1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài so sánh cương lĩnh chính trị Đầu tiên 21930 và luận cương tháng 101930 của Đảng và chủ trương chiến lược mới 1939 1945

33 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh cương lĩnh chính trị đầu tiên 2/1930 và luận cương tháng 10/1930 của Đảng và chủ trương chiến lược mới 1939-1945
Tác giả Phạm Hoài An, Bùi Nhật Anh, Bùi Thế Anh, Đào Nhật Duy Anh, Lê Đức Anh, Nguyễn Diệu Anh, Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Quỳnh Anh, Nguyễn Thanh Hằng
Người hướng dẫn Nguyễn Ngọc Diệp
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 352,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: NỘI DUNG CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN 2/1930; LUẬN CƯƠNG THÁNG 10/1930 CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI 1939-1945 (7)
    • 1.1. Cương lĩnh chính trị đầu tiên 2/1930 (7)
      • 1.1.1. Bối cảnh ra đời (7)
      • 1.1.2. Nội dung chính (8)
      • 1.1.3. Ý nghĩa lịch sử (9)
    • 1.2. Luận cương tháng 10/1930 của Đảng (10)
      • 1.2.1. Bối cảnh ra đời (10)
      • 1.2.2. Nội dung (11)
      • 1.2.3. Ý nghĩa lịch sử (12)
    • 1.3. Chủ trương chiến lược mới 1939-1945 (13)
      • 1.3.1. Bối cảnh lịch sử (13)
      • 1.3.2. Nội dung chính (14)
      • 1.3.3. Ý nghĩa và tác động (14)
  • CHƯƠNG II: SO SÁNH CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN 2/1930; LUẬN CƯƠNG THÁNG 10/1930 CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI 1939-1945 (16)
    • 2.1. Sự tương đồng giữa các văn kiện (16)
    • 2.2. Sự khác biệt (18)
      • 2.2.1. Mâu thuẫn xã hội (18)
      • 2.2.2. Nhiệm vụ cách mạng (20)
      • 2.2.3. Lực lượng cách mạng (23)
  • CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG (28)
    • 3.1. Sự chuyển biến về tư tưởng chính trị của Đảng (28)
      • 3.1.1. Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) đến Luận cương chính trị (10/1930) (28)
      • 3.1.2. Từ Luận cương chính trị (10/1930) đến Chủ trương chiến lược mới (1939-1945) (29)

Nội dung

Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định mục tiêu chiến lược củacách mạng Việt Nam: Từ việc phân tích thực trạng và mâu thuẫntrong xã hội Việt Nam - một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâ

NỘI DUNG CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN 2/1930; LUẬN CƯƠNG THÁNG 10/1930 CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI 1939-1945

Cương lĩnh chính trị đầu tiên 2/1930

Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, gia tăng xâm lược và bóc lột các nước thuộc địa Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới cho phong trào giải phóng dân tộc toàn cầu Sự thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào năm 1919 đã thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tạo điều kiện cho sự ra đời của các đảng cộng sản ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, thực dân Pháp gia tăng khai thác thuộc địa tại Việt Nam, dẫn đến sự bóc lột tàn bạo đối với nhân dân và tạo ra mâu thuẫn sâu sắc giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp cùng tay sai Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản không thành công, cho thấy sự bế tắc trong con đường cứu nước cũ Trong bối cảnh này, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng phát triển, trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống thực dân và phong kiến.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm huấn luyện và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời đào tạo cán bộ cho phong trào cách mạng Đến năm 1929, từ Hội này, ba tổ chức cộng sản đã ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn Tuy nhiên, sự tồn tại song song của ba tổ chức này đã dẫn đến tình trạng chia rẽ và thiếu thống nhất trong phong trào cách mạng.

Vào đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc, với vai trò phái viên của Quốc tế Cộng sản, đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc Hội nghị diễn ra từ ngày 06/01 đến 07/02 và đã thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo và thông qua các văn kiện quan trọng, bao gồm Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt, đánh dấu sự hình thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Trong các văn kiện của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị thành lập Đảng, hai tài liệu quan trọng là Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng Những văn kiện này phản ánh đường hướng phát triển và các vấn đề cốt lõi về chiến lược cách mạng Việt Nam Đây là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam đã xác định mục tiêu chiến lược qua việc phân tích thực trạng xã hội thuộc địa nửa phong kiến và mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam, bao gồm công nhân và nông dân, với đế quốc Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt, đòi hỏi phải có giải pháp Từ đó, cương lĩnh đã đề ra đường lối chiến lược, nhấn mạnh việc thực hiện tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng nhằm hướng tới xây dựng xã hội cộng sản.

Mục tiêu chiến lược trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định rõ nội dung cách mạng thuộc địa, cho thấy sự gắn bó chặt chẽ với cách mạng vô sản.

Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:

Chúng ta cần đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến để giành lại độc lập hoàn toàn cho Việt Nam Mục tiêu là thành lập chính phủ đại diện cho công nông binh và tổ chức một quân đội mạnh mẽ từ lực lượng công nông.

Chính phủ công nông binh sẽ tiến hành các biện pháp kinh tế quan trọng như thủ tiêu hoàn toàn quốc trái và tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp, bao gồm công nghiệp, vận tải và ngân hàng, để giao cho chính phủ quản lý Đồng thời, sẽ tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa, biến chúng thành của công và chia cho dân cày nghèo Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, và thi hành luật làm việc 8 giờ mỗi ngày.

 Về văn hoá - xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền, v.v.; phổ thông giáo dục theo công nông hoá.

Đảng cần thu hút đại bộ phận dân cày, đặc biệt là dân cày nghèo, để làm lực lượng cách mạng, nhằm đánh bại bọn đại địa chủ và phong kiến Đồng thời, cần giải phóng các đoàn thể thợ thuyền và dân cày khỏi sự chi phối của tư bản quốc gia Việc liên kết với tiểu tư sản, trí thức, trung nông và thanh niên là cần thiết để họ gia nhập vào phe vô sản Đối với phú nông, trung và tiểu địa chủ, cũng như tư bản An Nam chưa rõ phản cách mạng, cần tận dụng họ để giữ trung lập Những thành phần đã công khai phản cách mạng, như Đảng lập hiến, cần phải bị đánh đổ.

Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với Đảng là đội tiên phong Đảng cần thu phục đại bộ phận giai cấp mình và đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp này đối với dân chúng Trong quá trình liên lạc với các giai cấp khác, cần phải thận trọng và không được nhượng bộ lợi ích của công nông, tránh đi vào con đường thoả hiệp.

Cách mạng Việt Nam là một phần không thể tách rời của phong trào cách mạng toàn cầu, cần thiết phải thiết lập mối liên hệ chặt chẽ với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên thế giới, đặc biệt là với giai cấp vô sản Pháp.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã xác định đường lối cách mạng đúng đắn, đặt nền tảng tư tưởng cho cách mạng Việt Nam Trước năm 1930, các phong trào yêu nước tuy sôi nổi nhưng thiếu hệ tư tưởng cách mạng khoa học và thống nhất Cương lĩnh lựa chọn con đường cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, tạo nền tảng lý luận vững chắc cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam.

Cương lĩnh đã thống nhất các tổ chức cộng sản, tạo ra một lực lượng lãnh đạo duy nhất cho phong trào cách mạng Việt Nam Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chấm dứt tình trạng chia rẽ, đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất và hiệu quả Điều này là điều kiện tiên quyết để cách mạng Việt Nam phát triển bền vững, tránh lặp lại sai lầm của các phong trào yêu nước trước đó.

Cương lĩnh cách mạng nhấn mạnh vai trò quan trọng của công nhân và nông dân, với công nhân là lực lượng lãnh đạo và nông dân là lực lượng đông đảo nhất Sự kết hợp này, cùng với các tầng lớp khác, tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc, giúp cách mạng Việt Nam huy động sức mạnh toàn dân và phát huy vai trò của mọi tầng lớp trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

Luận cương tháng 10/1930 của Đảng

Năm 1929, cuộc Khủng hoảng lớn bắt đầu từ Hoa Kỳ đã gây ra tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu, lan rộng sang các quốc gia Châu Âu Để đối phó với tình hình khó khăn này, một số quốc gia theo chủ nghĩa tư bản như Đức, Ý và Nhật đã thiết lập các chế độ phát-xít.

Trong giai đoạn này, Liên Xô đã tiến hành công nghiệp hóa hệ thống xã hội chủ nghĩa và tập thể hóa nông nghiệp, đem lại nhiều thành tựu quan trọng Những biến đổi tích cực này đã có tác động sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam.

Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp gia tăng do áp đặt thuế nặng và hạn chế tự do Các cuộc nổi dậy chống lại thực dân Pháp diễn ra mạnh mẽ, nhưng thường bị đàn áp tàn bạo Khởi nghĩa Yên Bái vào tháng 2/1930 là một trong những ví dụ tiêu biểu cho cuộc đấu tranh này.

Sau khi thành lập vào tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên, đánh dấu bước khởi đầu trong việc xây dựng sức mạnh và tạo dựng lòng tin từ quần chúng nhân dân.

Mâu thuẫn giai cấp diễn ra mạnh mẽ giữa thợ thuyền, nông dân và các tầng lớp lao động nghèo với địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.

Luận cương xác định chiến lược cách mạng Đông Dương bắt đầu với cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, mang tính chất thổ địa và phản đế Thời kỳ này được coi là bước chuẩn bị cho một xã hội cách mạng Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thành công, sẽ tiếp tục phát triển và bỏ qua giai đoạn tư bản để tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền bao gồm việc đánh đổ phong kiến, thực hiện cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp nhằm đạt được độc lập cho Đông Dương Hai nhiệm vụ chiến lược này có mối liên hệ chặt chẽ, vì việc đánh đổ đế quốc chủ nghĩa sẽ tạo điều kiện để phá vỡ giai cấp địa chủ, từ đó tiến hành cách mạng thổ địa thành công Đồng thời, chỉ khi chế độ phong kiến bị phá vỡ, mới có thể đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa Trong hai nhiệm vụ này, vấn đề thổ địa được coi là cốt lõi của cách mạng tư sản dân quyền và là nền tảng để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày.

Lực lượng cách mạng chủ yếu bao gồm giai cấp vô sản, là động lực chính và là giai cấp lãnh đạo trong cách mạng tư sản dân quyền Dân cày đóng vai trò quan trọng, là lực lượng đông đảo nhất Trong khi đó, tư sản thương nghiệp ủng hộ đế quốc và địa chủ, còn tư sản công nghiệp có xu hướng cải lương nhưng có thể theo đế quốc khi cách mạng phát triển Tiểu tư sản có thái độ phân vân, với tiểu tư sản thương gia không ủng hộ cách mạng, trong khi tiểu tư sản trí thức có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ tham gia chống đế quốc trong giai đoạn đầu Cuối cùng, chỉ có những người lao động nghèo ở đô thị như người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ và trí thức thất nghiệp mới thực sự tham gia vào cách mạng.

 Về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới:

Cách mạng Đông Dương là một phần của cách mạng vô sản toàn cầu, do đó, giai cấp vô sản Đông Dương cần đoàn kết chặt chẽ với giai cấp vô sản quốc tế, đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp Họ cũng cần duy trì mối liên hệ mật thiết với các phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa để mở rộng và củng cố sức mạnh cho cuộc đấu tranh cách mạng tại Đông Dương.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là yếu tố quyết định cho thành công của cách mạng, đòi hỏi một đường lối chính trị đúng đắn, kỷ luật tập trung và mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng Là đội tiên phong của giai cấp vô sản, Đảng dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin để đại diện cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đồng thời đấu tranh hướng tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng chủ nghĩa cộng sản.

Chứa đựng những sự khái quát và quan trọng về hướng đi của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh đấu tranh giành độc lập và tự do:

Luận cương tập trung vào vấn đề giai cấp và dân tộc, thể hiện sự nhận thức về chênh lệch và mâu thuẫn trong xã hội Đông Dương Điều này tạo nền tảng cho việc xác định mục tiêu đúng đắn và phân định rõ các mâu thuẫn quan trọng, đặc biệt là giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp.

Chiến lược cách mạng Việt Nam được xác định rõ ràng trong luận cương, từ cách mạng tư sản dân quyền đến phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu chính là đánh đổ chế độ phong kiến, thực hiện cách mạng ruộng đất triệt để và lật đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, nhằm đạt được độc lập toàn diện cho Đông Dương.

Giai cấp vô sản và tầng lớp lao động đóng vai trò then chốt trong việc đưa cách mạng đến thành công Luận cương nhấn mạnh sự quan trọng của công nhân và nông dân, đồng thời cũng nhận thức được vai trò thiết yếu của tiểu tư sản và lực lượng lao động nông nghiệp trong quá trình này.

Luận cương nhấn mạnh tầm quan trọng của việc liên kết với cách mạng vô sản toàn cầu, thể hiện sự nhận thức sâu sắc về việc hợp tác với các phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, đặc biệt là tại Pháp.

Vai trò lãnh đạo của Đảng là yếu tố then chốt trong cuộc cách mạng, như được khẳng định trong luận cương chính trị Đảng cần có đường lối chính trị đúng đắn, gắn bó chặt chẽ với quần chúng và thúc đẩy sự đoàn kết trong hành động cách mạng.

Chủ trương chiến lược mới 1939-1945

Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu vào ngày 01/09/1939 khi phát-xít Đức tấn công Ba Lan, dẫn đến việc Anh và Pháp tuyên chiến với Đức chỉ hai ngày sau đó Đức nhanh chóng chiếm đóng nhiều nước châu Âu, khiến Đế quốc Pháp tham gia vào cuộc chiến Chính phủ Pháp thực hiện các biện pháp đàn áp các lực lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa, dẫn đến sự tan vỡ của Mặt trận nhân dân Pháp và việc Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ngoài vòng pháp luật.

Vào tháng 6 năm 1940, Đức đã tấn công Pháp, dẫn đến việc chính phủ Pháp đầu hàng Đến ngày 22 tháng 6 năm 1941, quân đội phát-xít Đức tiếp tục tấn công Liên Xô Sự xâm lược của phát-xít Đức vào Liên Xô đã biến cuộc chiến tranh thành cuộc chiến giữa các lực lượng dân chủ, với Liên Xô là trụ cột, và các lực lượng phát-xít do Đức lãnh đạo.

Chiến tranh thế giới thứ hai đã có tác động sâu sắc đến Đông Dương và Việt Nam, đặc biệt là qua nghị định ngày 28/09/1939 của Toàn quyền Đông Dương Nghị định này cấm tuyên truyền và lưu hành tài liệu cộng sản, đồng thời đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật Các hội hữu ái, nghiệp đoàn bị giải tán, tài sản của họ bị tịch thu, và các tờ báo, nhà xuất bản bị đóng cửa, cùng với việc cấm hội họp và tụ tập đông người.

Trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị tại Việt Nam và Đông Dương, chính sách thời chiến đã được thực hiện một cách trắng trợn, với việc phát-xít hóa bộ máy thống trị và đàn áp mạnh mẽ phong trào cách mạng, đặc biệt là Đảng Cộng sản Đông Dương Hàng nghìn cuộc khám xét bất ngờ diễn ra, dẫn đến việc thủ tiêu nhiều quyền tự do, dân chủ đã đạt được trong giai đoạn 1936-1939 Chính quyền thực dân ban hành lệnh tổng động viên và áp dụng chính sách "kinh tế chỉ huy" nhằm tận dụng sức người và sức của phục vụ cho cuộc chiến tranh của đế quốc, trong đó hơn 70.000 thanh niên bị bắt sang Pháp làm bia đỡ đạn.

Vào ngày 22/09/1940, lợi dụng sự thất bại của Pháp trước Đức, phát-xít Nhật đã tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng Ngày 23/09/1940, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật tại Hà Nội, từ đó nhân dân Việt Nam phải chịu đựng sự áp bức và bóc lột từ cả hai thực dân Pháp và phát-xít Nhật Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với các thế lực đế quốc này trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết.

Mâu thuẫn chính cần giải quyết khẩn cấp là xung đột giữa dân tộc Việt Nam và các quốc gia đế quốc Pháp - Nhật, do sự áp bức nặng nề từ cả hai thực dân này.

"quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy hiểm không lúc nào bằng".

Thứ hai, cần khẳng định rằng "phải thay đổi chiến lược" trong bối cảnh hiện tại của cuộc cách mạng ở Đông Dương Đây không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, mà là một cuộc cách mạng tập trung vào vấn đề "dân tộc giải phóng" Hội nghị nhấn mạnh rằng quyền lợi của các giai cấp phải được đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia và dân tộc Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng và xóa bỏ áp bức của đế quốc, sẽ không thể đạt được bất kỳ thành tựu nào.

Vấn đề dân tộc ở Đông Dương cần được giải quyết trong khuôn khổ từng quốc gia, thực hiện chính sách "dân tộc tự quyết" Sau khi đánh đuổi thực dân Pháp và Nhật, các dân tộc Đông Dương sẽ có quyền tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hoặc thành lập quốc gia riêng theo ý muốn Sự tự do và độc lập của các dân tộc sẽ được công nhận và tôn trọng.

Thứ tư, việc tập hợp mọi lực lượng dân tộc là rất quan trọng, với các tổ chức quần chúng trong mặt trận Việt Minh mang tên "cứu quốc" Trong quá trình xây dựng các đoàn thể cứu quốc, điều quan trọng không phải là các hội viên phải hiểu chủ nghĩa cộng sản, mà là họ cần có tinh thần cứu quốc và mong muốn đấu tranh cho sự nghiệp cứu quốc.

Thứ năm, sau khi cách mạng thành công, sẽ thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thể hiện tinh thần tán dương chủ nghĩa, với hình thức nhà nước "của chung cả toàn thể dân tộc".

Với tinh thần độc lập và sáng tạo, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã điều chỉnh chiến lược nhằm đạt được mục tiêu độc lập dân tộc Đường lối này nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tập hợp người Việt yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị quần chúng ở nông thôn và thành phố, cũng như củng cố căn cứ cách mạng và lực lượng vũ trang Đây là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Nhật, hướng tới độc lập và tự do cho dân tộc.

Sau Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư kêu gọi toàn thể đồng bào đoàn kết, thống nhất trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và quân đội Nhật Bản Người nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đoàn kết để giành lại độc lập cho đất nước.

Quyền lợi dân tộc giải phóng là ưu tiên hàng đầu Chúng ta cần đoàn kết để đánh bại đế quốc và bọn Việt gian, nhằm cứu lấy giống nòi khỏi những khó khăn và nguy hiểm.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng và lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, các cấp bộ đảng và Mặt trận Việt Minh đã tích cực xây dựng tổ chức cứu quốc, phát triển lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh của quần chúng Ngày 25/10/1941, Mặt trận Việt Minh ra đời và công bố 10 chính sách được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng Từ Pác Bó, Việt Minh đã lan tỏa khắp nông thôn và thành thị, tạo hệ thống từ Trung ương đến cơ sở Nhiều tổ chức chính trị yêu nước, như Đảng Dân chủ Việt Nam vào tháng 6/1944, đã tham gia Mặt trận Việt Minh, góp phần làm cho lực lượng chính trị quần chúng ngày càng đông đảo và rèn luyện trong cuộc đấu tranh chống Pháp - Nhật.

Dựa trên sức mạnh chính trị của quần chúng, Đảng đã lãnh đạo việc vũ trang cho nhân dân, từng bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Từ các đội du kích bí mật và các đội Cứu quốc quân, đã hình thành nên Việt Nam giải phóng quân Đảng cũng chỉ đạo thành lập các chiến khu và căn cứ địa cách mạng, điển hình như căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai và căn cứ Cao Bằng Công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang diễn ra sôi nổi tại các khu căn cứ và trên toàn quốc, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng quần chúng đấu tranh giành chính quyền.

SO SÁNH CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN 2/1930; LUẬN CƯƠNG THÁNG 10/1930 CỦA ĐẢNG VÀ CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI 1939-1945

Sự tương đồng giữa các văn kiện

Từ đầu thế kỷ 20, phong trào cách mạng Việt Nam đã hình thành trong bối cảnh áp bức của thực dân và phong kiến, với mục tiêu giải phóng dân tộc Ba văn kiện quan trọng: Cương lĩnh Chính trị đầu tiên (2/1930), Luận cương Chính trị tháng 10/1930 và Chủ trương Chiến lược mới (1939-1945) đều hướng đến việc lật đổ ách thống trị thực dân, giành độc lập và xây dựng xã hội chủ nghĩa Sự nhất quán trong các luận điểm cốt lõi của ba văn kiện này không chỉ khẳng định tầm nhìn cách mạng của các lãnh tụ mà còn là nền tảng tư tưởng cho phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn lịch sử chuyển mình.

Ba văn kiện cách mạng đều nhất quán đặt mục tiêu giải phóng dân tộc lên hàng đầu Trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên (2/1930), Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh nhiệm vụ then chốt là lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai, nhằm xây dựng chính quyền của công nông, tạo nền tảng cho xã hội công bằng, dân chủ Luận cương Chính trị tháng 10/1930 tiếp tục xác định cách mạng Đông Dương có tính chất tư sản dân quyền, là bước đệm hướng tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, loại bỏ giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa không phù hợp với lịch sử Việt Nam Khi bối cảnh thế giới thay đổi và chiến tranh bùng nổ, Chủ trương Chiến lược mới 1939-1945 khẳng định mạnh mẽ nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tập hợp sức mạnh toàn dân để đánh đổ hoàn toàn thực dân và phong kiến Như vậy, mặc dù điều chỉnh theo bối cảnh cụ thể, cả ba văn kiện đều đồng thuận về nhiệm vụ tối thượng: giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.

Ba văn kiện đều xác định vai trò tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phong trào cách mạng Cương lĩnh Chính trị đầu tiên khẳng định Đảng là lực lượng lãnh đạo, định hướng cho cuộc đấu tranh từ giai đoạn đầu, nhằm tổ chức quần chúng và xây dựng hệ thống chính trị chặt chẽ Luận cương Chính trị tháng 10/1930 nhấn mạnh rằng Đảng là yếu tố quyết định cho thắng lợi cách mạng, với khả năng tập hợp sức mạnh toàn dân và phân biệt rõ ràng kẻ thù với đồng minh Chiến lược mới 1939-1945 tiếp tục củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, yêu cầu tập hợp mọi lực lượng yêu nước dưới sự chỉ đạo của Đảng để đạt được độc lập Sự nhất quán này thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ cách mạng, nhấn mạnh rằng tổ chức tiên phong với nội bộ vững mạnh là điều kiện tiên quyết cho mọi nhiệm vụ cách mạng.

Các văn kiện chính trị nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng quan hệ quốc tế và đoàn kết với các lực lượng tiến bộ toàn cầu Cương lĩnh Chính trị đầu tiên khẳng định sự cần thiết liên kết với các dân tộc bị áp bức, đặc biệt là quần chúng vô sản ở các nước thuộc chế độ thực dân, nhằm xây dựng mạng lưới đồng minh chiến lược trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Luận cương Chính trị tháng 10/1930 chỉ ra rằng đoàn kết quốc tế là yếu tố then chốt trong bối cảnh cách mạng Đông Dương để đối phó với áp lực đế quốc Chiến lược mới 1939-1945 không chỉ duy trì mà còn mở rộng quan hệ quốc tế, kết nối với phong trào cách mạng toàn cầu trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động hỗ trợ quốc tế và nâng cao uy tín của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam Sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế trong cách mạng Việt Nam đã khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ đối tác chiến lược với các lực lượng tiến bộ, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp quyết định cho sự nghiệp cách mạng.

Ba văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam, gồm Cương lĩnh Chính trị đầu tiên (2/1930), Luận cương Chính trị tháng 10/1930 và Chủ trương Chiến lược mới (1939-1945), thể hiện sự nhất quán về tư tưởng và chiến lược cách mạng, nhấn mạnh mục tiêu giải phóng dân tộc và lật đổ thực dân phong kiến Các văn kiện khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, kêu gọi sự đoàn kết của công nhân, nông dân và các tầng lớp yêu nước Đồng thời, chúng đề xuất phương pháp đấu tranh linh hoạt, khai thác sức mạnh quần chúng trong chính trị và quân sự, cũng như mở rộng quan hệ quốc tế để tạo liên minh chiến lược với các lực lượng tiến bộ toàn cầu.

Những quan điểm cốt lõi đã định hướng cho cuộc đấu tranh giành độc lập và tạo nền tảng cho xây dựng xã hội chủ nghĩa Sự nhất quán về mục tiêu, lãnh đạo, lực lượng tham gia và chiến lược trong ba văn kiện đã hình thành tư tưởng cách mạng Việt Nam, trở thành di sản quý giá cho các thế hệ trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mặc dù từng văn kiện được điều chỉnh theo bối cảnh lịch sử cụ thể, tinh thần “giải phóng dân tộc – lật đổ ách thống trị – xây dựng xã hội chủ nghĩa” vẫn là chỉ tiêu hàng đầu, thể hiện tư tưởng cách mạng vững chắc và sáng tạo Điều này góp phần định hình lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam và minh chứng cho tầm nhìn xa trông rộng của các lãnh tụ, những người đã đặt nền móng cho sự nghiệp cách mạng, mở đường cho tương lai tự do, độc lập và phát triển của đất nước.

Sự khác biệt

 Người soạn thảo: Nguyễn Ái Quốc

 Phạm vi: Cương lĩnh chính trị xây dựng đường lối của cách mạng Việt Nam.

 Mâu thuẫn xã hội: Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến, bao gồm hai mâu thuẫn:

Mâu thuẫn sâu sắc giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp bắt đầu từ năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và dần dần thiết lập bộ máy thống trị tại Việt Nam, biến quốc gia phong kiến này thành một thuộc địa nửa phong kiến.

Thực dân Pháp đã áp đặt chính sách cai trị thực dân tại Việt Nam, tước bỏ quyền lực của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn và chia đất nước thành ba khu vực: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, mỗi khu vực áp dụng một chế độ cai trị riêng Họ cũng đã hợp tác với giai cấp địa chủ để tiến hành bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với Nhân dân Việt Nam.

Trong lĩnh vực kinh tế, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách bóc lột và cướp đoạt ruộng đất để thiết lập các đồn điền Họ đầu tư vào việc khai thác tài nguyên và xây dựng một số cơ sở công nghiệp, cùng với hệ thống đường giao thông và bến cảng nhằm phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa.

Thực dân Pháp áp dụng chính sách văn hóa nô dịch, dẫn đến tâm lý tự ti trong nhân dân và khuyến khích mê tín dị đoan Tất cả các hoạt động yêu nước đều bị cấm, trong khi họ tìm cách bưng bít, ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ từ thế giới vào Việt Nam Chính sách ngu dân được thi hành nhằm mục đích dễ dàng cai trị.

Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân, với địa chủ phong kiến gia tăng do chính sách cai trị và kinh tế, văn hóa, giáo dục của thực dân Pháp Giai cấp địa chủ, mặc dù câu kết với thực dân, nhưng cũng có một bộ phận yêu nước tham gia chống lại chế độ thực dân Nông dân, lực lượng đông đảo nhất, phải chịu áp bức và bóc lột nặng nề, dẫn đến lòng căm thù đế quốc và phong kiến, thúc đẩy ý chí cách mạng trong cuộc đấu tranh giành quyền sống và ruộng đất Giai cấp công nhân, ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nông dân và cũng bị áp bức Giai cấp tư sản Việt Nam yếu ớt do bị cạnh tranh từ tư sản Pháp và Hoa, trong khi tầng lớp tiểu tư sản, bao gồm học sinh và trí thức, sống bấp bênh và dễ trở thành vô sản, nhưng vẫn mang lòng yêu nước và tiếp thu tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài.

Tất cả các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Việt Nam thời điểm đó đều phải chịu đựng thân phận của những người dân mất nước, bị thực dân áp bức và bóc lột ở những mức độ khác nhau.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) đã phản ánh sâu sắc thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, cho thấy mâu thuẫn xã hội rõ ràng Đảng đã nhận thức đúng những mâu thuẫn cơ bản, xác định kẻ thù và lực lượng cách mạng, từ đó vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Việc xác định chính xác các mâu thuẫn xã hội là cơ sở để Đảng đề ra đường lối chiến lược phù hợp với thực tiễn cách mạng, tạo tiền đề quan trọng cho những thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.

 Người soạn thảo: Trần Phú

 Phạm vi: Luận cương chính trị xây dựng đường lối cách mạng cho Việt Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung.

 Mâu thuẫn xã hội: Xã hội Đông Dương gồm hai mâu thuẫn dân tộc và giai cấp, trong đó mâu thuẫn giai cấp là cơ bản nhất.

Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 khẳng định rằng mâu thuẫn chính ở Đông Dương là giữa giai cấp công nhân và nông dân với thực dân Pháp và giai cấp phong kiến tay sai Giai cấp công nhân và nông dân, chiếm đa số trong xã hội, đóng vai trò then chốt trong cuộc cách mạng, đối lập với giai cấp thống trị đang áp bức và bóc lột họ.

Luận cương phân tích rõ ràng các giai cấp và mâu thuẫn giữa chúng trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nhấn mạnh sự xung đột giữa giai cấp công nhân, nông dân với đế quốc và phong kiến Điều này thể hiện ảnh hưởng sâu sắc của lý luận Mác-Lênin về đấu tranh giai cấp.

2.1.3 Chủ trương chiến lược mới 1939-1945

Chủ trương chiến lược mới sẽ được triển khai trên toàn lãnh thổ Việt Nam và mở rộng ra Lào, Campuchia - các quốc gia trong khu vực Đông Dương.

Mâu thuẫn xã hội giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với phát xít Nhật và thực dân Pháp là vấn đề cơ bản và cấp bách nhất, cần được giải quyết thông qua nhiệm vụ giải phóng dân tộc Dưới áp bức của Nhật - Pháp, quyền lợi của tất cả các giai cấp bị đe dọa, và vận mệnh dân tộc đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt Vì vậy, nhiệm vụ giải phóng dân tộc trở thành ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh này.

Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến để giành độc lập cho nước Nam Cương lĩnh xác định rằng chống đế quốc và phong kiến là nhiệm vụ cơ bản nhằm đạt được độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc được ưu tiên hàng đầu.

 Về phương diện xã hội, Cương lĩnh xác định rõ: “a) Dân chúng được tự do tổ chức; b) Nam nữ bình quyền, ; c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá”.

Cương lĩnh kinh tế nhấn mạnh việc xóa bỏ toàn bộ quốc trái và thu hồi các tài sản lớn như công nghiệp, vận tải, ngân hàng từ tay tư bản đế quốc Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý Đồng thời, cương lĩnh cũng đề xuất thu hồi ruộng đất của đế quốc để chia cho nông dân nghèo, miễn sưu thuế cho họ, phát triển công nghiệp và nông nghiệp, cũng như thực hiện luật làm việc tám giờ mỗi ngày.

Cách mạng Việt Nam có nhiệm vụ quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội hiện tại, nhằm xóa bỏ hoàn toàn sự thống trị và bóc lột của ngoại bang Mục tiêu này không chỉ nhằm giải phóng dân tộc mà còn giải phóng giai cấp, đặc biệt là công nhân và nông dân, thể hiện tính cách mạng toàn diện và triệt để.

 Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là phải

"Chúng ta cần nỗ lực để lật đổ các di tích phong kiến và các hình thức bóc lột theo kiểu tư bản, đồng thời thực hiện cách mạng đất đai một cách triệt để."

“đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập” Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau:

PHÂN TÍCH SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG

Sự chuyển biến về tư tưởng chính trị của Đảng

3.1.1 Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) đến Luận cương chính trị (10/1930)

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và thông qua vào tháng 2/1930 tại Hội nghị hợp nhất ở Cửu Long, đã đặt nền tảng tư tưởng cho cách mạng Việt Nam trong bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến Cương lĩnh phân tích mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai, xác định mục tiêu tối thượng là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp để giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội cộng sản Kẻ thù chính được chỉ rõ là thực dân Pháp và phong kiến, hai lực lượng cản trở sự phát triển của dân tộc Cương lĩnh nhấn mạnh vai trò của liên minh công nhân và nông dân, kêu gọi tập hợp các tầng lớp yêu nước khác để hình thành mặt trận đoàn kết rộng rãi Phương pháp đấu tranh kết hợp giữa chính trị và vũ trang nhằm suy yếu và lật đổ ách thống trị của kẻ thù, thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam.

Vào tháng 10/1930, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trần Phú đã thông qua Luận cương chính trị, thể hiện rõ tư tưởng cách mạng vô sản từ Quốc tế Cộng sản Luận cương chuyển trọng tâm từ giải phóng dân tộc sang đấu tranh giai cấp, khẳng định cách mạng Việt Nam là một cuộc cách mạng vô sản, tập trung vào mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và tư sản Văn kiện xác định hai giai đoạn cách mạng: cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Luận cương nhấn mạnh vai trò lãnh đạo duy nhất của giai cấp công nhân, đồng thời đánh giá thấp khả năng tham gia của các giai cấp khác, dẫn đến hạn chế trong việc mở rộng khối đại đoàn kết Sự chuyển biến này phản ánh bước thay đổi quan trọng trong tư tưởng chính trị của Đảng, từ giải phóng dân tộc sang đấu tranh giai cấp, nhưng cũng khiến phong trào cách mạng giai đoạn đầu gặp khó khăn, như trong cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931).

3.1.2 Từ Luận cương chính trị (10/1930) đến Chủ trương chiến lược mới (1939-1945)

Sau gần một thập kỷ áp dụng Luận cương chính trị, thực tiễn cách mạng đã chỉ ra những hạn chế của quan điểm quá chú trọng vào đấu tranh giai cấp trong bối cảnh Việt Nam còn là thuộc địa dưới sự thống trị của thực dân Pháp Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động, thực dân Pháp suy yếu và phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, khiến nhân dân Việt Nam rơi vào tình thế khó khăn Nhận thấy sự chuyển biến này, Đảng đã điều chỉnh tư tưởng chính trị, chuyển trọng tâm từ đấu tranh giai cấp sang giải phóng dân tộc tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 vào tháng 11 năm 1939, xác định nhiệm vụ cấp bách nhất là đánh đổ thực dân Pháp và phát xít Nhật Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 8 vào tháng 5 năm 1941, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Đảng khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, trong khi vấn đề giai cấp và chủ nghĩa xã hội sẽ được xem xét sau khi giành được độc lập Sự điều chỉnh này được thể hiện qua việc thành lập Mặt trận Việt Minh vào ngày 19 tháng 5 năm 1941, nhằm đoàn kết tất cả các giai cấp và tầng lớp yêu nước để tạo thành một khối đại đoàn kết toàn dân.

Phương pháp đấu tranh của Đảng đã chuyển từ đấu tranh chính trị nửa hợp pháp sang sử dụng bạo lực cách mạng, kết hợp khởi nghĩa từng phần với tổng khởi nghĩa khi có thời cơ Đảng đã ưu tiên nhiệm vụ giải phóng dân tộc, mở rộng mặt trận đoàn kết để thu hút tiểu tư sản, tư sản dân tộc và các tầng lớp yêu nước khác, đồng thời chuẩn bị lực lượng vũ trang cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 Sự chuyển hướng này thể hiện sự nhạy bén trong phân tích tình hình, khắc phục những hạn chế của Luận cương 1930 và tận dụng thời cơ quốc tế để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.

3.2 Ý nghĩa và tác động của sự chuyển biến trong tư tưởng và chiến lược của Đảng

Sự chuyển biến trong tư tưởng và chiến lược của Đảng từ năm

Giai đoạn 1930 đến 1945 mang ý nghĩa lịch sử quan trọng với nhiều bài học cho cách mạng Việt Nam Sự chuyển hướng từ đấu tranh giai cấp trong Luận cương 1930 sang ưu tiên giải phóng dân tộc trong chiến lược mới 1939-1945 thể hiện khả năng phân tích linh hoạt của Đảng Quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu trong bối cảnh nguy cơ mất nước dưới ách thống trị của Nhật - Pháp là bước ngoặt phù hợp với nguyện vọng nhân dân Việc thành lập Mặt trận Việt Minh đã mở rộng khối đại đoàn kết, tập hợp sức mạnh từ mọi tầng lớp xã hội, tạo nên lực lượng cách mạng mạnh mẽ Ngoài ra, sự chuẩn bị về lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa đã tạo nền tảng vững chắc cho thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945.

Kết quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ khẳng định sự đúng đắn trong tư tưởng và chiến lược của Đảng, mà còn mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc Việt Nam Bài học về sự linh hoạt trong tư duy lãnh đạo đã được Đảng áp dụng trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo, như trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, khi Đảng kết hợp giải phóng dân tộc với xây dựng chủ nghĩa xã hội, huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để đạt được thắng lợi.

Năm 1986, Đảng đã điều chỉnh chiến lược kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện tinh thần đổi mới và khả năng thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa.

Từ năm 1930 đến nay, sự chuyển biến trong tư tưởng và chiến lược của Đảng thể hiện bản lĩnh chính trị và tầm nhìn xa trông rộng Đảng luôn đặt lợi ích của dân tộc và nhân dân lên hàng đầu, biết tận dụng thời cơ và khắc phục hạn chế để đạt được thành công trong cách mạng Di sản này là nguồn cảm hứng quý báu cho các thế hệ hiện tại trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời đại mới.

Qua việc phân tích Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), Luận cương chính trị (10/1930) và Chủ trương chiến lược mới (1939-1945), có thể nhận thấy sự tiến bộ trong tư duy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng đã phát triển từ một đường lối tổng quát nhưng đúng đắn trong Cương lĩnh đầu tiên, đến những hạn chế của Luận cương tháng 10/1930 khi quá nhấn mạnh vào đấu tranh giai cấp, và cuối cùng là sự điều chỉnh kịp thời trong giai đoạn 1939-1945, thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng và khả năng thích ứng với thực tiễn.

Bài học lớn nhất từ quá trình này là sự linh hoạt trong tư duy lãnh đạo Nếu không điều chỉnh tư tưởng đấu tranh giai cấp theo tình hình thực tiễn, cách mạng Việt Nam có thể gặp bế tắc Sự thay đổi chiến lược trong giai đoạn 1939-1945 đã giúp cách mạng giành thắng lợi quyết định vào tháng Tám năm 1945 Điều này nhấn mạnh rằng, trong mọi thời kỳ, việc nắm bắt đúng tình hình, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu và có chiến lược phù hợp là yếu tố then chốt quyết định thành công.

Quá trình điều chỉnh đường lối của Đảng từ 1930-1945 không chỉ phản ánh sự tiến bộ trong tư duy lãnh đạo mà còn cung cấp những bài học quý giá cho việc hoạch định chính sách hiện nay Để đạt được sự phát triển bền vững cho đất nước, cần liên tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tránh giáo điều và duy trì tính linh hoạt trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Ngày đăng: 02/04/2025, 22:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Đại học Tôn Đức Thắng (2015), nguồn URL:<https://www.studocu.vn/vn/document/dai-hoc-ton-duc-thang/applied-big-data-in-management/luan-cuong-chinh-tri/41065007&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Applied Big Data in Management
Tác giả: Đại học Tôn Đức Thắng
Năm: 2015
[3] Trang thông tin điện tử dangcongsan.vn, Tư liệu tham khảo cuộc thi trắc nghiệm tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguồn URL:<https://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham-khao-cuoc-thi-trac-nghiem-tim-hieu-90-nam-lich-su-ve-vang-cua-dang-cong-san-viet-nam/tu-lieu-cuoc-thi/luan-cuong-chanh-tri-cua-dang-cong-san-dong-duong-532738.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu tham khảo cuộc thi trắc nghiệm tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Trang thông tin điện tử dangcongsan.vn
[4] Trang thông tin điện tử dangcongsan.vn, Kỷ niệm 120 năm ngày sinh đồng chí Trần Phú, nguồn URL:<https://dangcongsan.vn/ky-niem-120-nam-ngay-sinh-dong-chi-tran-phu/cuoc-doi-su-nghiep/tran-phu-voi-luan-cuong-chinh-tri-cua-dang-663830.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ niệm 120 năm ngày sinh đồng chí Trần Phú
Tác giả: Trang thông tin điện tử dangcongsan.vn
[5] Báo điện tử Học viện Chính trị (2015), Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng - Nhân tố quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nguồn URL:<http://hocvienchinhtribqp.edu.vn/index.php/bai-bao-khoa-hoc/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng - Nhân tố quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Tác giả: Báo điện tử Học viện Chính trị
Năm: 2015
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w