
Trang 30Câu I:BBTTTBB() Câu2:TTBBTTB() Câu3:TTBBBTT
Câu4:BBTTTBB()
Câu5:BBTTBBT
Câu 6:TTBBTTB() Cau7:TTBBBTT
Cau 8: B BT TTBB(v)
+ Luat bang van trac:
Cau 1: BB TTBBT(v) Câu 2:TTBBBTT(v) Câu3:TTBBTTB
Câu4:BBTTBBT() Câu5:BBTTTBB
Câuó6:TTBBBTT(v) Cau7:TTBBTTB
Cau 8: BB TTBBT (vy)
- Luật trắc: Câu đầu tiên của bai thơ bat đầu bang hai tiếng hai tiếng trắc
+ Luật trắc vần bằng:
Câu 1:TTBBTTB(v) Cau 2:B BT TTBB (vy) Cau 3: BB TTBBT
Cau 4: TTBBTTB(v)
Cau5: TTBBBTT Cau 6: B BT TTBBV(v) Cau7: BB TTBBT
Cau 8:TTBBTTBV(v)
+ Luat trac van trac:
22
Trang 31Câu I:TTBBBTT(v) Câu2:BBTTBBT() Câu3:BBTTTBB
Cau 4: TTBBBT T(v)
Câu5:TTBBTTB
Câuó6:BBTTBBT() Câu7:BBTTTBB
Cau 8: TTBBBTT(v)
Ngoài việc tuân theo luật băng — trắc, còn phải tuân theo van, chúng tôi
sẽ đề cập chi tiết trong một mục khác Bên cạnh đó bài thơ thất ngôn bát cú
Đường luật còn được quy định theo luật “Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục
phân minh”.
- Bất luận là không bàn tới, Nhất tam ngũ bat luận: chữ thứ 1, 3, 5 trong mỗi
câu không ké luật B, T, làm dau (0), nghĩa là dùng B hay T đều được,
- Phân minh là phân biệt rõ ràng Nhì tứ lục phân minh: chữ thứ 2, 4, 6 thì
phải theo luật B, T rõ ràng Trong một câu thơ, theo “phân minh” chữ nào
đúng là bằng mà đặt tiếng trắc, hoặc đúng trắc mà đặt tiếng bằng, thì gọi làthất luật (sai luật thơ), không được
* Niêm
Niêm nghĩa là sự dính kết về âm luật của 2 câu thơ, trong bài thơ thấtngôn bát cú Đường luật Trong luật thi, niêm chỉ sự kết dính các câu thơ theo
trục dọc Hai câu thơ niêm với nhau là khi các chữ B và T trong "nhì tứ lục
phân minh" trong hai câu thơ đó giống nhau, thé hiện tính chất chỉnh thé,khép kín của bài luật thi, không thé thêm vào hoặc bớt di:
* Câu | niêm với câu 8.
» Câu 2 niêm với câu 3.
* Câu 4 niêm với câu 5.
s Câu 6 niêm với câu 7.
23
Trang 32Xét về ý nghĩa thi pháp, sự liên kết giữa niêm và luật trước hết tạo cảm
giác bài thơ như một tắm gam được dệt bởi các sợi kinh (doc), vĩ (ngang) đều
đặn không thê mắc lỗi
VD Niêm trong bài thơ Thu Hứng của Đỗ Phủ
CâuI:TTBBBTB Câu2:BBBTTBB Câu3:BBBTBBT Câu4:TTBBTTB Câu5:BTTBBTT
Cau6: BB TTTBB
Cau 7: BBTTBBT Cau 8: TTBBTTB
Nếu hai câu thơ phải niêm với nhau mà sai luật B va T thì gọi là That
niêm (mất sự dính kết với nhau)
* Cách gieo vần
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường dùng vần bằng, ít khi dùngvan trắc Suốt bài thơ có 5 van, gieo Ở cuối câu đầu và cuối các câu chan, tức
là cuối các câu: 1, 2, 4, 6, 8.
Nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là: Lạc vận
Nếu gieo vần một cách gượng ép thì gọi là: Cưỡng vận
Như vậy khác với luật, vần chỉ có một quy định dứt khoát là ngoài câuthơ đầu có thé tính đến chuyện hiệp vận, van luôn rơi vào câu thơ số chan
Những câu thơ số lẻ không bao giờ hiệp vận Điều này tạo thêm một sự đối
lập nữa về mặt cấu trúc giữa câu thơ số lẻ và câu số chan
* Phép đối
Phép đối là sự cân xứng với nhau về từ loại, thanh âm, ý nghĩa, độ dài
ngăn trong một cặp câu Đôi có hai loại: Bình đôi và tiêu đôi.
24
Trang 33Bình đối (đối giữa hai câu): câu trên đối với câu dưới Trong bài thơthất ngôn bát cú Đường luật thì Bình đối trong bài là: Câu 3 và câu 4, câu 5 vàcâu 6 Đối phải đảm bảo đối về về từ loại, đối ý, đối thanh
Tiểu đối: Các ý đối nhau trong một câu
Đối làm cho cấu trúc bài thơ thêm cân đối hài hòa, đối tự nó xác lập
quan hệ giữa các ý thơ, liên thơ, mà không cần các từ quan hệ Có nhiều câuthơ, ngoài ý nghĩa tự thân còn có một phần ý nghĩa được gửi gắm ở câu đối
diện.
* BO cục (Kết cầu)
Cách bố cục bài thơ Thất ngôn bát cú giống như một bức tranh Trong
khuôn khổ với 8 câu 56 chữ, làm sao ta tái hiện được thành một bức tranh,hình dung được ngoại cảnh thiên nhiên, hay nội cảnh của tâm tình Bồ cục của
bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật phải có đủ 3 phần:
- Nhập đề
- Thân đề (gồm tả đề và luận đề)
- Kết thúc
Ba phần đó được phân chia như sau:
* Đề: Gồm câu | và câu 2 Câu 1: gọi là phá dé hay còn gọi là mở dau,
câu 2: gọi là thừa đề hay còn gọi là câu vào đề Trong đó câu phá chưa nóiđược rõ ràng, câu thừa mới nói đến đề bài hoặc câu phá nói rõ đề và câu thừathì nói tổng quát Phá và thừa hợp lại mới vào được đề
» Thực (trạng): câu 3 va 4 Dé tả thực cảnh người hay vật đã nêu trên
đầu bài, tức là giải thích đầu bài cho rõ ràng Nếu là thơ tả cảnh thì chọn các
cảnh sắc xinh đẹp điền hình dé tả, nếu là thơ tả tình thi đem tình cảm giải bày,nếu là thơ vịnh nhân vật thì kế ra công trạng va đức hạnh của người ấy Cặptrạng phải là hai câu đối với nhau
+ Luận: câu 5 và 6, dùng dé bàn luận về dé tài trên Nếu tả cảnh thì nói
cảnh ây xinh đẹp như thê nào, nêu tả tình thì nói ra cái cảm xúc của mình, nêu
25
Trang 34tả người thì nói lên ý kiến của mình khen hay chê, hoặc so sánh người ấy việc
ay với người khác việc khác Cặp luận cũng phải là hai cau đối với nhau.
* Kết: câu 7 - gọi là thúc (chuyên) câu 8 - gọi là kết Câu thúc hay câu
chuyên là gói ghém đại ý nói trên cặp trạng và cặp luận Hai câu cuối của bài
bát cú là chính con người tác giải Hai câu này phải liên lạc ý nhau, không được rời rạc.
Một quan niệm khác có thể áp dụng cấu trúc 2/4/2 cho bài thơ thất
ngôn bát cú Đường luật, do khi nhìn nhận ở góc độ không gian, thời gian
nghệ thuật cho răng 2 câu dau, hai câu cuối bài thơ Đường luật thường yếu tổthời gian chiếm vị trí chủ đạo, còn 4 câu giữa trật tự không gian là chủ đạo vàtác giả dường như dừng lại để quan sát sự vật
Cũng cần nhắc đến quan điểm “Cảnh — Tình” của Kim Thánh Thán khi chia bài thơ thất ngôn bát cú thành 2 phần đều nhau Theo đó 4 câu trên nặng
về Cảnh, 4 câu dưới nặng về Tình
Hiện nay các nhà nghiên cứu có xu hướng không cé tìm quy luật chung
về bố cục để áp dụng trong hàng loạt bài thơ mà áp dụng quan điểm nghiêncứu đã có từ thời Minh mạt, Thanh Sơ ở Trung Hoa, quan điểm bám sát và
tuân thủ cách phân chia bố cục của từng bài thơ theo mạch cảm xúc của thi
nhân biéu hiện trong bài
* Nhịp điệu
Trong bài thất ngôn bát cú Đường luật thường nhịp thơ được ngắt theo
nhịp chan/lé là nhịp 4/3hoặc 2/2/3 Chính sự ngắt nhịp này tạo cho tiết tau bài
thơ như những nhịp sóng, lúc cuồn cuộn, lúc lại lắng sâu Đặc biệt trong một
số bài thơ phá cách, nhịp thơ thay đổi, như bài “Hạnh Thiên Trường hành
cung” của Trần Thánh Tông:
Cảnh thanh u/ vật diệc thanh u,
Thập nhất tiên /châu thử nhất châu
26
Trang 35Vẫn là thất ngôn bát cú, nhưng cách ngắt nhịp đã có sự biến đổi, không
tuân thủ theo ngắt nhịp của thơ luật Đường (4/3) mà ở câu 1,2,5,6,8 được ngắt
theo nhịp lẻ/chăn đây là cách ngắt nhịp trong thơ song thất lục bát, thé thơ củangười Việt Còn về niêm, luật bài thơ vẫn tuân thủ chặt chẽ bên cạnh phép đối
rất chỉnh giữa các câu và giữa các về câu cùng với những điệp từ tạo nên âm
thanh nhịp nhàng day sự thu hút Sự phá cách day sáng tao này đã tạo nên sự
phong phú trong sáng tác thơ luật của người Việt
Bảng 1.2 Luật thơ thất ngôn bát cú Đường luật
1.1.3 Đọc hiểu văn bản thơ cho học sinh lop 10
1.1.2.1 Khái niệm Đọc hiểu
Về khái niệm “đọc - hiểu”, đã có khá nhiều tranh luận trong các hội nghị thay SGK mới Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc hiểu là phạm
trù khoa học trong nghiên cứu và giảng day văn học Bản thân nó là khái nệm
27
Trang 36có quan hệ với năng lực đọc, hành động đọc, kĩ năng đọc để năm vững ynghĩa của văn bản nghê thuật ngôn từ Đọc chính xác thì hiểu đúng Đọc ki,đọc phân tích thì hiểu sâu Đọc trải nghiệm thâm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp
nhân tình Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới” [18, tr.26] Còn GS
Phan Trọng Luận cho rằng: “Phương thức đọc văn nhằm mục đích hiểu biếtchính xác và cặn kẽ tác phẩm văn chương, khám phá ở đó những giá trị văn
chương mới mẻ, lớn lao và hữu ích được gọi là đọc hiểu” [21, tr 51] Dù có
nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau nhưng bản chất, mục đích của đọchiểu chính là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thôngqua sự tiếp nhận, lí giải của bạn đọc - học sinh Mặt khác, tác phẩm vănchương là sản phâm của văn hóa tinh thần, muốn khám phá ý nghĩa của nó thìkhông thé không vận dụng các loại tri thức Trong nhiều quan niệm về Đọc
hiểu văn bản, chúng tôi lựa chọn cách hiểu của PISA Để đánh giá năng lực
Đọc hiểu văn bản của HS, tô chức OECD quan niệm : “Đọc hiểu là sự hiểu
biết, sử dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đích,
phát triển tri thức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai
đó trong xã hội.” [13].
Đọc đòi hỏi vận dụng một NL tổng hợp của con người: dùng tai đểnghe, dùng mắt dé xem, dùng trí óc dé phán đoán, dùng miệng dé ngân ngakhi thích thú, tưởng tượng, trao đổi, hỏi han, dùng kinh nghiệm để thửnghiệm, dùng bút dé ghi chép, dùng tay dé gid sách hoặc gõ phím máy vi tính,
dùng từ điển để tra cứu Như thế, đọc góp phần giúp con người phát triển
toàn diện các NL tinh thần của mình Biết đọc mới nắm bắt được các thôngtin trên báo chí, trong sách dé nâng cao trình độ cam thu Van hoc là nghệthuật ngôn từ, vậy nên, đọc là con đường chủ yếu để đi vào thế giới của vănchương Do đó, học văn phải bắt đầu từ học đọc văn
28
Trang 371.1.2.2 Yêu câu cân đạt về dạy Đọc hiểu văn bản thơ cho học sinh lớp 10
Theo Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018, dạy đọc hiểu văn bảnvăn học nói chung, văn bản thơ nói riêng cần đạt được những yêu cầu sau:
* Đọc hiểu nội dung:
- Phân tích và đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản
muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; Phân
tích được một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của
người viết thê hiện qua văn bản; phát hiện được các giá trị đạo đức, văn hóatriết If nhân sinh từ văn bản
* Đọc hiểu hình thức:
- Nhận biết và phân tích được một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ văn học Phân tích được tính đa nghĩa của ngôn từ trong tác phẩm thơ.
- Nhận biết và phân tích, đánh giá được giá trị tham mĩ của một số yếu
tố trong thơ như từ ngữ, hình ảnh, van, nhip, đối, chủ thé trữ tình, nhân vật trữ
tinh.
* Liên hệ, so sánh, kết nồi:
- Vận dụng được những hiểu biết về tác giả dé đọc hiểu một số tác
pham của tác giả đó
- So sánh được hai văn bản thơ viết cùng đề tài ở các giai đoạn khácnhau; liên tưởng, mở rộng van đề dé hiểu sâu hon văn bản được đọc
- Vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm vỀ cuộc sống và hiểu
biết về lịch sử văn học Việt Nam dé nhận xét, đánh giá văn bản thơ.
- Phân tích được ý nghĩa hay tác động của văn bản văn học trong việc
làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn và cách thưởng thức, đánh giá của
cá nhân đối với văn học và cuộc sống.
* Đọc mở rộng:
29
Trang 38- Học thuộc lòng một số đoạn thơ, bài thơ yêu thích trong chương trình.
Đây là yêu cầu nhằm khuyến khích văn hóa đọc, ý thức đọc và niềm say mê
đọc sách trong nhà trường.
Khi đọc văn bản thơ thất ngôn bát cú Đường luật HS muốn tiếp nhận
đúng các giá trị tư tưởng, nghệ thuật của văn bản người đọc bắt buộc phải trải
qua quá trình đọc — hiểu, từ việc hiểu ngôn từ, ý nghĩa của hình tượng, đến
hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả, từ đó hình thành thái độ, sự đánh giá của
HS đối với văn bản, biết thưởng thức các giá trị của văn bản mang lại Trongquá trình Đọc hiểu thơ thất ngôn bát cú Đường luật HS phải chủ động chiếmlĩnh văn bản dé từ đó có nền tảng kỹ năng để tự đọc — hiểu các văn bản khác
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vị trí của thơ that ngôn bát cú Đường luật trong chương trình Ngữ
văn 2006 và chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
1.2.1.1 Thơ thất ngôn bát cú Đường luật trong Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp
10, biên soạn theo Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2006
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương trình GDPT môn Ngữ văn
2006 có một số văn bản thơ thất ngôn bát cú Đường luật được dạy đọc hiểu
chính thức như:
- _ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du
- Thu hứng của Đỗ Phủ.
- _ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
- Nhàn của Nguyễn Binh Khiêm
Ngoài ra là các bài đọc thêm: - Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu
1.2.1.2 Thơ thất ngôn bát cú Đường luật trong Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp
10, biên soạn theo Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018.
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 bộ Cánh Diéu, chương trình GDPT
môn Ngữ văn 2018 có một số văn bản thơ thất ngôn bát cú Đường luật được
day đọc hiểu chính thức trong chủ đề “Tho Đường Luật” như:
30
Trang 39- Thụ Hứng của Đỗ Phủ.
- Tự tình II của Hồ Xuân Hương.
- Thu Diéu của Nguyễn Khuyến
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 bộ Kết nối tri thức, chương trình
GDPT môn Ngữ văn 2018 văn bản thơ thất ngôn bát cú Đường luật được dạy
đọc hiểu chính thức trong chủ đề “Vẻ đẹp của thơ ca” như:
- Thu Hứng của Đỗ Phủ.
1.2.2 Khảo sát việc dạy và học thơ thất ngôn bát cú Đường luật cho HS lép
10 theo chương trình Ngữ văn 2006
1.2.2.1 Mục đích khảo sát
Trong điều kiện nghiên cứu cho phép, chúng tôi tiến hành khảo sát tìnhhình day và học thơ Thất ngôn bát cú Đường luật ở trường THPT dé nam bắt
thực trạng giảng dạy của GV cũng như sự hứng thú, năng lực tiếp thu của HS.
Rút ra những điểm còn hạn ché, tồn tại trong việc Đọc hiểu thơ Thất ngôn bát
cú Đường luật theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2006 Từ đó lí giải
nguyên nhân, tim ra hướng khắc phục — đây có thé coi là bước đầu dé đi vàogiải quyết van dé trọng tâm của đề tài
1.2.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát
Đề nắm bắt được thực trạng dạy học thơ That ngôn bat cú Đường luật ở
trường THPT theo chương trình 2006, chúng tôi tiến hành khảo sát 4 giáoviên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn tại các trường THPT trên địabàn thành phố Hòa Binh, tinh Hòa Bình Dé năm bắt được tình hình học tập,khả năng tiếp nhận thơ Thất ngôn bát cú Đường luật của HS THPT, chúng tôitiễn hành khảo sát 160 hoc sinh (4 lớp) của hai trường THPT Công Nghiệp,THPT Ngô Quyên, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
1.2.2.3 Cách thức, nội dung khảo sát
Chúng tôi nêu ra thực trang dạy hoc thông qua khảo sát việc tổ chức
dạy học của giáo viên và năng lực tiếp thu của học sinh lớp 10 thuộc trường
3]
Trang 40THPT Công Nghiệp, trường THPT Ngô Quyên, thành phố Hòa Bình, tỉnh
Hòa Bình với những cách thức, nội dung khảo sát:
* Khảo sát qua tìm hiểu giáo án - kế hoạch bài dạy của 08 GV
* Khảo sát thông qua việc trực tiếp dự giờ 04 GV
* Khảo sát thông qua phiếu lấy ý kiến của 81 HS.
(Phiếu khảo sát — Phu lục 1)
1.2.2.4 Nhận xét đánh giá việc dạy học Đọc hiểu thơ Thất ngôn bát cú
Đường luật ở lớp 10 theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2006.
a, Nhận xét qua việc tìm hiểu giáo án - kế hoạch bài dạy của GV
Sau khi khảo sát giáo án - kế hoạch bài dạy Ngữ van 10 của 04 GV
trường THPT Công Nghiệp và Trường THPT Ngô Quyền thuộc Thành phốHòa Bình qua một số bài về thơ Đường luật theo chương trình 2006 chúng tôi
có những nhận xét sau:
Giáo án - kế hoạch bài dạy của GV về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu cần
đạt được dat ra trong chương trình GDPT môn Ngữ văn 2006; SGV và SGK.
Nội dung giáo án ôn định theo mô hình sau đây:
Hoạt động 1: KIEM TRA BÀI CŨ
Hoạt động 2: DẪN VÀO BÀI MỚI
32