1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình hình thành và phát triển Đường lối Đổi mới xây dựng Đất nước của Đảng cộng sản việt nam thông qua Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ vi và lần thứ vii

31 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Đường Lối Đổi Mới Xây Dựng Đất Nước Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Thông Qua Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Vi Và Lần Thứ Vii
Tác giả Phạm Tiến Cường, Nguyễn Hữu Đan, Đỗ Thành Danh, Phạm Thị Trúc Đào, Nguyễn Thành Đạt, Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Tuấn Đạt, Nguyễn Văn Đoàn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Bài Tập
Năm xuất bản 2025
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 912,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI (6)
    • I. Hoàn cảnh lịch sử (6)
      • 1. Tình hình thế giới và những ảnh hưởng đối với Việt Nam (6)
        • 1.1. Tình hình thế giới (6)
        • 1.2. Những ảnh hưởng đối với Việt Nam (7)
      • 2. Tình hình Việt Nam (8)
    • II. Nội dung cơ bản và những đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (9)
      • 1. Về kinh tế (9)
      • 2. Về công nghiệp hóa (11)
      • 3. Về văn hóa (12)
      • 4. Về đối ngoại (12)
    • III. Các Hội nghị trung ương Đảng bổ sung phát triển đường lối đổi mới (14)
    • IV. Bài học kinh nghiệm (15)
  • CHƯƠNG 2: ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VII (18)
    • II. Nội dung cơ bản và những đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (22)
    • IV. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đất nước 1991 (26)
    • V. Bài học kinh nghiệm (28)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (30)

Nội dung

Về công nghiệp hóa Đại hội VI xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa được định nghĩa linh hoạt hơn, gắn với phát triển

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI

Hoàn cảnh lịch sử

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12 năm

Năm 1986, Việt Nam đối mặt với nhiều biến động lịch sử cả trong nước lẫn thế giới, tạo ra những thách thức lớn nhưng cũng mở ra cơ hội phát triển mới Để hiểu rõ hơn về sự kiện này, cần phân tích bối cảnh lịch sử toàn cầu và tác động của nó đến Việt Nam trước thời điểm 1986.

1 Tình hình thế giới và những ảnh hưởng đối với Việt Nam

Giữa thập niên 1980, quan hệ quốc tế chứng kiến sự chuyển biến phức tạp với xu thế hòa hoãn và hợp tác, thể hiện qua các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí hạt nhân giữa Liên Xô và Mỹ nhằm giảm căng thẳng Tuy nhiên, cuộc chạy đua vũ trang vẫn diễn ra gay gắt, với sự triển khai tên lửa SS-20 của Liên Xô tại Đông Âu và phản ứng của Mỹ bằng tên lửa Pershing II tại Tây Âu, tạo ra lo ngại về nguy cơ xung đột Trong bối cảnh đó, các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, đã tìm kiếm giải pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh xu thế hòa hoãn, thế giới đang chứng kiến khủng hoảng của mô hình xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là ở Liên Xô và các nước Đông Âu, nơi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến trì trệ và suy thoái kinh tế Tình trạng thiếu hụt hàng hóa, lạm phát và bất ổn xã hội gia tăng, với nhiều mặt hàng trở nên khan hiếm và thị trường chợ đen phát triển mạnh Sự bất mãn của người dân đối với chính phủ ngày càng lớn, dẫn đến các cuộc biểu tình và đình công ở nhiều nước Đông Âu, nổi bật là phong trào "Đoàn kết" ở Ba Lan do Lech Wałęsa lãnh đạo, biểu tượng của sự phản kháng chống lại chế độ cộng sản Trong khi đó, Trung Quốc đã nhận thức được sai lầm của mô hình kinh tế Liên Xô và tiến hành cải cách, mở cửa nền kinh tế từ năm 1978.

2 tạo ra những tiền lệ quan trọng cho các nước xã hội chủ nghĩa khác Năm 1985, Mikhail

Mikhail Gorbachev, nhà lãnh đạo Liên Xô, đã đưa ra các cải cách kinh tế cần thiết để cứu vãn tình hình đất nước, trong đó nổi bật là các chính sách “perestroika” (tái cơ cấu) và “glasnost” (công khai) Những chính sách này đã tạo ra những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế, mở đường cho sự hòa hoãn sâu rộng hơn trong nửa sau thập kỷ 80.

Cách mạng khoa học – công nghệ đã tạo ra những bước tiến vượt bậc, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và máy tính, với sự phổ biến của máy tính cá nhân tại các hộ gia đình và văn phòng Các công ty như IBM và Apple đã giới thiệu những sản phẩm mang tính cách mạng, làm thay đổi cách thức làm việc và giải trí Viễn thông cũng có những bước tiến quan trọng với sự phát triển của điện thoại di động và mạng lưới viễn thông, mặc dù còn cồng kềnh và đắt đỏ Công nghệ di động analog (1G) được triển khai, mở ra kỷ nguyên viễn thông di động Đồng thời, công nghệ sinh học và tự động hóa đạt được nhiều thành tựu, với tiến bộ trong kỹ thuật di truyền và việc sử dụng robot trong sản xuất, giúp tăng năng suất và giảm chi phí lao động Những thành tựu này đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng thời đặt ra những thách thức mới cho các quốc gia trong việc phát triển chiến lược phù hợp để tận dụng cơ hội và vượt qua khó khăn.

1.2 Những ảnh hưởng đối với Việt Nam

Bối cảnh quốc tế biến động đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam, tạo ra những thách thức lớn sau chiến tranh Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với nhiều hạn chế giống như các nước Đông Âu và Liên Xô, không còn phù hợp, dẫn đến tình trạng thiếu hụt hàng hóa, lạm phát cao và đời sống nhân dân khó khăn.

1 Quốc Khánh (2021), Những điều tồi tệ nhất do chính sách cải tổ của Gorbachev gây ra cho Liên Xô

Lệnh bao vây và cấm vận kinh tế từ các nước phương Tây đã làm gia tăng khó khăn, đẩy yêu cầu đổi mới toàn diện, đặc biệt là trong tư duy kinh tế, trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Việt Nam đang đối mặt với những thách thức kinh tế, chính trị và xã hội, đòi hỏi phải thay đổi chính sách đối ngoại để thích ứng với tình hình mới Xu thế hòa hoãn toàn cầu mở ra cơ hội cho Việt Nam tìm kiếm giải pháp hòa bình cho xung đột khu vực, đồng thời cần phá vỡ thế cô lập và nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế Những bất ổn xã hội tại Đông Âu là một lời cảnh báo về nguy cơ tiềm ẩn nếu Việt Nam không tiến hành đổi mới, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải củng cố và đổi mới hệ thống chính trị.

Cách mạng khoa học - công nghệ mang đến cơ hội và thách thức cho xã hội, yêu cầu Việt Nam tận dụng tiến bộ khoa học để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa đã làm giảm niềm tin của một bộ phận dân chúng vào chế độ, đòi hỏi sự đổi mới tư duy để đảm bảo ổn định tình hình.

Bối cảnh quốc tế đã tạo ra những áp lực và cơ hội cho Việt Nam, thúc đẩy Đảng và Nhà nước tiến hành đổi mới toàn diện, từ đó mở ra một giai đoạn phát triển mới cho đất nước.

Tình hình trong nước của Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức lớn, trên cả phương diện kinh tế, chính trị và xã hội

Kinh tế đất nước đang trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng do mô hình kế hoạch hóa tập trung với tính chất quan liêu và bao cấp, dẫn đến sự trì trệ và hiệu quả kém Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1977-1980 chỉ đạt trung bình 0,4%/năm, với những năm 1979 và 1980 ghi nhận sự giảm sút GDP lần lượt là 2% và 1,4% Điều này đã khiến GDP bình quân đầu người giảm 1,87%/năm, phản ánh rõ rệt sự yếu kém trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.

2 Dương Ngọc (2010), 3 lần khủng hoảng và 3 lần chuyển vị thế của Việt Nam

Nền kinh tế gặp nhiều khó khăn với năng suất thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, dẫn đến tình trạng thiếu hụt hàng hóa thiết yếu như lương thực, thực phẩm và quần áo Người dân phải xếp hàng dài để mua sắm, giống như thời kỳ bao cấp với tem phiếu và sổ gạo Lạm phát tăng phi mã, từ 300% năm 1985 lên hơn 774% năm 1986, cùng với các chính sách kinh tế không phù hợp và thiếu linh hoạt, đã làm trầm trọng thêm tình trạng trì trệ của nền kinh tế.

Chính trị Việt Nam hiện nay đối mặt với một bộ máy nhà nước cồng kềnh và quan liêu, dẫn đến hiệu quả kém và gây phiền hà cho người dân Tình trạng tham nhũng và lãng phí diễn ra phổ biến, khiến lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của Nhà nước giảm sút Ngoài ra, quan hệ đối ngoại của Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là với Trung Quốc sau sự kiện năm 1979, cùng với những trở ngại trong quan hệ với các nước phương Tây, tạo ra tình hình an ninh khu vực bất ổn.

Xã hội Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, với tỷ lệ thất nghiệp cao lên đến 12,7%, khiến GDP bình quân đầu người thấp Tệ nạn xã hội gia tăng, gây mất trật tự an toàn xã hội, tạo ra những diễn biến phức tạp Hơn nữa, hoạt động chống phá từ các tổ chức phản động đã làm suy giảm niềm tin của một bộ phận nhân dân vào chế độ Tình hình này đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới và cải cách toàn diện.

Nội dung cơ bản và những đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI

1 Về kinh tế Đại hội VI đã xác định nhiệm vụ tổng quát trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ là: Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý

Nhiệm vụ chính trong những năm tới là sản xuất đủ hàng hóa để tiêu dùng và tích lũy, đồng thời bắt đầu xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, với sự chú trọng đặc biệt đến các yếu tố quan trọng trong phát triển bền vững.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) đã phát hành Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, dành cho sinh viên đại học không chuyên lý luận chính trị Tài liệu này được xuất bản bởi Nxb Chính trị quốc gia sự thật tại Hà Nội, cung cấp kiến thức quan trọng về lịch sử và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh hiện đại.

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước Sự kiện này không chỉ thể hiện tầm nhìn lãnh đạo đổi mới mà còn ghi dấu ấn lịch sử sâu sắc trong quá trình phát triển của Việt Nam Các quyết sách và định hướng tại đại hội đã góp phần tạo ra những thay đổi tích cực trong nền kinh tế và xã hội, mở ra con đường phát triển bền vững cho đất nước.

5 trọng ba chương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu." 5

Đại hội V tập trung vào phát triển công nghiệp nặng và cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội nhưng thiếu sự gắn kết với thực tế, dẫn đến sản xuất lương thực không đủ đáp ứng nhu cầu trong nước Trong khi đó, Đại hội VI lần đầu tiên đề ra "ba chương trình kinh tế lớn" với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực, coi đây là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu Nghị quyết 10 (tháng 4/1988) của Bộ Chính trị, hay còn gọi là "Khoán 10", đã giao khoán sản phẩm cho hộ nông dân, giải phóng năng lực sản xuất nông nghiệp Người nông dân được giao đất ổn định trong 15 năm và hưởng ít nhất 40% sản lượng khoán, tạo động lực tăng sản lượng lương thực.

Phát triển sản xuất hàng tiêu dùng trong nước nhằm giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và nâng cao đời sống nhân dân là ưu tiên hàng đầu Đồng thời, tăng cường sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu để thu ngoại tệ và tạo nguồn vốn cho công nghiệp hóa cũng rất quan trọng Các mặt hàng chủ lực như nông sản, thủy sản và thủ công nghiệp cần được chú trọng phát triển Đặc biệt, khuyến khích sáng kiến từ người lao động và các đơn vị kinh tế sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc chỉ dựa vào kế hoạch từ trung ương.

Thứ hai, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Việc xóa bỏ cơ chế bao cấp và chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa đa thành phần là cần thiết Nền kinh tế sẽ được vận hành theo cơ chế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước Các doanh nghiệp nhà nước sẽ chuyển sang mô hình "kinh doanh xã hội chủ nghĩa", tự chủ về tài chính và cạnh tranh một cách lành mạnh với các thành phần kinh tế khác.

5 Trích dẫn - (Báo cáo Chính trị tại Đại hội VI, do đồng chí Trường Chinh trình bày ngày 15/12/1986)

6 Ông Kim Ngọc - “Cha đẻ của khoán 10”, người cán bộ tư duy táo bạo – Tiếng nói Việt Nam

Giải quyết vấn đề phân phối và lưu thông hàng hóa là cần thiết để giảm bội chi ngân sách, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả và cải thiện đời sống nhân dân Cần xóa bỏ các trạm kiểm soát hàng hóa nhằm mở rộng giao lưu hàng hóa giữa các vùng miền.

Thứ ba, công nhận nhiều thành phần kinh tế

Khác với đại hội V, nơi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được duy trì với sự kiểm soát toàn diện của Nhà nước đối với sản xuất, phân phối và lưu thông, đại hội VI đã thừa nhận sự tồn tại lâu dài của nhiều thành phần kinh tế Trong đại hội V, kinh tế quốc doanh và tập thể là thành phần duy nhất, trong khi các thành phần kinh tế tư nhân và cá thể bị hạn chế hoặc không được công nhận Đại hội VI mở ra cơ hội cho sự phát triển đa dạng của các thành phần kinh tế, bao gồm quốc doanh, tập thể, tư nhân, cá thể và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Kinh tế quốc doanh là trụ cột chính, trong khi các thành phần kinh tế khác được khuyến khích phát triển năng lực và đảm bảo bình đẳng về quyền lợi cũng như nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

2 Về công nghiệp hóa Đại hội VI xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa được định nghĩa linh hoạt hơn, gắn với phát triển kinh tế hàng hóa và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam

Để thực hiện công nghiệp hóa hiệu quả, cần thiết lập một lộ trình từng bước với mục tiêu "sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy" Điều này bao gồm việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, tập trung vào ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Đồng thời, cần chú trọng phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ song song với công nghiệp nặng, nhằm tích lũy vốn cho những giai đoạn tiếp theo, thay vì chỉ ưu tiên công nghiệp nặng như trước đây.

Giải phóng năng lực sản xuất và thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp và công nghiệp là cần thiết Phát triển kinh tế hàng hóa theo hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, tuy nhiên, cần thực hiện từng bước phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.

Mục tiêu dài hạn là xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó công nghiệp và nông nghiệp hỗ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho giai đoạn tiếp theo của quá trình công nghiệp hóa.

Đại hội V đã chú trọng xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa nhưng chưa đề cập rõ ràng đến cải cách trong giáo dục và đào tạo Ngược lại, Đại hội VI nhấn mạnh sự cần thiết phát triển đồng bộ văn hóa với kinh tế và chính trị, coi văn hóa là yếu tố quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội Đồng thời, cần phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và tiếp thu thành tựu văn hóa tiên tiến của thế giới để phát triển nền văn hóa đa dạng hơn.

Các Hội nghị trung ương Đảng bổ sung phát triển đường lối đổi mới

Hội nghị Trung ương lần thứ hai vào tháng 4/1987 đã đưa ra các phương hướng quan trọng nhằm giải quyết vấn đề lưu thông phân phối, tập trung giảm bội chi ngân sách và kiềm chế lạm phát, từ đó cải thiện đời sống nhân dân Đặc biệt, hội nghị nhấn mạnh việc xóa bỏ bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát huy vai trò của kinh tế quốc doanh và các thành phần kinh tế khác.

Hội nghị Trung ương lần thứ ba (Tháng 8/1987) BCHTW Đảng đã quyết nghị:

Chuyển đổi hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang mô hình kinh doanh xã hội chủ nghĩa là cần thiết để giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật và phát triển kinh tế hàng hóa Đồng thời, việc đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế cũng góp phần thực hiện "bốn giảm" và lập lại kỷ cương kinh tế - xã hội.

Hội nghị Trung ương lần thứ tư vào tháng 12/1987 đã xác định định hướng phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn 1988-1990, với mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội và thúc đẩy sản xuất hàng hóa Hội nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đặc biệt chú trọng vào ba chương trình kinh tế lớn, trong đó lương thực - thực phẩm là ưu tiên hàng đầu.

Hội nghị Trung ương lần thứ ba (Tháng 8/1987) BCHTW Đảng đã quyết nghị:

Chuyển đổi hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang mô hình kinh doanh xã hội chủ nghĩa là một bước quan trọng trong việc đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế Mục tiêu của việc cải cách cơ chế quản lý kinh tế là thúc đẩy khoa học - kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa.

Hội nghị Trung ương lần thứ tư vào tháng 12/1987 đã xác định định hướng phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn 1988-1990 Mục tiêu chính là ổn định tình hình kinh tế - xã hội, với điều kiện quyết định là phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất và chất lượng Trong đó, ba chương trình ưu tiên sẽ được triển khai để đạt được mục tiêu này.

10 trình kinh tế lớn, đặc biệt là lương thực - thực phẩm, nhằm ổn định kinh tế - xã hội, tạo nền tảng cho công nghiệp hóa

Hội nghị Trung ương lần thứ năm vào tháng 6/1988 đã thảo luận về công tác tư tưởng và xây dựng Đảng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao giác ngộ chính trị và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng Đồng thời, hội nghị cũng đề xuất giáo dục tư tưởng và mở rộng dân chủ trong Đảng, gắn liền với việc tăng cường kỷ luật.

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy vào tháng 8/1989 đã quyết nghị một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng, nhấn mạnh tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội (CNXH), nâng cao cảnh giác cách mạng, giáo dục lòng kiên trì với mục tiêu XHCN, củng cố đoàn kết trong Đảng và toàn xã hội, cũng như đấu tranh chống tiêu cực.

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy vào tháng 8/1989 đã đưa ra nhận định quan trọng về tình hình thế giới, xác định lập trường của Việt Nam trước các biến động quốc tế Tại hội nghị, BCHTW Đảng nhấn mạnh sự cần thiết phải cảnh giác và đấu tranh với các thế lực đối lập để bảo vệ con đường phát triển xã hội chủ nghĩa của đất nước.

Bài học kinh nghiệm

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt lịch sử quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước, từ đó rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Việc đổi mới tư duy toàn diện, đặc biệt là tư duy kinh tế, từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vô cùng quan trọng Để phát triển, cần dám đối mặt với sự thật, đánh giá đúng thực trạng và không ngại thay đổi, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của việc này trong quá trình phát triển kinh tế.

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định "lấy dân làm gốc" trong mọi chính sách phát triển, thể hiện sự tiếp nối truyền thống lịch sử dân tộc Qua thực tiễn, Đảng nhận thức sâu sắc hơn về bài học này, nhấn mạnh rằng sự nghiệp đổi mới bắt nguồn từ sáng kiến của quần chúng nhân dân, vì lợi ích của họ Đường lối phát triển phải phù hợp với mong muốn và lợi ích của nhân dân, từ đó được đồng tình ủng hộ Những quyết sách cần xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, tạo động lực cho sự phát triển bền vững.

Cần thiết phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội để đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội Kinh tế và xã hội không thể tách rời mà phải song hành nhằm phát triển toàn diện Đại hội mở đường cho Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các nước, đồng thời giữ vững độc lập và tự chủ Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự linh hoạt và chủ động trong hội nhập, nhằm tận dụng cơ hội phát triển đất nước.

Đảng cần đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực quản lý để đáp ứng yêu cầu thực tiễn Đại hội VI nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Sự đoàn kết và đồng lòng của nhân dân là yếu tố quyết định cho thành công của sự nghiệp đổi mới Trong quá trình cách mạng, cần phối hợp giữa các yếu tố dân tộc bản địa và quốc tế, cũng như giữa truyền thống lịch sử và thời đại Việc mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật với bên ngoài là cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện nghĩa vụ quốc tế với các nước bạn.

8 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI – Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam

Đại hội VI khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời linh hoạt trong cách thực hiện, kiên định chiến lược nhưng linh hoạt trong sách lược để phù hợp với thực tiễn Đây là một mốc son lịch sử, để lại bài học kinh nghiệm quý giá về đổi mới tư duy, tính thực tiễn và sự đồng thuận trong Đảng và nhân dân, tạo nên bước ngoặt cho Việt Nam Những bài học này không chỉ là di sản lịch sử mà còn là kim chỉ nam cho các thế hệ hiện tại và tương lai trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hướng tới phát triển bền vững và thịnh vượng.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VII

Nội dung cơ bản và những đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII

1 Về kinh tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá tình hình kinh tế đất nước trong bối cảnh vẫn còn nhiều khó khăn, khủng hoảng, đặc biệt là lạm phát cao, sản xuất đình trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều thách thức tuy nhiên đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được kìm chế bớt, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện

Mục tiêu chính của Đại hội là ổn định và phát triển kinh tế, khôi phục sản xuất, tạo việc làm, và cải thiện đời sống nhân dân Đại hội nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm kinh tế tập thể và tư nhân Đồng thời, Đại hội thúc đẩy cải cách kinh tế và xây dựng thể chế, chính sách phù hợp với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế Các quyết định được thông qua trong Đại hội nhằm cải cách cơ chế chính trị và phát triển nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn cầu.

13 Ban tuyên giáo và Dân vận Trung ương (2024), Đưa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Indonesia ngày càng đi vào chiều sâu

Việt Nam đang mở rộng quan hệ quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu thay đổi nhanh chóng sau chiến tranh lạnh Đại hội VII đã nhấn mạnh sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho phép các yếu tố thị trường và cạnh tranh tham gia mạnh mẽ vào quá trình phát triển Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, thúc đẩy sản xuất và gia tăng sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau.

2 Về công nghiệp hóa Đại hội VII nhấn mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ chiến lược, là yếu tố then chốt trong phát triển kinh tế đất nước Đại hội khẳng định rằng công nghiệp hóa sẽ giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang một nền kinh tế công nghiệp, hiện đại hơn Trong khi Đại hội VI chưa xác định rõ tầm quan trọng của công nghiệp hóa, thì Đại hội VII đã khẳng định đây là con đường tất yếu để phát triển đất nước, nâng cao năng suất lao động và tạo nền tảng vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Đại hội VII nhấn mạnh sự kết hợp giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao để đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa

Một trong những mục tiêu chính của Việt Nam là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Đại hội VII xác định công nghiệp là động lực quan trọng để phát triển, giảm phụ thuộc vào nông nghiệp và tạo ra các ngành nghề mới với giá trị gia tăng cao Sự kiện này đánh dấu bước chuyển từ lý thuyết sang thực tiễn trong công cuộc công nghiệp hóa và phát triển kinh tế, giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng lạc hậu và xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Đại hội VII không chỉ kế thừa quan điểm của Đại hội VI mà còn mở rộng và phát triển thêm những ý tưởng mới nhằm thúc đẩy sự đa dạng hóa văn hóa và bảo tồn các giá trị truyền thống.

Đại hội nhấn mạnh sự đa dạng hóa văn hóa và coi văn hóa là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nền tảng xã hội mới Trong bối cảnh đổi mới, cần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đồng thời tiếp thu những yếu tố văn hóa hiện đại để phù hợp với xu hướng phát triển quốc tế.

Văn hóa có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững Đại hội VII nhấn mạnh sự cần thiết cải cách giáo dục và khoa học như một phần thiết yếu trong phát triển văn hóa, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển hệ thống trường học Đồng thời, Đại hội VII tiếp tục phát triển các định hướng của Đại hội VI, mở cửa văn hóa, thúc đẩy sự đa dạng hóa văn hóa và hội nhập quốc tế, gắn kết văn hóa với phát triển kinh tế và xã hội.

4 Về đối ngoại Đại hội VII diễn ra trong bối cảnh thế giới hậu chiến tranh lạnh và Việt Nam bắt đầu mở cửa hơn với thế giới, thay đổi mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại Sau khi Liên

Sau khi Liên Xô tan rã, Việt Nam đã không còn phụ thuộc hoàn toàn vào các nước xã hội chủ nghĩa và đã mở rộng quan hệ với các quốc gia ngoài khối, đặc biệt là phương Tây và Đông Nam Á Đại hội VII đã xác định việc gia nhập ASEAN là một bước quan trọng trong chiến lược đối ngoại của Việt Nam, và vào năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, đánh dấu một bước ngoặt trong hội nhập khu vực Mối quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á trở thành trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, khác với Đại hội VI trước đó, khi chính sách chủ yếu tập trung vào duy trì quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa và các phong trào cách mạng, với ít sự mở cửa và hội nhập quốc tế Đại hội VII đã mở ra một kỷ nguyên mới trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Hội nhập quốc tế, mở cửa và đa dạng hóa quan hệ ngoại giao là 20 trọng tâm chính, trong đó đặc biệt chú trọng việc tăng cường quan hệ với các quốc gia ASEAN, phương Tây và Mỹ.

III Các Hội nghị trung ương Đảng bổ sung phát triển đường lối đổi mới trong nhiệm kỳ Đại hội VII

Hội nghị Trung ương lần thứ hai từ ngày 25/11 đến 4/12/1991 đã thảo luận về vấn đề kinh tế, xác định quan điểm và chủ trương thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, đồng thời xem xét việc sửa đổi Hiến pháp 1980.

Hội nghị Trung ương lần thứ năm (3 - 10/6/1993) đã tập trung thảo luận về chính sách đối với nông dân, nông nghiệp và nông thôn nhằm thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và bền vững cho nông nghiệp và nông thôn Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.

Trong nhiệm kỳ Đại hội VII (1991-1996), công nghiệp hóa được xác định là nhiệm vụ quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế theo hướng hiện đại hóa Mặc dù chưa có nghị quyết chuyên sâu về công nghiệp hóa, nhưng các hội nghị Trung ương đã thảo luận về những vấn đề cơ bản để đặt nền móng cho quá trình này.

Hội nghị Trung ương lần thứ hai (25/11 - 4/12/1991) nhấn mạnh việc tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, đặc biệt khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ phục vụ xuất khẩu Hội nghị cũng đề cập đến vai trò quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, đồng thời yêu cầu cải cách cơ chế quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đất nước 1991

Dựa trên nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ công cuộc đổi mới (1986), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991) đã xác định mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với 6 đặc trưng cơ bản.

1 Do nhân dân lao động làm chủ

2 Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

3 Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc

4 Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân

5 Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ

6 Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh năm

1991) đã tổng kết việc thực hiện Cương lĩnh năm 1930 và rút ra những bài học kinh nghiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng như sau:

Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học lớn trong tiến trình cách mạng Việt Nam, thể hiện bản chất sâu sắc của dân tộc trong bối cảnh hiện đại Độc lập dân tộc không chỉ là khát vọng cao cả của toàn dân mà còn là mục tiêu chiến lược của Đảng Tuy nhiên, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, nếu độc lập không đi kèm với quyền lợi cơ bản và cơ hội phát triển cho người dân, thì nó sẽ trở nên vô nghĩa Do đó, độc lập phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội để giải phóng triệt để giai cấp, xã hội và con người, mang lại tự do và hạnh phúc thật sự cho mọi người.

Cách mạng Việt Nam là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân thực hiện và vì lợi ích của nhân dân Lịch sử đã chứng minh rằng, sự tham gia và ủng hộ của nhân dân là yếu tố quyết định để giành độc lập và xây dựng, bảo vệ đất nước Nhân dân đóng vai trò chủ thể trong cách mạng, ảnh hưởng đến mọi chính sách và đường lối Do đó, Đảng cần duy trì mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và phản ánh nguyện vọng của họ, đồng thời phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong tất cả các lĩnh vực xã hội Đây không chỉ là nguyên tắc mà còn là yêu cầu thiết yếu để đảm bảo tính chính danh và sức mạnh bền vững của sự nghiệp cách mạng.

Ba là, đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, không ngừng củng cố và tăng cường đoàn kết trong Đảng, toàn dân, dân tộc và quốc tế Đoàn kết đóng vai trò quyết định trong mọi thắng lợi của cách mạng.

Đảng cần duy trì sự đoàn kết và thống nhất nội bộ để xây dựng một khối vững mạnh, đồng thời phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết nối mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt giai cấp hay tôn giáo Trong bối cảnh quốc tế hóa và toàn cầu hóa, Việt Nam cũng cần giữ vững tinh thần hợp tác với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là với những nước có mục tiêu tiến bộ, hòa bình và phát triển.

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là điều cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Sức mạnh dân tộc bao gồm truyền thống lịch sử, văn hóa, tinh thần yêu nước và ý chí tự cường, trong khi sức mạnh thời đại thể hiện qua khoa học công nghệ, tri thức mới và xu thế hợp tác toàn cầu Sự hài hòa giữa hai yếu tố này giúp Việt Nam tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức và phát triển bền vững.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là yếu tố quyết định bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trong mọi giai đoạn lịch sử, Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo duy nhất, dẫn dắt dân tộc Đảng thể hiện sự lãnh đạo qua việc đề ra đường lối chính trị phù hợp, tổ chức thực hiện hiệu quả và gắn bó mật thiết với nhân dân Để duy trì vai trò lãnh đạo, Đảng cần không ngừng tự đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh, uy tín trước nhân dân.

Cương lĩnh 1991 khẳng định vai trò quan trọng của Đảng trong quá trình chuyển tiếp lên chủ nghĩa xã hội và đề ra hướng đi cho đổi mới, chỉnh đốn Đảng Trong quá trình thực hiện, Đảng đã liên tục cải tiến tư duy, lý luận và phương thức lãnh đạo, kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tiễn Việc củng cố Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức đã nâng cao năng lực cầm quyền, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Bài học kinh nghiệm

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình đổi mới đất nước, mang đến nhiều bài học kinh nghiệm quý báu và có giá trị lâu dài.

Cần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới, kết hợp giữa sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược cách mạng với linh hoạt trong sách lược và nhạy bén nắm bắt cái mới Tư duy độc lập và sáng tạo là điều quan trọng trong việc xây dựng đường lối đổi mới phù hợp với đặc điểm tình hình của đất nước, nhằm đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân Để công cuộc đổi mới thành công và giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa, cần duy trì vai trò lãnh đạo xã hội trong suốt quá trình này.

Đại hội VII đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy lãnh đạo của Đảng, nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới toàn diện và đồng bộ, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và kinh tế Đảng nhận thức rằng cải cách mô hình phát triển kinh tế và mở cửa hội nhập quốc tế là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển bền vững của đất nước Cần tập trung vào đổi mới kinh tế để đáp ứng nhu cầu cấp bách của nhân dân về đời sống và việc làm, đồng thời xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Mặc dù chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhưng không thể chậm trễ trong việc đổi mới tổ chức bộ máy và cán bộ, cũng như mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, vì đây là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện dân chủ.

Để phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách hiệu quả, cần có sự lãnh đạo tốt và các bước đi vững chắc phù hợp với tình hình chính trị, xã hội Điều này đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân và khuyến khích sự tham gia tích cực của toàn dân trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đồng thời, việc lắng nghe và tôn trọng ý kiến đóng góp của người dân, đặc biệt trong việc xây dựng các chính sách mới, là vô cùng quan trọng để đưa ra những quyết sách đúng đắn hơn.

Ngày đăng: 04/04/2025, 22:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (2024), Đưa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Indonesia ngày càng đi vào chiều sâu, https://baocaovien.vn/tin-tuc/dua-quan-he-doi-tac-chien-luoc-viet-nam-indonesia-ngay-cang-di-vao-chieu-sau/123414.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Indonesia ngày càng đi vào chiều sâu
Tác giả: Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Năm: 2024
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (Dành cho các bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (Dành cho các bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2021
3. Dương Ngọc (2010), 3 lần khủng hoảng và 3 lần chuyển vị thế của Việt Nam, https://vneconomy.vn/3-lan-khung-hoang-va-3-lan-chuyen-vi-the-cua-viet-nam.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: 3 lần khủng hoảng và 3 lần chuyển vị thế của Việt Nam
Tác giả: Dương Ngọc
Nhà XB: VnEconomy
Năm: 2010
4. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI – Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vi/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vi-cua-dang-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam
5. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII – Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vii/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vii-cua-dang-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (n.d.), Các kỳ Hội nghị Trung ương Đảng khóa VI: Đổi mới toàn diện đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, https://daihoi13.dangcongsan.vn/cac-ky-dai-hoi/tu-dai-hoi-den-dai-hoi/cac-ky-hoi-nghi-trung-uong-dang-khoa-vi-doi-moi-toan-dien-dat-nuoc-vung-buoc-di-len-chu-nghia-xa-hoi-2228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỳ Hội nghị Trung ương Đảng khóa VI: Đổi mới toàn diện đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: n.d.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (n.d.), Các kỳ hội nghị Đại hội VII của Đảng: Đại hội của trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương, đoàn kết, https://daihoi13.dangcongsan.vn/cac-ky-dai-hoi/tu-dai-hoi-den-dai-hoi/cac-ky-hoi-nghi-dai-hoi-vii-cua-dang-dai-hoi-cua-tri-tue-doi-moi-dan-chu-ky-cuong-doan-ket-1953 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỳ hội nghị Đại hội VII của Đảng: Đại hội của trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương, đoàn kết
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: n.d.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. (n.d.), Cương lĩnh năm 1991 và những vấn đề cơ bản về Đảng xây dựng Đảng hiện nay, http://tapchiqptd.vn/vi/an-pham-tap-chi-in/cuong-linh-nam-1991-va-nhung-van-de-co-ban-ve-dang-xay-dung-dang-hien-nay/2989.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh năm 1991 và những vấn đề cơ bản về Đảng xây dựng Đảng hiện nay
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. (n.d.), Những bài học lớn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung phát triển, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-thieu-van-kien-dang/nhung-bai-hoc-lon-trong-cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-bo-sung-phat-trien-966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học lớn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung phát triển
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: n.d.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam. (n.d.), Về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội qua Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011 của Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-thieu-van-kien-dang/ve-cac-dac-trung-cua-chu-nghia-xa-hoi-qua-cuong-linh-1991-va-cuong-linh-2011-cua-dang-cong-san-viet-nam-865 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội qua Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh 2011 của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: n.d.
12. Nguyễn Văn Sáu, Các kỳ Đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ VI: Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, https://www.qdnd.vn/chinh- tri/tin-tuc/cac-ky-dai-hoi-cua-dang-va-nhung-dau-an-lich-su-dai-hoi-lan-thu-vi-khoi-xuong-va-lanh-dao-su-nghiep-doi-moi-dat-nuoc-813798 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỳ Đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ VI: Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước
Tác giả: Nguyễn Văn Sáu
13. Nguyễn Văn Sáu, Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ VII, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/cac-ky-dai-hoi-cua-dang-va-nhung-dau-an-lich-su-dai-hoi-lan-thu-vii-doi-moi-toan-dien-va-dong-bo-dua-cong-cuoc-doi-moi-di-vao-chieu-sau-813844 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ VII
Tác giả: Nguyễn Văn Sáu
14. Quốc Khánh (2021), Những điều tồi tệ nhất do chính sách cải tổ của Gorbachev gây ra cho Liên Xô, https://www.qdnd.vn/quoc-te/doi-song/nhung-dieu-toi-te-nhat-do-chinh-sach-cai-to-cua-gorbachev-gay-ra-cho-lien-xo-673318 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều tồi tệ nhất do chính sách cải tổ của Gorbachev gây ra cho Liên Xô
Tác giả: Quốc Khánh
Năm: 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w