Công ty TNHH Nhôm Minh Dũng, một công ty Việt Nam (bên mua), đã ký hợp đồng với Aluminium Alloys Mfg. LLC, một công ty Mỹ (bên bán), để bán và giao các thỏi nhôm. Người bán đồng ý vận chuyển các thỏi nhôm với giá 118,978.20 USD và sau đó vận chuyển bốn container cho người mua tại Việt Nam. Trong đó, hai trong số đó đến cảng Hải Phòng vào ngày 12 tháng 2 năm 2020, chứa đầy chất thải nguy hại chứ không phải thỏi. Bên mua đã thông báo cho người bán về chất thải nguy hại và người bán thừa nhận rằng họ đã vận chuyển hàng hóa không phù hợp và hứa sẽ hoàn lại tiền và sắp xếp trả lại chất thải cho Hoa Kỳ. Ngày 25 tháng 9 năm 2020, người mua đã đưa ra các thủ tục tố tụng về vi phạm hợp đồng tại Tòa án sơ thẩm liên bang khu vực trung tâm Pennsylvania mà người bán không trả lời và người mua đã dùng đến phán quyết của Tòa án để yêu cầu bồi thường với số tiền 245,097.20 USD. Điều này bao gồm 118,978.20 USD ban đầu được trả cho người bán, 58,394.00 USD cho việc lưu trữ chất thải nguy hại tại cảng, 67,000.00 USD lợi nhuận bị mất do hành vi vi phạm và 725.00 USD phí và lệ phí tòa án. Tòa án đã chấp thuận một phần yêu cầu của người mua liên quan đến thiệt hại. Cụ thể, Tòa án cho rằng các thiệt hại có thể phục hồi là 244,372.20 USD (245,097.20 USD trừ đi 725.00 USD chi phí và lệ phí tòa án).
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
***
KHOA: LUẬT QUỐC TẾ LỚP: TMQT47 MÔN HỌC: LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THEO CISG, PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ HOA KỲ: NGHIÊN CỨU VỤ TRANH CHẤP MINH DUNG ALUMINUM COMPANY, LTD
VÀ ALUMINUM ALLOYS MFG LLC Giảng viên: ThS Hà Kiều Phương Dung
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 3 NĂM 2025
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 3 năm 2025
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Đề tài thảo luận: Bồi thường thiệt hại theo CISG, pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ: Nghiên cứu vụ tranh chấp Minh Dung Aluminum Company, Ltd và Aluminum
Alloys MFG LLC Lớp: TMQT47
Nhận xét của giảng viên:
Trang 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 Công ước của Liên Hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế
(United Nations Convention on Contracts for the
International Sale of Goods)
Trang 4MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG BẢN ÁN 5
II PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA BẢN ÁN 5
1 Phán quyết của Tòa án đối với vụ án 5
2 Quan điểm của các chuyên gia 10
2.1 Quan điểm thứ nhất: Việc thu hồi chi phí pháp lý là một vấn đề nằm ngoài phạm vi của Công ước và cần được xử lý như một vấn đề của luật tố tụng 10
2.2 Quan điểm thứ hai: Chi phí pháp lý nên được xem là một phần của điều khoản bồi thường thiệt hại theo Điều 74 CISG, tuy nhiên nguyên tắc công bằng giữa các bên của CISG đã cản trở việc áp dụng các khoản bồi thường thiệt hại này 12
2.3 Quan điểm thứ ba: Vấn đề thu hồi chi phí pháp lý theo Điều 74 CISG khiến cho Điều 74 CISG trở thành một công cụ pháp lý không hoàn hảo 13
III QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM TÁC GIẢ 15
1 Về việc xác định luật áp dụng 15
2 Về tính hợp lý của phán quyết 16
IV KẾT LUẬN 20 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5I TÓM TẮT NỘI DUNG BẢN ÁN
Công ty TNHH Nhôm Minh Dũng, một công ty Việt Nam (bên mua), đã ký hợp đồng với Aluminium Alloys Mfg LLC, một công ty Mỹ (bên bán), để bán và giao các thỏi nhôm Người bán đồng ý vận chuyển các thỏi nhôm với giá 118,978.20 USD và sau đó vận chuyển bốn container cho người mua tại Việt Nam Trong đó, hai trong số đó đến cảng Hải Phòng vào ngày 12 tháng 2 năm 2020, chứa đầy chất thải nguy hại chứ không phải thỏi Bên mua đã thông báo cho người bán về chất thải nguy hại và người bán thừa nhận rằng họ đã vận chuyển hàng hóa không phù hợp và hứa sẽ hoàn lại tiền và sắp xếp trả lại chất thải cho Hoa Kỳ Ngày 25 tháng 9 năm 2020, người mua đã đưa ra các thủ tục tố tụng về vi phạm hợp đồng tại Tòa án sơ thẩm liên bang khu vực trung tâm Pennsylvania mà người bán không trả lời và người mua đã dùng đến phán quyết của Tòa án để yêu cầu bồi thường với số tiền 245,097.20 USD Điều này bao gồm 118,978.20 USD ban đầu được trả cho người bán, 58,394.00 USD cho việc lưu trữ chất thải nguy hại tại cảng, 67,000.00 USD lợi nhuận bị mất do hành
vi vi phạm và 725.00 USD phí và lệ phí tòa án
Tòa án đã chấp thuận một phần yêu cầu của người mua liên quan đến thiệt hại
Cụ thể, Tòa án cho rằng các thiệt hại có thể phục hồi là 244,372.20 USD (245,097.20 USD trừ đi 725.00 USD chi phí và lệ phí tòa án).1
II PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA BẢN ÁN
1 Phán quyết của Tòa án đối với vụ án
Trước yêu cầu đưa ra phán quyết bị đơn vắng mặt của nguyên đơn - Công ty TNHH Nhôm Minh Dũng, Tòa án đã xác minh, xem xét hồ sơ và nhận thấy các yếu tố Chamberlain kiểm soát việc Tòa án ban hành phán quyết vắng mặt đối với bị đơn gần như được đáp ứng 2 Thứ nhất, nguyên đơn sẽ bị thiệt hại nếu Tòa án từ chối ban hành
phán quyết vắng mặt vì nguyên đơn không thể tiếp tục vụ kiện này do bị đơn không
phản hồi và không còn cách nào khác để đòi bồi thường thiệt hại từ bị đơn Thứ hai, bị
đơn không đưa ra bất cứ phản hồi hay biện hộ đối với các yêu cầu của nguyên đơn, kể
cả các yêu cầu trước đó của nguyên đơn và yêu cầu đưa ra phán quyết vắng mặt của bị
đơn trong thời điểm xem xét vụ án Thứ ba, Tòa án không nhận thấy bất kỳ lý do hay
biện minh nào đối với sự vắng mặt và không phản hồi của bị đơn Trên thực tế, bị đơn
đã không xuất hiện, không phản hồi các yêu cầu của nguyên đơn và không đưa ra bất
1 Sam Walker, “Abstract: Minh Dung Aluminum Co., Ltd v Aluminum Alloys Mfg LLC”, 5633_46593922.pdf , 15/3/2025
2 Minh Dung Aluminum Company, Ltd v Aluminum Alloys MFG LLC 1:20-cv-01764 (MD Pa, 2 August 2021),
CISG-online 5633
Trang 6kỳ lý do nào đối với hành vi đáng trách của mình Do vậy, Tòa án đã đưa ra phán quyết bị đơn vắng mặt có lợi cho nguyên đơn là phù hợp
Tòa án công nhận các cáo buộc và tài liệu của nguyên đơn đã chứng minh rõ ràng được các yếu tố:3
(i) Nguyên đơn và bị đơn đã ký kết với nhau hai hợp đồng mua bán nhôm thỏi; (ii) Nguyên đơn đã thanh toán cho bị đơn 118,978.20 USD cho các thỏi nhôm; (iii) Bị đơn không giao nhôm thỏi theo hợp đồng đã ký;
(iv) Nguyên đơn phải chịu thiệt hại do bị đơn không thực hiện hợp đồng Đối với thiệt hại mà nguyên đơn phải chịu, Tòa án đã áp dụng biện pháp bảo hộ hợp lý trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng, cụ thể tại Điều 45(2) CISG, điều này cho phép người mua được đòi bồi thường thiệt hại nếu người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng mua bán mà các bên đã ký kết
Số tiền bồi thường thiệt hại mà bên nguyên đơn được nhận bao gồm tổn thất và khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng 4 Nguyên đơn đã cung cấp các bằng chứng, văn bản, tài liệu để chứng minh cho các khoản tiền yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại gồm: 118,978.20 USD nguyên đơn đã trả cho bị đơn theo hợp đồng mua bán của các bên; 58,394.00 USD là chi phí lưu trữ chất thải nguy hiểm tại cảng Hải Phòng và 67,000.00 USD là lợi nhuận bị mất do hành vi vi phạm hợp đồng của bị đơn Ngoài ra, nguyên đơn còn yêu cầu bị đơn bồi thường cho số tiền 725.00 USD là chi phí và lệ phí mà nguyên đơn đã chi trả để thực hiện vụ kiện, gồm: 400.00 USD là lệ phí Tòa án để khởi kiện vụ án; 225.00 USD cho chi phí nghiên cứu pháp lý; 100.00 USD là chi phí tống đạt hồ sơ cho bị đơn Tòa án cho rằng các chi phí pháp lý này và chi phí luật sư không nằm trong chi phí được bồi thường theo quy định của CISG Do đó, Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại của nguyên đơn đối với tổng số tiền 244,372.20 USD và bác bỏ yêu cầu bồi thường các chi phí pháp lý và lệ phí Tòa án của nguyên đơn
Từ phán quyết trên của Tòa án, nhóm đưa ra các vấn đề pháp lý liên quan, so sánh với pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ:
Về vấn đề xác định luật áp dụng, trong vụ án trên, Toà án Liên bang Hoa kỳ
đã áp dụng Điều 1(1)(a) CISG để xác định luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau khi các quốc gia này
là các quốc gia thành viên của Công ước Cụ thể, trong 2 hợp đồng mua bán nhôm
3 Minh Dung Aluminum Co, tlđd [2]
4 Điều 74 CISG
Trang 7thỏi giữa nguyên đơn và bị đơn, hai bên không có bất kỳ điều khoản thỏa thuận chọn luật nào Do đó, Toà án căn cứ Việt Nam và Hoa Kỳ là hai quốc gia thành viên Công ước, đồng thời, hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm mục đích thương mại không thuộc Điều 2 CISG giữa các bên là Công ty Minh Dũng, trụ sở tại Việt Nam và Công ty Aluminum Alloys, trụ sở tại Hoa Kỳ Vì vậy, Toà án đã đồng ý với nguyên đơn về việc xác định CISG là luật áp dụng giải quyết tranh chấp, ở đây là tranh chấp bồi thường thiệt hại do bị đơn vi phạm hợp đồng
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn, Tòa án đã áp dụng Điều
45(2) CISG để xác định quyền của nguyên đơn trong việc yêu cầu bên bị đơn bồi thường thiệt hại vì hành vi vi phạm hợp đồng của bên bị đơn Cụ thể, trong vụ án này, sau khi bên nguyên đơn thông báo đến bên bị đơn về vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng và bên bị đơn đã thừa nhận việc vận chuyển hàng hóa không phù hợp và hứa sẽ hoàn lại tiền theo hợp đồng, sắp xếp trả lại chất thải về Hoa Kỳ Điều này phù hợp với quy định về bên bán phải chịu trách nhiệm về sự không phù hợp của hàng hoá sau thời điểm chuyển rủi ro do bên bán vi phạm nghĩa vụ về việc bảo đảm hàng hoá phù hợp với mục đích sử dụng thông thường 5 Hành vi giao hàng không phù hợp với hợp đồng của bị đơn được xem là vi phạm cơ bản trong hợp đồng vì bên nguyên đơn
đã không đạt được lợi ích mong muốn khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá 6
Vì vậy, bên nguyên đơn đã sử dụng Điều 46(2) CISG để buộc bên bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng vì hàng hóa không phù hợp với hợp đồng bao gồm yêu cầu bên bị đơn giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành vi phạm cơ bản hợp đồng trong thời hạn hợp lý Do đó, Tòa án Liên bang Hoa Kỳ đã xác định bên nguyên đơn đã áp dụng biện pháp bảo hộ buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng vì hành vi giao hàng không phù hợp của bên bị đơn Tuy nhiên, vì bên bị đơn không hoàn trả khoản thanh toán và giao lại hàng hoá phù hợp theo hợp đồng, sắp xếp việc hoàn trả chất thải gây hại về Hoa Kỳ như bị đơn đã hứa Bên nguyên đơn đã đệ trình Toà án Liên bang Hoa Kỳ yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại sau khi bên nguyên đơn đã
sử dụng biện pháp bảo hộ pháp lý là buộc bên bị đơn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng 7
Quy định này của CISG có sự tương đồng với pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Điều 316 Luật Thương mại 2005 về Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi đã áp
dụng các chế tài khác: “Một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối
5 Điều 36 CISG
6 Điều 25 CISG
7 Điều 45(2) CISG
Trang 8với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác.” Vì
vậy, có thể nhận thấy, quy định của Luật Thương mại Việt Nam tương đồng với quy định của CISG về quyền của một bên khi được đồng thời áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và các chế tài khác đối với bên vi phạm hợp đồng Quy định này đã được Luật Thương mại Việt Nam quy định cụ thể tại các điều khoản về hậu quả pháp lý của các loại chế tài trong thương mại
Đồng thời, theo Điều 2.711(1)(a) Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) quy định về Biện pháp khắc phục của người mua nói chung; Quyền bảo đảm của người mua đối với hàng hóa bị từ chối:
“Trường hợp người bán không giao hàng hoặc từ chối hoặc người mua từ chối hợp lý hoặc thu hồi hợp đồng một cách hợp lý thì đối với bất kỳ hàng hóa nào liên quan và đối với toàn bộ nếu vi phạm ảnh hưởng đến toàn bộ hợp đồng, người mua có thể hủy và bất kể người mua đã hủy hay chưa, ngoài việc thu hồi một phần giá đã thanh toán, người mua có thể:
a) “bảo hiểm” và bồi thường thiệt hại đối với tất cả hàng hóa bị ảnh hưởng cho dù chúng đã được xác định trong hợp đồng hay chưa;”
Tóm lại, quy định của UCC và CISG và Luật Thương mại Việt Nam có những điểm tương đồng về biện pháp bảo hộ pháp lý (chế tài theo pháp luật Việt Nam) áp dụng đối với quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bị vi phạm trong hợp đồng bất kể bên bị vi phạm đã sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác Quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bên bị vi phạm khi bên vi phạm vi phạm nghĩa
vụ cơ bản trong hợp đồng Trên tinh thần so sánh bản chất của các biện pháp bảo hộ pháp lý được quy định theo CISG, có thể thấy, các biện pháp bảo hộ này đã được Việt Nam nội luật hoá phù hợp với CISG trong Luật Thương mại 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019) về đảm bảo quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bên khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Có thể thấy pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ vẫn tồn tại các điểm khác biệt trong tư duy xây dựng pháp luật phản ánh đến
sự khác nhau về chính trị, kinh tế của mỗi quốc gia trong thị trường quốc tế
Tuy nhiên, nhìn chung, giữa pháp luật Việt Nam, pháp luật Hoa Kỳ đều đồng
bộ và thống nhất với CISG các quy định về quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại của các bên khi một bên vi phạm hợp đồng Đây là quyền được pháp luật các quốc gia quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên khi tham gia các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế tạo nên sự thống nhất trong các hệ thống pháp luật quốc gia, kéo gần khoảng cách giữa các quốc gia, hạn chế các rào cản pháp lý khi Việt Nam hội nhập quốc tế và các thương nhân Việt Nam tham gia thị trường kinh doanh quốc tế, đồng
Trang 9thời, tạo điều kiện cho các thương nhân trong và ngoài nước dễ dàng tiếp cận đến thị trường Việt Nam nhằm mục đích đầu tư và phát triển
Về xác định mức chi phí thiệt hại được bồi thường cho nguyên đơn, Tòa án
áp dụng Điều 74 CISG để xác định thiệt hại do vi phạm hợp đồng bao gồm chi phí tổn thất phát sinh từ vi phạm và khoản lợi nhuận bị mất do vi phạm mà khoản bồi thường này không vượt quá mức đã được bên vi phạm dự liệu khi ký kết hợp đồng Quy định này có nét tương đồng với pháp luật Việt Nam, cụ thể tại khoản 2 Điều 302 Luật
Thương mại 2005 quy định “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực
tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp
mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”
Tuy nhiên, Luật Thương mại 2005 không quy định mức bồi thường phải nằm trong giới hạn dự liệu của bên vi phạm vào thời điểm ký kết hợp đồng như một hậu quả của việc vi phạm Đây là điểm khác nhau giữa quy định của của pháp luật Việt Nam và CISG Cả Luật Thương mại 2005 và CISG đều quy định bồi thường thiệt hại bao gồm tổn thất thực tế và lợi nhuận bị mất Tuy nhiên, CISG nhấn mạnh yếu tố dự đoán trước của thiệt hại, trong khi Luật Thương mại 2005 đề cao tính trực tiếp và thực
tế của thiệt hại Do đó, Luật Thương mại 2005 cần cân nhắc bổ sung yếu tố dự đoán trước để đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế Cả hai hệ thống pháp luật thống nhất rằng mức bồi thường không vượt quá thiệt hại thực tế và bên bị thiệt hại có nghĩa vụ hạn chế tổn thất
Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) có quy định cụ thể hơn CISG về giá trị bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Tại Điều 2-715 UCC quy định giá trị bồi thường thiệt hại như sau:
Điều 2-715(1) - Thiệt hại phụ: “Bao gồm các chi phí hợp lý liên quan đến kiểm tra, nhận hàng, vận chuyển, chăm sóc và giữ kho hàng hóa bị từ chối một cách hợp pháp, bất kỳ khoản phí, chi phí hoặc hoa hồng thương mại hợp lý nào liên quan đến việc thực hiện mua hàng thay thế, và bất kỳ chi phí hợp lý khác do chậm trễ hoặc vi phạm khác Đây là các chi phí trực tiếp liên quan đến việc xử lý vi phạm.”
Điều 2-715(2) - Thiệt hại hệ quả: “Bao gồm:
(a) Bất kỳ tổn thất nào phát sinh từ yêu cầu chung hoặc đặc biệt của người mua mà người bán có lý do để biết tại thời điểm ký kết hợp đồng và mà người mua không thể ngăn chặn một cách hợp lý bằng cách mua hàng thay thế hoặc cách khác Điều này bao gồm lợi nhuận bị mất hoặc các tổn thất gián tiếp khác nếu người bán biết về nhu cầu cụ thể của người mua
Trang 10(b) Tổn hại đến người hoặc tài sản trực tiếp do bất kỳ vi phạm bảo hành nào gây ra, cho phép đòi bồi thường cho các thiệt hại liên quan đến an toàn.”
Từ đó, so sánh UCC và CISG có điểm giống nhau ở việc cả hai đều quy định chi phí bồi thường thiệt hại gồm cả khoản lợi nhuận bị mất, một khía cạnh quan trọng đối với người mua bị gián đoạn kinh doanh và đều phải có yếu tố dự đoán trước, đảm bảo thiệt hại không mang tính suy đoán mà phải liên quan đến những gì có thể dự đoán hợp lý tại thời điểm ký kết hợp đồng Tuy nhiên, UCC phân loại chi tiết thiệt hại phụ (thiệt hại phát sinh trực tiếp từ vi phạm) và thiệt hại hệ quả (thiệt hại phát sinh từ hậu quả của vi phạm), đồng thời có tính đến trường hợp thiệt hại về người do vi phạm bảo hành và cho phép đòi bồi thường cho các thiệt hại liên quan đến an toàn, trong khi CISG loại trừ loại thiệt hại này
Vậy nên, quy định của CISG, pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ tuy có nét tương đồng nhưng vẫn tồn tại khác biệt lớn phản ánh sự khác nhau giữa các môi trường nội địa và môi trường quốc tế Luật Thương mại 2005 không quy định mức bồi thường thiệt hại phải nằm trong giới hạn dự liệu của bên vi phạm, UCC cung cấp phân loại chi tiết với phạm vi bao gồm cả thiệt hại liên quan đến người, còn CISG có quy tắc tổng quát và loại trừ thiệt hại liên quan đến người Cách tiếp cận tổng quát của CISG nhằm đạt được sự thống nhất giữa các khu vực pháp lý, nhưng việc loại trừ thiệt hại liên quan đến người có thể làm phức tạp tranh chấp quốc tế đặc biệt trong các lĩnh vực có rủi ro cao về tiêu chuẩn an toàn lao động
2 Quan điểm của các chuyên gia
Câu hỏi đặt ra trong trường hợp này là chi phí pháp lý - một loại chi phí thường tồn tại và chiếm một phần đáng kể trong tổng số tiền mà mỗi bên phải trả khi có tranh chấp xảy ra, có được CISG coi là một phần của bồi thường thiệt hại hay không Thực
tế, sự không rõ ràng trong quy định về bồi thường thiệt hại tại Điều 74 Công ước đã dẫn đến nhiều tranh cãi giữa các chuyên gia, có thể kể đến ba quan điểm phổ biến như sau:
2.1 Quan điểm thứ nhất: Việc thu hồi chi phí pháp lý là một vấn đề nằm ngoài phạm vi của Công ước và cần được xử lý như một vấn đề của luật tố tụng
Tòa án Liên bang Hoa Kỳ đã viện dẫn phán quyết của Thẩm phán Posner trong
vụ tranh chấp Zapata Hermanos Sucesores, SA kiện Hearthside Baking Comp 8 để từ chối phần kiến nghị của Nguyên đơn liên quan đến 725.00 USD phí (bao gồm 400.00 USD phí nộp đơn, 225.00 USD tư vấn pháp lý liên quan đến khiếu nại của mình và
8 Zapata Hermanos Sucesores, S.A v Hearthside Baking Comp (19 November 2002), CISG-online 684
Trang 11100.00 USD cho chi phí quá trình tống đạt cho Bị đơn) Tòa án cho rằng đây là “tổn thất có thể lường trước được” theo CISG không bao gồm phí luật sư Nếu phí luật sư không thể thu hồi theo CISG, thì phí nộp đơn và các chi phí kiện tụng khác cũng phải như vậy
Tuy nhiên, trong một bài viết của tạp chí Inter - American Law Review (IALR)
thuộc Đại học Miami, David B Dixon đã lập luận rằng: “Bất kể các học giả là người ủng hộ hay phản đối ý kiến của Thẩm phán Posner, tất cả họ đều đồng ý về ba điều Thứ nhất, Thẩm phán Posner đã không tuân theo các quy tắc phân tích của Điều 7 CISG Mặc dù một số người ủng hộ tin rằng phí luật sư không được điều chỉnh bởi CISG, và những người phản đối tin rằng họ là như vậy, cả hai bên đều đồng ý rằng Thẩm phán Posner đã áp dụng sai các quy tắc của Điều 7 CISG Thứ hai, mặc dù có phần liên quan đến điều thứ nhất, cả hai bên đều đồng ý rằng Thẩm phán Posner đã bất cẩn khi không cố gắng phân tích nguyên tắc chung của CISG Nếu phí luật sư được điều chỉnh bởi CISG, thì có rất nhiều thẩm quyền để đề xuất nguyên tắc chung
về bồi thường đầy đủ sẽ được áp dụng, dẫn đến kết luận rằng phí luật sư nên được tính vào tổn thất Thứ ba, cả hai bên đều đồng ý rằng Thẩm phán Posner đã trích dẫn không đúng cách dành riêng cho các trường hợp của Hoa Kỳ và hoàn toàn phớt lờ án
lệ từ các thành viên khác của CISG.”
Từ đó, đặt ra một vấn đề rằng liệu phí và chi phí luật sư có thể được thu hồi theo Công ước hay không? Tòa phúc thẩm Hoa Kỳ cho khu vực thứ bảy cho rằng yêu cầu bồi thường phí và chi phí luật sư được điều chỉnh bởi luật tố tụng chứ không phải
do luật nội dung, tức là sẽ xét dựa trên các quy tắc của Hoa Kỳ chứ không được điều chỉnh bởi Công ước 9 Sau khi xác định rằng vấn đề được điều chỉnh bởi luật tố tụng thì Tòa án phúc thẩm yêu cầu mỗi bên tự chịu các khoản phí và chi phí của mình, gồm phí và chi phí luật sư Một số tòa án và nhà bình luận tin rằng việc thu hồi chi phí luật
sư là một vấn đề nằm ngoài phạm vi của các điều khoản về thiệt hại đáng kể của Công ước Như một vấn đề của luật tố tụng, việc thu hồi chi phí luật sư được xác định bằng cách tham khảo luật pháp các quốc gia hoặc các quy tắc hiện hành để giải quyết tranh chấp Nhiều nhà bình luận đã chỉ trích quyết định của Thẩm phán Posner Họ lập luận rằng, theo Điều 7.1 CISG thì Công ước phải được giải thích một cách tự chủ Do đó, các đặc điểm của pháp luật quốc gia là không phù hợp và việc sử dụng pháp luật quốc gia chỉ nên được thực hiện như một biện pháp cuối cùng 10
9 Zapata Hermanos Sucesores, S.A v Hearthside Baking Comp, tlđd [8]
10 John Y Gotanda, Georgetown Journal of International Law (2005), “Awarding damages under the United
Nations Convention on the international sale of goods: a matter of interpretation”