1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Lịch sử Việt Nam: Lịch sử phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954

155 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954
Tác giả Dương Thị Thu
Người hướng dẫn TS. Ngụ Chơn Tuệ
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 51,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Băng chứng là trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và dé quốc Mĩ quân và dân tinh Bạc Liêu đã nôi dậy giành được chính quyền cách mang nhanh chóng mà không đô máu dé bao vệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG ĐẠI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG ĐẠI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LICH SU VIỆT NAM

HƯỚNG DAN KHOA HỌC: TS NGÔ CHON TUE

Thành phố Hồ Chí Minh - 2024

Trang 3

LỜI CẢM ƠN!

Đề hoàn thành được luận văn của mình Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chânthành nhất tới TS Ngô Chơn Tuệ - người thầy hướng dẫn khoa học đã tận tâm, nhiệttinh, chỉ bảo hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thành luận văn!

Tôi cũng xin bảy tỏ lòng biết ơn tới Quý thây cô trong Khoa Lịch sử Trường Đại

học Sư phạm Thành phó Hồ Chí Minh, các đồng chí đang công tác tại Ban Tuyên giáo

tỉnh Bạc Liêu, các anh chị nhân viên làm việc tại thư viện tỉnh Bạc Liêu cùng với các

cán bộ lão thành cách mạng của tỉnh đã cung cấp tư liệu và góp phần hướng dẫn tôi tìm

hiểu vẻ lịch sử địa phương của tỉnh Bạc Liêu

Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình,bạn bẻ, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình theo học caohọc va hoàn thành đẻ tải luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hỗ Chí Minh, ngày 19 tháng 2 năm 2024

Tác giả luận văn

Dương Thị Thu

Trang 4

MỤC LỤC

M ĐẦU ssscccsssscsscsccsscssccssssssscsssssssscanssssssscucssssscnsessccsazsssssdsnusssssiscsssssss asssssstssvessssiasuesiccs 5

LLY do Chon iiộậnớỚnỚỮỒŨỒỪỒỪỜỒỪDŨDA

2 Lich sử nghiín cứu vẫn đề - ¿2+ 22 t2 2212232117 21171211211 1717211 0E re cree 7

3.iMie đích nghiện GỨ:aiososasasiseiossiosiiiatiiaiioetiiatioooiiiotitatitatit5105517061022212813.35206155855 10

4 Phạm vi nghiín cứu 5ïii8153178813881888758 5i00858155815855578878 5ïiiiSI3587183145518957885057 sisasss ll

5 Nguồn tải liệu tham khảo vă phương phâp nghiín cứu 2: 2 55¿¿ IIG./GTEIEBDIGDBINIH(VBTL020112211247102116411021112111212022112211231123011434523152284641583318231038188421252 12

7 Bố cục của luận văn 2 St CS H1 2H 1211221221211 21121 211112211111 21211 21122211121 xe 13

NỘI (DỰNG sisisisssiscssasssascssssssssasssesassassesasssassnsssssssesnassasssasssassssssssssesssosuassasesasesssesseseise 14

CHUONG I KHÂI QUAT VE TINH BAC LIEU VA PHONG TRAO YEUNUOC CHONG THUC DAN PHAP TRUGC CACH MANG THANG TAM

NAM 194ê5 St4039383301693801893438856 830500808 A8839000580G01301G0120130080088 Si5018088 „14

1.1 Khâi quât WO thins Đục LIÍN ssessssascessosnccosssvvscsnaccussosnsccesvenscsvonvusssoacesessnsscsnonnns 14

1.Ï.1,/Điểnbiện tự AA gaanaasnannninntiditittiidiiaiiliit14102100530D318081103310510081081 14

PAPAL (Bia aN UE ceca sacasasissacaseczsasaseatesesnesseanscacancastseescessnsatsesarcassssassessacciensenes 14

nh rẻ na 14

[T US) ee 15 1.1.1.4 Sông ngòi, kính rạch, Bien ccccecceccesesseeceseesesvesecseeseevenseseeseeseseseenve 15 PLES: DBRS [RWE VUE cicscsscesssvasseassesssasssasiessssostssarssassoasssassaessiesieeesieesaseaieaseies 16

l.1.16 Giao HONG Si18E1588E5853881352858 Si11837188378833847186 875518 sigïa: NF

1.1.2 Dđn cư Bạc Liíu — Lịch sử truyền thống - .-<ccs¿ 18

TAQ Dein Cur Ba Litt nhe 18

Ï.1.22 Lịch 4Ù trip TRON: soscssczssscesscssssssscosssesssassscesssosseosssosssosssoassoaisonsssasses 191.1.3 Tình hình kinh tế - xê NGi eee eeceeeeeeecssseeeecsseecessneeecssneceecnnnecesnneescnnneseee 22

1.2 Phong trăo yíu nước chống thực dđn Phâp của quđn va dan tinh Bạc Liíu

trước NAM 1945 sansosessesseseeos 6êñ40348686446156364865865048 6êề3043638656346558383865882 ð384841565845505:22/G

1.2.1 Phong trăo yíu nước chồng thực din Phâp của quđn va dan tinh Bạc Liíu

trước năm l930 LH HH HT TK HT HH Hăng X4 24

Trang 5

1.2.2 Phong trào yêu nước chong thực dan Pháp của quân va dân tinh Bạc Liêu giải đoạn 1930-19ỗ:::occcccoeooocioeooiiiiiiiiiiidisiioniiiaitiisigi331031863180535635884858361535 27

1.2.2.1 Bạc Liêu trong phong trào cách mạng 1930-1935 27

1.2.2.2 Bạc Liêu trong phong trào cách mạng I936-1939 29

1.2.2.3 Bạc Liêu trong phong trào đầu tranh cách mạng từ năm 1940 đến trước

RN SAM TOG kiisicii:tiiiii1ntgiit4iiss4i1411144:042110316531612135485854384338831884314333832514338đ4 31 1.3 Cách mạng thang Tam năm 1945 thành công ở Bac Liêu 32

Tiện Rếi GRHữNG ÏbkGegiioiibiioiitcititG1001013101110311338333333333332038203080380333023303360383838385333588 34

CHƯƠNG II QUAN VÀ DAN TINH BAC LIEU KHÁNG CHIEN CHONG

THUC DAN PHAP GIAI DOAN 1945-1954 ke 36

2.1 Bỗi cảnh thé giới và trong MW6C ccssccosssvescorssonecesssonncccsoonccencseesneencosessnsccoes 36

2.1.1 Bối cảnh thế giới s5 56 21021111 21112111111151012100 1 11x gi 36

2012) BO ican GON Hổ sáo gncntinnnstitiii0101644001018200131111303301230384002604030882 38

2.1.2.1 Cách mang thang Tám năm 1945 thành cong, nước Việt Nam Dân chủ CRE.NBRIFHỦI:s:::::::s.::c22ccsSiissiiiiitisiiiaznssasasagssastzaga2352239558888358558585388352245555E 38

2.1.2.2 Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược và cuộc kháng chiến chong thực

dan Pháp của nhân dân Vide NGHH cị:-:co-ccsiocsiioeiiisiibetiiatiistiisSiE650805186585658585ã 0655 DO

2.1.2.3 Bước đầu xây dựng chính quyên cách mạng, thực hiện chính sách ngoạigiao khôn khéo, phá vỡ thể bao vậy và cô lap của kẻ thù 39

2.1.2.4 Kháng chiến chồng thực dân Pháp và can thiệp Mĩ (1946-1954) 40

2.2 Tình hình Nam Bộ và Bạc Liêu -«ĂĂĂSĂsssieerrrerrreree 41

2.2.1 Tinh hình Nam Bộ - ceeceecceeceseeceeeceeeceeeceeeceseccscceeeesseceeecensceeees 41

2.2.1.1 Tình hình Nam Bộ từ ngày 23-9-1945 đến ngày 19-12-1946 4I

2.2.1.2 Tình hình Nam Bộ từ ngày 19-12-1946 đến cudi năm 1950 45

2.2.1.3 Tình hình Nam Bộ từ năm 1951 đến Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Đông

DUONG tguaaiaasosasroaaio Sã31855385156358855385155535 Sï16215828885885883568525518 Si3837186318538827352555 eek

2.2.2 Tình hình Bạc Liêu sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến ngày thực

dan Pháp quay trở lại đánh chiêm Bạc Liêu 5G 5c sec 48

2.3 Phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp ở Bạc Liêu 51

2.3.1 Đấu tranh chính tricc cccccccccccccscsccsscseeccsveesesseecssvseesceveecsrceseucaeenssveveeceneevenes 51

Trang 6

2.3.1.1 Dang bộ, quân và dan tinh Bạc Liêu bảo vệ chính quyền cách mang, xây dựng xã hội mới, chông thực dân Pháp tai chiêm (từ tháng 9/1945 đến cuối

HAGE TOGA tnaattagtin1ti350055115101ã61806116310150198145ã3908681868185878311838353178388548i638/88818314089585 512.3.1.2 Mat trận Việt Minh cùng Hội Liên Việt tink vận động nhân dan tiễn

hành cuộc kháng chiên “Toàn dan, toàn điện, trường kỳ và tự lực cảnh sinh”

Í 778195 tit3iii:i02502541221214306210034124121231623602433135143140420835512418936183189491533404314344122 58

2.3.1.3 Mat trận Liên Việt tinh Bạc Liêu vận động nhân dân cùng ca nước thực hiện khâu liệu “Tat ca cho tiên tuyến ” tien lên đánh thăng thực dân Pháp xâm

lược và can thiệp MY (195 1- L954) scsscasssacsesessosssonssoasssasseasssasivosssvassonsvoasieacions 63

2.3.2 Phong trào đấu tranh vũ trang ccceccceccesssssscssscssvessessvesseseenscnsssnsvnavennveesnees 69

2.3.2.1 Quân và dan tinh Bạc Liêu chiến dau bảo vệ chính quyền và nhân dân

trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiên chong thực dân Pháp 1945-1946 69

PC PTTNhNl|/(/⁄““/(iaaỶỶ À 69 2.3.2.1.2 Mat trận Phước Long — Ngan Dừa á ĂĂSSSSecs2 73

2.3.2.1.3 Mặt trận Tân Hưng và mặt trận Giong BOM occ cccseceevcseecsseesveeeees 74

2.3.2.2 Đảng bộ, quân và dân tinh Bạc Liêu tiễn hành cuộc kháng chiến toàn

dan, toàn điện (từ tháng 12/1946 đền tháng 12/1950) §32.3.2.3 Đảng bộ, quân va dan tinh Bạc Liêu cùng cá nước chuẩn bị tiềm lực cho

tông phản công quân Pháp từ năm 1951 đên cuôi năm 1952 93

2.3.2.4 Đảng bộ, quân và dân tinh Bạc Liêu phối hợp với chiến trường chính,góp phần đánh thăng thực dân Pháp va can thiệp Mi trong Đông-Xuân 1953-

1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống

thực dân Phan xâm WGC isciiesiscssssasscasscasssasssasiscatscasssaassasscasissasscarssasssasscasssassees 94

Tibia KẾ! CRMƯNG TD caccoiitoititto5110510013635633656535866533055658858385898646886854605883846838633583348888468 103

CHUONG UL MỘT SO NHAN XÉT VE PHONG TRÀO KHÁNG CHIENCHONG THUC DAN PHAP CUA QUAN VA DAN BAC LIEU GIAI DOAN

3.1 Đặc điểm của phong trào kháng chiẾn .ss-ss5ssecssecsssssssss 105

BI, Xe IIWDIHEGEEG:cssss sex, 62666221 002210221220110323010351518413E2:00222163102623912834)032153/012203 105

3.1.2 Vé hinh thie dau tram oo 4 109

3.1.3 Vai trò lãnh đạo của Dang Cộng san Dong Dương - 113

3.2 Vai trò của phong trào kháng chiến chống thực đân Pháp của tỉnh Bạc LiêuđỗivớINanmi Bộ Và CA NGG cnggkanggongnGingggggg5001001015016030036630338064440346385085 114

Trang 7

3.3 Nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm trong phong trào đấu tranh

chống thực dân Pháp của quân và dân tỉnh Bạc Liêu . -‹«- 117

3.3.1.Nguyên nhân thắng Ìợi c-S5: Sc 2E SH SE 01121121211 117

2 Phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp tai tinh Bạc Liêu là phong trào khang

CHIEN nôn II a aặạIIL 126

3 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại tỉnh Bạc Liêu là cuộc kháng chiến trường

kì với tinh than tự lực tự cường dưới sự lãnh đạo sang suôt, tài tình của Dáng 132

CU) UG EY 1: CE een 135

PHU LUG cessccccccssssssssssssesssseseessssssssssscsssecesecessssssssssessssseeesesssssssnssessseeeeeseeesssssnsuesseeseees 142

Trang 8

MỞ ĐÀU

1 Lý do chọn đề tài

“Bạc Liêu là xứ cơ cầu", đây là một câu trong lời bài hat “Bac Liêu hoài cô” của

nhạc si Thanh Sơn “xứ cơ cầu” ở đây có nghĩa là sự nghèo khô về vật chất, nhưng ngượclại với sự nghèo khô vé vật chất đó là sự giàu có về lòng yêu nước và truyền thông dau

tranh cách mạng Băng chứng là trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và

dé quốc Mĩ quân và dân tinh Bạc Liêu đã nôi dậy giành được chính quyền cách mang

nhanh chóng mà không đô máu dé bao vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc đây là một minh

chứng cho sự nhạy bén, sáng tạo và truyền thông đấu tranh cách mang hao hùng của

nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Trong suốt thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn từ năm 1945-1954,lịch sử dau tranh cách mạng của quân và dân tinh Bạc Liêu luôn gắn liền với sự nghiệp

đầu tranh giành độc lập của dân tộc, ngoài những đặc điểm chung với cả nước, phong

trào đấu tranh chống thực dân Pháp của quân vả dân tính Bạc Liêu cũng mang những

dau an riêng với những trang sử hào hùng, chói loi và luôn là niềm tự hào của người dân

nơi đây.

1 Nghiên cứu về Lịch sử phong trào dau tranh của quân và dân tinh Bạc Liêu giaiđoạn 1945-1954 được coi là một trong những chuyên ngành nghiên cứu về lịch sử địa

phương trong nghiên cứu lịch sử Tỉnh Bạc Liêu, một địa phương tuy ra đời muộn nhưng

lại có bè day lịch sử trong truyền thống yêu nước đấu tranh chống cường quyên áp bức

và giặc ngoại xâm điều này không chỉ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc học

tập, giảng day và nghiên cứu toàn diện lịch sử dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chong

Pháp nang cao nang lực nghiệp vụ sư phạm, khả năng va phương pháp nghiên cứu cho

bản thân mà còn góp phan làm noi bật sự đóng góp của quân và dân tinh Bạc Liêu trong

sự nghiệp dau tranh bảo vệ Tỏ quốc Bởi “Sự am hiểu về lịch sử dan tộc còn bao ham cả

sự hiểu biết cần thiết vé lịch sử địa phương, hiểu biết về môi quan hệ giữa lịch sử địa

phương và lịch sử dân tộc tri thức lịch sử địa phương góp phan quan trọng, bô sung

cho sự hiểu biết đầy đủ vẻ lich sử dân tộc đất nước bỗ sung tư liệu lịch sử đề dạy và

Trang 9

học lịch sử dân tộc sinh động và hấp dẫn hơn (Nguyễn Cảnh Minh (chủ biên) , 2008,

tr 11).

2 Bạc Liêu vùng đất “von có truyền thông yêu nước, căm ghét chế độ thực dânphong kiến, cần củ sáng tạo trong lao động, bat khuất trong đấu tranh và một lòng theo

Đảng Nơi đây đã từng là căn cứ địa của Xứ ủy Nam Bộ và Tây Nam Bộ qua hai cuộc

kháng chiến chong thực din Pháp và dé quốc Mĩ xâm lược” (Tinh Ủy - Uy ban nhân dantỉnh Bạc Liêu, 2006, tr.7) “Trai qua 30 năm trường kỳ kháng chiến, tỉnh Bạc Liêu luôn

bị chia cắt, xa sự chi đạo của trung ương, nhưng với tinh than tự lực, tự cường, dũng cảm

vả sáng tạo, Đảng bộ, quân va dân tỉnh Bạc Liêu vượt qua muôn van khó khăn thir thách,

sáng tạo ra nhiều cách đánh độc đáo như: “thủy lôi chiến” “han can trên sông"; xây dựng

và giữ vững căn cứ địa cách mang lâu dai; đặc biệt là hai lần nỗi dậy cướp chính quyền(23-8-1945 và 30-4-1975) là một trong những tỉnh giải phóng sớm nhất ở Đồng bang

sông Cửu Long và không phải 46 nhiều xương máu” (Tinh Ủy - Uy ban nhân dan tinh

Bạc Liêu 2006, tr.9-10) Việc nghiên cứu va tìm hiệu về phong trào kháng chiến chống

thực dân Pháp ở tinh Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954, góp phan bổ sung thêm nguồn tài

liệu phong phú và đa dạng hơn trong kho tàng tư liệu lịch sử cách mạng của tỉnh Bạc

của tinh Bạc Liêu trong giai đoạn 1945-1954 này sẽ làm nôi bật nên những thé mạnh vẻ

địa hình, địa thé, các truyền thống quý báu của dat và người tinh Bạc Liêu, qua đó thayđược vị trí vai trò và tam quan trọng của tinh Bạc Liêu trong sự nghiệp kháng chiến.Thông qua đó giáo dục cho các thé hệ trẻ lòng yêu nước, tự hào về lịch sử truyền thống

của quê hương dé cùng nhau giữ gin va phát huy những thế mạnh đó trong công cuộc

xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Trang 10

Với những lý do nêu trên nên tôi chon đề tài “Lich sử phong trào dau tranh chống

thực dân Pháp ở tinh Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954 dé làm dé tài luận văn của minh

góp phần bé sung thêm nguôn tài liệu tham khảo giúp tìm hiểu sâu hơn vẻ lich sử đấu

tranh cách mạng của tỉnh Bạc Liêu.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phong trào đấu tranh chống thực din Pháp ở tinh Bạc Liêu (1945-1954) đã giành

được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà sử học, các nha nghiên cứu chínhtri, quân sự từ trang ương đến địa phương Sau đây là một số công trình tiêu biểu:

Bộ chỉ huy quân sự tinh Minh Hải (1986), Minh Hai 30 năm chiến tranh giải phóng

(1945 - 1975), Nxb Mũi Cà Mau Tác phẩm đã “dung lại bức tranh chiến dau gian khổ

và anh ding của quân và dân tỉnh Minh Hai trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân

tộc ” (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Minh Hải, 1986, tr.7).

Nguyễn Thị Dược (1994) Lịch sư phong trào cách mang cua phụ nữ Minh Hai

trong kháng chiến chống Pháp ký sử Nxb Mũi Ca Mau Tác phẩm đã làm nôi bật lên

những truyền thông tốt đẹp, tinh than dau tranh, ý chí quật cường của phụ nữ Minh Hai

trước và trong cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến hết kháng chiến chống Mĩ

Ban tuyên giáo tỉnh ủy Minh Hai, (1995), Lịch sứ Dang bộ tinh Minh Hải (1930 —

1975) Sơ thảo, Nxb Dat mũi Cà Mau Tác phẩm nay đã ghi lại quá trình đấu tranh cách

mạng của Đảng bộ quân, dân tỉnh Minh Hải trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và

chống Mĩ, Đảng bộ quân và dân tỉnh Bạc Liêu đã vận dụng sáng tạo đường lối, chủtrương, chính sách của Dang trong các giai đoạn cách mạng của dân tộc góp phần vảo

sự thăng lợi chung của cả nước.

Bộ Tư lệnh quân khu 9 (1996), Quân Khu 9 30 năm kháng chiến (1945-1975), Nxb.

Quân đội nhân dân Tác phâm này đã ghi lại lịch sử 30 năm kháng chiến của quân và

đân Khu 9 trong đó có tỉnh Bạc Liêu “quân và dân Khu 9 đã vượt qua muôn vàn khókhăn gian khổ, hy sinh chiến dau kiên cường dũng cảm góp phan vào thang lợi trọn vẹn

của cả dân tộc trong chiến tranh giải phóng ” (Bộ Tư lệnh quân khu 9, 1996, tr.5)

Trang 11

Ban tuyên giáo tỉnh ủy Bạc Liêu (2000) Xứng danh anh hàng In tại Xí nghiệp in

Bạc Liêu Tác phâm đã ghi lại những chiến công oanh liệt của đất và người Bạc Liêu,đặc biệt là những thành tích xuất sắc của các đơn vị, cá nhân, anh hùng lực lượng vũ

trang nhân dân và các bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh Bạc Liêu.

Phan Văn Hoàng (2001) Cao Triéu Phát Nghĩa khí Nam Bộ Nxb Trẻ Thành phố

Hà Chí Minh Tác phẩm đã đi sâu nghiên cứu dé viết về cuộc đời và những cống hiến

của cụ Cao Triều Phát một nhân sĩ trí thức yêu nước ở Bạc Liêu cụ đã giảnh cả cuộc đời

mình để cống hiển cho sự nghiệp cách mạng ở tỉnh Bạc Liêu nói riêng Nam Bộ và cả

nước nói chung.

Ban Chấp hành Đảng bộ tinh Bạc Liêu (2002), Lich sứ Dang bộ tinh Bạc Liêu(1927 — 1975) tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Tác phẩm này viết về chặng đường khángchiến trường ki, gian nan mà day hao hùng của Đảng bộ quân và dân tinh Bạc Liêu trong

quá trình dau tranh cách mạng suốt từ năm 1927 đến 1975

Ban dân vận Tinh ủy Bạc Liêu (2005) Lịch sử công tác dân vận Dang bộ Tinh Bạc

Liêu 1930 — 2000(sơ thảo), In tại công ty Cô phan In Bạc Liêu Tác phâm đã tái hiện khá

day đủ và phong phú vé bức tranh toàn cảnh công tác dân vận của Đảng bộ tinh Bạc Liêu

trong suốt 70 năm qua.

Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Bạc Liêu (2005), 60 năm ngày truyền thông cách mạng

Tinh Bạc Liêu (23/8/1945 — 23/8/2005), In tại công ty Cô phan In Bạc Liêu Tác pham

đã tập hợp những bài viết vẻ thắng lợi oanh liệt đầy hào hùng của Đảng bộ, quân và dân

tinh Bạc Liêu trong cách mạng tháng Tám năm 1945 và tính Bạc Liêu quyết định lấy

ngày 23/8 hàng năm ngày truyền thông cách mạng của tỉnh.

Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dan tính Bạc Liêu (2006), Lich sứ Bạc Liêu 30 năm khangchiến (1945-1975) Nxb Quân đội nhân dân Tác phẩm này đã “ghi lại chặng đườngdau tranh, anh dũng, sự hy sinh cao ca của Đảng bộ, quân dân tinh Bạc Liêu trong haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mi, một giai đoạn lịch sử hào hùng đây gian

nan thir thách và chiến thắng vẻ vang trong sự nghiệp dau tranh giải phóng dân tộc nói

Trang 12

chung, giải phóng tinh Bạc Liêu nói riêng” (Tinh Ủy - Ủy ban nhân dân tinh Bạc Liêu,

2006, tr.5).

Liên đoàn lao động Tinh Bạc Liêu (2006), Lich sử phong trào công nhân lao dong

và hoạt động công đoàn Bạc Liêu tập 1 1930 — 1975 (Sơ thảo), In tại công ty cỗ phần in

Bạc Liêu Tác phâm đã tái hiện lại quá trình dau tranh của công nhân lao động và hoạt

động của Công đoàn tỉnh Bạc Liêu trong suốt 45 năm, những hoạt động đó đã góp phần

to lớn vào sự nghiệp dau tranh tranh, giải phóng dan tộc

Ban biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ (2010), Lịch sứ Tây Nam Bộ kháng chiến tập

Ì 1945 — 1954, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội và Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử

Nam Bộ kháng chiến (2010), Lịch sử Nam Bộ kháng chiến tập I (1945 — 1954), Nxb.Chính trị - Quốc gia Hà Nội Hai tác phẩm này đã khái quát quá trình đấu tranh chống

thực dân Pháp của nhân dân các tỉnh phía Nam trong đó có tỉnh Bạc Liêu Nhân dân Bạc

Liêu nói riêng và nhân dan các tinh Nam Bộ nói chung với một lòng nông nan yêu nước

dưới sự lãnh dao đúng dan, linh hoạt sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông Dương không

chi phát huy được truyền thông yêu nước, tinh thân đoàn kết trong chiến dau ma đã giành

được những chiến công vang dội khiến thực đân Pháp phải khiếp sợ xứng đáng với danh

xưng “Thanh Đẳng Tổ quốc” Góp phan cùng cả nước hoàn thành cuộc kháng chiếnchống thực đân Pháp xâm lược

Hội nông dân Việt Nam, Ban chấp hành tinh Bạc Liêu (2011), Lịch sứ phong trào

Nông dân và Hội nông dân tinh Bạc Liêu (giai đoạn 1927 — 1975) tập 1, không ghi nhà

xuất bản, nơi xuất bản Tác phẩm nay đã làm nôi bật những đóng góp và công hiền hếtsức to lớm của phong trào nông dân và Hội nông dân Bạc Liêu trong suốt chặng đường

4Š năm cách mạng giải phóng dân tộc.

Đảng Ủy - Bộ chỉ huy quân sự tinh Bạc Liêu (2012), Lịch sứ công tác đảng, công

tác chính trị lực lượng vũ trang tinh Bạc Liêu (1945 — 1975), Nxb Chính trị Quốc gia —

Sự thật Hà Nội Tác pham đã đánh giá vai trò chức nang, nhiệm vy, cũng như những

thành tích đáng tự hào của lực lượng vũ trang tỉnh Bạc Liêu trong suốt thời kì khángchiến chống Pháp và kháng chiến chong Mi từ năm 1945 — 1975

Trang 13

2015, tr.5).

Trên đây là một số những tác phẩm viết và đề cập đến lịch sử tinh Bạc Liêu nhưngcho đến hiện nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về phong tràokháng chiến chỗng thực dân Pháp của quân và dân tinh Bạc Liêu giai đoạn (1945 — 1954)

Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa các kết quả nghiên cứu của những tác giá và tác

pham nêu trên, tác giả luận văn tập trung vào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện

về lịch sử Phong trào đầu tranh chống thực din Pháp của quân và dan tinh Bạc Liêu giai

đoạn 1945 — 1954.

3 Mục đích nghiên cứu

Vé mặt khoa học, luận văn góp phần phục dựng một cách hệ thống và toàn điện về phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân tỉnh Bạc Liêu trong giai

đoạn 1945-1954 Thông qua đó luận văn đi đến tái hiện, khăng định và làm rõ vai trò

của phong trao đấu tranh chống thực dân Pháp của quân và dân tinh Bạc Liêu đã gópphan quan trọng trong chiến thắng của tỉnh Bạc Liêu nói riêng và thắng lợi của cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân cả nước nói chung

Vé mặt thực tiên, luận văn mong được góp phan chỉ ra những thế mạnh, những

nhận xét và bài học kinh nghiệm có thẻ tham khảo cho công cuộc dau tranh bảo vệ độc

lập chủ quyền xây dựng và phát triển của tinh Bạc Liêu và đất nước hiện nay

Thông qua việc nghiên cứu về phong trào kháng chiến chồng thực dân Pháp tại tỉnh

Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954, luận văn mong muốn sẽ góp phần nhỏ bé vào kho tàng

Trang 14

tư liệu về dé tài lich sử kháng chiến trong thư viện của tỉnh, giúp vệc tìm hiểu về thời ki

kháng chiến chống thực dân Pháp tai tinh Bạc Liêu có cái nhìn toản điện hơn

4 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về Lịch sử phong trào đấu tranh chống

thực dân Pháp của quân và dân tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954.

Thời gian: Thời gian nghiên cứu của luận văn là giai đoạn 1945-1954, trong cuộckháng chiến chống thực dan Pháp Tuy nhiên tác giả có đề cập đến tinh hình cũng nhưcác phong trào dau tranh của tỉnh Bạc Liêu trước năm 1945

Không gian: Đề tai làm rõ phong trào đấu tranh của quân va dân trên địa ban tinh

Bạc Liêu cũ (gồm cả tinh Cà Mau ngày nay), tuy nhiên dé làm nôi bật nên phong trào

đầu tranh chồng thực dan Pháp giai đoạn 1945-1954 của tinh Bạc Liêu, tác giả còn tìmhiểu về bối cảnh tình hình thé giới trong nước va cả Nam Bộ Việt Nam

5 Nguồn tài liệu tham khảo và phương pháp nghiên cứu

oo Nguồn tài liệu tham khảo

Đề nghiên cứu một cách toàn điện và cụ thẻ, chúng tôi và dựa vào các nguồn tai

liệu chính sau:

1 Các tài liệu gốc đó là những văn kiện, Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng,

xứ ủy Nam Kỳ, Trung ương cục miền nam, Tinh ủy Bạc Liêu Những tài liệu này rấtquan trọng giúp tác giả hiểu rõ hơn về đường lối chi đạo các chiến lược, sách lược của

Đảng trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dan Pháp xâm lược.

2 Các sách chuyên khảo vé lich sử Việt Nam hay những cuốn sách viết về lịch sử

truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dan tỉnh Bạc Liêu mà tác giả đã sưu tam

được trong quá trình đi nghiên cứu ở thư viện tỉnh Bạc Liêu, Ban Tuyên giáo, Tỉnh Ủy,

Ban di tích lịch sử của tỉnh, huyện.

3 Các bài viết, các bai nghiên cứu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, Báo

điện tử của tỉnh Bạc Liêu, báo Quân đội nhân dân

Trang 15

od Phương pháp nghiên cứu

Trong dé tài nay, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử dé phục dựng lại phong

trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954 dưới sự lãnh

đạo của Đảng cộng Sản Đông Dương (đến 1951 đôi tên là Đảng Lao Động Việt Nam)

và Đảng bộ tỉnh trên các mặt đấu tranh chính trị và dau tranh vũ trang

Phương pháp Logic giúp chúng tôi nhìn rõ vấn đề một cách xuyên suốt, hệ thống,

mạch lạc, hợp lý trong quá trình thực hiện dé tải cũng như rút ra những nguyên nhânthành công trong phong trào dau tranh chống thưc din Pháp của Đảng bộ, quân và dan

tính Bạc Liêu.

Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như thống kê, tonghợp dé làm nỗi bật lên chiến thắng oanh liệt, những số liệu đóng góp cá về người và củacủa tinh Bạc Liêu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1945-1954

6 Đóng góp của luận văn

Về mặt khoa học: Luận văn cô gắng phục dựng cụ thê va hệ thông một cách khách

quan về phong trào đấu tranh chồng thực dan Pháp ở tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954.

Phân tích vai tro lãnh đạo của Đảng cộng Sản Đông Dương (đến 1951 đồi tên là

Đảng Lao Động Việt Nam), vai trò của Đảng bộ cũng như các lực lượng chiến dau, đồng

thời chỉ ra những đặc điểm riêng, những đóng góp của phong trào dau tranh chống thực

dân Pháp của quân và dân tinh Bạc Liêu trong sự nghiệp toàn quốc kháng chiến chống

thực đân Pháp xâm lược.

Về mặt thực tiễn: Những nhận xét kết luận và bải học kinh nghiệm được rút ra có

thé góp phần nhỏ bé trong việc giúp địa phương có thé khắc phục được những điềm còn

thiểu sót, phát huy những mặt lợi the dé phục vu cho công cuộc bao vệ va xây dựng tinh

Bạc Liêu vững mạnh và giàu đẹp hơn.

Với việc nghiên cứu về phong trào dau tranh chồng thực dan Pháp của tỉnh Bạc

Liêu giai đoạn 1945-1954 Luận văn mong muốn sẽ góp phần bô sung nguồn tư liệu nhỏ

nhoi trong kho tàng lịch sử địa phương tỉnh Bạc Liêu Giúp cho giáo viên và học sinh

Trang 16

cũng như những người nghiên cứu vẻ lịch sử địa phương tinh Bạc Liêu có thêm nguồn

tư liệu tham khảo.

7 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm phan mục lục, mé đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham khao

Bỗ cục của luận văn gém 3 chương:

Chương I Khái quát vẻ tinh Bạc Liêu và phong trào yêu nước chống thực dân

Pháp trước cách mang thang Tam năm 1945

Chương II Quân và dân tinh Bạc Liêu kháng chiến chống thực dan Pháp giai đoạn

1945-1954

Chương III Một số nhận xét về phong trào kháng chiến chống thực dan Pháp của

quan và dan tinh Bạc Liêu (1945-1954)

Trang 17

NỘI DUNG

CHUONG I KHÁI QUÁT VE TINH BAC LIEU VÀ PHONG TRAO YEU

NƯỚC CHONG THỰC DAN PHÁP TRƯỚC CÁCH MẠNG THANG TAM NAM

1945

1.1 Khái quát về tỉnh Bạc Liêu1.1.1 Điều kiện tự nhiên

LALLA Vi trí địa lí

Tinh Bạc Liêu ngày xưa, bao gồm cả tinh Cà Mau ngày nay’, là một trong những

tỉnh có điện tích lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long với điện tích tự nhiên 7.700kmvuông? “Phía Bac giáp tỉnh Rạch Giá, phía bắc và đông bắc giáp tinh Can Thơ và SócTrăng, phía nam và phía Tây giáp biển Đông và biển Tay với chiều dài bờ biển là 307

km hình dáng nh một con tàu rẽ sóng, biển Đông hướng về phía tây, nơi tiếp giáp vùng

biển Thái Lan, Malasia ” (Tỉnh Ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, 2006, tr.I 1).

1.1.1.2 Dat daiBạc Liêu là tinh đồng bang ven biển, “dat liền so với mat biên cao từ 3 đến 0.5mét được thiên nhiên ưu đãi hàng năm đất và rừng lẫn biên từ 70 đến 80 mét về phía tây,địa hình tương đôi bằng phẳng, độ dốc từ 0,01 đến 0,005/Ikm theo hướng từ đông bắc

xuống tây nam” (Tinh Ủy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.14) Day là vùng

đất không có núi non, nhưng nhiều sông và kênh rạch Quận Vĩnh Châu và Vĩnh Lợi đấtdai cao ráo, sát biên được phù sa bồi đắp, có nhiều giồng cát là nơi rất thích hợp chotrồng trọt vả chăn nuôi đặc biệt là các loại cây ăn quả trong đó thích hợp nhất là câynhãn Phía Nam Bạc Liêu, ruộng dọc theo bờ biển có đặc điểm là đất sét cứng, cho nênrat thích hợp đề làm nghè khai thác mudi Khu vực Giá Rai va và Phước Long trước kia

là đất hoang và đồng ruộng trũng nhiều sinh lay, đất phân va đất phèn pha trộn có nơi

thấp hon mặt nước nhưng lại là những đồng lúa bát ngát thang cánh cò bay Như vậy dat

‡ Trước khi được nâng lên hang mội tinh, Cả Mau trong 74 nim là một quận cua tinh Bạc Liêu (Trích Huynh Minh

(1994), Bae Liêu Xưa và Nay, Nxb Bách Việt tai ban nắm 1994, tr.36).

? Số liệu được trích tir (Tinh Ủy - Uy ban nhân dan tinh Bạc Liêu, 2006, Lich sứ Bục Liêu 30 nắm khang chiến

1945-1975, Nxb Quan đội nhãn dan, tr.11)

Trang 18

Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu cận xích dao, thời tiết nẵng nóng, mưa nhiều có

hai mùa rõ rệt là mùa mưa va mùa khô Mùa mưa kéo dai trong khoảng thời gian là Š

tháng bắt dau từ tháng 5 cho đến tháng 10, còn mùa khô khoảng 6 tháng từ tháng 11 đến

tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình là 26 độ C, “lượng mưa hàng năm thấp nhất là 1.940mm (1942), cao nhất là 2.945mm (1979)” (Tinh Ủy - Uy ban nhân dân tinh Bạc

Liêu, 2006, tr.15) Khí hậu khá ôn hòa, ít xảy ra bão lũ.

1.1.1.4 Sông ngòi, kênh rạch, biểnTinh Bạc Liêu là tinh giáp biển, có rất nhiều kênh rạch, cửa sông va kinh xáng dayđặc như mạng nhện với tông chiều đài 10.250kmˆ chiếm 2,3% diện tích tự nhiên

Sông rạch ở Bạc Liêu chia ra làm hai nhóm chảy Nhóm chảy ra Nam Hải với sông

Ganh Hao, Rach Bạc Liêu, Rạch Cô Cd Nhóm chảy ra ra sông Ba Thắc (thường gọi là

sông Hau, tức Hậu Giang) là những rạch nhỏ của rach Ba Xuyên Hệ thống sông ngòichang chit với các con sông lớn tự nhiên như: “séng Ông Đốc, sông Ganh Hào sôngTam Giang, sông Bay Hap va hang chục con sông nhỏ dan nhau như mạch mau trong cơ

thê con người” (Tinh Ủy - Ủy ban nhân dan tinh Bạc Liêu, 2006, tr.14) Sông ngòi dem

đến cho Bạc Liêu không chỉ là những lớp đất trồng phù sa mau mỡ, nguồn nước dồi dao

thuận lợi cho việc trong trot vả tưới tiêu, ma con dem dén một hệ thống thông giao thôngđường thủy vô cùng thuận lợi trong tinh và ngoài tinh dé thúc đây kinh tế, văn hóa và xã

hội của tính phát trién.

Kinh xáng ở Bạc Liêu được chia làm hai nhóm: nhóm lớn ở phía Tây và nhóm nhỏ

ở phía đông, với các kinh đào như “kinh xáng Chắc Bang, kinh Xing Cà Mau — Phung

Hiệp, kinh xáng Cạnh Diễn — Rá Rai, kinh xáng Bạc Liêu — Cà Mau, kinh xáng Ganh

* Số liệu được trích trong Ban Tuyền giáo tinh úy Minh Hải, 1995, tr.13.

Trang 19

Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Bạc Liêu có bờ biên dai, bãi rộng bằng phang, nước không sâu, bờ biên không có

hải cảng vì bùn lầy và cạn, chỉ có bến ghe nhỏ nhưng lại có rất nhiều cửa sông làm nơi

trú ngụ và sinh sản cho các loải thủy hải sản nên rất thuận lợi trong việc phát trién nghề

nuôi tôm nghé nuôi cá và đánh bắt nguồn lợi thủy hải sản Bởi là tinh giáp biên lại đượcthiên nhiên ưu ái ban tặng cho bờ biển thấp và phing rất thuận lợi cho nghề làm mudiphát triển Bạc Liêu được coi là thủ phủ về muối ăn của cả nước,với diện tích sản xuất

muối lớn nhất cả nước Nghe làm muối được coi là nghề truyền thống, nét văn hóa phản

ánh bản sắc, điều kiện tự nhiên độc đáo của tỉnh Muối Bạc Liêu được đánh giá là loại

mudi chất lượng “Hat mudi vị ngọt, không có vị đắng, vị chat” Ngoài ra với nguồn nước

lợ lớn, nhiều sông ngỏi, ao hồ, kênh rạch rất thích hợp nuôi tôm, nuôi cá đem lại nguồn

lợi lớn cho nhân dân.

1.1.1.5 Động thực vật

Ở Bạc Liêu đất phi sa mới do biên bôi dap và thường xuyên chịu tác động của thủy

triều biến Đông và Vịnh Thái Lan tạo nên hệ động thực vật thích nghỉ với sự nhiễm phèn,

mặn của thô nhưỡng Nguồn sinh vật của tỉnh Bạc Liêu rất đa dạng và phong phú gồm

các hệ động thực vật biên Đông ven bờ, hệ động thực vật nội địa chịu được phèn mặn,

nước ngọt đặc biệt lả nguồn lợi cá đồng Các hệ sinh thái ngập nước của tinh Bạc Liêu

còn là nơi cư trú, sinh san của các loài chim nước, di cư tạo nên những sân chim, vườn

chim, vườn cò Ở Bạc Liêu có các sân chim nỗi tiếng như: Sân chim Hiệp Thành, vườn

cò Phước Long va xã Vĩnh Phú Tây thuộc huyện Phước Long, vườn chim ở huyện Đông Hải, sân chim Bạc Liêu (khoảng hơn 40 loài chim).

Trang 20

Bạc Liêu được mệnh danh là “rộ! trong những vựa lúa quan trọng của ca nước ”

(Tinh Ủy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.16), đất dai của tinh Bạc Liêu thíchhợp tròng và phát triển nhiều loại cây đặc biệt là hoa màu và các loại cây ăn trái Nôitiếng nhất đó chính là nhãn đa bò

Do là tinh ven biên nên Bạc Liêu “rat giàu về cá tôm thủy hải san; rừng đước và

rừng tram” (Tinh Ủy - Ủy ban nhân dan tinh Bạc Liêu, 2006, tr.16) Tại Bạc Liêu rừng

đước va rừng tram là hai loại rừng đặc trưng và chủ yếu cũng 1a thé mạnh vì có khả năng

sinh lợi rất lớn, vừa cung cấp cây, gỗ làm vật liệu xây dựng, vừa cung cắp than, củi vừacung cap rat nhiều loại đặc sản như mật ong, khi, trăn, rắn, rùa Mặt nước rừng ngập man

có thê nuôi tôm cá, đây là loại rừng rất quý hiểm được các nhà khoa học coi là một hệsinh thái tuần hoàn khép kín Đặc biệt hai cánh rừng nỗi tiếng 1a rừng đước Năm Căn vàrừng tram U Minh với độ che phủ dày đặc có hiệu quả rất lớn đối với việc bảo vệ vững

chắc các căn cứ địa cách mạng của Việt Nam trong suốt thời kì kháng chiến chống thực

dân Pháp và để quốc Mĩ

1.1.1.6 Giao thông

- Về đường thủy

Ở Bạc Liêu hệ thông kênh rạch sông ngòi dày đặc tạo thành một hệ thống giao

thông đường thủy liên hoàn khắp các nơi trong tinh, cho phép thuyền bè, ghe xudng đi

lại thuận lợi thậm chí đến được cả những xóm ấp nơi xa xôi, giao thông đường thủy là

loại hình giao thông chủ yếu trong tỉnh,

- Về đường bộ

Giao thông đường thủy thuận lợi bao nhiều thi giao thông đường bộ ngược lại, lại

rất hạn chế Tuyền đưởng “quan trọng nhất lả đoạn quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A), chạy

từ phía đông bắc thị xã Bạc Liêu đến Cà Mau - Năm Căn dài khoảng 128 km đoạn lộ từ

thị xã Bạc Liêu đi Vĩnh Châu dài khoảng 3§ km, Vĩnh Mỹ - Phước Long đải khoảng 23

km Cà Mau — Thới Binh dai 40.2km và Ca Mau — Dam Doi dai 23km” (Tinh Ủy - Ủyban nhân dan tinh Bạc Liêu, 2006, tr.15) Việc đi lại bằng đường bộ ở vùng nông thôn,

vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khan, do hệ thống đường bộ chưa được kiện toản

Trang 21

1.1.2 Dân cw Bạc Liêu — Lich sử truyền thông

1.1.2.1 Dân cư Bạc Liêu

Khi mới thành lập, Bạc Liêu là nơi quan tụ lý tưởng của nhóm người lưu dân thuộc

3 dan tộc: Việt, Hoa và Khmer Người Việt đến để khai pha vùng đất mới, một số ngườiHoa ở Trung Quốc vốn là than din của nhà Minh, không phục triều đình Mãn Thanh bỏ

nước đi cư đến vùng đất này được chúa Nguyễn cho vào trú ngụ, còn người Khmer trong

hai thé ki XVI, XVII do tinh hình đất nước có nội chiến và giặc ngoại xâm liên miên nênchạy đến đây được chúa Nguyễn cho vào cư trú để nương náu làm ăn Tuy là đến từ

nhiều nơi khác nhau, nhưng họ lại chung sống rất đoàn kết nương tựa lẫn nhau, thường

tập trung đông đúc ở những nơi như ngã ba, ngã tư sông, ven các tuyến đường và kênhrạch lớn Các dan tộc này đã tạo nên một nền văn hóa nhiều màu sắc đa dang và phongphú cho tinh Bạc Liêu Người Kinh “có lễ hội cúng đình, thờ thần Hoàng Bồn Cảnh”

(Tinh Ủy - Ủy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.17) ngoài ra còn có lễ lớn là lễ

Thượng Điền! diễn ra vào giữa tháng năm âm lịch, lễ Hạ Điền” diễn ra vào tháng 12 âm

lịch Người Hoa ở Bạc Liêu vào tháng 3 âm lịch hàng năm họ thường tô chức cúng lễ

Thanh Minh, tới tháng 7 âm lịch lại tô chức lễ Thí giàn Đôi với đồng bảo Khmer hàng

năm có “lé hội vào năm mới còn gọi là tết cô truyền (Chol-chnam-thmây) vào giữa tháng

4 âm lịch” (Tinh Ủy - Uy ban nhân dan tinh Bạc Liêu, 2006, tr.17), ngày giảm tháng 10đồng bao Khmer tiếp tục chao đón lễ hội mặt trăng còn gọi là (Oc-om-béoc)

Ngoài ba dân tộc tiêu biểu trên, ở Bạc Liêu còn có các đân tộc khác đến từ mọi

miễn của đất nước với số lượng ít như: dân tộc Cham, din tộc Nang, dân tộc Thái và

Mường Trong cuộc sông và chiến đầu họ đã đùm bọc giúp đỡ và nương tựa lẫn nhau

tạo thành sức mạnh đoàn kết gắn bó trong cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Bạc Liêu nói

® Đại LE Thượng Điển hay còn gọi là lễ Kỳ Yen có nghĩa là lỂ cẩu an, là lễ tế thin Thành hoàng lửa nhất trong năm của một ngồi đình thần ở Nam Bộ, Việt Nam Dinh lang ở Nam bộ mỗi năm có 2 lệ củng: Thượng Điển (khi thu hoạch xong) và Hạ Điển(khi bắt đầu xuống ruộng) Kỳ Yên có thé gộp chung với Thượng Điển hoặc Hạ Điền, cùng

có the một lễ riêng biệt tủy theo từng địa phương.

4 Hạ Điễn hay còn gọi là lễ Thấp Miéu.

Trang 22

riêng và ca nước nói chung cùng nhau trải qua các biến cô thăng tram của lịch sử dan

tộc.

1.1.2.2 Lịch sử truyền thốngCho đến nay nguồn gốc danh xưng “Bac Liêu” vẫn còn rất nhiêu giả thuyết và chưa

có sự thông nhất.

Theo tác giả Huỳnh Minh trong tác phẩm Bạc Liêu Xưa và Nay thì “Tiéng Hoakiêu giọng Triều Châu gọi là Pô léo, có nghĩa là xóm nghèo làm nghề hạ bạc tức nghéchai lưới, đánh cá, đi biển Pô phát âm theo tiếng Hán Việt là “Bac” và Léo phát âm

thành “Liêu” (Huỳnh Minh, 1994, tr.15).

Một truyền thuyết khác lại cho rằng: “P6 là bót đôn Liêu là (Lào-Ai-lao) theo

tiếng Cao-Miên, vì trước khi người Hoa-kiéu đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh do

người Lao đồn tra” (Huỳnh Minh, 1994 tr 5)

Dối với người Pháp khi họ đến cai trị “căn cứ vào phát âm của người Triều Châu

Pô Léo có nghĩa là xóm nghèo làm nghề hạ bạc nên dich theo nghĩa ấy là Pecheriẻ —

chaume (đánh cá va cỏ tranh)” (Huỳnh Minh, 1994, tr 1Š).

Dù có rất nhiều giả thuyết khác nhau nói về tên gọi địa danh Bạc Liêu nhưng có

một điều không hè thay đổi đó chính là người dân nơi đây có một lòng nồng nàn yêunước, kiên cường bat khuất chồng giặc ngoại xâm

Bạc Liêu, một vùng đất trẻ có lịch sử trên 200 năm, được các lưu dân người Việt, Hoa, và Khmer đến khai phá Năm 1680, một đi thần nhà Minh ở Trung Quốc là Mạc

Cửu đến vùng đất Mang Kham (Hà Tiên) đã quy tập một số lưu din người Việt, người

Hoa lập ra những thôn xóm đầu tiên trên vùng đất Bạc Liêu Gần ba mươi năm sau

(1708), Mạc Cứu ding vùng đất Mang Kham cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn đặt là tran

Hà Tiên, phong Mạc Cứu là Tổng binh Nhân dân từ mọi miền đất nước quy tụ vẻ đây

để làm ăn sinh song ngày càng đông đúc

“Năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát thu nhận thêm vùng đất Ba Thắc lập ra Trắn

Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Sóc Trăng, Bạc Liêu)" (Hội nông đân Việt Nam, Ban chấphành tinh Bạc Liêu, 201 1, tr.7-8) Đến năm 1777, Tran Giang, Tran Di được bãi bỏ, nhập

Trang 23

vào tran Hà Tiên Dưới triều đại nhà Nguyễn sau khi lên ngôi vào năm 1802 đến năm

1808 vua Gia Long đã quyết định đôi trần Gia Định thành thành Gia Định (từ Bình Thuận

trở vào) gồm “5 tran: Phiên An, Biên Hoà, Định Tường, Vinh Thanh (tức Vĩnh Long),

Hà Tiên Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ thành Gia Định chia Nam Kỷ thành Lục tinh

gồm Biên Hoa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tién.(Tinh Hà Tiên,

trong đó có phan dat Bạc Liêu trải đài đến cửa sông Gành Hao)” (Tinh Ủy - Uy ban nhân

dan tỉnh Bạc Liêu, 2006, tr.§) Vào năm 1836, vua Minh Mang đã cho đo đạc điền địa,

lập địa bạ cho từng phủ, cử Nguyễn Tri Phương (lúc bấy giờ là Kinh lược sứ) đến trực

tiếp chi đạo việc khai khan ruộng đất ở Bạc Liêu do đó công cuộc khai khan được mở

rong.

Về phía Pháp: Sau khi Pháp chiếm được 6 tinh Nam Ki, đến năm 1882, thực danPháp cho thành lập địa hạt, trong đó Bạc Liêu (gồm Bạc Liêu và Ca Mau ngay nay) là

địa hạt thứ 21 của Nam Kì Đến năm 1899, sắc lệnh bãi bỏ địa hạt được toàn quyền Dông

Dương ký và có hiệu lực chính thức vào năm 1900, do đó địa hạt Bạc Liêu trở thành tỉnh

Bạc Liêu gom 2 quan la Vinh Loi va Ca Mau Nam 1904 quan Vinh Chau duge thanh

lập tiếp đến là quận Giá Rai thanh lập năm 1918, cho đến năm 1956, địa phận hành

chính tinh Bạc Liêu gồm 4 quận là Vĩnh Chau, Vĩnh Lợi, Cà Mau và Giá Rai (gồm 38làng).

Với sắc lệnh số 143/NV do Ngô Đình Diệm ban hành ngày 25/10/1955 địa giới và

tên các tỉnh miền nam đã có sự thay đôi như sau: “Cắt quận Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh

Châu (Của Bạc Liêu) và quận Phước Long (Của Rạch Giá) sát nhập với tỉnh Sóc Trăng,

thành lập tỉnh mới Ba Xuyên; quận Cà Mau chuyền thành tinh An Xuyên" (Ban Chap

hanh Đảng bộ tinh Bạc Liêu, 2002, tr.8)

Ngày 8/9/1964, chính quyên Sài Gòn kí sắc lệnh số 254/Nv tái lập tinh Bạc Liêugồm các quận Vĩnh Lợi, Giá Rai, Vĩnh Châu, Phước Long Địa giới hành chính nay tồntai đến ngày 30/4/1975” (Ban Chấp hành Dang bộ tinh Bạc Liêu, 2002 tr.8)

Vẻ phía chính quyền cách mạng: địa giới hành chính của tỉnh Bạc Liêu phân chia

có sự khác biệt so với chính quyên Sai Gòn

Trang 24

Năm 1948, tinh Bạc Liêu giao quận Vĩnh Châu vả lang Hưng Hội về

tỉnh Sóc Trăng, đồng thời lập thêm quận mới là Ngọc Hiền và thị xã Bạc

Liêu; năm 1951 thành lập quận mới Tran Văn Thời va tiếp nhận thêm

quận Án Biên, quận Hồng Dân của tính Rạch Giá: năm 1956 thành lập

thêm quận Thới Bình; năm 1957 các huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Chau, Gia

Rai, Thị xã Bạc Liêu và huyện Hồng Dân (của tỉnh Rạch Gia) sát nhập vao tỉnh Sóc Trăng; quận Cà Mau cũ (gồm các huyện mới Ngọc Hiện,

Trân Văn Thời, Thới Bình) thành lập tỉnh Cà Mau; nãm 1962 huyện Giá

Rai của tinh Sóc Trăng sát nhập về Tính Ca Mau; Tháng 11/1973, tái lập tinh Bạc Liêu gồm các huyện: Vinh Lợi, Giá Rai, Hong Dân và thị

xã Bạc Liêu; năm 1976 hợp nhất tinh Bạc Liêu - Cà Mau thành tinh

Minh Hải; năm 1997 tái lập tỉnh Bạc Liêu lan thứ hai gồm các huyện:

Gia Rai, Vĩnh Lợi, Hong Dân, Thị xã Bạc Liêu (Đảng ủy, Bộ chỉ huy

quan sự tinh Bạc Liêu, 2012, tr 1Š).

Bạc Liêu một vùng đất được kết hợp bởi các nén văn hóa của các dân tộc Việt —

Hoa và Khmer là chủ yếu, trải qua các thăng tram biến có lịch sử cư dan ở đây luôn đoànkết gắn bó trong cuộc sống lao động và sản xuất đặc biệt là dau tranh chống ngoại xâm,cường hào áp bức, bóc lột Hình thành nên những đặc điểm, phong tục truyền thông vừa

mang những nét chung của cả một đân tộc Việt Nam lại vừa mang những nét riêng vềđất và người Bạc Liêu như: “Lòng yêu nước chống giặc ngoại xâm, có tỉnh thần quật

khởi, chong cường quyền, áp bức bóc lột, bat công, gan góc dũng cam có tinh thần đoàn

kết, nhân ái lá lành dam lá rách; lao động can cù, sáng tạo vượt khó khăn gian khỏ, có

chí lập nghiệp, có tính cách hao hiệp, trọng nghĩa nhân” (Dang ủy, Bộ chỉ huy quân sự

tỉnh Bạc Liêu, 2012, tr.18) Những chiến tích được lịch sử ghi dau như Ninh Thạnh Lợi,

Trang 25

tN t»

Đông Nọc Nang là những minh chứng hào hùng của đất và người Bạc Liêu Những

truyền thông văn hóa và đức tính cao đẹp đó sẽ là cơ sở cho một Bạc Liêu làm nên lịch

sử hào hùng với cả hai lần làm kháng chiến chong Pháp và chống Mĩ giành chính quyền

thành công ma không đồ máu.

1.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội

Trong thời kì Pháp thuộc từ năm 1867 đến 1945, dé phục vụ cho mục đích vơ vét

bóc lột Việt Nam nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng, Pháp đã tiền hành hai cuộc khai

thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1913) và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai

(1919-1929), hai cuộc khai thác thuộc địa nay đã có tác động mạnh mẽ đến kinh tế và xã hội

Bạc Liêu.

Doi với người Pháp, Bạc Liêu là một vùng đất day tiềm năng, chỉ sau Sai Gòn —Chợ Lớn Điều này được thê hiện rõ trong *Báo cáo tông quát của Tham biện đầu tiên

hat Bạc Liêu là Lamothe de Carier vào năm 1882 cho thấy tại thời điểm bay giờ, Bac

Liêu chưa ra gi nhưng trong tương lai sẽ nhanh chóng trở nên thành phố lớn nhất của

Nam Kỳ, sau Sài Gòn — Chợ Lon” (Nguyễn Thanh Liêm, 2015, tr.30).

Trong nông nghiệp: Bạc Liêu là tỉnh có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp nên Pháp

đầu tư một hệ thông cơ sở hạ tang kha đồng bộ và hoàn chỉnh tại đây dé phục vụ tốt nhấtcho việc khai thác, bóc lột, biển nơi đây trở thành nơi cung cap lúa gạo lớn phục vụ chochính quốc và xuất khâu Với chính sách đây mạnh khai hoang mở rộng diện tích đất

canh tác, từ một tinh có điện tích đất hoang hóa lớn ở Nam Ki, Bạc Liêu đã trở thành

tinh có diện tích trồng lúa lớn thứ hai “Nam 1920, diện tích đất nông nghiệp của Bạc

Liêu là 176.778ha, trở thành một tỉnh có diện tích đất nông nghiệp đứng thứ 4 ở Nam

Kì Cho đến năm 1930 Bạc Liêu đã vươn lên đứng thứ 2 với tông diện tích đất trồng lúa

là 330.030 ha” (Nguyễn Thanh Liêm, 2015, tr.91).

Về thủ công nghiệp: Mặc dù đã có từ trước nhưng phải đến đầu thé ki XX, cácngành nghề thủ công nghiệp ở Bạc Liêu mới có sự phát triển Bạc Liêu có rất nhiều

những ngành, nghé thủ công truyền thống nỗi tiếng như dan nát, nghề đệt chiếu, đệm,

nhuộm đặc biệt là nghề làm muối Tuy phát trién nhưng những nghành nghề nay phan

Trang 26

lớn được sản xuất theo hộ gia đình cho nên còn nhỏ lẻ và manh mún chỉ trừ nghề muối

là được sản xuất đại tra với quy mô lớn hơn so với các ngành nghé khác “Bac Liêu là

nơi có nghệ muối và phát triển mạnh nhất và lâu đời nhất ở Nam Kỳ, trong đó có làng

muối ở ấp Diém Điền — Long Điện ” (Nguyễn Thanh Liêm, 2015, tr.91).

Thương nghiệp: Phát triển, thương nhân người Hoa nôi trội trong việc trao đôi,

buôn bán “Bac Liêu trở thành đầu mỗi giao thương buôn bán với thị trường trong nước

và nước ngoài các thương gia người Hoa, người Pháp ưa chuộng một số mặt hàng như

gạo, muối, cá khô và tôm khô, hàng loạt các chợ mới được thành lập ở Bạc Liêu”

(Nguyễn Thanh Liêm, 2015, tr.91).

Về công nghiệp: Tại Bạc Liêu, mãi đến năm 1920, người Pháp mới bắt đầu cho xâydựng một vài nhà máy xay xát, chủ yếu là xay xát lúa gạo phục vụ cho việc xuất khẩu

Về mặt xã hội: Bạc Liêu là nơi quần tụ đông đảo của lưu dân các dân tộc đến dé

làm ăn sinh sống “Năm 1882, dan số hạt Bạc Liêu chừng 25.000 người, đến năm 1896,dân số trong toàn hạt đã tăng lên 46.489 người, đến năm 1943, Bạc Liêu có 317.000

người, din số liên tục tăng nhanh" (Sơn Nam, 1994, tr.283), trong đó người Việt chiếm

đông dao nhất, tiếp theo là người Khmer rồi đến người Hoa gốc Triều Châu Sau hai

cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Bạc Liêu có sự phân hóa sâu sắc xuất

hiện thêm các giai cap và tang lớp mới trong xã hội như: Tư Sản, Tiểu tư sản, Công

nhân các tang lớp trong xã hội bị bóc lột xuất hiện ngày cảng nhiều, đa phan họ 1a laođộng nghèo khé, bị phong kiến, thực dân áp bức bóc lột Nông dân phải đi làm thuê,

cuốc mướn, sống trong cảnh nợ nan, vay mượn, lệ thuộc vao địa chủ, công nhân bị bóc

lột, sông đời sóng khó khăn nghèo nan mâu thuẫn xã hội lên cao, dẫn đến bùng nô các

phong trảo dau tranh của nhân dân chống lại chế độ thực dân, phong kiến

Trang 27

họ đã nôi dậy dau tranh dé chéng lai ach cai tri cua thuc dan phong kién.

Nam 1861, nhân dân vùng dat Mũi đã nhắn chim xuông ghe ở cửa Bỏ

Đề dé ngăn cản tau Pháp đi vào Cả Mau Vào khoảng cudi năm 1867,

nhân dân vùng Hưng Hội, Gia Hòa, Hòa Tú, Mỹ Thanh thuộc phía bắc

Bạc Liêu hơn 1000 người tựu nghĩa dưới quyền chỉ huy của ông Chưởng

đã tô chức phục kích đánh bat ngờ gây cho quân Pháp nhiều thương vong Nam 1868, nhiều nghĩa quân ở vùng Đàm Chim — Đảm Doi theo Nguyễn Trung Trực sang đánh chiếm đồn Kiên Giang- Rạch Giá (Tính

Ủy - Uy ban nhân dan tinh Bạc Liêu, 2006, tr.19)

Năm 1870, dién ra cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp của 600 người dan do hai

anh em Đỗ Thừa Luong, Đỗ Thừa Tự lãnh đạo, kết quả tiêu diệt được một lính Pháp

một trí huyện cùng vài lính mã tà, cuộc nôi dậy kéo dai khoảng 3 năm thì bị Pháp đàn

áp.

Năm 1902, “người dan quận Vĩnh Loi đấu tranh không chịu đi xâu, với yêu sáchđòi giảm ngày công, trả thêm tiền, cấp thuốc trị bệnh Sau đó họ kéo lên Bạc Liêu đấutranh với tỉnh trưởng và gởi đơn khiếu nại lên thống đốc Nam Kì cuộc dau tranh bèn bi

kéo dài 2 năm, cuối cùng Pháp phải nhượng bộ chấp nhận những yêu sách của nhân dan”

Trang 28

(Tinh Ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, 2006, tr.20) Cũng vào năm này tại quận Cà

Mau nhân dan làng Tân Thành cũng đã nỗi day dưới sự lãnh đạo của ông Hương ThânChúng đòi các yêu sách giống như quận Vĩnh Lợi và cũng buộc được thực dan Pháp phải

nhượng bộ.

Vào những năm đầu của thé ki XX, “Pháp đã cơ bản bình định xong và thiết lập bộmáy cai trị ở Nam Kì” (Tinh Uy - Ủy ban nhân dan tinh Bạc Liêu, 2006, tr.20-21) Phongtrào đầu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Nam Bộ dién ra rằm rộ Ở Bạc Liêuxuất hiện hình thức dau tranh mới đó là thành lập các phường hội tiêu biếu là “Thién địahội” với khâu hiệu “Phan Thanh, phục Minh” (người Hoa), “Phan Pháp phụcNam (người Việt) “Thue dân Pháp đánh giá “Thiên Dia Hội” ở Chợ Lớn là cai dau,

“Thiên Địa Hội ” ở Bạc Liêu là cái đuôi ” (Ban Chap hành Dang bộ tinh Bạc Liêu, 2002,

tr.18).

Năm 1925, tại Bạc Liêu, các tang lớp học sinh sinh viên đã tô chức và hưởng ứng

phong trào doi thực dân Pháp phải thả cụ Phan Bội Chau, cũng trong năm nay tại làng

Tân Hưng (Cà Mau) dién ra cuộc đấu tranh của nhân dân chỗng lai dia chủ Batesti cướp

dat

Năm 1926, khi Sài Gòn đang diễn ra Lễ tang cụ Phan Châu Trinh thì rat nhiều các

học sinh, sinh viên là con em tỉnh Bạc Liêu học tại Sài Gòn đã nhiệt tình tham gia trong

đó phải kê đến “Tao Van Ty (La Kim Ly), Nguyễn Khắc Cung, Nguyễn Văn Sáu Các anh đã mang về cho Bạc Liêu nhiều sách báo tiên bộ Trong đó phải ké đến tờ báo “Viét

Nam Hồn” của Nguyễn Ái Quốc chủ trương Nguyễn Thể Truyền thực hiện” (Tỉnh Ủy

-Ủy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.22).

Tiếp đến vào năm 1927, dién ra cuộc nỗi dậy vũ trang của hơn 500 nông dân làng

Ninh Thạnh Lợi do Chủ Chọt (Trằn Kim Túc) lãnh đạo nhằm chống lại ách thông trị của

thực din Pháp và tay sai vì bị chiếm đoạt ruộng đất và bị phủi sạch quyền lợi trên chínhmảnh dat mà người nông dân nơi đây đã khai hoang Cuộc chiến dau diễn ra trong 2

ngày, nghĩa binh đã “Chém chết 3 tên lính mã tà, thu 3 súng, đâm bị thương tên cò

Bu-sẽ (Bouchet), cảnh cáo cai tông Trí và xã trưởng Mén, tay sai đắc lực cho Pháp” (Tinh

Trang 29

Uy - Ủy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.22) Dé dap tắt được cuộc ndi day này, chủ

tinh Rạch Giá phải cầu cứu viện binh của chủ tinh Can Thơ “Ca gia đình Chủ Chọt đều

hy sinh nhưng đó là một ngọn đòn làm thối động chính sách cai trị của thực dân hoi ấy

ở Đồng bằng sông Cửu Long” (Nguyễn Thị Được, 1994, tr.39), Cuộc nỗi đậy nay còn là

“minh chứng cho tình đoàn kết keo sơn của ba dân tộc Kinh-Khmer-Hoa gắn bó nhau

trong máu và đau thương, thé hiện tính kiên cường chống thực dân Pháp và cường hao”

(Tinh Ủy - Ủy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.22) gây tiếng vang trên toàn cõi Nam

Kỳ, làm cho chính quyên thực dan Pháp và cường hào phải khiếp sợ, chan bước.

Đến năm 1928, trên cánh đồng Nọc Nang ở lang Phong Thanh quận Giá Rai Tang

lớp dia chủ được thực dan Pháp chong lưng đã ngang nhiên cướp dat, cướp lúa đang phơi

trên sân của gia đình anh em Mười Chức Căm hận trước sự bạo ngược của thực dân

Pháp và tang lớp địa chủ tay sai Anh em Mười Chức đã lay biệt mẹ già và thé sẽ sống

chết để giữ gìn từng tac đất, hạt thóc của gia đình Dù biết thực dân Pháp và địa chủ rat

mạnh, nhưng với lòng căm thu sự bạo ngược và quân cướp nước anh em Mười Chức với

những thứ vũ khí thô sơ như cuốc, thuông, búa, liềm đã quyết tử tan công dé chồng lại

chúng Trong cuộc chiến này gia đình Mười Chức cỏ tới 4 người chết đỏ là Nguyễn Văn

Chức, Nguyễn Văn Nhẫn và Nguyễn Văn Nhịn (2 em của Mười Chức) và Phan Thị

Nghĩa là vợ của Mười Chức lúc này đang mang thai Nhiều lính mã ta và tay sai bịthương Đến ngày 17/2/1928, cò Tournier chết tại nhà thương Bạc Liêu

Vụ án đẫm máu ở đồng Nọc Nang qua báo chí đã làm chan động dư luận cả nước

lúc bấy giờ, chứng tỏ “Mâu thuẫn sâu sắc giữa nông dân và địa chủ phong kiến, giữa

nhân dân Bạc Liêu và dé quốc thông trị đã đến tột độ Đây là tiền đề mở đường cho

những người Cộng sản Việt Nam mang ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Nguyễn

Ái Quốc đặt chân lên vùng đất Bạc Liêu” (Hội nông dân Việt Nam, Ban chấp hành tinh

Bạc Liêu, 2011, tr.32).

Như vậy trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Tại Bạc Liêu đã diễn ra “những

cuộc dau tranh quyết liệt, nhưng mang tính tự phát của những người nông dân ban cùngchống lại sự dan áp” (Tinh Uy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.24) Họ đã dũng

Trang 30

cảm, gan góc đứng lên chống lại ach đô hộ cai trị hà khắc, cường quyền ác bá của chính

quyền thực dân phong kiến dé bảo vệ những người thân yêu, bảo vệ những phong tụctập quán cũng như từng tắc đất của quê hương đất nước Họ luôn luôn đứng lên làm cách

mang hong thoát khỏi cảnh “nước mắt, nha tan, thân làm nô lệ” Day là minh chứng rõ

ràng nhất cho truyền thông ngàn đời của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dan BacLiêu nói riêng và đó cũng chính là hạt giống tốt gieo mam cho cách mạng phát triển nơiđây.

1.2.2 Phong trào yêu nước chống thực dan Pháp của quân va dan tinh Bạc Liêu

giai đoạn 1930-1945

1.2.2.1 Bạc Liêu trong phong trào cách mạng 1930-1935

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đây là một sự kiện chính trị

trọng đại “cham dứt thời ki bé tắc, khủng hoảng về đường lối và ngọn cờ lãnh đạo củacách mạng Việt Nam suốt hơn 70 năm kế từ khi nước ta bị thực đân Pháp xâm lược”(Dang ủy, Bộ chi huy quân sự tỉnh Bạc Liêu, 2012, tr.22) Tại Bạc Liêu có bốn chỉ bộCộng sản được thành lập sớm nhất đó là: Chỉ bộ Đảng Cộng sản Việt Nam thị tran CàMau (1/1930): kế tiếp là sự ra đời của chỉ bộ ở làng Phong Thạnh quận Giá Rai vao

(2/1930), chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam làng Tân Thành (10/1930) và chi bộ Dang

Cộng sản lang Hòa Lạc quận Vinh Châu được thành lập (10/1931)1].

Dé hưởng ứng va hòa cùng cao trào cách mạng 1930-1931, tại Bạc Liêu “Các chi

bộ Đảng bắt tay vào việc thành lập Hội Phản để Đông mình, các tổ chức quân chúngkhác cũng được thành lập hoạt động theo phương hướng “Hội Phản để Đẳng minh”

như: Nông hội, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nhạc, Hội thợ thủ công, Hội tương te

ái hữu ” (Uy ban mặt trận Tô quốc Việt Nam tinh Bạc Liêu, 2015, tr.30) thu hút đôngđảo quần chúng tham gia

Ngày 1/5/1930, nhân kỉ niệm ngày Quốc tế lao động, các chỉ bộ Đảng tại Bạc Liêu

đã “tô chức treo cờ Dang, trưng biểu ngữ, rải truyền don” (Tinh Ủy - Uy ban nhân dân

Ê Theo lịch sử Dang tỉnh Sóc Trăng va lịch sử Đảng huyện Vinh Chau.

Trang 31

tinh Bạc Liêu, 2006, tr.25) ở nhiều nơi công cộng như các chợ, trường học, xí nghiệp,

bến xe dé hưởng ứng ngày Quốc tế lao động Tại thành Bạc Liêu nơi chưa có cơ sở

Pang nhưng lại xuất hiện *lá cờ đỏ búa liễm với dòng chữ “Pang Cộng sản đánh Tay”(Tinh Uy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.25) cùng với “Cac khẩu hiệu DangCộng sản Việt Nam muôn năm, Da dao để quốc Pháp, Đông Dương độc lập muôn nim”

(Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Minh Hải, 1995, tr.37) được sự ủng hộ đông đảo của quần chúng

nhân dân.

Đề hưởng ứng cao trào Xô Viết — Nghệ Tĩnh các chỉ bộ Đảng tại Bạc Liêu đã cho

rải truyền don, tô chức quan chúng nhân dân hô vang các khâu hiệu nhằm phản đối địch

dan áp, yêu cầu thực din Pháp không trả thù, bắt bớ và tìm cách bảo vệ những cán bộđáng viên đang hoạt động ở địa phương, chồng tô cao, lãi nặng và nhiều loại thuế vô líkhác của địch, doi chia lại ruộng đất công

Công nhân hãng xe hơi Hiệp Thành cùng với nhân dân thị xã Bạc Liêu

va những người làm mudi tô chức “Hợp tác xa” và * Hội ái hữu" dau

tranh đòi giới chủ phải tăng lương, giảm giờ làm Dân làm lộ Cà Mau

Năm Căn đấu tranh chong bắt đi phụ, đòi tiên công, đòi cấp thuốc trị bệnh Tại làng Khánh Bình nhân dan đứng lên đấu tranh chong tên địa

chủ Nguyễn Cao Hoài, một tên khét tiếng trong việc cướp đất công điền, nhân din đưa yêu sách lên nha cam quyên Pháp buộc chính phủ Pháp phải bỏ tù tên địa chủ Nguyễn Cao Hoài và tay sai của han, den bù cho

nạn nhân Nông dân làng Tân Hưng Tây dau tranh chéng xã Vang, ca

Khué, biện Đậu Nhân dan làng Phong Thanh-Gia Rai được chi bộ lãnh

đạo, kéo đến đinh quận gặp quận chưởng Nguyễn Văn Quý yêu câu miễn

thuế kiểm lâm cho bả con vào rừng đốn cây về cất lại nhiều nhà đo cơn

Trang 32

mạng và tiêu điệt hệ thông Dang của ta Đến cudi năm 1931, các chỉ bộ Đảng ở Bạc Liêu

tạm thoi bị tan rã “Tuy nhiên thanh thé của Đảng với chừng mực nhất định đã thâm nhập

vào một bộ phận quan chúng nông dan, trí thức, nhân sĩ yêu nước tiền bộ; tạo được tiên

đề cho bước dau tranh tiếp sau lớn hơn quyết liệt hơn” (Ủy ban mặt trận Tô quốc Việt

Nam tinh Bạc Liêu, 2015, tr.32).

Ké từ khi Dang Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, cuộc đấu tranhcủa quân va dan tinh Bạc Liêu đã chuyên từ dau tranh tự phát sang dau tranh tự giác, dau

tranh trên nhiều lĩnh vực khác nhau như dau tranh chính trị, dau tranh kinh tế với nhiều

hình thức khác nhau hợp pháp vả bat hợp pháp Quan chúng được tập hợp trong các tô

chức công khai đã dùng rất nhiều hình thức đấu tranh hợp pháp dé chống lại địa chủcường hao hà hiếp nông dan, chong lại quan lại tham những của công

1.2.2.2 Bạc Liêu trong phong trào cách mang 1936-1939

Trong thời kì 1936 - 1939, khi tình hình thé giới và Đông Dương có nhiều thay đôi,Dang Cộng sản Đông Duong đã xác định mục tiêu try tiếp, trước mat là: “Bau tranh

chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dan chu,

cơm áo và hòa bình” (Dinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình

Lễ, 2008, tr.328)

Tại Bạc Liêu dé hưởng ứng phong trào “Đông Dương Đại hội”, các “Uy ban hành

động” đã được thành lập là nơi tập hợp và thu hút được đông đảo quan chúng nhân dân

tham gia.

Dưới sự điều hành của các ủy ban hành động từng giới từng địa phương

tô chức hội họp thảo luận, lập bảng dân nguyện, cử người đi giải thích

va lay chữ ki, cử đại biểu di họp hội nghị cap trên Thực chất đây là một

Trang 33

đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn nhằm giác ngộ quan chúng về các quyền

lợi sống còn của ho, làm cho họ hiểu được thé nao 1a dan chủ, là tự do

và can đoàn kết dau tranh giành lay những gi Hoang sợ trước một phong

trào ngày càng lôi cuén hang vạn quan chúng, bọn thực dan ra lệnh cam

và giải tan các Uy ban hành động Dù vay, trên cơ sở ảnh hưởng rộng

lớn của Đảng phong trào Đông Dương đại hội mở ra, các đồng chi đáng

viên ở Bạc Liêu vẫn ra sức xây dựng và phát triển phong trảo quan chúng

và cơ sở Đảng (Ban Tuyên giáo tinh ủy Minh Hai, 1995, tr.Š4-5S).

Ở thành thị giai cấp công nhân *Đòi tăng lương giảm giờ làm, đòi tự do hội hop,

lập nghiệp đoàn” (Tinh Ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, 2006, tr.27), ở các khu chợ

chị em phụ nữ “đòi giảm thuế, chống thu tiền chợ quá cao” (Tinh Ủy - Ủy ban nhân dân

tỉnh Bạc Liêu, 2006, tr.27) buộc Pháp phải giảm xuống từ 30 đến 50 phần trăm so vớimức thuế cũ Ở nông thôn diễn ra sôi nôi các phong trảo của quần chúng nông dân đòi

giảm tô, giảm tức, chong địa chủ, cường hào cướp đoạt ruộng dat, chong đấu giá công

điền, đỏi miễn giảm thué thân có những cuộc biểu tinh với quy mô lớn gay được tiếngvang như năm 1937, diễn ra cuộc đấu tranh của gần hai ngàn dân các xã bị bắt đi xâu

đắp tuyến đường từ Cà Mau đi Năm Căn, nhân dan đòi chủ thầu phải tăng tiền công, cho

uống nước ngọt và phải có thuốc trị bệnh hay cuộc đấu tranh của hang ngàn nông dân

các xã Tân Phú, Phước Long, Mỹ Quới, Ninh Quới, Vĩnh Phú, Vĩnh Hưng vào tháng

6/1937, buộc địch phải nhượng bộ và chấp nhận nhiều yêu sách của nhân dân Đỗi với

lực lượng phản động Trét-kit Đảng bộ, quân và dân Bạc Liêu đã vạch tran bộ mặt phản

cách mạng của lực lượng nảy, các chi bộ Đảng tích cực giáo dục quân chúng hiểu rõ

đường lối, sách lược đúng đắn của Đảng, vạch ra thủ đoạn lửa bịp hong phá hoại cách

mạng của Trốt-kít Đến cudi năm 1938, tại Bạc Liêu đã có 21 chỉ bộ với trên 100 dangviên Đến năm 1939, trong toản tinh đã có 125 đảng viên

Trang 34

Như vậy với cao trào dân chủ 1936 - 1939, tai Bạc Liêu đã tap hợp được một lực

lượng chính trị hùng hậu, quan chúng nhân dân được tập dượt với nhiều các phương

pháp và hình thức đấu tranh phong phú, cơ sở Đảng thì không ngừng lớn mạnh, có kinhnghiệm trong lãnh đạo và dau tranh đây sẽ là một bước đà để giúp cho Bạc Liêu bướcvào giai đoạn 1939 - 1945, giành chính quyền một cách nhanh chong và không đồ máutrong cách mạng tháng Tám.

1.2.2.3 Bạc Liêu trong phong trào đấu tranh cách mạng từ năm 1940 đến trước

tháng 8 năm 1945

Ngày 1/9/1939, chiến tranh thé giới thứ hai chính thức bat đầu, sự kiện nảy có tác

động mạnh mẽ đến tình hình cách mạng trong nước nói chung và tại tỉnh Bạc Liêu nói

riêng Sau khi hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11/1939) kết thúc, tiếp thu quan điểm chỉ

đạo quân và dân Bạc Liêu tích cực chuẩn bi cho khởi nghĩa vũ trang “Dang bộ Bạc Liêu

được nhanh chóng khôi phục và phát triển, khan trương chọn lọc những quan chúng tốt,

vững vàng đưa vào các tô chức cách mạng như Hội công nhân phản đề nông dan phản

dé, thanh niên phản đế" (Tinh Ủy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.28) dé chuẩn

bj lực lượng tốt nhất cho thời ki dau tranh mới

Sau khi khởi nghĩa Nam Kì bùng nô, “Tinh ủy Bạc Liêu đã họp hội nghị mở rộng

tại căn cứ ở Lung Lá-Nhà Thé bàn kế hoạch khởi nghĩa, nhất trí quyết định phát động

khởi nghĩa trong toàn tinh và phân chia thành 3 khu vực” (Tinh Ủy - Ủy ban nhân dan tỉnh Bạc Liêu, 2006, tr.30), trong đó vùng Năm Căn sẽ là điểm chính còn Hòn Khoai sẽ

là điểm khởi đầu Ngày 13/12/1940 đồng chí Phan Ngọc Hiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa

Hon Khoai diễn ra đúng như dự kiến và nhanh chóng giành được thắng lợi, hai ngày sau

(15/12/1940) Pháp đưa quân tập kích vào Rach Gốc đẻ tiêu điệt lực lượng khởi nghĩa,

trước thế lực đông của địch, các chiến sĩ khởi nghĩa phải rút vào rừng và bị thực dân

Pháp vây bắt tại bãi Khai Long vào ngày 22/2/1940 Thực dân Pháp giam cầm, tra tắn

các chiến sĩ nhưng vẫn không moi được một tin tức gì đến ngày 12/7/1941 tại sân vận

động Cà Mau, Pháp tiền hành xử tử 10 chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, saukhi xử tử xong, Pháp lại điên cuồng khủng bố trang, bắt bớ, chém giết đưa đi day hàng

Trang 35

loạt các chiến sĩ cách mang và những người khởi nghĩa Cũng giống như khởi nghĩa Nam

Kì khởi nghĩa Hòn Khai ở Bạc Liêu nô ra khi mà thời cơ chưa chín muỗi, cudi cùng bị

thực dân Pháp dim trong biển mau, máu của các chiến sĩ tô thắm lá cờ đỏ sao vàng nhưng

nó đã thé hiện tinh thần yêu nước nông nàn, ý chí kiên cường bat khuất, quyết hy sinh vìđộc lập tự do của nhân dan, lả nguồn cô vũ mạnh mẽ cho toàn thé nhân dân Việt Namtiễn lên trên con đường giải phóng dân tộc, đỏng thời là cuộc tập dugt với quy mô lớn

cho tông khởi nghĩa tháng Tám sau này.

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng

Việt Nam và chủ trì Hội nghị Trung wong Đảng lần thứ 8 tại Pac Pó (Cao Bằng) tiếp thu

chỉ đạo từ Trung Ương “Tir nam 1941 đến đầu năm 1945, Đảng bộ Bạc Liêu vừa xâyđựng lại tỏ chức và phong trảo cách mạng ở cơ sở, vừa chuẩn bị lực lượng khởi nghĩakhi có thời cơ đến” (Tinh Ủy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.33-34) Trong

lúc Đảng bộ Bạc Liêu vừa được cùng cố lại và bắt đầu thâm nhập vào quan chúng thìtình hình quốc tế va trong nước lại có nhiều chuyên biến mau lẹ Tại Châu Au, phát xit

Đức đã ráo riết chuân bị xâm lược Liên Xô, ở Châu A, Nhat chuan bị đánh chiếm các

thuộc địa và căn cứ quân sự của Anh, My ở khu vực Thai Bình Dương Còn tại Đông

Dương nhân dân đang rên siết đưới ách cai trị của Pháp và Nhật Ngày 9/3/1945, Nhật

tiến hành đảo chính Pháp, đến ngày 12/3/1945 “Thường vụ Trung ương Dang đã đề ra chỉ thị “Nhat Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (Tình Uy - Ủy ban nhân dân

tinh Bạc Liêu, 2006, tr.34) Sự kiện Nhật đảo chính Pháp đưa tinh thế cách mạng vàothời kì tiền khởi nghĩa tại Bạc Liêu (Tinh Ủy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu 2006,

tr.34), công tác chuẩn bị cho khởi nghĩa diễn ra ngày càng khan trương “Tai Bạc Liêu,

các đồng chí vừa thoát khỏi nhà tù Bà Ra và các nhà tù khác, cùng các đồng chi còn lại

ở địa phương ráo riét tuyên truyền tô chức quan chúng chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa”

(Tinh Ủy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006, tr.34).

1.3 Cách mạng tháng Tam năm 1945 thành công ở Bạc Liêu.

Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành

lập phát động tông khởi nghĩa trong ca nước Lãnh tụ Hồ Chí Minh kêu gọi “todn quốc,

Trang 36

dong bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (Tỉnh Uy - Ủy ban nhân

din tỉnh Bạc Liêu, 2006, tr.35) Tại Bạc Liêu, “Tinh ủy lâm thời Bạc Liêu đã kịp thời

chỉ đạo và lãnh đạo các lực lượng và quần chúng nhân dân áp đảo địch, giành chínhquyền” (Tinh Ủy - Uy ban nhân dan tinh Bạc Liêu, 2006, tr.35) Ngày 17/8/1945, Mặttrận Việt Minh của tinh Bạc Liêu được thành lập dong chí Lê Khắc Xương chủ nhiệm,

phó chủ nhiệm là Cao Triều Phát cùng một số ủy viên mặt trận Ngày 20/8/1945, quân

Pháp ở thành Bạc Liêu tô chức lễ đón Nguyễn Văn Sâm khâm sai đại thần tay sai phát

xít Nhật tại khu vực bến xe Bạc Liêu (nay là khách sạn Bạc Liêu) Biết được ý đồ của

địch, Tỉnh ủy và Mặt trận Việt Minh đã chủ động huy động hơn 3000 người biêu tỉnh thị

uy, giương cờ Việt Minh, băng đả đảo khâm sai đại thần Nguyễn Văn Sâm, hô khâu hiệu

“Việt Minh muôn năm”, "Chính quyền vẻ tay nhân dân”, “đá đảo chính quyền banhìn " đến tối cùng ngày Uy ban Dân tộc Giải phóng tinh Bạc Liêu được thành lập do

bác sĩ Nguyễn Tú Vinh làm chủ tịch với nhiệm vụ cấp bách là tỏ chức và chỉ đạo cuộc

khởi nghĩa giành chính quyền

Đúng 7 giờ sáng ngày 23/8/1945, tại phòng làm việc của tỉnh trưởng Truong Công

Thiện quân và dân Bạc Liêu yêu cầu Trương Công Thiện phải bàn giao chính quyên cho

cách mạng Trước khí thé bão lửa cách mạng Trương Công Thiện đã buộc phải tuyên bốđầu hàng và công bố “Kể từ giờ phút này, chính quyền tinh Bạc Liêu đã thuộc về cáchmang, thuộc về nhân dân” (Ban Tuyên giao Tinh ủy Bạc Liêu, 2005, tr.35), đến sáng

ngày 25/8/1945, nhân dân Bạc Liêu làm lễ chào mừng Cách mạng tháng Tám thành công

với rợp trời cờ do sao vàng, bang rôn khâu hiệu." “Trong buôi mít tinh, đại diện mặt trận

Việt Minh đọc lời chao mừng và tuyên bố chính quyền về tay nhân dân và giới thiệu

chương trình 10 điểm của mặt trận Việt Minh” (Uy ban mặt trận Té quốc Việt Nam tinh

Bạc Liêu, 2015, tr.55), quần chúng vỗ tay reo hò trong niềm phan khởi vô cùng

Tại Bạc Liêu, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm

1945 diễn ra nhanh chóng quyết liệt, không đồ máu và giành được thắng lợi hoàn toàn,

cùng với Long An thì Bạc Liêu là một trong hai địa phương giành chính quyền sớm nhất

Trang 37

ở Nam Bộ Trong đó “Bạc Liêu là tinh đầu tiên của Tây Nam Bộ khởi nghĩa thành cong”

(Ban biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ, 2010 tr.85)

Thắng lợi của cách mạng thang Tám năm 1945 tại Bạc Liêu thê hiện sự lãnh đạotài tình đúng đắn của Dang, sự vận dụng sáng tạo của Tinh Uy lâm thời Bạc Liêu vềđường lối, chủ trương chung của Đảng vào hoàn cảnh thực tế của địa phương là sự kết

hợp chặt ché giữa các lực lương chính trị, bình vận va quân sự Đặc biệt là sử dụng đúng

sức mạnh tông hợp của nhân dân Bạc Liêu vốn có truyền thông yêu nước và cách mạng

Thang lợi của cách mạng tháng Tám ở Bạc Liêu góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân ghi

một đấu son chói lọi cho lịch sử nước nhà dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa Ké từ đây người din Bạc Liêu đã cùng nhân cả nước lên nắm chính quyền và

làm chủ nước nhà.

Tiểu kết chương I

Bạc Liêu, một vùng đất với nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và đadang, nơi hội tụ của các dân tộc gom người Việt-Hoa-Khmer ho đến mảnh đất nảy dé

khai hoang lập làng sinh co, lập nghiệp và gắn bó máu thịt với manh dat này, chính sự

cô kết cộng đồng nảy đã tạo nên những truyền thống vô củng quý báu mang đặc trưng

vừa chung vừa riêng của tỉnh, một trong những truyền thong nôi bật đó là “lòng yêu quélương đất nước, căm ghét chế độ thực dân phong kiến, cần cù sang tạo trong lao động,bắt khuất trong dau tranh và một lòng theo Dang” (Tinh Uy - Uy ban nhân dan tinh BạcLiêu, 2006, tr.7).

Trong suốt tiến trình lich sử của dân tộc nói chung và lịch sử tỉnh Bạc Liêu nói

riêng, quân và dân tỉnh Bạc Liêu luôn thê hiện khí phách kiên cường, bắt khuất Trước

khi Dang Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mang, tai vùng dat nay da nô rarat nhiều các cuộc dau tranh dé chống lại chế độ thực dân, phong kiến và tay sai gayđược tiếng vang không chỉ ở Nam Bộ mà còn trên cả nước tiêu biểu phải kẻ đến “Cuộc

nôi đậy của hai anh em Dé Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự ở U Minh Ha (1870 — 1872); của

nông dân làng Ninh Thạnh Lợi do hương chủ Chọt lãnh đạo (1927) của gia đình Mười

Trang 38

Chức ở đồng Nọc Nang (1928) ` (Tinh Ủy - Uy ban nhân dân tinh Bạc Liêu, 2006,

tr.8).

Từ khi Dang Cộng san Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, quan va dân tinh

Bạc Liêu lại càng khí phách hơn luôn tiếp thu kịp thời những chỉ đạo, vận đụng sáng tạonhững chủ trương đường lối của Đảng vào tình hình riêng của tỉnh để làm lên những

thắng lợi vẻ vang qua các phong trào chung như cao trào 1930-1931, Phong trào vận

động dân chủ 1936-1939, cao trao vận động giải phóng dân tộc 1939-1945, khiến cho kẻ

thù phải khiếp sợ tiêu biểu phải kế đến chiến thắng Hòn Khoai (1940), đặc biệt là giành

chính quyên một cách “nhanh chóng” và “khéng đồ máu” trong cách mang tháng Tám

năm 1945 Bạc Liêu tự hào là tỉnh đầu tiên ở Tây Nam Bộ giành được chính quyền sớmnhất điều này chứng tỏ sự nhạy bén, tỉnh thần cách mạng quật khởi của quân và đân BạcLiêu Điều nay tạo ra thé và lực giúp Bạc Liêu hoàn thành cuộc kháng chiến chống Pháp

giai đoạn sau một cách thuận lợi cùng với nhân đân cả nước viết lên trang sử hào hùng

trong cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945-1954

Trang 39

Đầu năm 1945, khi chiến tranh thế giới thử hai dang bước vào giai đoạn sắp kết

thúc Hội nghị lanta được triệu tập vào tháng 2/1945, với sự tham dự của lãnh đạo ba

cường quốc là Anh, Mĩ và Liên Xô Tiếp sau hội nghị Ianta là thỏa thuận của hội nghị

Posdam được tô chức từ ngày 17/7/1945 cho đến ngày 2/8/1945 “Những quyết định của

Hội nghị cấp cao Ianta tháng 2-1945 đã trở thành những khuôn khô của trật tự thé giới

mới|[ ] thường được gọi là trật tự hai cực lanta” (Nguyễn Anh Thái, 2010, tr.224)

Phong trào dau tranh giải phóng dân tộc, đòi độc lập ở các nước thuộc địa ở châu

A, châu Phi, châu Mỹ Latinh sau chiến tranh thé giới thứ hai phát triển mạnh mẽ làm

lung lay hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa dé quốc

Liên Xô và Mĩ từ Đồng minh chống Phát xít chuyên sang đối đầu sau chiến tranh

thé giới thứ hai do mục tiêu và chiến lược của hai cường quốc này khác nhau Chiến

tranh lạnh với sự đôi đầu giữa Mi và Liên Xô đại diện cho hai phe tư bản chủ nghĩa va

xã hội chủ nghĩa là nhân tố chú yếu chi phối quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ

hai Bối cảnh quốc tế này đã có những tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh và bảo vệ

nên độc lập dân tộc vừa mới giảnh được của nha nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Ngày 15/8/1945, khi vừa biết tin Nhật Ban đầu hàng Đồng minh “De Gaulle vội vàng cử đại tướng Leclerc làm Tông chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương (Ngày 17/8/1945) kèm theo chỉ thị “Sie mệnh hàng đâu là lập lại chủ quyên của Pháp trên các lãnh thổ của Liên bang Đông Dương” Đề thực hiện tham vọng ấy, Pháp phải

giành cho được sự ủng hộ và giúp đỡ của Mỹ, siêu cường đứng đầu phe để quốc tư bản

chủ nghĩa” (Ban biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ, 2010, tr.100)

Khi tiếp De Gaulle ngày 24/8/1945 tại nhà trắng tong thong Mi Harry

S.Truman hứa “Trong mọi trường hợp đối với Đông Dương, chính phủ

Trang 40

của tôi không chống lại việc chính quyền vả quân đội Pháp quay trở lại

xứ ấy” Trumnan còn cho Pháp vay dai hạn 650 triệu đô la viện trợ

nhiều súng đạn và cho mượn tàu trở quân Pháp sang tái chiếm Đông

Dương Ngoài MY, Pháp con cần cá Anh nữa, vi Anh vừa được hội nghị

các cường quốc ở Potsdam (từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945) giao cho nhiệm vụ giải giới và hoi hương quân Nhat ở phía Nam Đông Dương (Từ vĩ tuyến 16 trở vào) (Ban biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ 2010,

Năm 1949, Mĩ đã bắt đầu dính líu và can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh ở

Đông Dương nhằm từng bước thay thé chân Pháp ở Đông Duong với mục đích biến

Đông Dương trở thành thuộc địa kiêu mới và căn cứ quân sự đẻ hình thành phòng tuyếnchống cộng san, dan áp và ngăn chặn phong trảo giải phóng dân tộc ở Đông Nam A

Với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, thực dan Pháp buộc phải ngồi vào bản

dam phán kí kết hiệp định Giơnevơ (1954) vé châm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình

ở Đông Dương, cuộc chiến tranh ở Đông Dương phan ánh cuộc đối đầu gay gắt giữa hai

phe tư bản chủ nghĩa do Mĩ đứng đầu và xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu

Ngày đăng: 04/04/2025, 03:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 29. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ông Cao Triều Phat Nguồn: (Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tinh Bạc Liêu, 2015, trang 336-337} - Luận văn thạc sĩ Lịch sử Việt Nam: Lịch sử phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 1945-1954
Hình 29. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ông Cao Triều Phat Nguồn: (Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tinh Bạc Liêu, 2015, trang 336-337} (Trang 155)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm