Tác giả khóa luận đã triển khai các phần của khóa luận cũng như các chương, mục một cách khoa học, logic, phù hợp với mục đích, đối tượng nghiên cứu đã đề ra là tìm hiểu xu hướng dân
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
Giới thiệu chung về tập thơ
Văn học Nôm nửa sau thế kỉ XV phát triển mạnh mẽ, kế thừa thành tựu từ nửa đầu thế kỉ, đặc biệt là từ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Dưới triều đại Lê Thánh Tông, ông không chỉ sáng tác văn thơ Nôm mà còn khuyến khích triều thần tham gia, tạo nên một phong trào sáng tác sôi nổi Phong trào này đánh dấu bước tiến mới cho văn học Nôm, với những tác phẩm tiêu biểu như thập giới cô hồn quốc ngữ văn và tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập vẫn còn được gìn giữ đến ngày nay.
Hồng Đức quốc âm thi tập là một tác phẩm thơ Nôm lớn của thế kỷ XV, không có tên tác giả cụ thể, nhưng thực chất là tuyển tập của nhiều tác giả khác nhau Điều này thể hiện rõ qua các chùm thơ xướng họa và những bài thơ cùng chủ đề Chẳng hạn, trong phần Thiên địa môn, có bốn bài thơ Tết nguyên đán với cùng một vần, bao gồm Tết nguyên đán, Lại thơ tết nguyên đán, và Hoa vần bài vịnh tết nguyên đán Ngoài ra, sau các bài thơ về Tết, còn có mười hai bài vịnh cảnh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, với mỗi mùa có ba bài thơ riêng.
Hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng thuận rằng tác giả của tác phẩm "Hồng Đức quốc âm thi tập" là Lê Thánh Tông, cùng với sự đóng góp của hai mươi tám thành viên trong hội Tao Đàn (Tao Đàn nhị thập bát tú) mà ông đã sáng lập.
Văn học là một hiện tượng xã hội, do đó sự hình thành và phát triển của nền văn học, dòng văn học hay tác phẩm văn học luôn gắn liền với các tiền đề lịch sử, xã hội và văn hóa nhất định Hồng Đức quốc âm thi tập cũng không nằm ngoài quy luật này.
Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Lê Thái Tổ đã thiết lập một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, khác biệt hoàn toàn so với thời Trần Sự phát triển này được củng cố qua các triều đại Thái Tông, Nhân Tông và đặc biệt là Thánh Tông Đến nửa sau thế kỷ XV, nhà nước phong kiến thời Hậu Lê đã đạt đến đỉnh cao, trở thành quốc gia hùng mạnh nhất Đông Nam Á Thời kỳ này cũng là tiền đề quan trọng cho sự phục hưng văn hóa và văn học, đặc biệt là trong nửa sau thế kỷ XV.
Công cuộc phục hưng văn hóa thế kỷ XV bắt nguồn từ bối cảnh lịch sử đặc biệt của những năm đầu thế kỷ Thời kỳ này đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật và tri thức, khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong xã hội Phục hưng văn hóa thời Hậu không chỉ là sự trở lại của những giá trị cổ điển mà còn là bước tiến mới trong tư duy và sáng tạo của nhân loại.
Thời kỳ Lê chứng kiến sự phát triển đồng bộ của văn hóa vật chất và văn hóa giáo dục, với Nho giáo khuyến khích sự phát triển văn hóa và văn học Nho giáo thời Lê, đặc biệt dưới triều đại Lê Thánh Tông, không đối lập với giá trị văn hóa truyền thống mà hòa đồng và phát triển, làm phong phú văn hóa Đại Việt Xã hội thời Hồng Đức coi trọng đạo đức, tình nghĩa và tri thức, ưu đãi những người có học và khuyến khích sáng tác văn chương Môi trường xã hội này đã tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển của nền văn học rực rỡ, với những thành tựu nổi bật từ văn học thời Lý – Trần và sự phát triển của thơ Nôm Đường luật, đặc biệt dưới sự dẫn dắt của Lê Thánh Tông Hồng Đức quốc âm thi tập ra đời trong bối cảnh xã hội đầy sôi động đó.
Sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập chịu ảnh hưởng sâu sắc từ dòng văn học chữ Nôm trước đó, trở thành văn tự ghi tiếng nói dân tộc và phục vụ cho nhu cầu biên chép, sáng tác văn học Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, ra đời vào thế kỷ XV, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong văn học tiếng Việt, được công nhận và xây dựng bởi mọi tầng lớp xã hội Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” khẳng định tầm quan trọng của tác phẩm này trong văn chương chữ Nôm Quốc âm thi tập là cột mốc lớn trong sự phát triển của văn học tiếng Việt, tạo tiền đề cho Hồng Đức quốc âm thi tập, mở ra một “thời đại thơ Nôm” rực rỡ trong lịch sử văn học trung đại Sự hình thành của hội Tao Đàn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời của Hồng Đức quốc âm thi tập, được sáng tác chủ yếu trong khoảng thời gian từ 1470 đến 1497, trong bối cảnh đất nước hòa bình và thịnh vượng.
Thời Hồng Đức, không khí lạc quan và yêu đời trong tập thơ là điều đặc trưng Tác phẩm này tập hợp những sáng tác của các nhân sĩ, với tên gọi do người đời sau đặt, phù hợp với bối cảnh lịch sử của thời đại đó.
Toàn bộ tập thơ gồm 328 bài thơ, chia thành 5 phần:
Thiên địa môn gồm 59 bài vịnh về thời tiết, trời đất
Nhân đạo môn bao gồm 46 bài vịnh ca ngợi các nhân vật lịch sử và thể hiện đạo trung hiếu Trong khi đó, phong cảnh môn có 66 bài vịnh mô tả vẻ đẹp của thiên nhiên và các di tích lịch sử.
Phẩm vật môn gồm 69 bài vịnh cảnh vật nói chung như loài cây, loài vật, vật dụng…
Nhàn ngâm chư phẩm gồm 88 bài với đề tài phong phú, từ vịnh thiên nhiên đến vịnh nhân vật lịch sử
Hồng Đức quốc âm thi tập là một tác phẩm thơ tiếng Việt lớn, mang giá trị và ý nghĩa sâu sắc trong thời đại của nó Mặc dù tập thơ có xu hướng thiên về cung đình, ngâm hoa và vịnh nguyệt, nhưng không thể phủ nhận tình yêu thiên nhiên và lòng tự hào dân tộc mạnh mẽ mà tác phẩm này thể hiện.
Tập thơ này đánh dấu sự nâng tầm thơ Nôm lên vị trí thơ cung đình, ngang hàng với thơ chữ Hán tại Việt Nam Thơ Nôm không còn bị xem nhẹ mà được sáng tác bởi những thi nhân xuất sắc của thời kỳ, được gọi là nhị thập bát tú (28 ngôi sao thơ) trong Hội Tao Đàn, do chính nhà vua sáng lập và quản lý.
Thơ Nôm thời Hồng Đức đại diện cho một thời kỳ tự chủ rực rỡ, kế thừa từ thời kỳ oanh liệt của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, với Nguyễn Trãi là người dẫn dắt văn hóa Dòng thơ Nôm này sẽ được phát triển liên tục trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX, XX, giúp nền thi ca Việt Nam vươn lên tầm cao mới, thoát khỏi sự phụ thuộc vào tiếng Hán và hòa nhập vào dòng chảy của thơ ca nhân loại.
1.2.3 Hồng Đức quốc âm thi tập trong lịch sử phát triển của thơ Nôm Đường luật
Thế kỷ XV được xem là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của thơ Nôm Đường luật với sự ra đời của hai tập thơ quan trọng: Quốc âm thi tập ở nửa đầu thế kỷ và Hồng Đức quốc âm thi tập ở nửa cuối thế kỷ Hồng Đức quốc âm thi tập không chỉ kế thừa những giá trị của Quốc âm thi tập mà còn thể hiện sự tìm tòi, mở hướng mới cho thơ ca Tập thơ này tiếp tục phát huy nội dung dân tộc và phản ánh rõ nét các xu hướng xã hội hóa trong văn học thời bấy giờ.
Tập thơ này, với sự góp mặt của nhiều tác giả, phản ánh một cách rộng rãi các vấn đề xã hội So với các tác giả như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ Xuân Hương, xu hướng xã hội hóa dường như trở thành quy luật phát triển của thơ Nôm Đường luật.
MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA XU HƯỚNG DÂN TỘC HOÁ TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Hình ảnh thiên nhiên dân dã, bình dị
Thế kỷ XV được xem là thời kỳ phát triển rực rỡ của thơ Nôm Đường luật với sự ra đời của hai tập thơ lớn: Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập Trong đó, Nguyễn Trãi đã trở thành người tiên phong trong việc giải phóng thơ Đường luật, tạo dựng một phong cách thơ Việt Nam độc đáo Quốc âm thi tập không chỉ thể hiện sự thay đổi trong quan niệm thẩm mỹ mà còn đưa thiên nhiên bình dị vào thơ ca, phản ánh cảm hứng sáng tạo mới mẻ của tác giả Những hình ảnh gần gũi với cuộc sống đã trở thành biểu tượng của cái đẹp, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc đưa thơ ca gần gũi hơn với tâm hồn dân tộc.
Khảo sát tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập cho thấy thơ về làng quê dân dã được thể hiện rõ qua nhiều đề tài phong phú, bao gồm vịnh năm canh (10 bài), vịnh bốn mùa (12 bài), vịnh nắng mùa hè (4 bài), vịnh tứ thú (13 bài), vịnh thuyền người đánh cá (3 bài), và vịnh đồ vật, phẩm vật (15 bài) Những đề tài này chiếm khoảng 17% tổng số bài thơ trong tập Dựa trên đối tượng và nội dung phản ánh trong từng bài thơ, có thể phân loại bức tranh thôn quê một cách rõ ràng.
Tập thơ Hồng Đức quốc âm thi được chia thành hai tiểu loại chính: một là bức tranh thiên nhiên làng quê với vẻ đẹp giản dị và dân dã, hai là cuộc sống thôn dã với các hoạt động đồng áng, chài lưới Sự phân chia này chỉ mang tính tương đối, vì cảm hứng về thiên nhiên thường gắn liền với cuộc sống xã hội và con người Tập thơ còn chứa đựng những lời ca ngợi chế độ, vương triều, và những phẩm chất như “minh quân lương tướng”, “hiếu tử trung thần” theo tinh thần Nho giáo Cảm xúc của các thi nhân Hồng Đức hướng đến vẻ đẹp bình dị của cuộc sống thường nhật, thể hiện bản sắc dân tộc Việt Nam Điều này lý giải vì sao tập thơ, mặc dù mang tính khuôn mẫu, vẫn giữ được vị trí quan trọng trong dòng thơ tiếng Việt.
Bức tranh thiên nhiên trong Hồng Đức quốc âm thi tập thể hiện vẻ đẹp dân dã, bình dị qua các bài thơ vịnh về năm canh và bốn mùa Việc chọn lựa đề tài này là sự kế thừa từ thơ ca cổ điển, phản ánh sự biến chuyển của thời gian theo triết lý cổ phương Đông Mỗi bài thơ, dù mang tính điển phạm, vẫn có nội dung và hình thức riêng biệt, thể hiện tài năng của từng tác giả Chùm thơ vịnh Ngũ canh thi gồm 10 bài, mỗi bài là một chỉnh thể nghệ thuật độc lập, đồng thời tạo thành một “mắt xích liên hoàn” thể hiện thời gian vũ trụ Cảm nhận về thời gian trong thơ Hồng Đức rất tinh tế, với thời gian ẩn tàng trong sự vật và hiện tượng, phản ánh qua sự chuyển đổi của cảnh vật, từ đó tạo ra những bức tranh đặc sắc về làng quê Việt Nam.
Tấp tểnh trời vừa mọc đẩu tinh, Ban khi trống một mới thu canh Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc, Sườn núi chim gù ẩn lá xanh
Tuần điếm kìa ai khua mõ cá,
Dâng hương kẻ nọ nện chày kình
Nhà nam nhà bắc đều no mặt,
Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình
Bài thơ thể hiện niềm vui về cuộc sống thanh bình qua cảm nhận tinh tế về khung cảnh làng quê lúc chập tối, với âm thanh như tiếng trống thu canh, tiếng chim gù và tiếng chuông chùa Màu sắc của thiên nhiên được mô tả qua lá xanh và sương bạc, cùng với sự chuyển đổi của cảnh vật như trời mọc và khói tỏa Hoạt động của con người, như tuần điếm và dâng hương, cũng được khắc họa rõ nét Qua đó, dòng chảy thời gian và sự biến đổi của thiên nhiên đã được các nhà thơ tái hiện, thể hiện chất dân tộc và xu hướng dân tộc hóa trong bài thơ Nhờ vậy, người đọc có thể hình dung được không khí đời sống xã hội ở thôn quê nửa sau thế kỷ XV.
Chùm thơ vịnh ngũ canh thể hiện rõ nét bức tranh thiên nhiên thôn dã qua những cảm xúc sâu sắc Ví dụ, trong bài thơ “Canh hai,” hình ảnh “Đường quạnh nhà thôn cửa chặt cài - Cảnh vật chòm chòm bay lửa đóm ” gợi lên không gian sống động Bài “Canh tư” với câu thơ “Gió lay chồi ải khua chim thức - Nước rẫy trăng tà giục sóng đưa” mang đến cảm giác bình yên và tĩnh lặng của buổi sáng Ở “Canh năm,” hình ảnh “Tiếng gà sôi nổi, tiếng hàn châm” tạo nên âm hưởng của cuộc sống nông thôn Qua ngòi bút của các nhà thơ Hồng Đức, mỗi canh được khắc họa với sắc thái riêng, vừa tả thực vừa phản ánh xã hội, làm nổi bật vẻ đẹp giản dị của thiên nhiên và con người nơi thôn dã.
Bức tranh thiên nhiên giản dị và đẹp đẽ trong Hồng Đức quốc âm thi tập được thể hiện rõ nét qua cụm bài thơ vịnh nắng mùa hè Đặc biệt, ba bài thơ họa mang đến cảm xúc sâu lắng và hình ảnh thơ gợi nhớ đến hồn quê đất Việt, như hình ảnh đậu lá võ vàng và con bươm bướm, hay cây gầy guộc với cái ve ve.
Khắc khoải đã đau lòng cái cuốc, Băn khoăn thêm tức ngực con ve
Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi, Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè
Cuốc cuốc, cuốc hằng khua mõ cuốc,
Ve ve, ve lại gẩy cầm ve
Trong những câu thơ của Hồng Đức, hình ảnh con bướm “võ vàng” và con ve “gầy guộc” hiện lên sống động, cùng với âm thanh của tiếng ve và tiếng cuốc gọi hè gợi lên tâm trạng “băn khoăn”, “tức ngực”, “khắc khoải”, “đau lòng” của các loài vật Mùi nồng của bùn đồng ruộng và cái nắng chang chang của ngày hè được miêu tả qua hình tượng “đầu rô trỗi” và “lưỡi chó lè” rất thực, thể hiện rõ nét cái nắng đặc trưng của nông thôn Bắc - Trung Bộ Theo nhà thơ Xuân Diệu, những bài thơ vịnh mùa hè trong tập thơ của Hồng Đức có thể sánh ngang với bất kỳ tác phẩm nào của các thế kỷ sau.
Thơ Nôm của Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn là một trường thơ cung đình với quy tắc gò bó và chuẩn mực định sẵn, chủ yếu thiên về ngâm vịnh những đề tài công thức Tuy nhiên, từ trong khuôn khổ hạn chế đó, các thi sĩ đã nỗ lực vượt bậc để mang đến sự sống và cảm xúc thực vào ngôn ngữ, biến hóa hình tượng thơ trở nên bình dị và gần gũi hơn Sự đa dạng trong cách thể hiện nội dung qua các bài thơ cùng đề tài, như vịnh năm canh hay vịnh nắng ngày hè, chứng minh cho tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của các nhà thơ Hồng Đức, khi họ tìm kiếm một phong cách riêng, thoát khỏi sự khuôn thước và sáo mòn của thi luật.
Sự "bứt phá" trong Hồng Đức quốc âm thi tập thể hiện mối "xung đột" giữa khuôn mẫu đề tài và nội dung phản ánh, giữa cảm xúc của nhà thơ và tư tưởng chính thống của thời đại Điều này tạo ra sự hấp dẫn riêng, khi tính khuôn sáo và điển phạm của văn chương Nho giáo đối diện với xu hướng dân tộc hóa thể loại, góp phần khẳng định vị trí độc đáo của tác phẩm trong văn học.
2.2 Hình ảnh cuộc sống lao động với những con người thôn dã
Xu hướng dân tộc hóa thể loại trong Hồng Đức quốc âm thi tập thể hiện rõ qua bức tranh thôn quê với vẻ đẹp bình dị và gần gũi Bên cạnh thiên nhiên, cuộc sống thôn dã được khắc họa sinh động qua các hoạt động đồng áng, sông nước, và nghề chài lưới của người dân Đặc biệt, chùm thơ Tứ thú với 13 bài và vịnh Thuyền người đánh cá với 3 bài đã góp phần làm nổi bật bức tranh này.
Lựa chọn đề tài Tứ thú trong thơ Hồng Đức phản ánh thế giới quan Nho giáo về người bình dân, thể hiện sự tôn vinh những giá trị văn hóa và tinh thần của nhân dân Hình tượng những con người trong tác phẩm không chỉ mang tính biểu tượng mà còn thể hiện sâu sắc tâm tư, tình cảm của họ trong bối cảnh xã hội.
Trong nhiều trường hợp, hình ảnh của người bình dân được khắc họa qua những khuôn mẫu nghệ thuật có sẵn, như trong các bài thơ về Ngư, Tiều, Canh và Mục Những câu thơ này gợi lên cảm giác rằng họ không chỉ lao động để sinh tồn mà còn để thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên Hình ảnh người bình dân xuất hiện trong tư thế ung dung, thư thái, khác hẳn với sự vất vả mà họ thường trải qua trong cuộc sống hàng ngày.
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
Mặc dù không thể phủ nhận xu hướng dân tộc hóa trong thể loại này, nhưng bên cạnh những "con người công thức", hình ảnh người bình dân cũng được khắc họa một cách ấn tượng và chân thực, phản ánh rõ nét cuộc sống đời thường.
Chẳng hạn, là hình ảnh người kiếm cá:
Manh áo quàng, mang lụp xụp
Quai chèo xách, đứng lom khom
Nửa tấm áo tơi che lủn củn
Một cần câu trúc uốn khom khom
Có thuở xa trông vầng ác xế
Dé chân nheo nhéo đứng đầu mom
( Bài xướng ) Đầu non đã tạnh khói còn om
Mấy gã tiều phu đã sớm nom
Tấc đất, tấc vàng yêu bấy tá
Mồ hôi dồn dõi thuở đầu mom
Có thuở nông nhàn khi việc giãn Đèo heo hóng mát ở ngoài mom
Mũi nghé lui chân đứng nhảy
U trâu vịn cật ngồi khom
Bạn xúm nội bằng cười khặc khặc
Trâu về ngõ hẹp cưỡi khom khom
Đề tài Tứ thú của các tác gia Hồng Đức thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc Nho giáo và nội dung dân tộc trong nghệ thuật miêu tả Những hình ảnh ước lệ gắn liền với cuộc sống đời thường, như nửa bó yên hà mang đủng đỉnh hay đồi bên phong nguyệt quảy khom khom, cho thấy sự tinh tế trong cách thể hiện Các tác phẩm như Họa bài người hái củi và những hình ảnh như Đồi Vũ tắm mưa tai nhấp nhấp, Nội Châu cuốc nguyệt cật khom khom đều phản ánh sâu sắc cuộc sống và tâm tư của con người.
Hình ảnh cuộc sống lao động với những con người thôn dã
MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA XU HƯỚNG DÂN TỘC HOÁ TRÊN
PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT
Ngôn ngữ dân tộc bao gồm các lớp từ thuần Việt, từ việc hả, cùng với ngôn ngữ văn học dân gian như ca dao, tục ngữ và thành ngữ Việc xác định nội hàm các khái niệm này là nhiệm vụ của các nhà ngôn ngữ học và những người nghiên cứu văn học dân gian Chúng tôi không đi sâu vào vấn đề này, mà chỉ kế thừa thành tựu nghiên cứu từ các lĩnh vực chuyên ngành ngôn ngữ học khi sử dụng các khái niệm trên.
Hồng Đức quốc âm thi tập, giống như nhiều tác phẩm thơ Nôm Đường luật thời trung đại, bao gồm hai bộ phận ngôn ngữ chính: ngôn ngữ Hán học và ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ Hán học chứa đựng đặc trưng của thơ Đường luật, trong khi ngôn ngữ dân tộc mang lại sự khác biệt giữa Đường luật Nôm và Đường luật Hán, đồng thời góp phần hình thành phong cách nghệ thuật của thời đại và tác giả Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung vào ngôn ngữ dân tộc để làm nổi bật tinh thần dân tộc trong Hồng Đức quốc âm thi tập.
Hồng Đức quốc âm thi tập sử dụng khá nhiều từ Việt Theo Trần Quang
Trong cuốn Hồng Đức quốc âm thi tập, trong số 202 bài thơ Nôm với tổng cộng 10.979 chữ, đã có 10.144 từ Việt xuất hiện, chiếm tỷ lệ 92,3% Điều này cho thấy sự phong phú và sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ Việt trong tiến trình thơ Nôm Đường luật.
Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, bên cạnh các yếu tố ngôn ngữ ngoại nhập như từ Hán Việt, điển tích và thi liệu Hán học, còn tồn tại một phần ngôn ngữ dân tộc phong phú Điều này bao gồm từ thuần Việt, ngôn ngữ văn học dân gian và các thành phần ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày Sự sáng tạo và giá trị nghệ thuật trong việc sử dụng ngôn ngữ đời sống của các tác giả Hồng Đức đã tạo nên một diện mạo độc đáo cho tác phẩm.
MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA XU HƯỚNG DÂN TỘC HOÁ TRÊN PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT
Ngôn ngữ
Ngôn ngữ dân tộc bao gồm các lớp từ thuần Việt, từ việc hả, cùng với ngôn ngữ văn học dân gian như ca dao, tục ngữ và thành ngữ Việc xác định nội hàm của các khái niệm này là nhiệm vụ của các nhà ngôn ngữ học và những người nghiên cứu văn học dân gian Chúng tôi không bàn luận sâu về vấn đề này, mà chỉ kế thừa các thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ học khi sử dụng các khái niệm.
Hồng Đức quốc âm thi tập, giống như nhiều tác phẩm thơ Nôm Đường luật thời trung đại, có hệ thống ngôn ngữ bao gồm hai phần: ngôn ngữ Hán học và ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ Hán học mang đặc trưng của thơ Đường luật, trong khi ngôn ngữ dân tộc tạo nên sự khác biệt giữa Đường luật Nôm và Đường luật Hán, góp phần hình thành phong cách của thời đại và tác giả Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi sẽ tập trung vào ngôn ngữ dân tộc để làm nổi bật tinh thần dân tộc trong Hồng Đức quốc âm thi tập.
Hồng Đức quốc âm thi tập sử dụng khá nhiều từ Việt Theo Trần Quang
Trong cuốn Hồng Đức quốc âm thi tập, thơ Nôm Đường luật đã thể hiện sự phong phú với 202 bài thơ, tổng cộng 10.979 chữ Đặc biệt, trong số đó có đến 10.144 từ Việt, chiếm tỷ lệ cao tới 92,3%.
Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ ngoại nhập như từ Hán Việt và thi liệu Hán học, còn có sự hiện diện của ngôn ngữ dân tộc với từ thuần Việt và ngôn ngữ văn học dân gian Sự sáng tạo và giá trị nghệ thuật trong việc sử dụng ngôn ngữ đời sống của các tác giả Hồng Đức đã tạo nên diện mạo riêng cho thơ Đường luật Nôm, đồng thời mở ra tiền đề cho sự phát triển mới của ngôn ngữ này trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ Xuân Hương.
Tú Xương, Nguyễn Khuyến sau này
Việc sử dụng tiếng Việt trong Hồng Đức quốc âm thi tập có lúc còn vụng về nhưng đôi khi cũng đạt tới mức tinh xảo:
Người thơ, khách rượu rộn mời khuyên
(Lại vịnh cảnh mùa xuân)
Chưa nói cái hay của những từ Việt trong câu thơ, chỉ cần lấy hai chữ
“người thơ” cũng đủ thấy tài thơ của tác giả Việc sử dụng “người thơ” thay cho
“thi nhân” dã khiến cho câu thơ vượt ra ngoài sự khuôn sáo, lột bỏ sự cũ mòn, mang dáng vẻ hiện đại
Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, lớp từ Việt được sử dụng để gọi tên và miêu tả các sự việc, hiện tượng trong cuộc sống đời thường, gần gũi với dân dã như cối xay, cây đánh đu, chim cuốc, áo tơi Những từ ngữ này không chỉ phản ánh đời sống mà còn thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc.
Chực hăm hăm khi gác sớm,
Chầu chăm chắm thuở canh thôi
Bao nhiêu mắm muối đã thu hết,
Một bữa nào quên nghĩa chúa tôi
Có khi nó lại được sử dụng để biểu đạt mối quan hệ gia đình, bạn bè như:
Tôi gìn ngay phù dập chúa,
Con lấy thảo kình thờ cha
Anh em chở lời hơn thiệt,
Bầu bạn ở nết thật thà
Nghĩa đạo vợ chồng xem rất trọng,
Làm giàu phong hóa phép chưng nhà
Gốc đạo lí của dân tộc ta là trọng tình nghĩa, thể hiện qua các mối quan hệ như vua tôi, chồng vợ, cha con, anh em Sự xuất hiện phổ biến của lớp từ Việt, đặc biệt là từ ngữ biểu thị mối quan hệ gia đình và bạn bè, giúp nội dung triết lí trong bài thơ trở nên gần gũi, tránh xa lối thuyết giảng trừu tượng, khô khan, mà chuyển thành những lời khuyên bảo chân thành.
Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, từ vựng có sự giảm dần hoặc biến mất lớp từ Việt cổ so với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Nhiều từ láy như liệt lạt, lăng căng, vả vê, xuế xóa không còn xuất hiện trong Hồng Đức quốc âm thi tập Hiện tượng này phản ánh quá trình lựa chọn ngôn ngữ của các tác giả Hồng Đức nhằm nâng cao hiệu quả biểu đạt cảm xúc, đồng thời làm cho ngôn ngữ dân tộc trở nên trong sáng, giản dị và dễ hiểu hơn.
Hồng Đức quốc âm thi tập nổi bật với việc sử dụng từ ngữ điêu luyện, đặc biệt là từ láy - một đặc trưng của ngôn ngữ Việt Nam Từ láy không chỉ thể hiện tính dân tộc mà còn làm tăng cường "chất dân tộc" trong các tác phẩm văn học Các tác giả thời Hồng Đức đã kế thừa và phát huy truyền thống này, với Hồng Đức quốc âm thi tập đứng đầu trong việc sử dụng từ láy Theo Trần Quang Dũng, tập thơ có 558 từ láy, với tỷ lệ 26,6%, cho thấy vai trò quan trọng của lớp từ này trong giá trị của tác phẩm Nhiều bài thơ được sáng tác chủ yếu bằng từ láy, chứng tỏ sự tìm tòi và khám phá của tác giả.
Lê Thánh Tông và các văn nhân thời Hồng Đức đã đóng góp quan trọng trong việc khôi phục ngôn ngữ dân tộc, tạo ra một nền tảng ngôn ngữ sáng tạo và thuần khiết, không có tác phẩm Nôm nào sánh kịp Sự phát triển này đã mở đường cho ngôn ngữ thơ Nôm trở nên tinh tế hơn, như chúng ta thấy trong các tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Tú Xương và Nguyễn Khuyến sau này.
Lớp từ Việt trong ngôn ngữ thơ mang đậm tính dân tộc, trong khi từ láy tạo ra “chất Việt” sâu sắc trong cảm xúc và tư duy trực cảm Điều này giúp nhà thơ diễn tả vẻ đẹp tươi nguyên của cảnh vật và sự tinh tế trong cảm xúc, đồng thời phản ánh sự chuyển biến của thời khắc và tạo vật Tính chất cung đình và điển nhã dần bị mờ nhạt, nhường chỗ cho những sự vật gần gũi, phong phú trong cảm hứng ngâm vịnh, thể hiện đa dạng và sâu sắc trong cảm nhận về hiện thực, như hình ảnh "Đường hoa chấp chới tin ong dạo."
Dặm liễu thung thăng sứ điệp truyền
(Lại vịnh cảnh mùa xuân)
Bẻo lẻo câu thơ cũ rích,
Hê ha chén rượu hăng sì
Trong tập thơ này, nổi bật có những bài được sáng tác chủ yếu dựa vào từ láy, chẳng hạn như bài "Ngư giang hiểu vọng" và bài "Họa vần bài vịnh trăng" Cả hai bài thơ đều có 32 chữ là từ láy, chiếm tỉ lệ 32 trên tổng số 54 chữ của toàn bài.
Sông lồng lộng, nước mênh mênh,
Lườn lượn chèo qua nép nép mình
Gió hiu hiu, thuyền bé bé,
Mưa phún phún, nón kềnh kềnh
Chuông chiều mỗi mỗi cong cong gióng,
Mõ xã lâu lâu cốc cốc lềnh
Bến liễu đâu đâu tìm mộng mộng, Đường về than thán nguyệt chênh chênh
Bài thơ nổi bật với luật thơ, niêm, đối rất chỉnh, chỉ có sự phá cách ở câu ba và bốn Đặc sắc của tác phẩm nằm ở việc sử dụng từ láy, với mỗi sự vật được mô tả bằng một từ láy chính xác, thể hiện trạng thái của chúng Sự kết hợp liên tiếp của các cặp từ láy tạo nên nhịp điệu vang chênh lệch, trầm bổng và ấn tượng Bài thơ mang đến một giọng điệu riêng, tự nhiên siêu thoát, mở ra những tâm tư sâu lắng của tác giả, đồng thời làm mờ nhạt tiếng nói cộng đồng của hội Tao Đàn.
Đóng góp của thi nhân thời Hồng Đức không chỉ nằm ở việc sử dụng thành công từ láy mà còn ở nỗ lực sáng tạo ra nhiều từ láy mới, như kiểu láy ba “tính tính tinh” và “tới tới tơi” Sự sáng tạo này đã làm cho Hồng Đức quốc âm thi tập mang đậm phong vị dân tộc, mặc dù đôi khi còn thể hiện sự cầu kỳ, bác nhã Nhờ vào việc sử dụng từ láy, tính chất khuôn sáo của những điển cố và thi liệu Hán học trong tác phẩm đã phần nào được hạn chế Điều này cho thấy việc sử dụng và sáng tạo từ láy là một đóng góp lớn của Hồng Đức quốc âm thi tập đối với sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc và thơ Nôm Đường luật.
Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, ngôn ngữ dân tộc đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là thành phần ngôn ngữ văn học dân gian, góp phần tạo nên tính dân tộc cho tác phẩm thơ ca này.
Lời ăn tiếng nói, tâm tư tình cảm của nhân dân được thể hiện qua tục ngữ, thành ngữ và ca dao đã đóng góp lớn cho sự phát triển của văn học Việt Nam trong quá khứ Lê Thánh Tông cùng các văn nhân thời ông rất coi trọng nguồn ngữ liệu quý giá này Mặc dù tỷ lệ sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ chỉ khoảng 1 câu trên 430 câu, nhưng các nhà thơ đã vận dụng rất linh hoạt Trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, thành ngữ và tục ngữ được sử dụng nhờ đặc điểm ngắn gọn, cân đối và hàm súc của chúng Những thành ngữ, tục ngữ này không chỉ ảnh hưởng đến văn học nói chung mà còn đặc biệt trong thơ Nôm Đường luật, giúp tác giả tạo ra hình ảnh so sánh sinh động, tăng sức gợi cảm cho tác phẩm.
Song mai nguyệt tỏ thanh bằng nước
(Vịnh cảnh mùa đông – bài 11)
Quân thần hai gánh nặng bằng non
(Vương Tường tạ mẫu – bài 46) Đường bôn tẩu nhẹ bằng lông
Hình thức kết cấu bài thơ Đường Luật
3.2.1 Sử dụng câu thơ sáu chữ
Tác giả của tập thơ Hồng Đức Quốc âm thi tập tiếp tục phát triển xu hướng phá cách của Nguyễn Trãi, thể hiện rõ nét qua sự xuất hiện của thể thơ sáu chữ Thể thơ lục ngôn, được sáng tạo dựa trên câu thơ thất ngôn luật đường của Trung Quốc, đóng vai trò quan trọng trong thi pháp Việt Nam, góp phần xây dựng nền tảng cho thơ ca Việt Nam Tỷ lệ câu thơ sáu chữ trong Hồng Đức Quốc âm thi tập chiếm một phần không nhỏ, thể hiện sự đổi mới trong sáng tác thơ ca.
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, theo Nguyễn Phạm Hùng, bao gồm 128 bài thơ thất ngôn và lục ngôn, trong đó có một số lượng đáng kể các câu lục ngôn.
Tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập có tỷ lệ bài thất ngôn xen lục ngôn đạt 39% và tỷ lệ câu lục ngôn là 11% Đặc biệt, bài thơ Chùa Non Nước là một minh chứng tiêu biểu cho sự xuất hiện của thể thơ toàn lục ngôn trong tập thơ này.
Nơi gọi bồng, nơi gọi nhược, Hai bên góp làm non nước Đá chồng hòn thấp, hòn cao, Sóng trục lớp sau lớp trước
Phật hư vô, cảnh thiếu thừa,
Khách danh lợi buồm xuôi ngược
Vẳng nghe trên gác boong boong, Lẩn thẩn dưới chùa lần bước
Ngoài ra còn có nhiều bài thơ thất ngôn xen lục ngôn:
Lầu ngọc cao hòa thế giới, Mày ngài rạng khắp sơn hà
Năm hồ những lấy làm song viết, Bốn bể đều nhìn thấy nết na
Thể thơ thất ngôn chen lục ngôn là kết quả của sự sáng tạo của các nhà thơ, nhằm kết hợp hai thể loại thất ngôn và lục ngôn trong thơ ca Trung Quốc Việc hình thành thể thơ này thể hiện xu hướng thoát khỏi cấu trúc cứng nhắc của luật Đường, đồng thời hướng tới một hình thức dân tộc trong bối cảnh các thể thơ dân tộc chưa được khai thác trong văn học viết.
Số câu thơ lục ngôn và số chữ trong các bài thất ngôn xen lục ngôn không cố định, điều này tạo ra sự linh hoạt trong nhịp thơ, cho phép phá vỡ cấu trúc cũ và hình thành kết cấu mới, mang lại sự tự do cho bài thơ Đặc biệt, các tác giả trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, phần lớn là hội viên hội Tao Đàn, mặc dù rất am hiểu thi luật, vẫn có xu hướng sáng tác thơ Nôm theo cách phá cách.
Có thể thấy thơ thất ngôn xen lục ngôn được sáng tác khá thành thục:
Sơn thủy so xem chốn hữu tình, Chừng đây mừng thấy lạ hòa thanh
Dăng ngang biển chờn vờn lớn, Cao chọc trời ngần ngật xanh
Muôn kiếp chầu về đền bắc cực, Ngàn thu chống khỏe cõi nam minh…
Hình tượng trung tâm của bài thơ được thể hiện qua các câu lục ngôn ngắn gọn, với nhịp điệu nhanh, làm nổi bật rõ nét ý nghĩa và cảm xúc của tác phẩm.
Câu lục ngôn ở phần bình luận (luận):
Ngỡ thú vui là thú ở đâu,
Chẳng ngờ vui ở chốn chăng âu
Chớ tham chợ dức nên rừng vắng,
Còn lụy trường ca biến bể sâu
Chim hỏi lồng nên đắc thú,
Cây ngoài chậu mới tươi màu
Hình ảnh cây ngoài chậu và chim khỏi lồng trong bài thơ biểu trưng cho triết lý sống tự do, phóng khoáng, không bị ràng buộc bởi danh lợi Câu lục ngôn được sử dụng nhằm nhấn mạnh điểm nhấn quan trọng này.
Sự vận dụng thể lục ngôn trong các bài thơ Nôm luật Đường xuất phát từ yêu cầu nghệ thuật, cho thấy tầm quan trọng của hình thức trong việc thể hiện nội dung và cảm xúc của tác giả.
3.2.2 Ngắt nhịp 3/4 với câu thơ 7 chữ
Trong xu hướng dân tộc hóa thể loại thơ, một hiện tượng đáng chú ý là sự xuất hiện của những câu thơ Đường luật với tiết tấu hai câu bảy chữ trong thể thơ song thất lục bát Bài thơ "Họa vần bài vinh trăng" - bài 7, là một ví dụ điển hình với cách ngắt nhịp 3/4, thể hiện sự giao thoa giữa các hình thức thơ truyền thống và hiện đại.
Người nhớ vua/ nhìn sa đũa ngọc
Kẻ trông chồng/ ngẫm ruổi mây xanh
(Họa vần bài vịnh trăng – bài 7)
Cách ngắt nhịp 3/4 trong thơ Nôm bảy chữ cho thấy nhiều câu thơ không tuân theo tiết tấu của thơ Đường luật Trung Quốc Đặc biệt, ngắt nhịp trong câu thơ lục ngôn rất đa dạng với sáu cách khác nhau: 2/2/2, 4/2, 2/4, 1/3/2, 3/3, và 1/2/3 Sự phong phú này tạo ra nhiều kiểu câu khác nhau, làm cho tập thơ Nôm trở nên đa dạng hơn so với kiểu câu của thất ngôn luật Đường.
Ngàn tương / thuở rụng hạt mưa,
Lã chã / thâu đêm gió đưa
Chút tiếng vàng / cao lại thấp,
Rung cành ngọc / nhặt thì thưa…
Cặp câu lục mở đầu bài thơ khắc họa khung cảnh mưa đêm, với nhịp 2/4 tạo cảm giác dàn trải, mở rộng không gian Tuy nhiên, khi miêu tả âm thanh của mưa, nhịp thơ chuyển sang 3/3, mang lại sự nhanh chóng và mạnh mẽ, tạo ấn tượng sâu sắc về tiếng mưa rơi.
Bài thơ Tự dật thể hiện sự biến hóa của cảm xúc qua nhịp điệu các cặp câu lục ngôn, phản ánh tư tưởng hoài nghi về công danh và phú quý Tác giả chủ trương tìm về cuộc sống thanh nhàn, với hai câu đầu mang nhịp 3/3, tạo nên sự hòa quyện giữa tâm trạng và hình thức.
Không như có / có như không, Miễn qua hạ / miễn lọn đông
Hơi thở mạnh mẽ và nhanh chóng thể hiện sự khẳng định về một quan niệm triết lý sâu sắc đối với cuộc sống Hai câu thơ tiếp theo được viết với nhịp điệu 2/4, tạo nên sự nhấn mạnh cho thông điệp này.
Phú quý / cần câu nghiêm tử, Công danh / con ngựa Tái ông
Mạch thơ bị ngắt chậm lại do sự phân bố chữ ở nhịp sau dài hơn, làm cho ý thơ ngưng đọng lại
Hồng Đức quốc âm thi tập đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của văn học dân tộc và văn học tiếng Việt Tác phẩm này không chỉ kế thừa thành tựu nghệ thuật từ Quốc âm thi tập mà còn mở ra hướng đi mới cho thơ Nôm Đường luật trong các giai đoạn tiếp theo Nội dung tác phẩm tiếp tục những chủ đề dân tộc đã có và mở rộng sang các nội dung Nho giáo, khẳng định sự tôn vinh triều đại phong kiến Tập thơ mang âm hưởng lạc quan, ca ngợi dân tộc và thời đại Đặc biệt, xu hướng xã hội hóa trong nội dung của Hồng Đức quốc âm thi tập thể hiện rõ nét, với phạm vi phản ánh các vấn đề xã hội được mở rộng hơn nhờ sự đóng góp của nhiều tác giả So với các tác giả sau này như Nguyễn Binh Khiêm và Hồ Xuân Hương, xu hướng xã hội hóa dường như trở thành quy luật phát triển của thơ Nôm Đường luật.
Hồng Đức quốc âm thi tập đã đạt được những thành công đáng kể về ngôn ngữ và thể loại, thể hiện qua sự phong phú và đa dạng của tiếng Việt trong thơ ca thời kỳ này Mặc dù còn có phần mộc mạc, nhưng chữ Nôm đã khẳng định vị trí quan trọng trong văn học, có khả năng phản ánh sâu sắc đời sống tình cảm và hiện thực xã hội Tác phẩm này tiếp tục thúc đẩy xu hướng dân tộc hóa, giúp Đường luật Nôm trở thành một thể loại văn học mang đậm bản sắc dân tộc.