Tóm tắt hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mạn tính Tóm tắt hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mạn tính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Thị Hồng Thái
Phản biện 1: PGS.TS Trần Thành Nam
Phản biện 2:
Đề án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Phòng D106, Khoa tâm lý học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Vào hồi 14 giờ 00 ngày 14 tháng 01 năm 2025
Có thể tìm hiểu đề án tại:
- Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những người thân trong gia đình là người chăm sóc và đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị và hỗ trợ cho những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính Quan sát thực tế có thể thấy, khi gia đình có người bệnh mãn tính, đặc biệt là những bệnh gây ảnh hưởng đến các hoạt động sống, sự tập trung của gia đình thường ưu tiên cho người bệnh Tuy nhiên, chính người chăm sóc cũng có thể rơi vào tình trạng căng thẳng, mệt mỏi và kiệt sức khi đồng hành cùng người thân trong quá trình chữa bệnh Do đó, người chăm sóc cũng cần sự hỗ trợ
để ngăn ngừa tình trạng kiệt sức trong việc chăm sóc và duy trì sức khỏe tâm thần của chính
họ Các bằng chứng nghiên cứu đã cho thấy, người chăm sóc có nguy cơ bị suy giảm sức khỏe tâm thần (Pottie và cộng sự, 2014; Sallim và cộng sự, 2015) và sức khỏe thể chất (Kiecolt-Glaser và cộng sự, 2003; Känel và cộng sự, 2006) Mặc dù điều này ít nhiều còn gây tranh cãi (Brown and Brown, 2014; Roth và cộng sự, 2015), tuy nhiên, có vẻ như việc
là một người chăm sóc chính có thể là một trải nghiệm khiến cá nhân bị căng thẳng (Revenson và cộng sự, 2016)
Với vai trò là người thân của người bệnh, một số người trở thành người chăm sóc không chuyên khi chưa qua bất kỳ khóa đào tạo nào Những người chăm sóc này sẽ phải chịu nhiều trách nhiệm trong cùng một thời điểm, bao gồm trách nhiệm với cuộc sống cá nhân, và trách nhiệm hỗ trợ cho người bệnh như quản lý bệnh và các triệu chứng biến chứng, quản lý việc sử dụng thuốc, đồng thời họ cũng là nguồn động viên tinh thần, và trong nhiều hoàn cảnh là cả trách nhiệm về tài chính Khi những người chăm sóc phải vật lộn để cân bằng giữa đời sống cá nhân, công việc và việc chăm sóc người bệnh, việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tâm thần của họ thường bị bỏ qua (WHMH, 2018) Họ cũng gánh trên vai những gánh nặng ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần, các mối quan hệ xã hội, tài chính và chính cuộc sống của họ cũng bị ảnh hưởng Những gánh nặng và căng thẳng đó kéo dài có thể khiến họ suy giảm về sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần, cũng có thể có một số hành vi nguy cơ như lạm dụng chất (Rospenda và cộng sự, 2010), tự hại bản thân (Joling và cộng sự, 2018; Low và cộng sự, 2024) … Tuy nhiên, việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người chăm sóc bệnh nhân chưa được quan tâm nhiều Vấn đề này có thể đến từ việc thiếu nguồn lực hỗ trợ, hoặc người chăm sóc chưa phải là đối tượng mà các tổ chức ưu tiên hướng tới Từ lý do đó, kết hợp với mong muốn góp phần giúp đỡ thân chủ là người chăm sóc, học viên quyết định chọn đề tài “Hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc bệnh nhân
Trang 4mắc bệnh mãn tính” làm đề án tốt nghiệp Người chăm sóc cũng cần được hỗ trợ để duy trì sức khỏe tâm thần của chính họ, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương như phụ nữ, người già, nhóm thu nhập thấp và thời gian chăm sóc dài hơn
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tài liệu, trình bày cơ sở lý luận về gánh nặng chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính, cụ thể là rối loạn loại phân liệt cũng như về các phương thức hỗ trợ ứng phó với gánh nặng chăm sóc, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho nghiên cứu
- Làm rõ vai trò và hiệu quả hỗ trợ tâm lý theo tiếp cận nhận thức dựa trên chánh niệm với người chăm sóc bệnh nhân có rối loạn loại phân liệt
- Đánh giá các biểu hiện của gánh nặng chăm sóc bệnh nhân rối loạn loại phân liệt cho một trường hợp thực tế
- Hỗ trợ tâm lý nhằm làm giảm các biểu hiện của gánh nặng chăm sóc cho thân chủ
- Đưa ra kết luận và khuyến nghị cho ca lâm sàng
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GÁNH NẶNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN MẮC
BỆNH MÃN TÍNH
Trong chương này, học viên sẽ trình bày những cơ sở lý luận về gánh nặng chăm sóc bệnh nhân mãn tính, cụ thể là rối loạn loại phân liệt Phần đầu là tổng quan nghiên cứu về gánh nặng chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính bao gồm các nội dung: Sự phổ biến của gánh nặng chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính, những yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng chăm sóc và các khía cạnh của gánh nặng chăm sóc Phần tiếp theo là lý luận về gánh nặng chăm sóc, bao gồm các khái niệm về người chăm sóc, gánh nặng chăm sóc, bệnh mãn tính, rối loạn loại phân liệt và các lý thuyết tiếp cận Phần cuối cùng là liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm trong hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính
1.1 Tổng quan nghiên cứu về gánh nặng chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính 1.1.1 Sự phổ biến của gánh nặng chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính
Liên đoàn sức khỏe tâm thần thế giới (World Federation of Mental Health, 2018) đã đánh giá gánh nặng của những người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính là một vấn đề toàn cầu và đã tuyên bố rằng việc chăm sóc những bệnh nhân này đòi hỏi năng lượng, kiến thức, sự đồng cảm và sức mạnh kinh tế liên tục và có thể ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người chăm sóc Trong khi cố gắng thiết lập sự cân bằng giữa công việc, gia
Trang 5đình và việc chăm sóc bệnh nhân, những người chăm sóc thường bỏ bê sức khỏe thể chất và tinh thần của chính họ (Chan, 2011)
Một số vấn đề sức khỏe tâm thần mà người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính thường gặp phải
Việc chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính là một công việc đầy thách thức, đòi hỏi người chăm sóc phải đối mặt với nhiều áp lực và căng thẳng Điều này có thể dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính như: Căng thẳng (Stress), Kiệt sức (Burnout), Trầm cảm (Depression), Lo âu (Anxiety), Sự cô đơn (Social isolation), Rối loạn giấc ngủ (Sleep disorders)
Một số chương trình/liệu pháp can thiệp cho người chăm sóc đã được chứng minh là có hiệu quả
Việc áp dụng các liệu pháp can thiệp tâm lý hiệu quả là vô cùng quan trọng để hỗ trợ người chăm sóc duy trì sức khỏe tinh thần và nâng cao chất lượng cuộc sống Một số chương trình/liệu pháp can thiệp được chứng mình là có hiệu quả trong việc hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính được trình bày dưới đây:
Reduction - MBSR)
- MBCT
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng chăm sóc
Đã có rất nhiều yếu tố được cho là ảnh hưởng đến cảm nhận về gánh nặng chăm sóc ở người chăm sóc người nhà mắc bệnh mạn tính Qua tham khảo các tài liệu, một số yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng chăm sóc bao gồm: Giới tính, Trình độ học vấn, Khó khăn về tài chính, Mối quan hệ giữa người chăm sóc và bệnh nhân, Thời lượng và thời gian chăm sóc
1.1.3 Các khía cạnh của gánh nặng chăm sóc
Việc chăm sóc hàng ngày cho một người mắc bệnh tâm thần là gánh nặng rất lớn trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống Nó ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người chăm sóc và thường đi kèm với những hạn chế trong thói quen hàng ngày và các mối quan hệ xã hội Các nghiên cứu về gánh nặng chăm sóc người nhà có bệnh mãn tính cho
Trang 6thấy gánh nặng chăm sóc có thể xuất hiện từ góc độ chủ quan là thái độ hoặc phản ứng cảm xúc của người chăm sóc đối với việc chăm sóc hoặc góc độ khách quan là những thay đổi trong các khía cạnh khác nhau của cuộc sống của người chăm sóc và gia đình Gánh nặng chăm sóc cũng bao trùm hầu hết các khía cạnh của cuộc sống như gánh nặng cảm xúc, sự thiếu hiểu biết, sự không chắc chắn, sự kỳ thị và đổ lỗi, gánh nặng tài chính, gánh nặng thể chất, hạn chế thói quen, gián đoạn thói quen, không hài lòng với gia đình, họ hàng và người quen, gánh nặng liên quan đến quản lý thuốc, rắc rối liên quan đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ của chính phủ
1.2 Lý luận về gánh nặng chăm sóc
1.2.1 Khái niệm người chăm sóc (Caregiver)
1.2.2 Khái niệm gánh nặng chăm sóc (Caregiver Burden)
1.2.3 Khái niệm bệnh mãn tính
1.2.4 Khái niệm rối loạn loại phân liệt
1.2.5 Các lý thuyết tiếp cận gánh nặng chăm sóc
a Lý thuyết nhận thức
Các mô hình nhận thức cho rằng cách mọi người cảm nhận trải nghiệm của họ ảnh hưởng đến phản ứng cảm xúc, hành vi và sinh lý của họ Về cơ bản, gánh nặng chăm sóc, dưới quan điểm nhận thức, xuất phát từ việc cá nhân diễn dịch sai lệch, bóp méo thực tế hoặc cá nhân có kiểu đánh giá tiêu cực về tình huống/hoàn cảnh/vấn đề họ đang phải đối mặt cũng như năng lực ứng phó của chính bản thân họ (Nguyễn Thị Minh Hằng và cộng sự, 2017) Ở thời kỳ sau, tiếp cận nhận thức đã được kết hợp cùng với tiếp cận chánh niệm để tạo nên trị liệu nhận thức dựa trên chánh niệm như ngày nay Cùng với đó, nhiều bằng chứng khoa học đã được các học giả đưa ra để ủng hộ cho tính hiệu quả của tiếp cận trị liệu này
b Lý thuyết chánh niệm
Chánh niệm (mindfulness) đã trở thành một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu về gánh nặng chăm sóc, với các lý thuyết và nghiên cứu nhấn mạnh cách thức thực hành chánh niệm có thể giúp người chăm sóc giảm căng thẳng, cảm nhận gánh nặng và cải thiện sức khỏe tâm lý Các lý thuyết chánh niệm về gánh nặng chăm sóc tập trung vào việc tăng cường nhận thức và sự chú ý vào khoảnh khắc hiện tại, qua đó giúp người chăm sóc quản lý cảm xúc, căng thẳng và cải thiện sự đối phó với các tình huống khó khăn trong chăm sóc
Trang 7Gánh nặng, dưới góc độ chánh niệm, có thể được hiểu như là việc cá nhân thiếu sự chấp nhận với những trải nghiệm tiêu cực không thể tránh khỏi trong cuộc sống (Nguyễn Thị Minh Hằng và cộng sự, 2017) Gross và cộng sự (2003) nhấn mạnh rằng chánh niệm không chỉ giúp người chăm sóc giảm căng thẳng mà còn giúp họ quản lý cảm xúc tốt hơn Theo Neff (2003), chánh niệm giúp chúng ta không kìm nén hay phóng đại nỗi đau Các nghiên cứu của Hölzel và cộng sự (2011), Cohen và Wills (1985) chỉ ra rằng thực hành chánh niệm
có thể giúp tăng cường mối quan hệ xã hội của người chăm sóc, từ đó giúp giảm bớt gánh nặng
1.3 Liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm trong hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính
1.3.1 Giới thiệu về liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm (MBCT)
Liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm (Mindfulness-Based Cognitive Therapy, MBCT) kết hợp các yếu tố của liệu pháp nhận thức hành vi (Cognitive-Behavioural Therapy, CBT) với việc giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm (Mindfulness-Based Stress Reduction, MBSR) thành một chương trình nhóm Ban đầu được hình thành như một biện pháp can thiệp để ngăn ngừa tái phát ở những người bị trầm cảm tái diễn, sau đó MBCT đã được áp dụng cho nhiều tình trạng tâm thần khác nhau Quan điểm tiếp cận của MBCT tập trung vào việc khuyến khích thân chủ áp dụng một cách sống mới và kết nối với suy nghĩ và cảm xúc của họ, đồng thời ít nhấn mạnh vào việc thay đổi hoặc thách thức các nhận thức cụ
như trầm cảm, lo âu và căng thẳng MBCT không chỉ giúp cải thiện các vấn đề hiện tại mà còn phòng ngừa tái phát các rối loạn tâm lý, đặc biệt là trầm cảm tái phát
MBCT cũng bao gồm các yếu tố của liệu pháp nhận thức và giáo dục tâm lý về chứng trầm cảm Mặc dù MBCT kết hợp các yếu tố của liệu pháp nhận thức, nhưng lập trường trị liệu của MBCT khá khác biệt so với CBT theo quan niệm truyền thống MBCT ít nhấn mạnh vào việc thay đổi hoặc sửa đổi nội dung suy nghĩ; thay vào đó, bằng cách tập trung vào nhận thức của người tham gia về mối quan hệ của họ với suy nghĩ và cảm xúc của họ,
nó nhằm mục đích nâng cao siêu nhận thức Một số khác biệt giữa MBCT và CBT được trình bày ở bảng 1.3 dưới đây:
Trang 8Bảng 1.3 So sánh các quan điểm trị liệu của MBCT và CBT
Thúc đẩy cách thức mới để hiện diện với
cảm xúc đau đớn và hoàn cảnh thách thức
Thúc đẩy cách thức mới để nhìn nhận cảm xúc đau đớn và hoàn cảnh thách thức
Phân biệt suy nghĩ là suy nghĩ (so với nhận
định suy nghĩ là sự thật)
Phân biệt suy nghĩ tiêu cực và rối loạn chức năng với suy nghĩ lành mạnh
Nhận thấy và cho phép suy nghĩ và cảm
xúc hiện diện mà không sửa chữa, thay đổi
hoặc né tránh
Kiểm tra và thách thức các niềm tin rối loạn chức năng và tìm ra cách giải thích mới, niềm tin mới
Can thiệp hành vi tập trung vào việc phát
triển nhận thức về khoảnh khắc hiện tại
Can thiệp hành vi tập trung vào việc củng
cố các phản ứng thích ứng hơn
luyện
Nguồn: Walter và Stuart (2012)
1.3.2 Nguyên lý và cơ chế hoạt động của liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm (MBCT)
Sự nghiền ngẫm (rumination), đặc biệt là suy ngẫm về những thất bại trong quá khứ,
đã được đề xuất là một cơ chế quan trọng của chứng trầm cảm (Nolen-Hoeksema, 2000) Nguyên lý hoạt động quan trọng của MBCT là nâng cao siêu nhận thức bằng cách khuyến khích thân chủ thực hành một trạng thái “hiện diện” - tại đây ngay bây giờ “Hiện diện” là trạng thái mà tâm trí ghi nhận sự khác biệt giữa cách một người nhìn mọi thứ như “nó vốn là” so với cách “chúng nên/phải là” như thế nào và được đặc trưng bởi những nỗ lực nhằm giảm sự khác biệt giữa “là” và “nên” (Segal, 2002) Một nguyên lý hoạt động quan trọng khác của MBCT là tăng cường khả năng tập trung chú ý của một người, cho phép phản ứng nhận thức và hành vi linh hoạt hơn Ngoài ra, chánh niệm cũng có thể cải thiện khả năng kiểm soát sự chú ý và điều chỉnh cảm xúc bằng cách tăng cường khả năng trí nhớ làm việc, đây là một nguồn lực trong việc hướng dẫn hành vi theo ý muốn và vượt qua những suy nghĩ xâm nhập về mặt cảm xúc trong bối cảnh đòi hỏi về nhận thức hoặc cảm xúc (Hofmann và cộng sự, 2010)
Trang 91.3.3 Hiệu quả của liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm (MBCT) trong hỗ trợ tâm lý cho người chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính
MBCT làm tăng tính linh hoạt của các hoạt động nhận thức, giảm sự suy ngẫm, khái quát hóa quá mức trong trí nhớ tự truyện và tự đánh giá quan trọng, đồng thời tăng các hoạt động nhận thức hữu ích như quan sát không phán đoán nội dung tinh thần Theo cách tiếp cận này, bệnh nhân được khuyến khích xử lý các trải nghiệm theo cách không phán đoán khi chúng được hình thành và thay đổi mối quan hệ của họ với và chấp nhận những suy nghĩ
và cảm xúc đầy thách thức (Segal và công sự, 2012)
1.4 Các phương pháp đánh giá và can thiệp
Trong đề án này, nhằm mục tiêu hỗ trợ cho người chăm sóc, dựa trên lý thuyết MBCT, học viên sử dụng các phương pháp đánh giá và can thiệp như trình bày dưới đây
1.4.1 Các phương pháp đánh giá
a Phương pháp nghiên cứu tài liệu
b Phương pháp quan sát lâm sàng
c Phương pháp hỏi chuyện lâm sàng
d Phương pháp trắc nghiệm/thang đo
- Bảng phỏng vấn gánh nặng chăm sóc (Zarit Burden Interview 22 items)
- Thang đánh mức độ giá mệt mỏi (Fatigue Assessment Scale - FAS)
- Thang đo chất lượng giấc ngủ (The Pittsburgh Sleep Quality Index - PSQI)
e Phương pháp nghiên cứu trường hợp
f Phương pháp đánh giá hiệu quả hỗ trợ tâm lý
1.4.2 Các phương pháp can thiệp
1.4.2.1 Các kỹ thuật nhận thức
a Giáo dục tâm lý (Psychoeducational Method)
b Siêu nhận thức (MetaCognitive Awareness)
c Viết nhật ký (Journaling)
1.4.2.3 Các phương pháp và kỹ thuật chánh niệm
a Kỹ thuật thở thư giãn (Relaxed Breathing)
b Kỹ thuật thở chánh niệm (Mindfulness Breathing)
c Kỹ thuật quét cơ thể (Body Scan)
Trang 10d Phương pháp thiền chánh niệm (mindfulness meditation)
Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan về gánh nặng chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mãn tính Gánh nặng chăm sóc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cá nhân của người chăm sóc
ở các mức độ khác nhau Các yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng chăm sóc có thể kể đến yếu
tố về giới, tài chính, thời gian chăm sóc, mối quan hệ với bệnh nhân… Liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm được chứng minh là có hiệu quả đáng kể trong việc tăng cường khả năng phục hồi ở người chăm sóc Các kỹ thuật hỗ trợ chính bao gồm giáo dục tâm lý về gánh nặng chăm sóc, thiền chánh niệm, nhận thức siêu nhận thức Bên cạnh đó, các kỹ thuật khác cũng được khuyến khích như kỹ thuật thư giãn, viết nhật ký… Trên cơ sở này, học viên triển khai thực hành hỗ trợ tâm lý cho một trường hợp là người chăm sóc bệnh nhân
mắc bệnh mãn tính rối loạn loại phân liệt
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ VÀ HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO MỘT TRƯỜNG HỢP LÀ NGƯỜI CHĂM SÓC BỆNH NHÂN CÓ RỐI LOẠN LOẠI PHÂN LIỆT
2.1 Thông tin chung về thân chủ
Thân chủ (TC) là chị Q (tên TC đã được thay đổi để bảo đảm bảo mật thông tin), 51 tuổi, hiện đang sống cùng chồng và hai con Con lớn của thân chủ đã đi làm và chưa lập gia đình Con trai thứ hai 17 tuổi, đang điều trị ngoại trú về rối loạn loại phân liệt kết hợp với can thiệp tâm lý TC đang làm công việc văn phòng
2.2 Các vấn đề đạo đức
2.2.1 Đạo đức trong tiếp nhận ca lâm sàng
Trong quá trình tiếp cận và tiếp nhận ca lâm sàng, học viên đã giới thiệu đầy đủ và trung thực những thông tin về bản thân, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, quy trình đánh giá và hỗ trợ tâm lý, nguyên tắc tôn trọng và bảo mật dữ liệu cá nhân, giới hạn của việc bảo mật Việc ghi chép, báo cáo và xin ý kiến giám sát để thực hiện đề án và báo cáo trước hội đồng chuyên môn đã nhận được sự cho phép của TC TC đã hiểu rõ và đồng ý ký vào Phiếu đồng thuận (Phụ lục 8) Học viên có trách nhiệm trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của TC
Trang 112.2.2 Đạo đức trong đánh giá
Trong quá trình đánh giá vấn đề của TC, học viên sử dụng các thang đo, trắc nghiệm
đã được thích ứng và sử dụng rộng rãi tại Việt Nam và trên thế giới, có độ hiệu lực cao Học viên đã sử dụng các công cụ đánh giá cần thiết và quan trọng mà mình được đào tạo và rèn luyện trong nhà trường và trong quá trình giám sát để đánh giá và xác định vấn đề của TC: hỏi chuyện và quan sát lâm sàng, sử dụng thang đánh giá gánh chất lượng giấc ngủ (PSQI), bảng phỏng vấn gánh nặng chăm sóc (ZBI-22), thang đo lòng tự trắc ẩn (SCS), bảng hỏi chấp nhận và hành động (AAQ-II) Với mỗi công cụ đánh giá, học viên giải thích cho TC về mục tiêu, ý nghĩa của công cụ và cách thức thực hiện
2.2.3 Đạo đức trong can thiệp
Trong việc hỗ trợ tâm lý cho TC, học viên sử dụng liệu pháp trị liệu nhận thức dựa trên chánh niệm (MBCT) được chứng minh là có hiệu quả cao đối với gánh nặng chăm sóc Đây là tiếp cận phù hợp với tinh thần hợp tác, trình độ nhận thức của TC Dựa trên kết quả của quá trình đánh giá và xác định vấn đề, học viên lên kế hoạch hỗ trợ với các mục tiêu đầu
ra và mục tiêu quá trình phù hợp với vấn đề và nhu cầu của TC, có ý thức trong việc giải thích và trao đổi thường xuyên với TC về từng giai đoạn hỗ trợ tâm lý
Trong quá trình hỗ trợ, học viên thực hiện dưới sự chỉ dẫn và giám sát của giảng viên hướng dẫn, đồng thời luôn có ý thức chủ động tìm hiểu tài liệu, kiến thức, kỹ năng để có thể đảm bảo tối đa lợi ích của TC
2.3 Mô tả trường hợp
2.3.1 Hoàn cảnh gặp gỡ
TC bày tỏ với nhà tâm lý của con trai mình về nhu cầu được hỗ trợ tâm lý Sau khi được nhà tâm lý của con trai TC đề xuất, học viên chủ động liên hệ với TC và giới thiệu về bản thân, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc và đề nghị hỗ trợ thân chủ miễn phí TC đồng ý tham gia vào tiến trình tham vấn với hình thức trực tuyến (online) qua Google Meet
ở hai phiên đầu tiên, các phiên tiếp theo làm việc trực tiếp tại văn phòng
Trang 122.3.3 Mô tả ca
TC là người chăm sóc chính cho con trai của mình, người đang điều trị ngoại trú rối loạn loại phân liệt Gia đình TC và gia đình chồng không ai có tiền sử vấn đề về sức khỏe tâm thần Con trai TC được chẩn đoán rối loạn loại phân liệt và đang điều trị ngoại trú kết hợp can thiệp tâm lý
Tiền sử vấn đề của TC: TC chia sẻ trước đây TC chưa từng rơi vào trạng thái bị cuốn theo cảm xúc của con như hiện tại Thậm chí, trong hai lần nhập viện đầu tiên của con, TC vẫn rất thoải mái và bình thường vì nghĩ rằng con mình chỉ bị ốm thôi, vào viện điều trị một thời gian thì sẽ khỏi Lần vào viện thứ ba, tình trạng của con khá nặng, TC rất lo cho tình trạng của con, mỗi khi nhận thấy có dấu hiệu bệnh tăng nặng (con nghỉ học, con mệt mỏi, con nằm dài không dậy, con không đi tập thể dục…), TC đều lo lắng con sẽ phải nhập viện
và chịu những tác dụng phụ của thuốc điều trị như trước đây Thời điểm gặp học viên, con trai TC đã nghỉ học hơn 2 tuần sau khi đi khai giảng năm học mới Điều nay khiến TC lo lắng về tương lai của con TC sợ con không thể tự lo được cho bản thân Bên cạnh đó, TC cũng lo lắng khi mình nghỉ hưu sẽ không đủ tài chính để điều trị cho con
Về mối quan hệ trong gia đình: TC chia sẻ mối quan hệ gia đình bình thường, không
có mâu thuẫn Con lớn của TC cũng rất quý em và chiều em Mối quan hệ giữa TC và chồng cũng bình thường, không có mâu thuẫn Tuy nhiên, trong việc điều trị bệnh cho con trai, TC cho rằng chồng mình thường hay đơn giản hóa vấn đề Mối quan hệ của TC và con trai bình thường TC chia sẻ con trai từ nhỏ đã ít nói và ít chia sẻ
Về mối quan hệ xã hội: TC có mối quan hệ tốt với bạn bè và mọi người xung quanh Tuy nhiên, kể từ khi con bị bệnh, mỗi khi con buồn hoặc TC nhận thấy tình trạng của con đang kém đi, TC hạn chế tham gia các cuộc giao lưu hoặc liên hoan
Về các hoạt động chức năng: Mỗi khi thấy con buồn TC cũng buồn theo và không thể tập trung làm việc TC cũng không thiết tha ăn uống gì TC có tham gia lớp tập yoga, nhưng những lúc con buồn, cảm xúc của TC bị cuốn theo con nên TC cũng nghỉ không đến lớp
TC thấy khó ngủ hơn bình thường
2.4 Đánh giá và phân tích
2.4.1 Ấn tƣợng ban đầu
TC tham gia đúng giờ trong phiên làm việc đầu tiên TC có dáng người trung bình, khuôn mặt buồn Dáng vẻ TC nhanh nhẹn TC cởi mở khi chia sẻ, tốc độ nói từ tốn TC có xúc động và khóc trong quá trình chia sẻ, TC cố gắng kiềm chế sự xúc động của mình TC ít