1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Buổi thảo luận thứ nhất nghĩa vụ và vấn Đề chung của hợp Đồng vấn Đề 1 thực hiện công việc không có Ủy quyền

58 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi thảo luận thứ nhất nghĩa vụ và vấn đề chung của hợp đồng vấn đề 1 thực hiện công việc không có ủy quyền
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố thành phố hồ chí minh
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Căn cứ vào điều 574 điều kiện là thực hiện công việc không có ủy quyền: - Người đi thực hiện công việc của người khác không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó + Người đi thực hiệ

Trang 1

Buổi thảo luận thứ nhất

NGHĨA VỤ VÀ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG

Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền

 Tóm tắt Bản án số 94/2021/DS-PT ngày 03/11/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng: (chủ thể nào?, lí do tạo ra tranh chấp?, tòa giải quyết ntn?, tòa dựa trên

cspl nào?, giải thích ra sao?)

Chủ thể:

o Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim V

o Bị đơn: Ông Phạm Văn H, Bà Nguyễn Thị Đ

Tranh chấp: Thực hiện công việc không có ủy quyền

Lý do tranh chấp: Vợ chồng bị đơn vay vốn tại quỹ tín dụng nhân dân Trung Ương, thế

chấp tài sản là căn nhà và đất Vợ chồng bị đơn không trả số tiền đã vay nợ quỹ tín dụngnên căn nhà bị phát mãi để thu hồi nợ Vì nguyên đơn không muốn phát mãi căn nhà nên

đã đứng ra trả số tiền gốc và tiền lãi cho vợ chồng bị đơn Tuy nhiên vợ chồng bị đơnkhông trả lại số tiền cho nguyên đơn Hiện vợ chồng bị đơn đã ly hôn, việc nguyên đơnđứng ra trả số tiền cho bị đơn là thực hiện công việc không có ủy quyền

Quyết định Toà án: Buộc bị đơn H và Đ có trách nhiệm trả lại số tiền theo quy định,

không chấp nhận yêu cầu phần tính lãi của nguyên đơn

1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

- Điều 574 BLDS 2015: Thực hiện công việc không có ủy quyền

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.

2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

[5] Đối với số tiền 124.590.800đồng (nợ gốc 100.000.000đồng và nợ lãi

24.590.800đồng) mà nguyên đơn ra trả nợ thay cho các bị đơn vào ngày 21/5/2009 tại Quỹ TDTW chi nhánh Sóc Trăng, là số tiền nợ vay đến hạn hợp đồng mà các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nên Quỹ TDTW chi nhánh Sóc Trăng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ Mặc dù số tiền trên nguyên đơn không có nghĩa vụ trả nợ, lại tự nguyện thực hiện trả nợ thay cho các bị đơn, không có sự đồng ý hoặc ủy quyền của các

bị đơn, nhưng việc nguyên đơn thực hiện việc trả nợ thay cho các bị đơn là nhằm không

để Quỹ TDTW chi nhánh Sóc Trăng xử lý tài sản thế chấp là nguyên đơn thực hiện công việc hoàn toàn vì lợi ích của các bị đơn, sau khi thực hiện nguyên đơn cũng báo cho bị đơn biết và bị đơn không phản đối Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc nguyên

Trang 2

đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho các bị đơn vào ngày 21/5/2009 là nguyên đơn thực hiện công việc không có ủy quyền là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều

594 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng Điều 574 Bộ luật Dân sự năm 2015)

3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”.

- Điều 594 BLDS 2005: Thực hiện công việc không có uỷ quyền:

Thực hiện công việc không có uỷ quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện

công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có

công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối

- Điều 574 BLDS 2015: Thực hiện công việc không có ủy quyền

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.

 Đã bỏ chữ hoàn toàn vì nó làm cho người đọc hiểu theo nghĩa hoàn toàn vì lợi ích của

người có công việc còn những chủ thể khác sẽ không có lợi ích gì Do đó ở BLDS 2015

đã sửa đổi bỏ chữ hoàn toàn, điều này cho thấy thực hiện công việc của người khác có

thể vì lợi ích của những ng khác hay chính ng thực hiện công việc đó

4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.

 Căn cứ vào điều 574 điều kiện là thực hiện công việc không có ủy quyền:

- Người đi thực hiện công việc của người khác không có nghĩa vụ phải thực hiện công

việc đó

+ Người đi thực hiện công việc của người khác hoàn toàn tự nguyện

+ Người này không có nghĩa vụ hay trách nhiệm phải thực hiện công việc đó

- Việc thực hiện công việc phải vì lợi ích của người có công việc

+ Phải vì lợi ích của người khác trước tiên…

- Người có công việc không biết hoặc biết nhưng không phản đối

+ Trường hợp biết nhưng phản đối mà người kia vẫn thực hiện thì không được coi là thựchiện công việc không có ủy quyền, do đó không có nghĩa vụ phải chi trả chi phí…

5 Trong Bản án nêu trên, Tòa án áp dụng quy định về “thực hiện công việc

Trang 3

không có ủy quyền” có thuyết phục không? Vì sao?

Trong Bản án nêu trên, Tòa án áp dụng quy định về “thực hiện công việc

không có ủy quyền” có thuyết phục Vì:

- Bà V đem tiền của mình trả nợ tự nguyện cho vợ chồng ông H và bà Đ, bà V hoàn toàn không có nghĩa vụ phải trả nợ 100 tr cho Quỹ tín dụng nhân dân TW chi nhánh Sóc Trăng

vì đây là nợ của vợ chồng ông H, bà Đ năm 2006  thỏa mãn đk Người đi thực hiện

công việc của người khác không có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó

- Việc vợ chồng ông H, bà Đ có nợ và không trả được nợ sẽ gây ra các hậu quả như: bị chịu lãi chậm trả, bị phạt vi phạm, phải trả lãi quá hạn, lãi phạt hoặc các chế tài khác như điểm tín dụng CIC chuyển thành nợ xấu,… Do đó việc bà V trả dùm nợ cho ông H, bà Đ

vì lợi ích của người mang nợ  thoản mãn đk Việc thực hiện công việc phải vì lợi ích của người có công việc

- Ông H, bà Đ có thừa nhận biết việc bà V trả dùm tiền và họ không phản đối  thỏa

mãn đk Người có công việc không biết hoặc biết nhưng không phản đối

 Thỏa mãn các điều kiện về thực hiện công việc không có ủy quyền theo điều 574 BLDS 2015 Do đó việc Tòa án áp dụng quy định về “thực hiện công việc không có ủy quyền” là có thuyết phục

6 Việc Tòa án tính lãi đối với nghĩa vụ trả tiền như trong Bản án có thuyết phục không? Vì sao?

- Trong bản án Tòa xác định hai vợ chồng này phải trả lãi 10%/năm bắt đầu từ trước ngàykhởi kiện 6 tháng vì sau khi trả bà V hoàn toàn không nói gì về việc yêu cầu trả lại số tiền

bà V đã trả dùm, trước khởi kiện 6 tháng bà mới yêu cầu hoàn trả tiền

- Việc Tòa án tính lãi đối với nghĩa vụ trả tiền như trong Bản án có thuyết phục vì tại mốcthời gian bà V trả tiền dùm là thời điểm phát sinh nghĩa vụ tuy nhiên nghĩa vụ này chưa đến hạn thực hiện, cho vay nhưng chưa xác định thời hạn trả

- Tính lãi 10% là đúng theo quy định của luật tại điều 357 dẫn đến điều 468

Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán 1 khoản tiền)

 Tình huống: Ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế

chân của bà Cô 50.000đ Nay, ông Quới yêu cầu bà Cô trả nhà Bà Cô đồng ý trả nhà và yêu cầu ông Quới hoàn trả tiền thế chân (Lưu ý: giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp HCM là18.000đ/kg)

Trang 4

 Tóm tắt Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (tr68)

Chủ thể:

o Nguyên đơn: Cụ Ngô Quang Bảng

o Bị đơn: Bà Mai Hương

Tranh chấp: Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền

Lý do tranh chấp: Năm 1991, cụ Bảng chuyển nhượng căn nhà, đất cho vợ chồng bà

Mai Hương với giá 5.000.000 đồng Bà Hương đã trả trước 4.000.000 đồng, còn 1/5 giátrị chưa thanh toán Đến năm 1996, bà Hương gặp cụ Bảng để trả 1.000.000 đồng cònthiếu nhưng cụ Bảng không đồng ý Cụ đòi bà Hương trả số tiền là 1.697.760.000 đồngcho 1/5 giá trị còn lại tuy nhiên bà Hương không đồng ý nên cụ Bảng khởi kiện

Quyết định Tòa án: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội sửa bản án phúc thẩm, buộc bà

Hương phải trả cho cụ Bảng số tiền tương đương 1/5 giá trị quyền sử dụng đất nhậnchuyển nhượng theo định giá của Tòa án cấp sơ thẩm

Năm 1991, cụ Bảng chuyển nhượng căn nhà cấp bốn hai gian cùng

toàn bộ thửa đất 1.010 m2 cho vợ chồng bà Mai Hương với giá 5 triệu đồng Bà

Hương đã trả cho cụ Bảng 4 triệu đồng, còn nợ 1 triệu đồng tương đương với

1/5 giá trị thửa đất chưa thanh toán Cụ Bảng đã nhiều lần yêu cầu bà Hương

thanh toán, nhưng bà Hương không trả với lý do chồng ốm đau, không có tiền

trả Năm 1996, bà Hương chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất trên cho vợ chồng

ông Hoàng Văn Chinh, bà Phạm Thị Sáu mà vẫn không trả tiền cho cụ Bảng

Sau nhiều lần đòi bà Hương trả số tiền còn nợ mà không được nên cụ Bảng khởi

kiện yêu cầu bà Hương phải trả cho cụ số tiền còn thiếu tương đương 1/5 giá trị

nhà, đất với số tiền là 1.697.760.000 đồng Nếu bà Hương không thanh toán

bằng tiền mặt thì yêu cầu bà Hương phải trả lại 1/5 diện tích đất mà bà Hương

chưa thanh toán Tại phiên Tòa giám đốc thẩm, Tòa theo hướng bà Hương phải

thanh toán số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà đất theo định giá và thời

điểm xét xử sơ thẩm

Trang 5

1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?

- Sự việc giữa ông Quới và bà Cô thực hiện ngày 15/11/1973 (trước ngày 1/7/1996) nên theo điểm a Điều 1 Mục I Thông tư 01/TTLT thì tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toánnhư sau:"Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày

1/7/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương, tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa

vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó"

Như vậy, qua Thông tư trên việc tính lại giá trị khoản tiền mà ông Quới phải thanh toán cho bà Cô phải thông qua trung gian là tài sản: Gạo

2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.

- 50.000 đ năm 1973 mua được khoảng 365 kg gạo

- 18.000 x 365 = 6.570.000 đ

 Trên thực tế, ông Quới sẽ phải trả cho Bà cô 6.570.000 đ

Điểm a khoản 1 Thông tư liên tịch của toà án nhân dân tối cao - viện kiểm sát nhân dân tối cao - bộ tư pháp - bộ tài chính số 01/ttlt ngày 19 tháng 6 năm 1997 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản

1 - Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:

a) Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày 1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó.

3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?

- Thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản

Trang 6

- Vì thông tư trên chỉ điều chỉnh các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính và hiện vật chứ không điều chỉnh đối tượng là quyền sử dụng đất.

4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

- Trong bản án Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, ở phần nhận định của Tòa án có nêu rõ:

Do đó, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000 đồng như Tòa án cấp sơ thẩm

đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là:

1.697.760.000 x 1/5 = 339.552.000 (đồng)

5 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?

Hướng như trên của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ

- Ví dụ: Quyết định 741/2011/DS - GĐT ngày 26/9/2011 của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao

Ông Hoanh và ông An có ký hợp đồng chuyển nhượng 1.230 m2 đất với giá 500.000.000 đồng Ông An đã trả cho Hoanh 265.000.000 đồng, còn nợ ông Hoanh 235.000.000 đồng;nhưng ông An đã nhận đất và ông An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại Công văn 34/BC VKST-P5 thì ông An đã bán thửa đất mà ông nhận chuyển nhượng của ông Hoanh Toà

án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hoanh và ông An là có căn cứ Tuy nhiên,

Trang 7

trong quá trình thực hiện hợp đồng ông An đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa

vụ trả tiền chuyển nhượng đất đúng thời hạn Do đó, ông An phải thanh toán cho ông Hoanh số tiền nhận chuyển nhượng đất cần thiết theo giá thị trường tại thời điểm xét xử

sơ thẩm; như vậy mới bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự Tòa án cấp sơ thẩmbuộc ông An trả lại ông Hoanh số tiền gốc chưa thanh toán và lãi suất; Toà án cấp phúc thẩm thì chỉ buộc ông An trả nguyên tiền gốc đều không chính xác

Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận

Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận?

+ Hậu quả pháp lý là làm chấm dứt tư cách chủ thể của người chuyển giao quyền/ nghĩa

vụ, làm phát sinh tư cách chủ thể, quyền và nghĩa vụ dân sự ở người được chuyển giao.+ Sau khi chuyển giao quyền/ nghĩa vụ, bên có quyền/ nghĩa vụ ban đầu chấm dứt toàn

bộ quan hệ nghĩa vụ với bên có nghĩa vụ/ quyền

+ Xuất phát từ sự thỏa thuận giữa các bên

+ Chỉ áp dụng đối với các nghĩa vụ quan hệ đang còn hiệu lực

- Điểm khác:

Chuyển giao quyền yêu cầu Chuyển giao nghĩa vụ theo

thỏa thuận Chủ thể - Bên có quyền có quyền chuyển giao

quyền cho sang bên thứ ba (người thế quyền)

- Bên có nghĩa vụ có thể chuyển nghĩa vụ cho bên thứ

ba (người thế nghĩa vụ)

Quyền hạn - Người chuyển giao quyền yêu cầu

không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có

- Người đã chuyển giao nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện

Trang 8

nghĩa vụ nên việc chuyển giao quyền

không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ (khoản 2 Điều 365 BLDS)

nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền nên để bảo vệ lợi ích của bên có quyền, việc chuyển giao nghĩa vụ

phải được sự đồng ý của bên có quyền (khoản 1 Điều

- Người chuyển giao quyền có nghĩa

vụ đối với người thế quyền: người chuyển giao quyền yêu cầu vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thếquyền mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại (Điều 366 BLDS)

- Đối với chuyển giao nghĩa

vụ có biện pháp bảo đảm thì

biện pháp bảo đảm sẽ đương nhiên chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 371 BLDS).

- Không quy định về nghĩa

vụ của người chuyển giao nghĩa vụ đối với người thế nghĩa vụ

Hình thức Bằng văn bản và phải thông báo cho

bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển quyền để tránh việc bên có nghĩa vụ phải từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền hay thực hiện nghĩa vụ bổ sung, trừ trường hợp có thoả thuận khác (khoản 2 Điều 365)

Không có quy định bắt buộc

o Bị đơn: Ông Đàm Anh T3, bà Nguyễn Thị Minh L1

Tranh chấp: Tranh chấp Hợp đồng tặng cho tài sản

Lý do tranh chấp: Ngày 2/7/2002, cụ L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

tổng 740m2 do bố mẹ cụ để lại bao gồm căn nhà cấp 4 Cụ L có vợ trước là bà L2 (đã lyhôn năm 1990), có 9 người con, hiện còn sống 7 là T3, D, D1, V, V1, D2, T6 Năm 2004,

cụ T về sống cùng cụ L, 2008 đăng kí kết hôn, không có con chung Năm 2004, cụ Lchuyển nhượng 189 m2 cho bà V1 Ngày 28/4/2011, cụ L tặng toàn bộ đất còn lại cho ôngT3 và con dâu, với điều kiện là phải chăm sóc vợ chồng cụ L Tuy nhiên vợ chồng ông T3

Trang 9

chỉ thực hiện lúc đầu Cụ L đòi trả lại phần đất nhưng ông T3 không trả Năm 2011, ngaysau khi được đứng tên ông V3 đã chuyển quyền sử dụng đất cho con là T4 nhưng cụ Lkhông hề biết Năm 2013, anh T4 đã xây nhà trên đất này Cụ L đề nghị hủy bỏ hợp đồngtặng cho, còn phần nhà anh T4 đã xây cụ không đòi lại.

- Anh T4 có trách nhiệm trả cho những người thừa kế theo pháp luật của cụ L số tiền 80.000.000 đồng

- Những người thừa kế theo pháp luật của cụ Đàm Đức L có trách nhiệm tháo dỡ phần nhà cấp để anh T4 quản lý và sử dụng

1 Theo quy định, nghĩa vụ nào không thể chuyển giao theo thỏa thuận?

Điều 365 Chuyển giao quyền yêu cầu

1 Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận, trừ trường hợp sau đây:

a) Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

b) Bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc không được chuyển giao quyền yêu cầu.

2 Theo Tòa án, nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng cha, mẹ có thể được chuyển giao theo thỏa thuận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời.

- Theo Tòa án, nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng cha, mẹ không thể được chuyển giao theo

thỏa thuận

- Đoạn của bản án cho câu trả lời:

Trang 10

3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án

- Hướng giải quyết của tòa án:

+ Xác định hợp đồng tặng cho tài sản của cụ L với ông T3 và hợp đồng giữa tặng cho giữaông T3 và anh T4 là vô hiệu

+ Anh T4 được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất còn lại là 126,8 m2 trong đó có 99,7 m2đất ở và tài sản gắn liền trên đất, 27,1 m2 đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa số 746

+ Anh T4 có trách nhiệm trả cho những người thừa kế theo pháp luật của cụ L số tiền80.000.000 đồng

+ Những người thừa kế theo pháp luật của cụ Đàm Đức L có trách nhiệm tháo dỡ phần nhàcấp 4 để anh T4 quản lý và sử dụng

 Hướng giải quyết của Tòa án là hoàn toàn hợp lý…

Tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Lý do tranh chấp: Năm 2003, bà Tú vay tiền của NH rồi cho bà Phượng vay

555.000.000đ, việc giao nhận tiền chia làm 5 đợt, lãi xuất 1,8%/tháng và phải hoàn vốnsau 12 tháng Đến 4/2004, bà Phượng vay bên ngoài giao tiền cho bà Tú trả lại cho NH vàvay tiếp 27/4/2004, bà Tú tiếp tục vay NH 615.000.000đ rồi cho bà Phượng vay lại Đến4/2005, Phượng không có tiền trả nên nhờ bà Tú vay bên ngoài để trả cho NH với lãi suất2,5% đồng thời xin giảm lãi còn 1,3% Đến 5/2005, bà Phượng ngưng trả lãi Bà Phượng

đã cho bà Ngọc và bà Loan vay lại số tiền 615tr Bà Tú đã lập hợp đồng vay với bà Ngọc

và bà Loan và giữ 1 số tài sản thế chấp Sau đó bà Ngọc, Loan không trả lãi cho bà Tú

Quyết định Tòa án:

- Buộc bà Ngọc có trách nhiệm trả cho bà Tú số tiền cả gốc lẫn lãi là 651.981.000đ

1 Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú?

Trang 11

2 Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?

3 Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?

- Đánh giá trên của Tòa án là hợp lý

+ Thứ nhất, luật quy định, khi chuyển giao nghĩa vụ phải có sự đồng ý của bên có quyền, đồng nghĩa với việc người có quyền phải xét đến điều kiện, khả năng thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ để bảo đảm quyền lợi của mình Vì lẽ đó, xem xét giải phóng hoàn toàn cho người chuyển giao nghĩa vụ là có căn cứ

+ Thứ hai, nếu như không giải phóng hoàn toàn người có nghĩa vụ ban đầu thì chế định này sẽ không tìm thấy sự khác nhau với chế định ủy quyền (thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba) Do vậy, để chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập, nên xác định rõ việc giải phóng hay không với người có nghĩa vụ ban đầu

Trang 12

4 Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được

chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Dưới góc độ văn bản, BLDS 2015 có quy định về việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự theo thỏa thuận tại Điều 370, Điều 371 BLDS 2015 tuy nhiên những quy định này không cho biết rằng liệu người đã chuyển giao nghĩa vụ cho một người khác có còn trách nhiệm đối với người có quyền trong trường hợp người được chuyển giao nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ đó hay không

- Tuy nhiên nếu cho rằng người có nghĩa vụ ban đầu vẫn còn trách nhiệm với người có quyền thì ta không thấy được sự khác nhau giữa chuyển giao nghĩa vụ với “thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba” được quy định tại điều 283 BLDS năm 2015:

 Như vậy, để phân biệt tránh sự nhầm lẫn giữa quy định về chuyển giao nghĩa vụ với thực hiện thông qua người thứ ba thì nên hướng theo chiều hướng người có nghĩa vụ ban đầu không chịu trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được giao

5 Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa

vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết.

Theo quan điểm của một số tác giả, trách nhiệm của người có nghĩa vụ ban đầu đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao có thể khác nhau:

Quan điểm của tác giả Chế Mỹ Phương Đài: Theo tác giả này, người có nghĩa vụ ban đầu không chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ sau khi đã chuyển giao, trừ khi các bên có thỏa thuận khác

Quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Huệ: Tác giả này cho rằng người thế nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền Nếu người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ, người có nghĩa vụ ban đầu vẫn có thể phải chịu trách nhiệm, đặc biệt nếu không có thỏa thuận rõ ràng về việc miễn trách nhiệm

Quan điểm của tác giả Đỗ Văn Đại thì: “Chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập với chế định thực hiện nhiệm vụ thông qua người thứ ba, cần xác định rõ chuyển giao nghĩa vụ giải phóng người có nghĩa vụ ban đầu trừ khi các bên có thỏa thuận khác”

Những quan điểm này cho thấy rằng việc người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm hay không phụ thuộc nhiều vào thỏa thuận giữa các bên và các quy định pháp luật cụ thể

Về mặt lý luận, về mặt quan điểm của nhiều tác giả thì chúng ta thấy khi chuyển giao nghĩa vụ rồi thì người có nghĩa vụ ban đầu sẽ không còn trách nhiệm hay liên quan tới

Trang 13

việc thực hiện nghĩa vụ của người nhận nghĩa vụ nữa bởi vì việc chuyển giao nghĩa vụ có

sự đồng ý của người có quyền Hơn nữa như vậy là để phân biệt rõ ràng với việc thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ 3 là việc

ủy quyền cho người khác thực hiện nghĩa vụ của mình tuy nhiên về bản chất, nghĩa vụ đó vẫn là của mình, mình vẫn phải chịu trách nhiệm.

6 Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền?

7 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.

- Hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý

Điều 370 BLDS năm 2015

1 Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.

2 Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ.

- Theo bản án, ban đầu bà Phượng là người có nghĩa vụ trả nợ cho bà Tú ở lần vay đầu tiên Lần thứ hai, bà Tú là người đã làm hợp đồng vay mới, ký biên nhận cho vay cho bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh Các đương sự cũng đã thừa nhận thống nhất sự thỏa thuận với nhau ở Tòa án Vậy nên từ lúc bà Tú ký biên nhận vay thì đã có sự chấp thuận của bà đối với việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ từ bà Phượng qua bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh

Vì nghĩa vụ trả nợ này không gắn liền với nghĩa vụ nhân thân nên việc chuyển giao nghĩa

vụ này là hợp pháp Sau khi nghĩa vụ đã được chuyển giao thì nghĩa vụ trả tiền cho bà Túcủa bà Phượng đã hoàn toàn chấm dứt, không còn trách nhiệm dân sự nào giữa bà Tú và

bà Phượng, đồng thời làm phát sinh quan hệ dân sự giữa bà Tú và bà Ngọc, bà Loan, ông Thạnh về nghĩa vụ trả tiền cho bà Tú

Trang 14

8 Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt không? Nêu rõ cơ cở pháp lý khi trả lời.

- Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh chấm dứt, trừ trườnghợp có thỏa thuận khác vì biện pháp bảo lãnh của người thứ ba chỉ dành cho người có quyền để bảo vệ cho lợi ích của người có quyền theo Điều 367 và Điều 368 BLDS năm 2015

2 Tòa án xác định nội dung điều chỉnh phương thức thanh toán là đề nghị giao kết hợp đồng trong Bản án số 02 có thuyết phục không? Vì sao?

 Tóm tắt Bản án số 02/2023/KDTM-PT ngày 12/01/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương (tr84)

Chủ thể:

o Nguyên đơn: Công ty TNHH I

o Bị đơn: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Sắt Thép Á1

Tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Lý do tranh chấp: 6/2021, I liên lạc mua mạ kẽm của Á1 qua zalo Sau khi trao đổi, 2

bên thỏa thuận đợt 1 thanh toán 30% giá trị đơn hàng sau 10 ngày kể từ ngày đặt khuôn,70% còn lại sẽ thanh toán ngay trước khi nhận hàng hóa Về mua khuôn mẫu, 2 bênthống nhất I sẽ thanh toán 70% giá trị trước để Á1 làm khuôn, 30% còn lại được thanhtoán ngay khi khuôn được hoàn thành và giao cho I để duyệt 22/6/2021, I soạn thảo hợpđồng đúng như thỏa thuận, Á1 đã xem nhưng chưa ký 29/6/2021, Á1 đề nghị thanh toán70% khuôn mẫu và I đã chuyển 84tr 7/7/2021, I nhận được bản hợp đồng do Á1 gửi qua

Trang 15

zalo, theo đó Á1 đã sửa phần nội dung thanh toán từ 30% lên 50% giá trị hợp đồng sau 10ngày đặt khuôn bởi vì đây là hàng hóa đặc thù, trường hợp các bên giao kết hợp đồngcung ứng hàng hóa thì điều khoản thanh toán phải ở mức 50-50 mới đáp ứng được nhucầu cũng như an toàn cho Á1 I không chấp nhận, 2 bên thương lượng lại, I yêu cầu giữnhư thỏa thuận ban đầu hoặc chấm dứt thỏa thuận và hoàn trả lại 84tr Phía Á1 khôngđồng ý vì khuôn đã đặt xong, tiền khuôn đã chuyển cho bên sản xuất I khởi kiện đòi lại

- Vì hợp đồng là sự thỏa thuận để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ nên việc bên Á1 đề nghị thay đổi, điều chỉnh phương thức thanh toán thành 50 – 50 chính là đề nghị giao kết hợp đồng

3 Thế nào là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời Điều 393 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

1 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.

4 Đoạn nào của Bản án số 886 cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về chấp nhận

Tranh chấp: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Lý do tranh chấp: 3/8/2017, cty N ký hợp đồng thử việc với ông H từ 3/8 đến 2/10 với

mức lương 68tr Hết thời gian thử việc ông H vẫn tiếp tục làm việc Đến 14/10/2017, cty

N đề nghị thăng chức, tăng lương ông H lên 75tr và thêm chế độ ưu đãi 17/10, ông H đềnghị ký hợp đồng lao động Tuy nhiên 23/10, cty N không muốn ký hợp đồng lao động vàgửi cho H văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động 26/10, cty N gửi cho H bản

dự thảo hợp đồng lao động có các điều khoản không giống trước đó H không đồng ý nên

Trang 16

yêu cầu chỉnh sửa nhưng cty N không chấp nhận yêu cầu 10h30 phút ngày 4/11, H nhậnđược yêu cầu không có mặt tại cty kể từ 12h cùng ngày 4/11 và yêu cầu H bàn giao côngviệc H khởi kiện công ty N đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Quyết định Tòa án: : Sau khi chấm dứt hợp đồng thử việc, giữa ông Trần Viết H và

Công ty N không thực hiện việc giao kết hợp đồng lao động do ông Trần Viết H khôngđồng ý ký kết Hợp đồng lao đồng Công ty N không đơn phương chấm dứt hợp đồng laođộng trái pháp luật với ông Trần Viết H

 Đoạn của Bản án số 886 cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

5 Hướng áp dụng quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của Tòa án trong Bản án số 886 như trên có thuyết phục không? Vì sao?

- Có thuyết phục vì …

Trang 17

Vấn đề 5: Sự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng

Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Quyết định số 02/2022/DS-GĐT ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

2 Quy định về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng trong một hệ thống pháp luật nước ngoài.

3 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận việc tách đất cho con trong Quyết định số 02 nêu trên có thuyết phục không? Vì sao?

Trang 18

Buổi thảo luận thứ hai

VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (TIẾP)

Vấn đề 1: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được

1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu

Điều 411 BLDS 2005: Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được

1 Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được

vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu.

2 Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được, nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.

3 Quy định tại khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp

đồng vẫn có giá trị pháp lý.

Điều 408 BLDS 2015: Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được

1 Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì

hợp đồng này bị vô hiệu.

2 Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia

đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.

3 Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại

của hợp đồng vẫn có hiệu lực.

Những thay đổi:

- Thứ nhất, Điều 408 BLDS 2015 đã nêu rõ hợp đồng chỉ bị vô hiệu khi có đối tượng

không thể thực hiện được “ngay từ khi giao kết” Đây là một điểm khác so với Điều 411 BLDS 2005 Mặc dù có chung cách tiếp cận nhưng Điều 411 BLDS 2005 sử dụng thuật ngữ “ngay từ khi ký kết” khiến cho phạm vi áp dụng của điều luật này bị thu hẹp bởi vì

“Kí kết” chỉ dùng cho hợp đồng văn bản có chữ kí trong khi đó hợp đồng có thể được hình thành mà không có chữ kí (như hợp đồng miệng, hợp đồng giao kết thông qua im

Trang 19

lặng…) Để có tính bao quát hơn, BLDS 2015 đã dùng từ “giao kết”, và việc thay đổi này

là hoàn toàn chính xác, khắc phục được khuyết điểm của BLDS 2005

- Thứ hai, so với quy định trước đây của BLDS 2005, Điều 408 BLDS 2015 đã xoá bỏ

cụm từ “vì lý do khách quan”, do đó theo tinh thần của BLDS 2015 thì khi hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng bị vô hiệu bất kể việc đó xuất phát từ nguyên nhân khách quan hay chủ quan

- Thứ ba, Khoản 3 Điều 408 BLDS 2015 đã thay cụm từ “giá trị pháp lý” trong Khoản 3

Điều 411 BLDS 2005 bằng “hiệu lực” Hợp đồng vô hiệu thì chắc chắn là hợp đồng ko cóhiệu lực pháp lý - nhưng ngược lại: hợp đồng ko có hiệu lực pháp lý chưa chắc đã phải là hợp đồng vô hiệu mà có thể là hợp đồng chưa được ký kết, đã ký kết nhưng bị đình chỉ hiệu lực, hoặc đã hết hiệu lực Như vậy, dùng cụm từ “hiệu lực” sẽ tạo sự khái quát, bao quát hơn so với việc dùm cụm từ “giá trị pháp lý” vì “giá trị pháp lý” chỉ mang ý nghĩa luật định, còn “hiệu lực” còn có ý nghĩa trong việc thực thi

2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN LÀ THỜI HIỆU CỦA NGƯỜI YÊU CẦU TOÀ GIẢI QUYẾTCHO HỌ

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

3 NĂM THEO ĐIỀU 429

2 NĂM THEO ĐIỀU 132 HOẶC KHÔNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU (KIỆN KHI NÀO CŨNG ĐƯỢC, KHÔNG HẠN CHẾ VỀ THỜI GIAN)

- Điều 408 BLDS 2015 không quy định rõ ràng về thời hiệu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được

Xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định cụ thể nội dung trên, nên hiện nay có tồn tại rất nhiều cách áp dụng trên thực tế Có quan điểm cho rằng, do luật không có quy định nên trường hợp này sẽ không áp dụng thời hiệu Cách giải quyết trên xảy ra bất cập ở chỗ việc áp dụng không tính thời hiệu sẽ không có cơ sở pháp lý rõ ràng,

do đó, khó thuyết phục được các bên tham gia

Ý kiến khác lại cho rằng trường hợp tại Điều 408 sẽ áp dụng thời hiệu theo quy định tại Điều 429 (thời hiệu khởi kiện về hợp đồng), trường hợp này được xác định là trường hợp

vô hiệu hợp đồng, do đó nó chỉ có thể bị tuyên vô hiệu Xét về bản chất của chế tài vô hiệu thì nó sẽ không làm phát sinh quan hệ hợp đồng, nên không thể giải quyết theo quy định về tranh chấp hợp đồng

Trang 20

Ngoài ra, cũng có thêm một quan điểm khác liên quan đến vấn đề trên Theo đó, thời hiệu

áp dụng cho trường hợp hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được sẽ tuân theo quy định tại Điều 132 (thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu), tuy nhiên toàn bộ quy định trong Điều 132 không hề đề cập đến bất kỳ cách áp dụng thời hiệu nào cho trường hợp hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được

Có thể thấy, đối với những cách hiểu đã nói ở trên, không có biện pháp nào chỉ ra được cách giải quyết thỏa đáng cho việc áp dụng thời hiệu tại Điều 408 Nguyên nhân chính là

do quy định hiện tại của Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa ghi nhận vấn đề trên một cách rõ ràng Điều này vô hình trung tạo nên các cách hiểu không thống nhất, chưa phù hợp Trong một chừng mực nào đó, hiện tượng trên cũng đã vi phạm nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng của văn bản quy phạm pháp luật, gây khó khăn cho cơ quan xét xử cũng như các bên tham gia trong hợp đồng

3 Đối với Quyết định số 20, đoạn nào cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu

do đối tượng không thể thực hiện được và hướng xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được như vậy có thuyết phục không? Vì sao?

 Tóm tắt Quyết định số 20/2022/DS-GĐT ngày 22/8/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (tr115)

Lý do tranh chấp: Nguyên đơn là bà Lê Thị Hẹ và ông Nguyễn Văn Mật (chồng của bà

Hẹ) có quyền sử dụng đất đối với thừa đất số 829 và 830 diện tích 198m2, nằm giữa 2 thửa là 1 rạch nước đã hoang hóa, 2 vợ chồng bà đã chiếm hữu rạch nước này từ lâu nhưng chưa được cấp quyền sử dụng đất Ngày 12/4/2011, vợ chồng bà ký hợp đồng muabán nhà đất viết tay cho bà Nguyễn Thị Nếch với diện tích 135m2 trong đó bao gồm cả diện tích đất rạch nước với số tiền 1.111.500.000 đồng và đã nhận đủ tiền cũng như giao đất, nhà Khoảng 10/2011, vợ chồng bà Hẹ tiếp tục chuyển nhượng cho bà Nếch 1 phần đất có diện tích 108m2, giá chuyển nhượng hơn 700.000.000 đồng, lần chuyển nhượng này các bên không lập văn bản Tổng số tiền bà Hẹ nhận được qua 2 lần là 1.887.500.000đồng Tổng diện tích của 2 lần là 142,5 m2 thuộc 2 thửa 829, 830 (không tính diện tích đất rạch nước)

27/10/2011, 2 bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá trị chuyển nhượng trong hợp đồng là 1.500.000.000 đồng và bà Hẹ đã giao Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho bà Nếch giữ Đến năm 2015, bà Nếch lại yêu cầu bà Hẹ hủy hợp đồng

Trang 21

ngày 27/10/2011 để kí lại hợp đồng khác cùng nội dung nhưng ghi lại giá chuyển nhượng

là 500.000.000 đồng để giảm tiền nộp thuế cho nhà nước Bà Nếch đồng ý nên ngày 19/11/2015 đã hủy hợp đồng và ký lại hợp đồng chuyển nhượng mới Bà Hẹ do tin tưởng

bà Nếch đã không đọc kỹ hợp đồng, tuy nhiên trong cả 2 lần chuyển nhượng hợp đồng trước đây, diện tích đất đều nhiều hơn thực tế là từ 142,5m2 thành 198m2 Do 142,5m2

không đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật nên bàNếch mới đề nghị với bà hẹ chuyển nhượng toàn bộ nhưng bà Hẹ không đồng ý Năm

2017 bà Hẹ phát hiện nhầm lẫn nên yêu cầu bà Nếch ký lại hợp đồng nhưng bà Nếch không đồng ý do đó bà Hẹ khởi kiện

Quyết định toàn án:

- Tuyên bố hợp đồng mua bán nhà đất ngày 12/4/2011 và Hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất ngày 19/11/2015 vô hiệu

- Bà Nếch có trách nhiệm hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao lại

Trang 22

- Hướng xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được là có thuyết

phục vì hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 19/11/2015 không đúng về diện tích đất chuyển nhượng và không đúng về số tiền thực tế và với diện tích đất 142,5 m2 cũng không đủ điều kiện tách thửa Do đó đối tượng của giao dịch các bên không thể thực hiệnđược

4 Đối với Quyết định số 21, đoạn nào cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu

do đối tượng không thể thực hiện được và hướng xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được như vậy có thuyết phục không? Vì sao?

 Tóm tắt quyết định số 21/2022/DS-GĐT ngày 22/8/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (tr124)

1/1/2004, nhà từ đường được khởi công xây dựng Sau khi cụ Bình chết, bà Sương quản

lý và sử dụng toàn bộ tài sản Tộc họ Trần yêu cầu bà Sương trả lại nhưng bà Sương không đồng ý

Ngày 7/6/2012, bà Sương được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số 852 Ngày 19/1/2015 bà Sương chuyển nhượng lại cho ông Văn Tấn Ải Ngày 26/3/2015, vợ chồng ông Ải chuyện nhượng cho ông Nguyễn An Khang Tuy nhiên, trên thực tế bà Sương vẫn là người quản lý và sử dụng Việc chuyển nhượng nhiều lần là để trốn tránh việc trả nhà đất từ đường cho tộc họ Trần Ông Trí và 24 nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Sương giao trả lại nhà đất

Quyết định toàn án: Giao hồ sơ vụ án cho Toàn án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử lại

theo thủ tục sơ thẩm, dúng quy định của pháp luật

HƯỚNG GIẢI QUYẾT LÀ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU

 Đoạn cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được

Trang 23

 Hướng xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được như vậy có thuyết phục không? Vì sao?

Hướng xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục vì hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Sương và ông Ải cũng như hợp đồng của ông Ải và ông Khang là hợp đồng được ký trong khi nhà đất đang có tranh chấp với tộc họ Trần, vi phạm điều kiện mua bán, chuyển nhượng quy định tại khoản 1 điều 91 Luật nhà ở 2005 và khoản 1 điều 188 Luật đất đai 2013

Vấn đề 2: Xác lập hợp đồng có giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản

1 Đối với vụ việc thứ nhất

1.1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?

2 Đối với vụ việc thứ hai

2.1 Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng

là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?

2.2 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?

2.3 Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ

Trang 24

Buổi thảo luận thứ ba

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ

Vấn đề 1: Đối tượng dùng để bảo đảm và tính chất phụ của biện pháp bảo đảm

Bản án số 208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP HCM (tr173)Quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/2/2014 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (tr175)

Quyết định số 27/2021/DS-GĐT ngày 02/6/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh (tr 181)

1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có 1thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

2 Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?

3 Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?

4 Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ.

6 Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố?

7 Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu

cơ sở văn bản khi trả lời?

8 Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 02.

10 Trong Quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào?

Trang 25

13 Việc Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt có thuyết phục không? Vì sao?

14 Khi xác định hợp đồng thế chấp chấm dứt, Tòa án theo hướng bên nhận thế chấp (Ngân hàng) có trách nhiệm hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất có thuyết phục không? Vì sao?

Vấn đề 2: Đăng ký giao dịch bảo đảm

1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Điều 323 Đăng ký giao dịch bảo đảm

1 Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định

về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này.

2 Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng

ký giao dịch bảo đảm Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ

trong trường hợp pháp luật có quy định.

3 Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch

bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký

Điều 298 Đăng ký biện pháp bảo đảm

1 Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy

định.

2 Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với

người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

3 Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng

ký biện pháp bảo đảm.

- Thứ nhất, BLDS 2005 đề cập đến vấn đề "Đăng ký giao dịch bảo đảm" còn BLDS

2015 thì quy định về "Đăng ký biện pháp bảo đảm" Mà theo khoản 1 điều 298 BLDS

2015 thì "biện pháp bảo đảm" được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật còn "giao dịch bảo đảm" theo điều 323 BLDS 2005 là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm Như vậy, khi sử dụng thuật ngữ “biện pháp bảo đảm” sẽ phù hợp hơn tránh hàn lâm, mơ hồ

- Thứ hai, BLDS 2015 đã thay thế cụm từ “pháp luật" thành từ “luật” Mà phạm vi điều

chỉnh của Luật sẽ hẹp hơn nhiều so với Pháp luật vì Luật chỉ điều chỉnh một ngành, lĩnh vực, còn Pháp luật là cả một hệ thống quy tắc gắn liền với một nhà nước, giúp nhà nước

Trang 26

đó điều hành bộ máy của mình Như vậy cũng đồng nghĩa với việc hạn chế về các chủ thể

có thẩm quyền để quy định về giao dịch bảo đảm và các điều kiện để giao dịch bảo đảm

có hiệu lực

- Thứ ba, BLDS 2015 đã thay thế cụm từ giá trị pháp lý” bằng “hiệu lực đối kháng" Có

thể nói rằng việc thay đổi từ ngữ như vậy đã giúp hạn chế các ràng buộc pháp lý đối với bên thứ ba trong giao dịch đảm bảo tài sản, khi mà “hiệu lực đối kháng” chỉ có thể phát sinh trong 4 trường hợp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ: Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Bảo lưu quyền sở hữu; Cầm giữ tài sản Sự điều chỉnh này cũng đã cụ thể hóa hơn quy định của luật, khiến cho việc sử dụng và áp dụng pháp luật trong thực tiễn đời sống trở nên thuận lợi hơn

2 Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng ký không? Vì sao?

 Tóm tắt Bản án số 90/2019/KDTM-PT ngày 16/8/2019 của Toà án nhân dân

cũ Quá trình thực hiện hợp đồng này, Ngân hàng chưa giải ngân mà chỉ theo dõi phần dư

nợ chuyển sang Theo thỏa thuận trong hợp đồng, Ngân hàng cung cấp hạn mức tín dụng cho Công ty V số tiền 05 tỷ đồng.Ngân hàng đã giải ngân số tiền 4.794.000.000 đồng bằng các giấy nhận nợ, thời hạn vay là 12 tháng Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty

V không thanh toán được khoản tiền gốc và lãi vay theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng Do Công ty V vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết

Quyết định toà án: Buộc Công ty V phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền cả vốn lẫn

lãi tính đến ngày 30/1/2019 tổng cộng là 13.281.236.528 đồng

Trang 27

 Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 thuộc trường hợp phải đăng ký Vì hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 thể

hiện ông Q và bà V tự nguyện dùng tài sản thuộc sở hữu của mình là nhà đất tại 60V, phường T, Quận H, Hà Nội để bảo đảm cho các khoản vay của Công ty V tại Ngân hàng với số tiền vay tối đa 06 tỷ đồng

Cơ sở pháp lý:

Theo điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP:

1 Các biện pháp bảo đảm sau đây phải đăng ký:

a) Thế chấp quyền sử dụng đất

Theo điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013

Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền

sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này

Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở 2020

Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng.

 Như vậy trong trường hợp trên biện pháp bảo đảm là nhà đất nên theo Nghị định 102/2017/NĐ-CP, Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2020 là phải đăng ký

3 Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC đã được đăng ký phù hợp với quy định

 Đoạn của bản án cho câu trả lời:

Trang 28

4 Theo Toà án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC có

vô hiệu không? Vì sao?

Theo Toà án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC không vôhiệu Vì tại thời điểm làm thủ tục đăng ký thế chấp ngày 30/9/2009 thì Thông tư số 05/TTLB-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 đang có hiệu lực, tại Điều 4 về người yêu cầu đăng ký có quy định “người yêu cầu đăng ký là một bên trong các bên hoặc các bên ký hợp đồng thế chấp, bảo lãnh” chi đến ngày 01/3/2010 thì mới có Thông tư số

06/2010/TTLT-BTP-BTNMT và tại Điều 1 mà Thông tư số 06 mới có quy định là khi đăng ký thế chấp mới (lần đầu) thì các bên phải ký còn đăng ký thay đổi, bổ sung thì chỉ cần một bên Như vậy, tại thời điểm ngày 30/9/2009 chỉ cần một bên là bên thế chấp hoặcbên nhận thế chấp, bảo lãnh ký là được Mà theo đơn yêu cầu đăng ký thế chấp ngày 30/9/2009 thì bên nhận thế chấp là Ngân hàng có ký đóng dấu vào đơn này nên Đơn đăng

ký vẫn đúng quy định và phát sinh hiệu lực

5 Hướng của Toà án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?

Nếu đối chiếu với một số quy định tại thời điểm trên thì hướng giải quyết của Tòa án về vấn đề trên là chưa hoàn toàn thuyết phục

- Thứ nhất, về mặt pháp lý: Tại khoản 2 Điều 323 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định như sau: “Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định”

Như vậy, có thể hiểu rằng, đối với các biện pháp bảo đảm không được pháp luật quy địnhbắt buộc phải đăng ký, thì khi không đăng ký bảo đảm sẽ không làm hợp đồng thế chấp

Trang 29

bị vô hiệu Và đối với các biện pháp mà luật quy định phải đăng kí tại NĐ

163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì việc đăng ký sẽ trở thành một trong các điều kiện để hợp đồng thế chấp có hiệu lực

- Thứ hai, xét hợp đồng thế chấp trong trường hợp trên, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Trong đó, có quyền sử dụng đất thuộc một trong các biện pháp bảo đảm bắt buộc đăng ký Mặc dù tài sản thế chấp trên đã được đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng đã phát sinh hiệu lực, nhưng Tòa nhận định rằng việc đăng ký chỉ làmphát sinh quyền ưu tiên xử lý tài sản thế chấp thôi là không đúng với quy định của pháp luật

Giả sử, nếu như tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất không được đăng ký thì theo quy định của pháp luật hợp đồng thế chấp trên sẽ bị vô hiệu một phần Khi công ty V không thực hiện thanh toán nợ cho Ngân hàng N, việc xử lý tài sản thế chấp để giải quyết nghĩa

vụ thanh toán sẽ gặp khó khăn khi tài sản xử lý là nhà đất lại gắn liền với quyền sử dụng đất Trong khi đó, Bộ luật Dân sự 2005 thời điểm hiện tại chưa quy định hướng xử lý

Do đó, cũng có thể hiểu được phần nào việc Tòa cho rằng cơ sở trên không làm hợp đồngthế chấp vô hiệu Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của pháp luật thì việc tòa nhận định như vậy là không thuyết phục

6 Hợp đồng thế chấp trong Quyết định số 41 có hiệu lực đối kháng với người thứ ba không? Vì sao?

 Tóm tắt Quyết định số 41/2021/KDTM-GĐT ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao (tr 203)

Chủ thể:

o Nguyên đơn: Ngân hàng TNCP Việt Nam Thịnh Vượng

o Bị đơn: Ông Lê Vĩnh Thọ, bà Nguyễn Thị Ngọc Loan

Tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Lý do tranh chấp: Ngày 19/6/2015, Ngân hàng kí hợp đồng cho vay với ông Thọ, bà

Loan số tiền 822 triệu, thời hạn vay 72 tháng Tài sản thế chấp là 1 chiếc ô tô Trong thời gian thế chấp, ông Thọ, bà Loan tự ý chuyển nhượng xe ô tô cho bà Giao theo hợp đồng

ủy quyền ngày 05/01/2017, sự chuyển nhượng này không được sự đồng ý của NH Sau

đó bà Giao lại tiếp tục chuyển nhượng cho ông Tân Trong quá trình thực hiện, ông Thọ,

bà Loan nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ NH khởi kiện

Ngày đăng: 02/04/2025, 20:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức Bằng văn bản và phải thông báo cho - Buổi thảo luận thứ nhất nghĩa vụ và vấn Đề chung của hợp Đồng vấn Đề 1 thực hiện công việc không có Ủy quyền
Hình th ức Bằng văn bản và phải thông báo cho (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w