1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản trị kênh phân phối chủ Đề Ảnh hưởng của Đại dịch và khủng hoảng kinh tế Đến kênh phân phối

29 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Đại Dịch Và Khủng Hoảng Kinh Tế Đến Kênh Phân Phối
Tác giả Đặng Đình Thi, Nguyễn Đại Dương, Nguyễn Tiến Long, Nguyễn Văn Linh, Lê Hồng Anh, Lê Ngọc Linh
Người hướng dẫn Giảng Viên: Hoàng Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Thủy Lợi
Chuyên ngành Quản Trị Kênh Phân Phối
Thể loại Bài Tập Nhóm
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 579,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những ảnh hưởng đến nền kinh tế của Covid 19 đã tác động , gây ra những ảnh hưởng , sự thay đổi lớn trong kênh phân phối của các doanh nghiệp ⇒ Những tác động sâu rộng của COVID-19 đối

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

- -BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ KÊNH PHÂN PHỐI CHỦ ĐỀ: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KÊNH

PHÂN PHỐI Giảng Viên: Hoàng Thu Hiền Thành viên nhóm:

1 Đặng Đình Thi

2 Nguyễn Đại Dương

3 Nguyễn Tiến Long

4 Nguyễn Văn Linh

5 Lê Hồng Anh

6 Lê Ngọc Linh

HÀ NỘI – 2024

Trang 2

MỤC LỤC

I.KHÁI QUÁT VỀ ĐẠI DỊCH COVID 19

II TÁC ĐỘNG CỦA COVID-19 ĐẾN KÊNH PHÂN PHỐI

2.1 Gián đoạn chuỗi cung ứng

2.2 Sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng

2.3 Áp lực tài chính lên doanh nghiệp

2.4 Khó khăn trong việc vận chuyển

III BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ ĐẠI DỊCH

3.1 Thay đổi mô hình kinh doanh,kênh phân phối

4.1.1 Giới thiệu doanh nghiệp DMX

4.1.2 Phân tích đối thủ cạnh tranh

4.2 Mô hình SWOT của ĐMX trong covid 19

4.3 Tác động của COVID-19 tới ĐMX

4.3.1 Sự gián đoạn trong hoạt động kinh doanh

4.3.2 Thay đổi trong hành vi tiêu dùng và chuỗi cung ứng

4.3.3 Thách thức về nhân sự và chiến lược kinh doanh

4.4 Đề xuất giải pháp mô hình

Trang 3

I.Khái quát về đại dịch covid 19

Đại dịch COVID-19, bắt nguồn từ Vũ Hán, Trung Quốc cuối năm 2019, nhanh chóng lan rộng toàn cầu do virus SARS-CoV-2 Tính đến năm 2023, thế giới ghi nhận hơn 760 triệu ca nhiễm và6,9 triệu ca tử vong Đại dịch gây suy thoái kinh tế, đình trệ các ngành du lịch, giáo dục và làm quá tải hệ thống y tế Các giải pháp như tiêm chủng vaccine, giãn cách xã hội và phát triển thuốc điều trị đã được triển khai COVID-19 để lại bài học về tầm quan trọng của hợp tác quốc tế và chuẩn bị cho các đại dịch trong tương lai

Đại dịch COVID-19 gây ra cú sốc lớn đối với nền kinh tế toàn cầu, dẫn đến suy thoái nghiêm trọng trên nhiều quốc gia Các biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội khiến nhiều ngành kinh

tế như du lịch, hàng không, bán lẻ và sản xuất bị đình trệ, hàng triệu doanh nghiệp phải đóng cửa

và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, gây thiếu hụt hàng hóa và tăng giá nguyên liệu Các chính phủ đã phải chi hàng nghìn tỷ USD để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, dẫn đến thâm hụt ngân sách và nợ công tăng mạnh Mặc dù kinh tế toàn cầu đang dầnphục hồi, hậu quả của đại dịch vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến tăng trưởng và ổn định tài chính trongdài hạn

(Những ảnh hưởng đến nền kinh tế của Covid 19 đã tác động , gây ra những ảnh hưởng ,

sự thay đổi lớn trong kênh phân phối của các doanh nghiệp )

⇒ Những tác động sâu rộng của COVID-19 đối với nền kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối, buộc họ phải thích ứng với những thay đổi lớn về mô hình vận hành, kênh bán hàng và phương thức tiếp cận khách hàng Đại dịch COVID-19 đã tác động sâu sắc đến kênh phân phối của các doanh nghiệp toàn cầu, thúc đẩy những thay đổi lớn trong cách thức vận hành và tiếp cận thị trường. 

II TÁC ĐỘNG CỦA COVID-19 ĐẾN KÊNH PHÂN PHỐI.

2.1 Gián đoạn chuỗi cung ứng

Kể từ khi dịch Covid-19 lần đầu tiên được công bố vào cuối năm 2019, đại dịch đã lây lan đến hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với hàng trăm triệu ca mắc bệnh Mặc dù số ca nhiễm có dấu

Trang 4

hiệu giảm mạnh kể từ đầu năm 2022 đến nay và các quốc gia đang làm quen với quá trình “bình thường mới” để phục hồi nền kinh tế, tuy nhiên Thế giới đang trải qua cuộc suy thoái tồi tệ nhất

kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Theo Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO), tuy thương mại toàn cầu đã có sự hồi phục mạnh mẽ kể từ đầu năm 2021, nhưng khối lượng thương mại toàn cầu có dấu hiệu chững lại kể từ Quý 3/2021 và dự báo sẽ suy giảm trong năm 2022 (Hình 1)

do lo ngại về những biến thể mới của Covid-19 sẽ làm dịch bệnh bùng phát mạnh mẽ trở lại và thế giới vẫn chưa có biện pháp để kiểm soát hoàn toàn dịch bệnh mà không làm ảnh hưởng tới nền kinh tế

Hầu hết các sự kiện, chẳng hạn như động đất, sóng thần, rò rỉ phóng xạ hoặc chiến tranh, thường chỉ giới hạn trong các khu vực địa lý cụ thể và trong thời gian tương đối ngắn Tuy nhiên, trong vòng 4 tháng, kể từ khi bùng phát lần đầu tiên, vi rút Covid-19 đã lây lan trên toàn cầu, khiến hàng tỷ người phải ở trong tình trạng giãn cách xã hội, đồng thời khiến các ngành kinh tế ngừng hoạt động một phần hoặc toàn bộ Ngoài ra, với khả năng lây lan và đột biến mạnh của virus, khó

có khả năng dự đoán được thời điểm kết thúc đại dịch

Trang 5

Hầu hết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của Việt Nam đều phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu, vật tư, phụ tùng nhập khẩu từ Trung Quốc nên khi đại dịch COVID-19 bùng nổ gây tê liệt nền kinh tế Trung Quốc đã trực tiếp làm suy yếu hoạt động sản xuất kinh doanh của Việt Nam Trong đó, ngành công nghiệp điện - điện tử (máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại và linh kiện) là ngành có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc Đại dịch gây ảnh hưởng đến nguồn cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ của ngành điện tử Việt Nam, đặc biệt là ảnh hưởng đến nguồn linh phụ kiện đầu vào cho sản xuất trong nước, dẫn đến tăng chi phí sản xuất, lợi nhuận giảm Các ngành sản xuất khác có nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc như da giày, dệt may cũng gặp khó khăn “kép”, cả về nguồn cung đầu vào sản xuất và sức mua của thị trường sụt giảm Số lượng doanh nghiệp mới thành lập cũng giảm ở hầu hết các lĩnh vực, mức giảm mạnh nhất bao gồm cáclĩnh vực nghệ thuật, vui chơi, giải trí (giảm 23%), lĩnh vực bán buôn, bán lẻ (giảm 11,8%), dịch

vụ vận tải kho bãi (giảm 37,9%)

Trung Quốc dừng thông quan tại các cửa khẩu với Việt Nam và tăng cường quản lý các cửa khẩunhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh COVID-19 khiến mọi hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, đặc biệt là hàng nông - lâm - thủy sản gặp nhiều khó khăn Các ngành chịu tác động tiêu cực lớn nhất từ đại dịch COVID-19, bao gồm: may mặc, bán lẻ, thủy sản, dầu khí, chứng khoán, cảng biển và vận chuyển, dịch vụ sân bay, hàng không Đặc biệt, những ngành sản xuất, xuất khẩu chủ lực của Việt Nam phụ thuộc nguồn nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc chịu tác động mạnh nhất do thiếu nguyên liệu đầu vào, gián đoạn chuỗi cung ứng do nguồn thay thế hạn chế Do nhiều ngành sản xuất của Việt Nam phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập từ Trung Quốc nên dù nhiều nhà máy Trung Quốc mở cửa hoạt động trở lại nhưng việc kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc cũng chặt chẽ hơn, khiến nhiều ngành sản xuất của Việt Nam vẫn tiếp tục bị thiếu hụt nguyên liệu Là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, khi sức mua của

Trang 6

nền kinh tế Trung Quốc giảm, kinh tế Việt Nam cũng sẽ chịu tổn thương lớn hơn so với các nền kinh tế khác có quy mô tương đương trong khu vực.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, các thị trường cung cấp nguyên liệu, sản xuất bị gián đoạn, tác động tới các chuỗi cung ứng trong ngành chế tạo và lan ra khắp khu vực bởi vai trò vượt trội của Trung Quốc là cơ sở sản xuất Việc đóng cửa hàng nghìn nhà máy ở Trung Quốc đồng nghĩa với việc hoạt động sản xuất sẽ bị gián đoạn ở các nước sử dụng linh kiện do Trung Quốc sản xuất Thậm chí, ngay cả ở các công ty không liên hệ trực tiếp với Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng.Doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất khi đại dịch COVID-19 tác động trực tiếp thị trường xuất nhập khẩu, thị trường tiêu thụ nguyên vật liệu Nhiều đối tác ở các nước ngừng giao dịch, thậm chí xin hủy đơn hàng đã ký trước Bối cảnh

đó buộc các doanh nghiệp phải chủ động sắp xếp lại tổ chức, dây chuyền sản xuất và tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho xuất khẩu phải đốimặt với tình trạng các đơn hàng nước ngoài không ngừng sụt giảm Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chế tạo và chế biến của Việt Nam đều sụt giảm

Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã có nhiều định hướng trong việc duy trì, ổn định các hoạt động sản xuất, kinh doanh, không để đứt gãy chuỗi cung ứng nhưng do dịch bệnh diễn biến phức tạp nên số lượng doanh nghiệp chế biến, chế tạo rút lui khỏi thị trường tiếp tục tăng Trong 6 tháng đầu năm 2021, số lượng doanh nghiệp chế biến, chế tạo tạm dừng kinh doanh có thời hạn là 4.225 doanh nghiệp, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2020 Doanh nghiệp chế biến, chế tạo hoàn tất thủ tục giải thể là 1.138 doanh nghiệp, tăng 29,8%

Đứt gãy chuỗi cung ứng kéo theo những hạn chế của chuỗi cung ứng đường dài Những chuỗi cung ứng đường dài này có thể khiến doanh nghiệp đối mặt với tình cảnh hàng tồn kho chất chồng Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 24,3% (tháng 6-2021) so với cùng thời điểm năm 2020 (tăng 26,7%) Trong đó, một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao, như sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; dệt; sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất

2.2 Sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng

Thói quen chi tiêu của người dân thay đổi sau đại dịch Covid-19: Thời gian giãn cách xã hội do bệnh dịch Covid-19 đã làm đa số thu nhập của người dân, nhất là ở khu vực thành thị bị ảnh hưởng và giảm mạnh do tình trạng mất việc, thời gian làm việc ít hơn, do không di chuyển và vận chuyển hàng hóa… NTD gần như thay đổi thói quen mua sắm, thay đổi các giá trị ưu tiên trong hành vi mua khi thu nhập bấp bênh Họ thận trọng hơn và có xu hướng chỉ mua những hàng hóa thật sự cần thiết cho cuộc sống hằng ngày, đồng thời, có sự lựa chọn kỹ lưỡng về giá cảtrước khi mua

Thay đổi hình thức mua hàng hóa của NTD: Qua các đợt giãn cách xã hội, số lượng NTD mua sắm tại các siêu thị, chợ truyền thống giảm dần, thay vào đó là ưu tiên các hình thức mua sắm trực tuyến trên các trang mạng xã hội thông qua các thiết bị công nghệ điện tử như laptop,

Trang 7

smartphone Xu hướng chuyển sang hình thức mua hàng hóa trực tuyến thay cho hình thức mua hàng truyền thống vẫn được NTD sử dụng khi dịch bệnh Covid-19 tạm lắng xuống Mặt khác, hình thức mua trực tuyến với các hàng hóa quảng cáo hấp dẫn, phương thức thanh toán thuận lợi,giao hàng nhanh chóng làm hài lòng NTD nên họ vẫn duy trì hình thức mua này.

Ngoài ra, mạng xã hội là một trong những kênh tham khảo của NTD trước khi họ ra quyết định mua sắm hàng hóa nào đó NTD có thể nhận được rất nhiều thông tin chi tiết về sản phẩm thông qua mạng xã hội trong một không gian nhỏ cô đọng và khá nhanh chóng về mặt thời gian, đặc biệt những chương trình khuyến mãi và sự chia sẻ cảm nhận về hàng hóa của những khách hàng khác trên các trang mạng xã hội đã thu hút sự chú ý và ra quyết định mua của NTD Chính sự tiện lợi của các nền tảng mua sắm trực tuyến là một phần kích thích nhu cầu mua sắm của NTD Với các sàn mua sắm lớn, như: Shopee, Lazada hay các app Grab, Shopee Food, Beamin ngày càng phát triển mạnh đã giúp NTD có thể tiết kiệm thời gian thay vì phải đi đến các cửa hàng hay trung tâm thương mại

Xu hướng lựa chọn hàng hóa: Phần lớn NTD chỉ mua sắm những mặt hàng thiết yếu, trong đó ưutiên số một là thực phẩm, sữa, sau đó là dụng cụ hỗ trợ nấu ăn Thay vì mua nhiều lần, NTD có

xu hướng mua dự trữ với số lượng hàng hóa gấp 2 – 3 lần so với trước đây Mặt khác, NTD cũngchú ý đến sức khỏe hơn trước rất nhiều nên ngoài những mặt hàng thiết yếu, họ cũng ưu tiên chi tiêu cho các dịch vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình, những loại sản phẩm tăng cường sức đề kháng, sản phẩm y tế NTD hạn chế chi tiêu cho các sản phẩm không thiết yếu, như: may mặc, gia dụng, đồ uống, làm đẹp, các dịch vụ giải trí

Xu hướng nhận hàng hóa mua tại nhà và thanh toán trực tuyến: Khi chọn phương thức mua hàng trực tuyến, NTD muốn nhận hàng tại nhà theo khung giờ thuận tiện, giúp họ tiết kiệm thời gian

đi lại, giảm sự bất lợi khi thanh toán, vận chuyển khi lưu thông trên đường Dịch vụ vận chuyển giao hàng cho phép cung cấp hệ thống giao hàng an toàn, thuận lợi trong khoảng thời gian ngắn

để đáp ứng sự gia tăng nhanh chóng của nhu cầu giao hàng tại nhà Bằng chứng cho thấy trong

và sau thời dịch bệnh Covid-19, có sự tăng trưởng mạnh về số lượng các app giao hàng, xuất hiện nhiều các công ty vận chuyển nhanh, vận chuyển 24 giờ và số lượng shipper tăng lên

Trang 8

Song hành với hành vi mua hàng trực tuyến, NTD còn sử dụng các phương thức thanh toán trực tuyến qua app các ngân hàng, tài khoản online, ví điện tử, thanh toán bằng smartphone hay qua tài khoản thẻ có cổng thanh toán trực tuyến được cung cấp bởi PSP (Payment Service Provider) vừa nhanh chóng, thuận tiện và không phải cầm nắm tiền mặt.

Xu hướng tiêu dùng xanh: Tiêu dùng xanh được xem là xu hướng tiêu dùng của thế kỷ XXI khi môi trường trở thành mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trên thế giới Tiêu dùng xanh là hành

vi quyết định mua hàng của NTD có thể ảnh hưởng đến môi trường ở mức độ nào NTD ngày nay ý thức hơn về môi trường sống, họ xem trọng hành vi mua sắm thân thiện với môi trường Ở Việt Nam, trải qua thời gian lo lắng cho sức khỏe vì bệnh dịch Covid-19, NTD cũng trở nên quantâm đến việc tiêu dùng các sản phẩm xanh thân thiện với môi trường từ khâu sản xuất, tiêu thụ đến sử dụng sản phẩm

Hiện nay, NTD có xu hướng lựa chọn mua hàng hóa liên quan đến màu xanh lá, sản phẩm được kiểm tra kỹ về nguyên liệu sản xuất trước khi mua Họ quan tâm đến các quảng cáo sản phẩm xanh kết nối với thiên nhiên, chuộng sản phẩm được gói bằng lá hơn bằng túi ni lông, sử dụng ống hút bằng tre hay giấy, sử dụng sản phẩm giấy thay nhựa…; muốn mua sắm những sản phẩm bảo vệ môi trường, khôi phục hệ sinh thái, tốt cho sức khỏe Xu hướng này cũng rất phù hợp với nội dung trong Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ

2.3 Áp lực tài chính lên doanh nghiệp

Đại dịch COVID-19 đã tạo ra một cơn địa chấn đối với nền kinh tế toàn cầu, gây ra những áp lựctài chính chưa từng có đối với các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô và lĩnh vực Những áp lực này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm sự sụt giảm doanh thu, tăng chi phí hoạtđộng và khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn

Một số doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động Trước sự nguy hiểm và lây lan nhanh chóng của dịch bệnh, Chính phủ đã có chỉ đạo kịp thời về việc quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch Covid-19 với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, chấp nhận thiệt hại về kinh tế

để phòng, chống dịch1 Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tạm đình chỉ hoạt động các cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn, trừ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cơ sở kinh doanh, dịch vụ cần đóng cửa Như vậy, tại thời điểm cao điểm, một số công ty kinh doanh dịch vụ như

du lịch, vận tải, làm đẹp, karaoke… đều phải tạm ngưng hoạt động Điều này phần nào đã ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển của các doanh nghiệp Theo Báo cáo tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, đại dịch Covid-19 nhìn chung có tác động nghiêm trọng đến doanh nghiệp tại Việt Nam, với 87,2% doanh nghiệp cho biết chịu ảnh hưởng

ở mức “phần lớn” hoặc “hoàn toàn tiêu cực” 2 Trong đó, chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn cả

là các doanh nghiệp mới hoạt động dưới 03 năm, nhóm có quy mô siêu nhỏ, nhỏ hoặc các doanh nghiệp tại vùng Duyên hải miền Trung Mặt khác, việc tạm đình chỉ hoạt động của các doanh

Trang 9

nghiệp cũng dẫn đến hệ quả là sự sụt giảm nghiêm trọng về doanh thu của các doanh nghiệp này.Một số doanh nghiệp tuy không phải tạm dừng hoạt động kinh doanh theo chỉ đạo của Chính phủnhưng do ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh cũng đã chọn cách rút lui khỏi thị trường bằng việc tạm ngừng kinh doanh có thời hạn hoặc giải thể.

Đại dịch Covid-19 đã kéo theo hàng loạt gánh nặng về tài chính cho doanh nghiệp Các gánh

nặng về tài chính doanh nghiệp gặp phải trong bối cảnh hiện nay gồm: Chi phí thuê mặt bằng, chi phí thanh toán lương và chế độ cho người lao động, công nợ và các khoản vay quá hạn… Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng trụ sở thuê, các hợp đồng thuê này thường có thời hạn dài 01 năm, 02 năm thậm chí là 05 đến 10 năm và doanh nghiệp thường sẽ phải đặt cọc một khoản tiền hoặc thanh toán trước chi phí thuê trong vài tháng Tuy nhiên, sự tác động của dịch Covid-19 hầu như không loại trừ bất cứ chủ thể nào của nền kinh tế, do đó, doanh nghiệp khó có thể đi đến một thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê hay giảm chi phí thuê bởi cả doanh nghiệp và bên cho thuê đều đang trong tình trạng khó khăn như nhau Do vậy, doanh nghiệp đứng trước hoàn cảnh “tiến thoái lưỡng nan”, nếu chấm dứt hợp đồng thuê thì phải đối diện với việc mất trắng tiền đặt cọc, tiền thuê đã thanh toán trước, bồi thường hợp đồng, nhưng nếu khôngchấm dứt hợp đồng thuê thì không thể gồng gánh nổi chi phí Một trong số những vấn đề khiến doanh nghiệp “đau đầu” là giải quyết việc làm và lương, chế độ cho người lao động Các doanh nghiệp tạm ngưng kinh doanh buộc phải cho người lao động nghỉ việc, tuy nhiên phải đảm bảo quyền lợi của người lao động theo quy định của pháp luật Đối với các doanh nghiệp nhỏ, việc phải tạm ngưng các hoạt động kinh doanh để phòng, chống dịch dẫn đến các doanh nghiệp không tạo ra doanh thu trong khi phải giải quyết rất nhiều chi phí, nguồn tiền dự trữ của họ đôi khi không đủ để thanh toán lương và chế độ cho người lao động Đối với các doanh nghiệp được phép kinh doanh, để giảm thiểu gánh nặng khi kinh doanh không đạt hiệu quả nhưng vẫn phải chi trả lương, đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thì điều tiên quyết là phải có phương án cắt giảm chi phí, trong đó bao gồm việc cắt giảm người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp hoặc cắt giảm các chi phí liên quan đến lương, thưởng Tuy nhiên, việc cắt giảm lao động

và giảm lương cần phải tuân thủ quy định pháp luật Doanh nghiệp lúc này vừa gặp khó khăn trong việc “đối ngoại” là phải tìm cách để duy trì hoạt động, vừa khó khăn trong “đối nội” khi phải giải quyết hàng loạt các vấn đề trong nội bộ công ty Ngoài ra, trong bối cảnh dịch bệnh kéodài, các chủ nợ, đối tác hay ngân hàng có tâm lý dè chừng về khả năng thanh toán của doanh nghiệp

2.4 Khó khăn trong việc vận chuyển ( logistic)

Hoạt động dịch vụ vận tải chịu tác động nặng nề trong tình hình dịch bệnh, trước hết đặc biệt là vận tải hàng không, đường sắt và đường bộ Theo “Báo cáo Thị trường Logistics Việt Nam 9 tháng đầu năm 2020” của Bộ Công thương: vận tải hàng hóa đạt 1.246,6 triệu tấn hàng, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển đạt 242,5 tỷ tấn.km, giảm 8,2% cùng kỳ năm trước

2.4.1.Dịch vụ vận tải đường bộ

Trang 10

Vận tải hàng hóa bằng đường bộ ở Việt Nam đang là hình thức vận chuyển phổ biến nhất Nó có những đóng góp to lớn trong việc lưu thông hàng hóa và dịch vụ tạo điều kiện cho giao thương phát triển Tuy nhiên, trong tình hình dịch bệnh, dịch vụ vận tải đường bộ đang gặp phải những khó khăn nhất định Cụ thể, khối lượng vận tải đường bộ qua biên giới giảm mạnh, phải cách ly lái xe để đảm bảo an toàn hay đổi lái xe, đổi xe đầu kéo đang là một trong những khó khăn lớn nhất Vận tải trong nước gặp nhiều khó khăn do giãn cách xã hội theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Hơn nữa, các tuyến biên giới đều khó kiếm được nhà cung cấp vận chuyển, lượng hàng giảm dẫn đến nhu cầu về vận tải đường bộ giảm Theo thống kê, trong 9 tháng đầu năm

2020, vận tải hàng hóa đường bộ đạt 936,9 triệu tấn, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển hàng hóa đường bộ đạt 65,2 tỷ tấn.km giảm 14,2% Có khoảng 50-60% doanh nghiệp vận tải đường bộ giảm hoạt động và doanh thu trong thời gian đỉnh dịch (Bộ Công thương, 2020) Nhìn chung, do tác động của dịch COVID-19 nên dịch vụ vận tải đường bộ gặp không ít những khó khăn, đòi hỏi Chính phủ cũng như các doanh nghiệp cần có giải pháp khắc phục để giảm thiểu thiệt hại ở mức thấp nhất

2.4.2.Dịch vụ vận tải đường biển và cảng biển

Trong tình hình dịch bệnh, cụ thể là vào năm 2020 là năm nhiều khó khăn đối với dịch vụ vận tảiđường biển bởi sự suy giảm trong hoạt động thương mại trên thế giới và ở Việt Nam Tác động của COVID-19 đối với vận tải hàng hóa bằng đường biển và cảng biển trở nên rõ ràng hơn vào quý II/ 2020 Khó khăn với ngành vận tải đường biển và cảng biển trong nửa đầu năm 2020 không chỉ do khối lượng thương mại giảm mà còn bởi tình trạng thiếu nhân công và không thể đổi thủy thủ đoàn như thường lệ, bởi các quy định hạn chế và cách ly đối với người nhập khẩu tại các nước Các yêu cầu về giao thức y tế mới trong bối cảnh dịch bệnh và ngay cả khi đã chuyển sang giai đoạn “bình thường mới” dẫn đến nhiều quy trình hơn tại các cảng biển, làm ảnhhưởng đến lộ trình chung của các đội tàu (BBT, 2020) Cùng với đó việc tiêm vắc xin cho các đối tượng liên quan đến hoạt động trên tàu biển, tại các cảng còn hạn chế Tuy nhiên, so với các loại hình dịch vụ vận tải khác, dịch vụ vận tải biển ít bị tác động bởi dịch COVID-19 hơn và đạt được những tăng trưởng nhất định Giá cước vận tải biển cao cùng sản lượng hàng hóa xuất nhậpkhẩu tăng mạnh khiến lợi nhuận của nhiều công ty Logistics kinh doanh dịch vụ vận tải biển tăngđột biến trong năm 2021, nhưng đồng thời cũng gây khó khăn và gánh nặng chi phí rất lớn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa Bên cạnh đó, khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển tăng trưởng mạnh cũng giúp các công ty khai thác cảng đạt được lợi nhuận tích cực bất chấpkhó khăn do dịch Covid-19 (Bộ Công thương, 2021)

Trang 11

Hình 1 Vận tải hàng hóa bằng đường biển

Nguồn: Báo cáo Logistics Việt Nam 2021 - Bộ Công thương

2.4.3.Dịch vụ vận tải đường hàng không

Hàng không là một ngành có tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ trong phát triển kinh tế, mà còn đối với các vấn đề an ninh, quân sự và chủ quyền quốc gia Tuy nhiên,khi đại dịch COVID-19 bùng phát, nền kinh tế thế giới đã phải chịu nhiều thiệt hại to lớn, mà ngành đầu tiên chịu tác động nặng nề nhất chính là ngành vận tải hàng không trong đó có cả ngành vận tải hàng không Việt Nam Trong tháng 9/2020 vận tải hàng hóa bằng đường hàng không chỉ đạt 17,6 nghìn tấn, giảm 12% so với tháng 8/2020 và 56,2% so với tháng 9/2019 9 tháng năm 2020 đạt 196,6 nghìn tấn, giảm 39,4% so với cùng kỳ năm 2019; luân chuyển hàng hóa đạt 2,6 tỷ tấn.km, giảm.54,2%

so với cùng kỳ năm 2019 (Bộ Công thương, 2020)

Trang 12

Hình 2 Vận tải hàng hóa bằng đường hàng không

Nguồn: Báo cáo Logistics Việt Nam 2021 – Bộ Công thương

Trong số các phương thức vận tải thì hàng không ghi nhận mức giảm mạnh nhất, do bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi các biện pháp hạn chế đi lại giữa các quốc gia trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp Tuy nhiên, thời gian gần đây, cùng với sự hồi phục của khu vực châu Âu và Hoa Kỳ khi các nước mở cửa lại nền kinh tế cũng như khuyến khích du lịch, thương mại, ngành hàng không dự báo sẽ phục hồi từ cuối năm 2021 hoặc năm 2022 Vận chuyển hàng hóa các máy bay chở khách dự báo sẽ dần hồi phục sau thời gian đóng băng từ đầu năm 2020 đến nay Ngoài ra, phân khúc vận chuyển hàng không cho hàng thương mại điện tử xuyên biên giới và hàng dược phẩm, đặc biệt là vắc-xin được dự báo sẽ có nhiều triển vọng nhất trong số các phân khúc vận tải hàng không (Bộ Công thương, 2021)

2.4.4.Dịch vụ vận tải đường sắt

Dịch COVID-19 đã tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ tới ngành dịch vụ vận tải đường sắt do lưu chuyển hành khách và hàng hóa bị giảm sâu Về kho bãi, khó khăn lớn nhất là phần lớn các kho hàng tổng hợp đã xuống cấp, không có kho nào đạt tiêu chuẩn để lưu trữ, bảo quản các mặt hàng tươi sống, hàng hóa có giá trị cao Cả hệ thống đường sắt Việt Nam chỉ có bốn ga có bãi hàng hóa và thiết bị xếp dỡ, bảo quản container Tuy nhiên, trong khó khăn, dịch vụ Logistics đường sắt có những hoạt động mới trong vận tải liên vận quốc tế, góp phần cùng ngành thương mại chống dịch COVID-19 thành công trong việc vận chuyển hàng hóa có hiệu quả với Trung Quốc Trong khi vận tải đường bộ đang bị dồn ứ tại cửa khẩu do công tác kiểm dịch bị siết chặt, khiến chi phí và thời gian đều bị đội lên thì đường sắt có lợi thế hơn hẳn Tàu chở hàng có thể làm thủ tục thông quan rất nhanh, do công tác phòng dịch, kiểm dịch cho tài xế, nhân lực đi kèm đơn giản hơn hẳn so với đường bộ, nguy cơ lây nhiễm dịch thấp

III.Biện pháp ứng phó đại dịch của các doanh nghiệp

3.1 Thay đổi mô hình kinh doanh,kênh phân phối

-      Tăng cường kênh trực tuyến: Do hạn chế tiếp xúc trực tiếp, doanh nghiệp đã đẩy mạnh

bán hàng qua các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội để tiếp cận khách hàng Trước đại dịch, nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung chủ yếu vào kênh bán hàng truyền thống như cửa hàng vật lý, đại lý phân phối hoặc siêu thị Tuy nhiên, do các biện pháp giãn cách xã hội và hạn chế tiếp xúc, khách hàng đã chuyển sang mua sắm trực tuyến nhiều hơn

o Doanh nghiệp đầu tư vào các nền tảng thương mại điện tử như Shopee, Lazada, Tiki, Tiktokshop, Amazon,… hoặc xây dựng website bán hàng riêng

o Sử dụng mạng xã hội (Facebook, Zalo, TikTok) để quảng bá sản phẩm, livestream bán hàng và tương tác trực tiếp với khách hàng

Trang 13

o Áp dụng các công cụ thanh toán trực tuyến để tạo trải nghiệm mua sắm thuận tiện hơn, giảm bớt giao dịch tiền mặt.

  Phát triển mô hình O2O (Online to Offline): Kết hợp kênh trực tuyến và truyền thống,

doanh nghiệp thu hút khách hàng trực tuyến đến cửa hàng hoặc ngược lại, tạo trải nghiệmmua sắm linh hoạt :

o Tăng cường trải nghiệm khách hàng: Sự kết hợp giữa trực tuyến và ngoại tuyến giúp khách hàng dễ dàng tìm kiếm thông tin và trải nghiệm sản phẩm thực tế trước khi mua. 

o Mở rộng tệp khách hàng: Doanh nghiệp có thể tiếp cận cả khách hàng trực tuyến và khách hàng truyền thống, mở rộng phạm vi tiếp cận

-        Tối ưu hóa kênh phân phối: Do COVID-19, người tiêu dùng thay đổi thói quen mua

sắm, ưu tiên các kênh mua hàng trực tuyến và hạn chế tiếp xúc trực tiếp Điều này buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc kênh phân phối, trong đó DMS đóng vai trò quan trọng:

o Hỗ trợ chuyển đổi số trong phân phối:DMS giúp doanh nghiệp kết nối hệ thống phân phối truyền thống với các nền tảng thương mại điện tử (E-commerce), giúp mở rộng kênhbán hàng

o Tăng khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu: DMS cung cấp báo cáo về xu hướng tiêu dùng, giúp doanh nghiệp phân bổ ngân sách hợp lý cho từng kênh.Hỗ trợ xác định khu vực tiềm năng để mở rộng hoặc cắt giảm điểm bán

o Cải thiện khả năng phản ứng với rủi ro:Nếu một khu vực bị ảnh hưởng nặng bởi dịch bệnh, hệ thống có thể tự động điều chỉnh nguồn cung đến các khu vực khác ít bị ảnh hưởng hơn.Doanh nghiệp có thể chủ động ứng phó với tình huống khẩn cấp như gián đoạn nguồn cung hoặc thay đổi chính sách vận chuyển

Tăng tính minh bạch và giảm thất thoát:

o DMS giúp kiểm soát chặt chẽ luồng hàng từ nhà sản xuất đến nhà phân phối và điểm bán

lẻ, giảm nguy cơ hàng giả, hàng lậu trà trộn vào hệ thống

o Mọi giao dịch đều được ghi nhận trên hệ thống, hạn chế sai sót và đảm bảo minh bạch trong tài chính

o Nhân viên kinh doanh không thể thao túng số liệu bán hàng, tránh tình trạng báo cáo sai lệch

3.2 Áp dụng các chính sách phù hợp

Đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy các doanh nghiệp điều chỉnh cấu trúc kênh phân phối và thay đổi chính sách để thích ứng với tình hình mới

Trang 14

 Chính sách hỗ trợ tài chính: Đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy các doanh nghiệp điều

chỉnh cấu trúc kênh phân phối và thay đổi chính sách để thích ứng với tình hình mới Mộttrong những chính sách quan trọng là hỗ trợ tài chính cho các đối tác trong kênh phân phối Doanh nghiệp có thể gia hạn thời gian thanh toán công nợ để giúp các thành viên kênh có dòng tiền linh hoạt hơn trong giai đoạn khó khăn Bên cạnh đó, việc hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi hoặc cung cấp các khoản tín dụng cho đối tác chiến lược cũng giúp họ duy trì hoạt động Ngoài ra, các chương trình chiết khấu theo doanh số không chỉkhuyến khích nhập hàng mà còn giúp duy trì doanh thu cho cả doanh nghiệp và đối tác

    Chính sách giá linh hoạt: chính sách giá linh hoạt cũng đóng vai trò quan trọng trong

việc hỗ trợ hệ thống phân phối Doanh nghiệp cần điều chỉnh giá bán phù hợp với tình hình kinh tế và sức mua của thị trường để giúp các thành viên kênh dễ dàng phân phối sản phẩm hơn Bên cạnh đó, các gói giá ưu đãi dành cho đại lý lâu năm hoặc đối tác đạt chỉ tiêu doanh số giúp duy trì sự hợp tác bền vững và khuyến khích các đối tác tiếp tục đầu tư vào sản phẩm của doanh nghiệp

  Chính sách thúc đẩy bán hàng: Để thúc đẩy bán hàng trong giai đoạn khó khăn, doanh

nghiệp cần hỗ trợ marketing và truyền thông cho các đối tác Việc cung cấp tài liệu marketing, nội dung quảng cáo và hình ảnh sản phẩm giúp các thành viên kênh tiếp thị hiệu quả hơn Ngoài ra, doanh nghiệp có thể chia sẻ dữ liệu khách hàng tiềm năng để đại

lý và nhà bán lẻ tiếp cận đúng đối tượng mục tiêu Hỗ trợ chạy quảng cáo chung trên các nền tảng số như Facebook, Google cũng giúp tăng độ nhận diện thương hiệu và thúc đẩy doanh số trong thời kỳ khó khăn

Chương trình khuyến mãi ,chăm sóc khách hàng: Chính sách khuyến mãi là một yếu tố

quan trọng trong việc kích cầu tiêu dùng Doanh nghiệp có thể triển khai các chương trình khuyến mãi theo mùa hoặc nhân các sự kiện đặc biệt để tạo động lực mua sắm Nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng trong giai đoạn khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã triểnkhai các chương trình khuyến mãi hấp dẫn như miễn phí giao hàng, giảm giá cho khách hàng thân thiết và tặng quà kèm theo đơn hàng Ngoài ra, chính sách linh hoạt trong đổi trả hàng cũng được áp dụng để tạo sự yên tâm cho khách hàng khi mua sắm trực tuyến Các doanh nghiệp cũng chú trọng đến việc cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng bằng cách sử dụng dữ liệu phân tích hành vi tiêu dùng để đưa ra các chương trình ưu đãi phù hợp với từng nhóm đối tượng

·        Chính sách đào tạo năng lực thành viên:Một chính sách quan trọng khác là đào tạo và

nâng cao năng lực cho các thành viên trong kênh phân phối Doanh nghiệp cần tổ chức các buổi đào tạo trực tuyến hoặc trực tiếp về sản phẩm để giúp thành viên hiểu rõ đặc điểm, công dụng và cách tư vấn khách hàng Bên cạnh đó, việc cập nhật liên tục thông tin về thị trường giúp đối tác

có thể tư vấn và bán hàng hiệu quả hơn Đào tạo về kỹ năng bán hàng đa kênh (omnichannel) thông qua nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội cũng là một giải pháp hữu ích để giúp cácđối tác thích ứng với xu hướng tiêu dùng mới

Ngày đăng: 02/04/2025, 22:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Vận tải hàng hóa bằng đường biển - Quản trị kênh phân phối chủ Đề Ảnh hưởng của Đại dịch và khủng hoảng kinh tế Đến kênh phân phối
Hình 1. Vận tải hàng hóa bằng đường biển (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w