Chính vì vậy, một hệ thống tài chính ổn định và một hệ thống ngân hàng lành mạnh sẽ giúp truyền dẫn một cách có hiệu lực và hiệu quả hơn các mục tiêu của chính sách tiền tệ ra nền kinh t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH -
-BÁO CÁO CHỦ ĐỀ: SỔ KẾ TOÁN VÀ HÌNH THỨC KẾ TOÁN
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
Học phần : Nguyên lý kế toán GVHD : Nguyễn Thị Lệ Huyền Lớp : IB23A
Họ và tên : Nguyễn Nguyễn Nhật Huyền
Tháng 5, năm 2024
MỤC LỤC
Trang 2I KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ……… 3
II CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ……… 4
1 Tái cấp vốn……… 4
2 Lãi suất……….4
3 Tỷ giá hối đoái……… 4
4 Dự trữ bắt buộc……….4
5 Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)……….4
6 Các công cụ hành chính………4 III
Trang 3I KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Luật NHNN 2010 của Việt Nam định nghĩa chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra (Điều 3) Với định nghĩa này chúng ta hiểu rằng, chính sách tiền tệ phải là chính sách ở cấp độ vĩ mô mang tính quốc gia thay vì là một chính sách mang tính địa phương của một cấp chính quyền thấp hơn Nói chung, chính sách tiền tệ cũng hướng đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa nhưng mục tiêu chính thường được xác định là ổn định giá cả và lạm phát
Tất nhiên, để đạt được mục tiêu ổn định lạm phát đòi hỏi chính phủ phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, kể cả chính sách tài khóa, nhưng chính sách tiền tệ thường được xem là chính sách đi đầu trong việc đạt được mục tiêu đó Thông thường, ở Việt Nam mục tiêu ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát là như nhau nhưng đôi khi cũng có những phân biệt nhất định Phần trước chúng ta đã hiểu rằng, lạm phát biểu thị tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định Như vậy, kiềm chế lạm phát là việc kiểm soát sao cho lạm phát, tức mức giá chung, không tăng vượt quá một giới hạn nhất định Trong khi
đó, ổn định giá cả được hiểu là làm cho giá cả của các mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng thiết yết trong nền kinh tế, không biến động quá nhiều gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân Với ý nghĩa đó, chúng ta thấy rằng Bộ Tài chính, cụ thể là Cục Quản lý giá, có vai trò nhất định trong việc ổn định giá cả của nhiều mặt hàng được cho là quan trọng của nền kinh tế Rõ ràng sự biến động giá cả của các mặt hàng này có thể có tác động đến mức giá chung của nền kinh tế nhưng không nhất thiết đó là lạm phát Nói khác đi, Bộ Tài chính không thể làm thay hoàn toàn vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong việc theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát
Ngoài mục tiêu kiềm chế lạm phát, các chính sách tiền tệ cũng thường được thiết kế nhằm theo đuổi một số mục tiêu khác chẳng hạn như giảm tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế hay nói cách khác là tăng nhân dụng Chính sách tiền tệ như chúng ta biết sẽ tác động đến khối tiền của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng lên mức lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ Lãi suất là một yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đầu tư của khu vực doanh nghiệp và kể cả tiêu dùng của khu vực hộ gia đình Việc mở rộng hay thu hẹp đầu tư này đến lượt nó lại ảnh hưởng đến vấn đề công ăn việc làm cho người lao động
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay chống suy thoái kinh tế cũng là mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ Như chúng ta vừa nói, hành vi mở rộng đầu tư nhờ được kích thích bởi chính sách lãi suất thấp của chính sách tiền tệ không chỉ giúp giải quyết công ăn việc làm cho người dân mà còn giúp gia tăng sản lượng và thu nhập của nền kinh tế Tuy nhiên, một số người cũng tranh luận về mục tiêu này của chính sách tiền tệ Theo họ, mục tiêu tăng trưởng kinh tế thường được xem là mục tiêu chung của chính phủ và do đó bằng nhiều chính sách và biện pháp khác nhau của chính phủ, chẳng hạn như cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư kinh doanh hay cải cách môi trường cạnh tranh khuyến khích và thúc đẩy tinh thần doanh nhân, sẽ có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế thay vì để cho chính sách tiền tệ làm thay các chính sách này của chính phủ mà xa rời các mục tiêu cốt lỗi của mình Tất nhiên đây chỉ là những tranh luận, trong khi cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn đều cho thấy chính sách tiền tệ có vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy sản lượng và chống suy thoái kinh tế
Trang 4
Không chỉ đảm bảo mục tiêu chống lạm phát, tạo công ăn việc hay gia tăng sản lượng, chính sách tiền tệ còn được thiết kế nhằm để duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và các tổ chức tài chính Chúng ta biết rằng, kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ thường là thông qua hệ thống tài chính và kênh ngân hàng Chính vì vậy, một hệ thống tài chính ổn định và một hệ thống ngân hàng lành mạnh sẽ giúp truyền dẫn một cách có hiệu lực và hiệu quả hơn các mục tiêu của chính sách tiền tệ ra nền kinh tế cũng như các khu vực trong nền kinh tế Hơn nữa, khi hệ thống tài chính ổn định, bản thân nó cũng sẽ giúp huy động và phân bổ nguồn vốn tốt hơn, qua đó sẽ giúp gia tăng tiết kiệm và đầu tư, góp phần vào tăng trưởng kinh
tế Cuối cùng, các chính sách tiền tệ nhiều lúc còn theo đuổi một số mục tiêu khác nữa, chẳng hạn như ổn định tỷ giá, ổn định lãi suất, hay đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.
Đến đây có thể các bạn sẽ đặt câu hỏi liệu giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ trên đây có
sự mâu thuẫn và nhất thiết phải có sự đánh đổi giữa các mục tiêu đó hay không? Câu trả lời thường là có Chẳng hạn như hai mục tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế thường có mâu thuẫn nhau (tất nhiên không phải luôn luôn), tức là ở những thời kỳ tăng trưởng cao thì thường đi liền với lạm phát và ngược lại khi chống lạm phát thì thường lại làm suy giảm tăng trưởng kinh tế Trong nhiều trường hợp, việc hy sinh mục tiêu này để đạt được mục tiêu kia là điều mà các nhà hoạch định chính sách phải chấp nhận Vấn đề quan trọng hơn chính là nên
hy sinh mục tiêu nào để theo đuổi mục tiêu nào? Lẽ thông thường các chính phủ thường thích theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế vì nó có thể ảnh hưởng đến lá phiếu chính trị của họ, trong khi đó ngân hàng trung ương lại thường bị ràng buộc với mục tiêu kiềm chế lạm phát Trong tình huống này người ta sẽ nói đến vị trí của ngân hàng trung ương trong mối quan hệ với chính phủ Tức liệu ngân hàng trung ương có đủ độc lập với chính phủ trong việc theo đuổi các mục tiêu của mình mà không chịu sự chi phối bởi các mục tiêu khác của chính phủ như tăng trưởng kinh tế hay kể cả việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách và gánh nặng nợ công của chính phủ Đây cũng chính là chủ đề đang gây tranh cãi ở Việt Nam nhiều năm qua Chúng ta sẽ có dịp thảo luận thêm vấn đề này trong môi Tài chính phát triển.
Trong việc thiết kế các mục tiêu chính sách, thường các nhà hoạch định chính sách xây dựng thành nhiều cấp mục tiêu khác nhau, bao gồm mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian, và mục tiêu hoạt động Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ như chúng ta đã nói, chẳng hạn như sản lượng, lạm phát hay công ăn việc làm Để đạt được mục tiêu này, người ta sẽ thiết kế
ra các mục tiêu trung gian chẳng hạn như mục tiêu cung tiền hay mục tiêu lãi suất Nhưng trước đó, để tiến đến mục tiêu trung gian, thường các nhà hoạch định chính sách còn xây dựng nên các mục tiêu hoạt động, chẳng hạn như mục tiêu duy trì mức dự trữ bắt buộc bao nhiêu phần trăm hay lãi suất tái chiết khấu như thế nào Nghĩa là, chẳng hạn như giả sử để kiềm chế được lạm phát ở mức dưới 5% (mục tiêu cuối cùng) thì cần phải theo đuổi mục tiêu cung tiền (mục tiêu trung gian) ở mức 10% một năm Để có được mức tăng cung tiền 10% thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc (mục tiêu hoạt động) cần phải duy trì ở mức 5% trên số dư tiền gửi mà ngân hàng thương mại huy động được Để thiết kế được mục tiêu hoạt động, đòi hỏi ngân hàng trung ương cần phải có các công cụ chính sách tương ứng
II CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1 Tái cấp vốn
Phương thức tái tài trợ của Ngân Hàng Trung Ương đối với các các Ngân Hàng Thương Mại Ngân hàng trung ương cho vay ngắn hạn cho các tổ chức tín dụng để đảm bảo thanh khoản cho hệ thống Bằng cách thay đổi lãi suất tái cấp vốn, ngân hàng trung ương có thể ảnh hưởng đến chi phí vay vay của các tổ chức tín dụng, từ đó tác động đến lượng cung tiền tệ trong nền kinh tế
Trang 52 Lãi suất
Sử dụng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ Các cơ chế lãi suất: thả nổi, trần, sàn, biên độ dao động…
3 Tỷ giá hối đoái
3.1.Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức mà cơ quan tiền tệ, thường là ngân hàng trung ương
(NHTW) của một quốc gia, thực hiện quản lý tiền tệ đối với các đồng tiền nước ngoài và thị trường ngoại hối Có 3 loại chế độ tỷ giá hối đoái chính:
Tỷ giá hối đoái thả nổi: Tỷ giá được xác định bởi cung và cầu trên thị trường ngoại hối NHTW không can thiệp vào thị trường ngoại hối hoặc chỉ can thiệp hạn chế
Tỷ giá hối đoái cố định: Tỷ giá được cố định ở một mức nhất định so với một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ NHTW cam kết mua hoặc bán ngoại tệ để duy trì tỷ giá
cố định
Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết: Tỷ giá được phép biến động trong một biên độ nhất định NHTW có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối để ổn định tỷ giá khi cần thiết
3.2.Cơ chế điều hành tỷ giá là hệ thống các biện pháp, công cụ mà NHTW sử dụng để thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái đã lựa chọn
4 Dự trữ bắt buộc
Số tiền mà ngân hàng phải gửi tại Ngân Hàng Trung Ương để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Phụ thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ, loại hình ngân hàng, loại tiền gửi
Ngân hàng trung ương quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng, nghĩa là tỷ
lệ phần trăm tiền gửi mà các tổ chức tín dụng phải nộp cho ngân hàng trung ương Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể ảnh hưởng đến khả năng cho vay của các tổ chức tín dụng, từ
đó tác động đến lượng cung tiền tệ trong nền kinh tế
5 Nghiệp vụ thị trường mở (OMO):
Mua, bán giấy tờ có giá (trái phiếu, tín phiếu) với các ngân hàng Ngân hàng trung ương mua hoặc bán trái phiếu chính phủ trên thị trường mở để ảnh hưởng đến lượng cung tiền tệ trong nền kinh tế Khi mua trái phiếu, ngân hàng trung ương bơm tiền vào hệ thống; khi bán trái phiếu, ngân hàng trung ương rút tiền khỏi hệ thống
6 Các công cụ hành chính:
Ngân hàng trung ương sử dụng các quy định, các công cụ hành chính, luật lệ điều tiết, giám sát các ngân hàng, hướng dẫn, yêu cầu đối với các tổ chức tín dụng để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ
III PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NĂM 2021, 2022, 2023
1 Chính sách tiền tệ năm 2021
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Quyết định 1349/QĐ-NHNN về mức lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 6Theo đó, mức lãi suất áp dụng đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam là
0,5%/năm; đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ là 0%/năm; đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam là 0%/năm; đối với tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng ngoại
tệ là 0%/năm
Quyết định số 1349/QĐ-NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/9/2021 và thay thế Quyết định số 1349/QĐ-NHNN ngày 6/8/2020
- Nguyên nhân
Làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư trong năm 2021 với biến thể Delta đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế trong nước Trước bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã kịp thời chỉ đạo ban hành các quyết sách hỗ trợ, đảm bảo an sinh xã hội Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) và chỉ đạo hệ thống ngân hàng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, duy trì vốn cho sản xuất, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Lãi suất cho vay nền kinh tế giảm đáng kể, nhu cầu tín dụng của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời Khách hàng gặp khó khăn tiếp tục được hỗ trợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay; người lao động phải ngừng việc do dịch bệnh đã được trả lương từ chương trình cho vay tái cấp vốn của NHNN đối với Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH)… Việc phổ quát vắc-xin giúp tái
mở cửa, nhưng quá trình phục hồi kinh tế còn nhiều bất trắc trước biến thể Omicron mới và
áp lực lạm phát NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo hệ thống ngân hàng hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân, đồng thời chủ động, linh hoạt phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
- Thực trạng
Năm 2021, đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến nguy hiểm và phức tạp với biến chủng Delta, khiến tiến trình phục hồi kinh tế phân hóa rõ rệt giữa các nước phát triển đã phổ quát vắc-xin với các nước đang, kém phát triển có tỷ lệ tiêm vắc-xin mức thấp Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (10/2021) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2021 đạt 5,9%, được dẫn dắt bởi các nền kinh tế phát triển như Mỹ, châu Âu Tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục là lực cản, đẩy giá hàng hóa cơ bản (lương thực, thực phẩm, năng lượng) và chi phí sản xuất tăng cao Lạm phát tăng cao kỷ lục tại nhiều nước trong nhiều thập kỷ trở lại đây, trong khi phục hồi kinh tế còn chưa vững chắc Xu hướng thu hẹp nới lỏng CSTT, tăng lãi suất trở thành chủ đạo để ứng phó với nguy cơ lạm phát và rủi ro bất ổn tài chính Tính đến cuối tháng 12/2021, đã có tổng cộng 113 lượt tăng lãi suất trên toàn cầu
Trong nước, đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư tác động nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội; giãn cách xã hội, chuỗi cung ứng đứt gãy, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng trong khi nhiều doanh nghiệp thiếu hụt lao động… đã bào mòn sức chống chịu của doanh nghiệp, người dân, tạo gánh nặng lớn lên hệ thống an sinh xã hội Trong bối cảnh đó, mục tiêu bảo vệ sức khỏe Nhân dân được Đảng và Nhà nước ưu tiên trước hết và trên hết; với sự phối hợp nhịp nhàng của các chính sách kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội kịp thời, đồng bộ nên mặc
dù bị tác động nghiêm trọng từ đại dịch Covid-19 nhưng tăng trưởng kinh tế năm 2021 vẫn đạt 2,58%, lạm phát được kiểm soát ở mức 1,84%, thấp nhất kể từ năm 2016
CSTT và hoạt động ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua đại dịch Covid-19
Bám sát các chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ngay từ đầu năm, NHNN đã chủ động, quyết liệt, chỉ đạo hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp điều hành CSTT, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa (CSTK) và các chính sách vĩ mô khác
Trang 7nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời triển khai hàng loạt các giải pháp
hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đồng hành với doanh nghiệp và người dân; phù hợp với đặc thù và tính chất cấp bách của tình hình trong nước, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đảm bảo thanh khoản thông suốt trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện để TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ TCTD đẩy mạnh tín dụng đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế.
NHNN mua lượng lớn ngoại tệ bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước, đưa tiền đồng ra thị trường, qua đó thanh khoản hệ thống TCTD dồi dào, đồng thời, hàng ngày NHNN chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở nhằm phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ Nhờ đó, lãi suất liên ngân hàng giảm xuống và duy trì ở mức rất thấp trong lịch
sử, giảm chi phí vốn đầu vào cho TCTD, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để TCTD giảm lãi suất cho vay
Thứ hai, duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện và định hướng để mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD giảm.
Ngay khi dịch bệnh bùng phát trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất điều hành với mức giảm 1,5 - 2%/năm, là một trong những ngân hàng trung ương (NHTW) giảm lãi suất điều hành mạnh nhất khu vực Trong năm 2021, NHNN duy trì các mức lãi suất thấp này, kết hợp điều hành thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền tệ Kết quả là, đến cuối tháng 11/2021, lãi suất huy động và cho vay VND bình quân của TCTD giảm tương ứng khoảng 0,51%/năm
và 0,81%/năm so với cuối năm 2020 sau khi đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020 Lãi suất cho vay bình quân đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ là
4,3%/năm (thấp hơn mức trần quy định là 4,5%/năm)
Thứ ba, đảm bảo cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho các nhu cầu sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với các TCTD, hướng tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng.
NHNN điều hành tăng trưởng tín dụng trên cơ sở chỉ tiêu định hướng từ đầu năm, và linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với diễn biến phức tạp, khó lường của dịch Covid-19 Theo đó, NHNN điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng cho TCTD có năng lực tài chính, quản trị điều hành, có khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh, để kịp thời hỗ trợ nền kinh tế Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường quản lý rủi ro đối với tín dụng tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen
Trên cơ sở đó, tín dụng tăng ngay từ đầu năm và cao hơn năm 2020, kịp thời đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Đến ngày 30/12/2021, tín dụng tăng 13,47% so với cuối năm 2020, tăng 13,79% so với cùng kỳ năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng 11,85% so với cuối năm 2019 và tăng 11,93% so với cùng kỳ năm 2019) Cơ cấu tín dụng chuyển dịch tích cực, tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh; 4/5 lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng cùng kỳ năm 20201, hỗ trợ tích cực quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao Tăng trưởng tín dụng các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán trong tầm kiểm soát của NHNN
Thứ tư, ổn định thị trường ngoại tệ.
Trang 8NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt, bám sát cung cầu thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT Trong khi xu hướng rút vốn khỏi các nước mới nổi và đang phát triển khiến đồng tiền của nhiều nước trong khu vực mất giá khá lớn so với USD (Baht Thái giảm 9,7%, Ringgit Malaysia giảm 2,5%, Đô-la Singapore giảm 1%) thì tỷ giá USD/VND tiếp tục được duy trì ổn định Đến cuối tháng 12/2021, tỷ giá trung tâm USD/VND chỉ tăng 0,06% so với cuối năm 2020 Thanh khoản ngoại tệ trên thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của người dân, doanh nghiệp đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời
Thứ năm, triển khai nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.
Bên cạnh việc điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, NHNN chỉ đạo TCTD đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân, triển khai hàng loạt các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh; liên tục rà soát, chỉnh sửa để các biện pháp, chính sách hỗ trợ ngày càng thiết thực hơn, dễ tiếp cận và đi vào đời sống hơn, cụ thể:
(I) Kịp thời sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 cho phép TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (Thông tư số 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021 và Thông tư số 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021) qua đó mở rộng quy mô, phạm vi đối tượng
áp dụng các biện pháp hỗ trợ, kéo dài thời gian hỗ trợ đến tháng 6/2022 Đến ngày
20/12/2021, hệ thống TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho 775.000 khách hàng, lũy kế giá trị nợ được cơ cấu từ ngày 23/01/2020 khoảng 607.000 tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho 2 triệu khách hàng với dư nợ 3,87 triệu tỷ đồng; cho vay mới lãi suất thấp hơn so với trước đại dịch Covid-19 với doanh số lũy kế từ ngày 23/01/2020 đạt trên 7,4 triệu tỷ đồng cho hơn 1,3 triệu khách hàng
(II) Hỗ trợ người sử dụng lao động trả lương ngừng việc cho người lao động NHNN cho vay tái cấp vốn với lãi suất 0%/năm, không tài sản bảo đảm đối với NHCSXH để cho vay người
sử dụng lao động trả lương ngừng việc cho người lao động, khôi phục sản xuất, kinh doanh Nhờ đó, hàng nghìn lượt người lao động đã được hỗ trợ trả lương trong thời gian ngừng việc
từ các chương trình cho vay này, theo đó đợt hỗ trợ thứ nhất (kết thúc vào ngày 31/01/2021)
có 245 người sử dụng lao động vay để trả lương ngừng việc cho 11.276 người lao động; đợt
hỗ trợ thứ hai được tích cực triển khai kể từ tháng 7/2021, đến 27/12/2021 có 2.311 đơn vị sử dụng lao động vay để trả lương cho 527.309 lượt người lao động
(III) Tháo gỡ khó khăn cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines - VNA) theo chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ: NHNN đã ban hành các quyết định tái cấp vốn tối đa 4.000 tỷ đồng cho 03 TCTD sau khi các TCTD này cho VNA vay; đến ngày 27/12/2021, NHNN đã giải ngân tái cấp vốn 3.862,6 tỷ đồng đối với 03 TCTD này
(IV) Tiếp tục thực hiện các chương trình miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán cho người dân, doanh nghiệp với tổng số phí dịch vụ thanh toán mà NHNN và Napas giảm để hỗ trợ nền kinh
tế trong năm 2021 khoảng 1.557 tỷ đồng Nhờ đó, TCTD tiếp tục giảm, miễn phí dịch vụ thanh toán cho khách hàng; tăng cường các ứng dụng chuyển đổi số, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, theo đó, bên cạnh các phương thức thanh toán qua POS, ATM, chuyển khoản, Internet, mã QR thì từ năm 2021, NHNN tiếp tục cho phép các ngân hàng mở tài khoản trực tuyến thông qua công nghệ eKYC, triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money)
Trang 9Kết quả điều hành CSTT cùng với các động thái hỗ trợ chủ động, kịp thời trên đây thể hiện sự đồng hành, sẻ chia với nền kinh tế của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh khó khăn chung của đại dịch Covid-19, khi bản thân hệ thống ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro do đại dịch gây ra như khả năng trả nợ của doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình suy giảm, tiềm ẩn rủi ro gia tăng nợ xấu, chi phí trích lập dự phòng rủi ro gia tăng Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng vừa đảm bảo cung cấp vốn đủ và kịp thời phục vụ nhu cầu phục hồi kinh tế, vừa đảm bảo hoạt động của chính hệ thống ngân hàng an toàn, ổn định, bền vững
- Giải pháp của Việt Nam
Các giải pháp, chính sách đã ban hành: điều chỉnh giảm các mức lãi suất với tổng mức giảm 1,5-2,0%/năm đối với lãi suất điều hành giúp cho lãi suất huy động và cho vay giảm; cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ; tái cấp vốn cho Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay trả lương ngừng việc và trả lương phục hồi sản xuất theo Nghị
quyết số 68/NQ-CP, ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao
động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; miễn giảm phí dịch vụ thanh toán (phí chuyển tiền, giao dịch ); tiếp tục nghiên cứu hỗ trợ cắt giảm chi phí, tháo gỡ khó khăn về tài chính, dòng tiền cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
Trong năm 2021, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giảm so với năm 2020 Tỷ giá, thị trường tiền tệ, ngoại tệ ổn định, thanh khoản thông suốt Tín dụng tăng ngay từ đầu năm 2021 và cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2020, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, góp phần phục hồi kinh tế
- Giải pháp của bản thân
Một là, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, duy trì thanh khoản hệ thống, đồng bộ hóa các giải pháp tiền tệ, tín dụng, thanh khoản để hỗ trợ phục hồi kinh tế Theo dõi sát diễn biến lạm phát và thị trường trong và ngoài nước để chuẩn bị phương án điều hành (có tính đến độ trễ chính sách) nếu lạm phát tăng nhanh hơn dự kiến
Hai là, lãi suất được điều hành phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ tạo điều kiện để giảm lãi suất vay cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế Trong điều kiện áp lực lạm phát còn có khả năng kiểm soát, giữ ổn định lãi suất điều hành để ổn định mặt bằng lãi suất thị trường; chỉ đạo tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động tiết giảm chi phí để tiếp tục giảm lãi suất các khoản vay cũ và mới
Ba là, điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp với diễn thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ, phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ.
Bốn là, tiếp tục thực hiện điều hành tín dụng theo chỉ tiêu định hướng, gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu NHNN sẽ định kỳ rà soát, xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng TCTD trên cơ sở tình hình hoạt động, năng lực tài chính và khả năng tăng trưởng tín dụng lành mạnh; trong đó ưu tiên TCTD giảm mặt bằng lãi suất cho vay
Các TCTD phải tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ Tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cần được kiểm soát chặt chẽ, tăng cường quản lý rủi ro đối với cho vay phục vụ đời sống, tín dụng tiêu dùng Ngân hàng tiếp tục thực hiện các giải pháp tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen Chỉ đạo các TCTD triển khai tích cực các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người đi vay theo Thông tư 01
và Thông tư 03
Trang 10Năm là, các TCTD tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng
bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 và các giải pháp tháo gỡ khó khăn về tín dụng cho người dân, doanh nghiệp bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh để phục hồi sản xuất kinh doanh
Sáu là, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạt động thanh toán, trong đó, tập trung xây dựng Nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng; triển khai Nghị định mới về thanh toán không dùng tiền mặt Phối hợp triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money) và triển khai thực hiện Kế hoạch chuyển đổi số ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
Bảy là, tập trung chỉ đạo cơ cấu lại các TCTD yếu kém bằng các hình thức phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững
sự ổn định, an toàn hệ thống các TCTD NHNN tiếp tục tăng cường năng lực tài chính cho các NHTMNN, bảo đảm vai trò chủ đạo của các ngân hàng này trong hệ thống các TCTD
TCTD được chỉ đạo tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng; tích cực triển khai các biện pháp kiểm soát và hạn chế nợ xấu phát sinh, đặc biệt trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp Các ngân hàng theo dõi sát tình hình, diễn biến nợ xấu để xây dựng các phương
án xử lý nợ xấu phù hợp trong giai đoạn 2021-2025 Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các biện pháp xử lý
nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14
Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổng kết tình hình thực hiện Đề án 1058, nghiên cứu, xây dựng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025 để tiếp tục hỗ trợ các TCTD tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và đồng bộ về cơ cấu lại và xử lý nợ xấu, hỗ trợ các TCTD trong giai đoạn tiếp theo
Tám là, tiếp tục tăng cường, đổi mới công tác thanh tra theo hướng thanh tra pháp nhân, gắn kết chặt chẽ với công tác giám sát, từng bước kết hợp và áp dụng phương pháp thanh tra trên
cơ sở rủi ro Công tác giám sát an toàn vĩ mô và vi mô tiếp tục nâng cao hiệu quả cảnh báo sớm nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động của TCTD Đồng thời, tiếp tục tăng cường giám sát chất lượng tín dụng, việc cấp tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, tình hình tăng trưởng tín dụng, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, các khoản cấp tín dụng lớn
2 Chính sách tiền tệ năm 2022
- Thực trạng
Năm 2022 là một năm đặc biệt khi bối cảnh thế giới có thể được tóm gọn trong hai chữ “bất định” Tình hình chính trị thế giới phức tạp, đỉnh điểm là cuộc xung đột Nga - U-crai-na bùng
nổ và leo thang Kinh tế thế giới giảm tốc đáng kể chỉ sau một năm phục hồi ấn tượng từ đại dịch COVID-19, trong đó nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới, vốn là động lực quan trọng trong kinh tế và thương mại toàn cầu đứng trước nguy cơ khủng hoảng Lạm phát toàn cầu tăng cao nhất trong 40 năm trở lại đây Hơn 80 quốc gia phải chống chọi với lạm phát cao kỷ lục hai con số khi giá cả nhiều hàng hóa nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu tăng mạnh Để đối phó với lạm phát, các ngân hàng trung ương trên toàn cầu đã phải chuyển trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ từ nới lỏng sang thắt chặt thông qua quyết liệt tăng các loại lãi suất điều hành nhanh hơn và với cường độ mạnh hơn Đồng đô-la Mỹ tăng giá mạnh trên thị trường thế giới kéo theo hiện tượng đảo chiều dòng vốn đầu tư khỏi các thị trường mới nổi và đang phát triển, gây áp lực mất giá đối với nhiều đồng tiền quốc gia, buộc ngân hàng trung ương của các