Tóm tắt Đề xuất các luận cứ khoa học Để hoàn thiện chỉ số về nhân lực khoa học và công nghệ trong hệ thống chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp Địa phương (pii) tại việt nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LÊ VY
ĐỀ XUẤT CÁC LUẬN CỨ KHOA HỌC ĐỂ HOÀN THIỆN CHỈ SỐ VỀ NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CẤP
ĐỊA PHƯƠNG (PII) TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8340412
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội - 2024
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thúy Hiền
TS Nguyễn Thế Thắng
Phản biện 1: TS Nguyễn Thị Hương Giang
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Phản biện 2: TS Nguyễn Hữu Xuyên
Viện chiến lược và Chính sách KH&CN
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận thạc sĩ họp tại: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội vào 16 giờ 00 ngày 16 tháng 01 năm
2025
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
T nh cấp thi t c a đ tài
Hệ thống chỉ số ĐMST cấp địa phương PII được cấu thành từ bảy trụ cột chính, mỗi trụ cột được tích hợp số đo từ ba trụ cột nhỏ (nhóm chỉ số) Mỗi nhóm chỉ số này gồm từ 02 đến 05 chỉ số thành phần, và con số này có thể thay đổi qua từng năm Trong 07 trụ cột
của PII thì Vốn con người và nghiên cứu được xếp riêng là một trụ
cột đầu vào, đây là yếu tố quan trọng, tiền đề cho hoạt động ĐMST của từng địa phương Trụ cột này nhấn mạnh vai trò và đóng góp của yếu tố nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao vào sự phát triển năng lực của HTĐMST của các địa phương
Tuy nhiên, điều cần chú ý là do mới triển khai từ năm 2022 nên các chỉ số thành phần phản ánh đóng góp của nhân lực KH&CN vào ĐMST trong PII chưa được hoàn thiện, cụ thể: PII được xây dựng dựa trên khung cấu trúc của hệ thống chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu GII, cho nên một số chỉ số về nhân lực KH&CN trong trụ cột 02
về nguồn nhân lực và nghiên cứu của GII khi chuyển sang để tính toán cho cấp địa phương PII không còn được phù hợp Thứ hai, GII được xây dựng để đo lường, đánh giá, so sánh, xếp hạng mức độ thực hiện, năng lực của HTĐMST quốc gia cho khoảng 130 quốc gia/ nền kinh tế đa dạng Cho nên khi áp dụng cho địa phương PII thì tính chất đổi mới của riêng Việt Nam cần cụ thể hơn, điều này kéo theo các chỉ số về nhân lực trong PII cũng cần phải phản ánh cụ thể bối cảnh của Việt Nam
Trên thực tiễn, nhóm thiết kế PII Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh, thay thế các chỉ số cho phù hợp với tính chất đổi mới của Việt Nam, tuy nhiên theo thông lệ của thế giới thì cần khoảng 10 năm để hoàn thiện một hệ thống chỉ số để đo lường, cho nên PII vẫn đang ở
Trang 4trong giai đoạn hoàn thiện Chính vì vậy, nghiên cứu về hoàn thiện chỉ số nhân lực KH&CN trong trụ cột 02 về Vốn con người và nghiên cứu trong hệ thống chỉ số ĐMST cấp địa phương là cần thiết
T ng quan tình hình nghi n c u
Khi nghiên cứu về đo lường ĐMST, Zhang (2013) nghiên cứu hiệu quả HTĐMST quốc gia của 39 quốc gia, phân chia thành ba nhóm: các nước đặc biệt phát triển, đang phát triển và phát triển Tác giả sử dụng các chỉ số đầu vào như chi phí NC&PT, đầu tư cho GD đại học, và nguồn nhân lực NC&PT, cùng với các chỉ số đầu ra công nghệ (bằng sáng chế, bài báo khoa học) và các chỉ số về kinh tế (thị phần xuất khẩu công nghệ cao, năng suất quốc gia) Nghiên cứu này
đã xây dựng mô hình tính toán để đánh giá điểm hiệu quả về công nghệ, kinh tế và tổng thể của HTĐMST
Carvalho, N, Carvalho, L và Nunes (2015) nghiên cứu các chỉ số
về ĐMST đầu vào và đầu ra ở cấp độ doanh nghiệp và quốc gia Cùng với đó, các tác giả cũng đưa ra các giả thuyết về những ảnh hưởng và các tác động tích cực, tiêu cực của các chỉ số đó Nghiên cứu này thông qua tiếp cận về HTĐMST quốc gia nhằm đánh giá ĐMST ở các nước trong liên minh Châu Âu
Gần đây nhất, việc áp dụng các chỉ số đo lường năng lực ĐMST cấp quốc gia tại Việt Nam có các nghiên cứu:
Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ của Nguyễn Thị Phương Mai cùng cộng sự (2019) với chủ đề “Nghiên cứu sự phù hợp và những hạn chế của chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) áp dụng trong điều kiện Việt Nam” làm rõ phương pháp luận của việc xây dựng và tính toán chỉ số GII; Phân tích sự phù hợp, hạn chế của cách tiếp cận GII đối với nền kinh tế Việt Nam và từ đó đề xuất khung nội dung cơ bản đối với các giải pháp cải thiện kết quả các chỉ
Trang 5số thành phần GII để các bộ, cơ quan, địa phương có thể căn cứ vào
đó triển khai thực hiện và đưa ra các giải pháp cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình cũng như tình hình thực tế của bộ, ngành, địa phương
Nghiên cứu của Phan Xuân Linh cùng cộng sự (2022) về đề tài
“Nghiên cứu các phương pháp đo lường ĐMST cấp quốc gia và đề xuất cho Việt Nam” cung cấp cho người đọc thêm góc nhìn về các phương pháp, chỉ số đo lường ĐMST cấp quốc gia phù hợp với Việt Nam từ bài học kinh nghiệm quốc tế, bên cạnh đó đề xuất được phương pháp, chỉ số đo lường ĐMST cấp quốc gia phù hợp với đặc điểm ĐMST và HTĐMST của Việt Nam
Ngoài các đề tài về đo lường HTĐMST trong cấp quốc gia, báo cáo tổng hợp nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ của Nguyễn Thị Phương Mai cùng cộng sự (2019) đã có đề tài nghiên cứu về đo lường HTĐMST cấp địa phương về phân tích sự phù hợp, hạn chế của cách tiếp cận GII từ đó khuyến nghị sử dụng cách tiếp cận GII như một công cụ chính sách phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam
3 Mục ti u và nhiệm vụ nghi n c u
Mục tiêu nghiên c u: Đề xuất các luận cứ khoa học để hoàn
thiện chỉ số về nhân lực KH&CN trong hệ thống chỉ số PII
Nhiệm vụ nghiên c u:
- Phân tích cơ sở lý luận về đo lường ĐMST, đo lường ĐMST cấp quốc gia và chỉ số về nhân lực KH&CN trong hệ thống chỉ số ĐMST;
- Phân tích thực trạng lựa chọn, xây dựng các chỉ số nhân lực KH&CN trong hệ thống chỉ số ĐMST cấp địa phương tại Việt Nam;
- Đề xuất sửa đổi, bổ sung các chỉ số về nhân lực KH&CN trong
hệ thống chỉ số tại Việt Nam
Trang 64 Đối tượng, phạm vi nghi n c u và mẫu khảo sát
Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ số nhân lực KH&CN trong hệ
thống chỉ số ĐMST
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Giới hạn trong các chỉ số về nhân lực
KH&CN tại trụ cột 02, Vốn con người và Nghiên cứu và phát triển
trong hệ thống chỉ số PII Đây là trụ cột đánh giá nguồn vốn con người được quan tâm, chú trọng nuôi dưỡng và phát triển của địa phương bao gồm 03 nhóm chỉ số: Nhóm chỉ số về giáo dục; Nhóm chỉ số về giáo dục đại học; Nhóm chỉ số NC&PT
- Phạm vi thời gian: Từ 2022 – 07/2024
5 Câu hỏi nghi n c u
Căn cứ vào các luận cứ khoa học nào để hoàn thiện các chỉ số
nhân lực KH&CN trong PII?
6 Giả thuy t nghi n c u
- Đề xuất sử dụng các chỉ số cũ: Tỉ lệ học sinh trung học tham gia cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật/ tổng số học sinh trung học; Chỉ số nhân lực nghiên cứu và phát triển/ 10,000 dân;
- Đề xuất điều chỉnh nội dung tính toán chỉ số: Điểm thi tốt nghiệp THPT; Chỉ số chi cho giáo dục và đào tạo trung bình/ 1 người
đi học trong 1 năm;
- Đề xuất bổ sung chỉ số mới: Tỉ lệ hoàn thành cấp phổ thông; Tỉ
lệ học sinh, sinh viên học nghề
7 Phư ng pháp nghi n c u
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập, tổng hợp các tài
liệu thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau như: các bài báo, các đề tài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước đây và các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 7Phương pháp phỏng vấn: thu thập thông tin từ chính các chuyên
gia đang làm trong lĩnh vực về đo lường trong PII, các chỉ số về nhân lực KH&CN trong hệ thống chỉ số PII
Phương pháp hội nghị: tác giả sử dụng phương pháp tọa đàm và
bàn tròn để thu thập thông tin từ chính các chuyên gia, thành viên đang làm trong lĩnh vực về đo lường PII, các chỉ số về nhân lực
KH&CN
8 K t cấu c a đ tài (3 chư ng)
CHƯƠNG : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỈ SỐ NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG HỆ THỐNG CHỈ SỐ
ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CẤP ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Ch nh sách đ i mới sáng tạo và đo lường đ i mới sáng tạo
1.1.1 Đổi mới sáng tạo, chính sách đổi mới sáng tạo
Đổi mới sáng tạo về cơ bản là việc/ quá trình chuyển từ ý tưởng, tri thức thành một kết quả cụ thể như sản phẩm, dịch vụ, quy trình, mang lại lợi ích gia tăng cho KT-XH Một ý tưởng hay tri thức, dù hấp dẫn, tiềm năng, nếu chưa được chuyển thành kết quả cụ thể mang lại giá trị thì vẫn chưa được coi là đổi mới
Chính sách ĐMST tập trung vào việc thúc đẩy và tăng cường tương tác giữa các thực thể, đồng thời phát triển các thể chế hỗ trợ cho quá trình học hỏi Mục tiêu là tạo ra một môi trường thuận lợi cho đổi mới, nâng cao khả năng ứng phó và đáp ứng của hệ thống trước các cơ hội và biến động Chính sách đổi mới cũng tập trung vào những thế chế thân thiện với đổi mới, bao gồm luật lệ, quy tắc hành xử, truyền thống, văn hóa v.v., những thứ quy định cách thức tương tác, điều chỉnh tương tác, điều hòa phối hợp, giải quyết xung đột v.v giữa các thực thể trong và ngoài hệ thống
Trang 81.1.2 Đo lường đổi mới sáng tạo
Nhắm trực tiếp đến đo lường ĐMST là Cẩm nang Oslo Các chuẩn mực đo lường ĐMST trong Cẩm nang Oslo, đặc biệt những điều chỉnh ở những lần cập nhật gần đây, thể hiện rõ ảnh hưởng của tiếp cận HTĐMST, đặc biệt là HTĐMST quốc gia Việc thu thập thống kê về ĐMST không chỉ tập trung vào các đầu vào cho ĐMST
là như chi phí và nhân lực, mà còn tập trung vào các tương tác chi phối ĐMST, phương thức ĐMST được thực hiện, vai trò hỗ trợ của nhà nước, tầm quan trọng của các kênh thông tin v.v
1.1.3 Đo lường đổi mới sáng tạo cấp quốc gia
Hai hướng chính để thực hiện đo lường ĐMST quốc gia Hướng thứ nhất, dựa trên những tiến bộ mới cả về lý luận cũng như thực tiễn chính sách liên quan đến HTĐMST quốc gia và những tiến bộ về thu thập dữ liệu để xây dựng những thống kê, chỉ tiêu mới, nhóm chỉ tiêu mới về đổi mới, phản ánh tốt hơn những khía cạnh quan trọng của HTĐMST quốc gia mà thống kê KH&CN hiện nay chưa thể hiện được Hướng thứ hai là dựa vào tiếp cận HTĐMST quốc gia để xây dựng một khung đo lường các thuộc tính của đổi mới ở tầm quốc gia, sau đó tìm kiếm những chỉ số sẵn có, hoặc những chỉ số mới có thể tính được với dữ liệu sẵn có, để đo lường những thuộc tính cần đo
1.1.4 Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu
GII được phát triển dựa trên tiếp cận HTĐMST quốc gia, trong
đó ĐMST được hiểu một cách rộng, không chỉ bao gồm đổi mới dựa trên NC&PT mà còn cả những hình thức ĐMST không dựa trên NC&PT, như đổi mới quy trình, mô hình tổ chức, kinh doanh, các sáng kiến mới của người nông dân, và thậm chí là đổi mới xã hội GII được tính từ chỉ số phụ đầu vào ĐMST gồm 05 trụ cột và chỉ số phụ đầu ra ĐMST gồm 02 trụ cột: Đầu vào ĐMST phản ánh về yếu
Trang 9tố trong nền kinh tế tạo điều kiện cho các hoạt động ĐMST (Thể chế; Nguồn nhân lực và nghiên cứu; Cơ sở hạ tầng; Mức độ phát triển của thị trường; Mức độ phát triển kinh doanh) Đầu ra ĐMST là kết quả của các hoạt động ĐMST trong một nền kinh tế (Sản phẩm tri thức
và công nghệ; Sản phẩm sáng tạo)
1.2 Nhân lực khoa học và công nghệ và chỉ số v vốn con người trong các hệ thống chỉ số đ i mới sáng tạo quốc gia
1.2.1 Nhân lực khoa học và công nghệ
Nhân lực KH&CN được hiểu là những người tham gia vào hoạt động KH&CN với các nhiệm vụ hoặc vị trí khác nhau như: giáo dục, nghiên cứu, quản lý, góp phần tạo ra sản phẩm KH&CN, phục vụ phát triển KT-XH
Nhân lực hoạt động KH&CN được giới hạn là một bộ phận trong hệ thống nhân lực thuộc các tổ chức KH&CN
1.2.2 Chỉ số về nhân lực khoa học và công nghệ trong hệ thống chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu
Nhóm chỉ số nhân lực KH&CN trong GII bao gồm 03 nhóm:
Nhóm chỉ số 2.1: Giáo dục, bao gồm Chỉ số 2.1.1 Chi tiêu cho
giáo dục; Chỉ số 2.1.2 Chi công/HSTH, % GDP theo đầu người; Chỉ
số 2.1.3 Số năm đi học kì vọng; Chỉ số 2.1.4 Điểm PISA đối với đọc, toán và khoa học; Chỉ số 2.1.5 Tỷ lệ học sinh/giáo viên, trung học
Nhóm chỉ số 2.2: Nhóm giáo dục đại học, bao gồm Chỉ số 2.2.1
Tỉ lệ tuyển sinh đại học; Chỉ số 2.2.2 Sinh viên tốt nghiệp ngành
KH-KT; Chỉ số 2.2.3 Tỷ lệ sinh viên nước ngoài học tập trong nước
Nhóm chỉ số 2.3 Nghiên cứu và phát triển, bao gồm Chỉ số 2.3.1
Nhà nghiên cứu, FTE (1 triệu dân); Chỉ số 2.3.2 Tổng chi cho R&D
(GERD) % GDP; Chỉ số 2.3.3 Chi NC&PT của 3 công ty hàng đầu
Trang 10có đầu tư ra nước ngoài (tỷ đô la); Chỉ số 2.3.4 Điểm trung bình của
3 trường đại học hàng đầu có trong xếp hạng QS đại học
CHƯƠNG THỰC TRẠNG CHỈ SỐ NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CẤP ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM
Hệ thống chỉ số đ i mới sáng tạo cấp địa phư ng tại Việt Nam
2.1.1 Sự cần thiết và mục tiêu hệ thống chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương
PII được xây dựng nhằm đo lường hiện trạng mô hình phát triển KT-XH dựa trên KH,CN&ĐMST của từng địa phương, qua đó cung cấp một bức tranh tổng thể về điểm mạnh, điểm yếu, về các yếu tố tiềm năng và các điều kiện cần thiết để thúc đẩy phát triển KT-XH dựa trên KH,CN&ĐMST Cụ thể, các mục tiêu của PII:
- Xếp hạng các địa phương dựa trên chỉ số Đây chính là công cụ
để so sánh năng lực cùng kết quả ĐMST cho các địa phương, thêm vào đó còn hỗ trợ nhà nước về mặt quản lý ĐMST của từng địa phương
- PII cho thấy điểm mạnh, điểm yếu, những điểm đặc thù, tiềm năng cho các địa phương nhằm giúp địa phương hoạch định chính sách, chiến lược phù hợp với điều kiện của mình;
- Hỗ trợ thay đổi, xây dựng chính sách của địa phương, chính phủ từ đó thúc đẩy ĐMST ở cấp độ địa phương và quốc gia;
- Hỗ trợ các nhà đầu tư vào địa phương nắm được bối cảnh, nguồn lực của địa phương cụ thể hơn
2.1.2 Phương pháp xây dựng chỉ số
PII được xây dựng theo phương pháp luận xây dựng chỉ số tổng hợp, gồm 10 bước theo hướng dẫn OECD, Bước 1: Xây dựng khung
Trang 11lý thuyết; Bước 2: Lựa chọn dữ liệu; Bước 3: Xử lý dữ liệu bị thiếu; Bước 4: Phân tích đa biến; Bước 5: Quy chuẩn số liệu; Bước 6: Trọng số, tổng hợp; Bước 7: Phân tích; Bước 8: Xem xét lại dữ liệu; Bước 9: Xem xét tương quan với các bộ chỉ số khác; Bước 10: Báo cáo kết quả
2.1.3 Khung chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương tại Việt Nam
Trên cơ sở áp dụng GII và tính chất hoạt động ĐMST của Việt Nam, năm 2022, PII được triển khai xây dựng và thử nghiệm tại 20 địa phương, đại diện cho 6 vùng kinh tế Khung cấu trúc của PII được thiết kế với hai nhóm Đầu vào và Đầu ra ĐMST với khoảng trên 50 chỉ số thành phần, bao gồm 07 trụ cột (theo nguyên lý GII)
2.2 Thực tiễn trong nước v lựa chọn, xây dựng các chỉ số v nhân lực khoa học và công nghệ trong hệ thống chỉ số đ i mới sáng tạo cấp địa phư ng
2.2.1 Chỉ số liên quan đến nhân lực khoa học và công nghệ tại trụ cột vốn con người và nghiên cứu trong hệ thống chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (thử nghiệm năm 2022)
Nhóm giáo dục
(i) Chỉ số giáo dục [GSO/HDI]
Chỉ số phát triển con người (HDI) cung cấp cái nhìn tổng quan
về giáo dục ở các tỉnh thành Việt Nam, nhưng không thể phản ánh đầy đủ chất lượng giáo dục Do chỉ tập trung vào thời gian đi học bình quân và số năm đi học kỳ vọng của học sinh, HDI thiếu thông tin chi tiết về thực trạng giảng dạy và kết quả học tập Vì vậy, mặc dù HDI là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá phát triển, nhưng không thể phản ánh được ý nghĩa mong muốn của chỉ số này khi sử dụng nó để đo lường chất lượng giáo dục