MỤC LỤC CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SAI LỆCH SỢ LỖ CỦA NHÀ QUẢN TRỊ ............... 1 CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU SỰ TỒN TẠI VỀ SAI LỆCH SỢ LỖ CỦA NHÀ QUẢN TRỊ ...................................................................................................................... 1 1. Giới thiệu bài báo nghiên cứu .................................................................................. 1 2. Nội dung bài báo nghiên cứu ................................................................................... 1 2.1. Lý thuyết triển vọng: Định hình và đánh giá các tài khoản tinh thần ............... 2 2.2. Ác cảm hối tiếc .................................................................................................. 3 2.3. Tự chủ ................................................................................................................ 5 2.4. Tác động của sai lệch sợ lỗ đến quyết định chấm dứt dự án ............................. 5 3. Các nghiên cứu khác chứng minh sự tồn tại sai lệch sợ lỗ của nhà quản trị ........... 5 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HCM
- -
TIỂU LUẬN NHÓM
sợ lỗ của nhà quản trị
Giảng viên hướng dẫn: Vũ Thị Anh Thư
Môn học: Tài chính hành vi
Nhóm thực hiện: Nhóm 11
Nguyễn Thị Thanh Thảo - 030137210473 Trần Trung Thạnh - 030137210058
Nguyễn Bích Thủy - 030137210502
Đỗ Thị Thanh Thúy - 030137210505
Trần Lê Đình Thái - 030136200582
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SAI LỆCH SỢ LỖ CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 1
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU SỰ TỒN TẠI VỀ SAI LỆCH SỢ LỖ CỦA NHÀ QUẢN TRỊ 1
1 Giới thiệu bài báo nghiên cứu 1
2 Nội dung bài báo nghiên cứu 1
2.1 Lý thuyết triển vọng: Định hình và đánh giá các tài khoản tinh thần 2
2.2 Ác cảm hối tiếc 3
2.3 Tự chủ 5
2.4 Tác động của sai lệch sợ lỗ đến quyết định chấm dứt dự án 5
3 Các nghiên cứu khác chứng minh sự tồn tại sai lệch sợ lỗ của nhà quản trị 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SAI LỆCH SỢ LỖ CỦA NHÀ QUẢN TRỊ
Sai lệch sợ lỗ (Lý thuyết triển vọng) là một hiện tượng tâm lý học và là một khía cạnh tâm lý trong quyết định của các nhà quản trị Nó cho thấy rằng, họ có xu hướng sợ mất đi số vốn đang nắm giữ hơn là mong đợi những lợi ích tiềm năng từ việc đem đi đầu tư hoặc chấp nhận rủi ro Điều này có thể dẫn đến hành vi cảnh giác quá mức và tránh rủi ro, thậm chí là từ chối các cơ hội tiềm năng chỉ vì sợ mất đi vốn ban đầu
Trong quản trị, sai lệch sợ lỗ thường được áp dụng để giải thích tại sao các nhà quản trị thường có xu hướng chọn các chiến lược an toàn hơn, thay vì đầu tư vào các
cơ hội tiềm năng lớn hơn nhưng rủi ro cũng cao hơn Hay những quyết định của các nhà quản trị thường hướng đến việc là tránh rủi ro và bảo vệ tài sản hiện có
Ví dụ: Một trò chơi tung đồng xu có xác suất 50% thắng và 50% thua, nếu thắng
bạn sẽ được 150$, thua sẽ mất 100$ Đây có vẻ là một cơ hội tốt vì tính theo xác suất thắng trừ thua, bạn sẽ được lợi: 50%* 150 – 50%* 100 = 25$ Nhưng thực tế, không nhiều người mặn mà với trò này vì họ sợ lỗ 100$ và họ cho rằng để thắng 150$ chưa
đủ để họ đánh đổi
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU SỰ TỒN TẠI VỀ SAI LỆCH SỢ LỖ CỦA NHÀ
QUẢN TRỊ
1 Giới thiệu bài báo nghiên cứu
Bài báo có tiêu đề "Applying Behavioral Finance to Capital Budgeting: Project
Terminations" được viết bởi hai tác giả Meir Statman and David Caldwell, xuất bản vào
năm 1987 Bài báo đã giới thiệu một phương pháp tiếp cận trong lĩnh vực Quản trị Tài chính và Đầu tư, cụ thể là trong đánh giá và quản lý dự án bằng cách kết hợp các yếu tố tâm lý và tài chính Bài báo gồm có hai phần chính Phần thứ nhất trình bày về lý thuyết tài chính hành vi là một khuôn khổ nhất quán với xu hướng bị mắc kẹt trong các dự án thua lỗ và việc phản đối chấm dứt dự án Phần thứ hai trình bày về lý thuyết tài chính hành vi được áp dụng nhằm phân tích và đề xuất các cách tiếp cận để vượt qua sự phản đối trong việc chấm dứt dự án đầu tư
2 Nội dung bài báo nghiên cứu
Trong bài báo này, hai tác giả đã không trực tiếp làm thí nghiệm mà đã tổng hợp các bài nghiên cứu khoa học của các tác giả đi trước để chứng minh cho sự tồn tại về sai lệch sợ lỗ của nhà quản trị Các tác giả đã thông qua nhiều thực nghiệm để minh chứng một cách cụ thể, rõ ràng và thuyết phục cho lập luận của chính mình
Phần mở đầu của bài báo, tác giả đã nhắc đến khái niệm tài chính hành vi, một lĩnh vực thuộc kinh tế học hành vi và đề xuất các lý thuyết mô tả về sự lựa chọn trong điều kiện không chắc chắn, bao gồm 4 yếu tố sau đây:
Trang 4● Định hình các tài khoản tinh thần theo lý thuyết triển vọng: Các dòng tiền trong
quá khứ và dự kiến liên quan đến một dự án sẽ được đưa vào tài khoản tinh thần
● Đánh giá các tài khoản tinh thần theo lý thuyết triển vọng: Các dòng tiền sau khi
được đưa vào tài khoản tinh thần sẽ được đánh giá giá theo các quy tắc của lý thuyết triển vọng
● Ác cảm hối tiếc: Nhằm ngăn cản các nhà quản lý chấm dứt dự án
● Tự chủ: Nhằm giải thích cách các nhà quản lý buộc mình phải chấm dứt dự án
Việc chấm dứt hay tiếp tục một dự án tùy thuộc vào tâm thế của nhà quản trị có
có sợ lỗ hay không Nếu nhà quản trị chấp nhận chịu thua lỗ hay chịu mất mát thì họ sẽ chọn chấm dứt dự án thay vì tiếp tục dự án khi đối diện với một cơ hội tiềm năng hoặc rủi ro gặp phải Dựa vào 4 yếu tố của tài chính hành vi nói trên, các tác giả dưới đây đã chứng minh cho sự tồn tại về sai lệch sợ lỗ này ở các nhà quản trị
2.1 Lý thuyết triển vọng: Định hình và đánh giá các tài khoản tinh thần
Việc bắt đầu, tiếp tục hay chấm dứt dự án sẽ được các nhà quản lý đưa ra một loạt các lựa chọn hoặc canh bạc dựa trên dòng tiền không chắc chắn Các nhà quản lý
sẽ tuân theo quy tắc giá trị hiện tại ròng của lý thuyết tài chính tiêu chuẩn và sắp xếp các dòng tiền này theo kế toán kinh tế (chi phí chìm được bỏ qua) và định hình dòng tiền theo kế toán tinh thần (chi phí chìm được giữ lại)
Lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky này đã chia quá trình lựa chọn thành
2 giai đoạn:
● Giai đoạn đầu tiên: Định hình các tài khoản tinh thần được tạo ra
● Giai đoạn thứ hai: Đánh giá và lựa chọn các tài khoản tinh thần này
➢ Ví dụ minh hoạ cho việc xây dựng và đánh giá các tài khoản
Một người đang tham gia vào một dự án kinh doanh mà hiện tại anh ta đang lỗ 2.000$ Bây giờ, anh ta phải đối mặt với 2 sự lựa chọn:
(1) 100% nhận được khoản lời là 1.000$: Số tiền chắc chắn
(2) 50% giành được cơ hội lời 2.000$ và 50% không nhận được gì: Canh bạc Hiện tại chi phí chìm của anh ta là 2000$ (khoản lỗ ban đầu) Đây là một tài khoản đóng và nó không ảnh hưởng gì đến việc lựa chọn giữa 2 phương án trên (số tiền chắc chắn và canh bạc)
Nếu lựa chọn phương án (1), anh ta sẽ nhận khoản tiền chắc chắn là 1.000$ và khoản tiền này sẽ giúp khoản lỗ của anh ta giảm từ 2.000$ xuống còn 1.000$ (đóng tài khoản với khoản lỗ 1.000$)
Nếu lựa chọn phương án (2), anh ta có 50% cơ hội nhận được 2.000$ bù vào khoản lỗ 2.000$ ban đầu và quay về với con số 0, nghĩa là không lời cũng không lỗ (đóng tài khoản với con số 0) Hoặc, anh ta có 50% không nhận được gì (đóng tài khoản với khoản lỗ ban đầu 2.000$)
Trang 5Kahneman và Tversky đã lưu ý, con người không dễ dàng thích nghi với những mất mát Vì vậy, các quy tắc kế toán kinh tế sẽ khiến một người chọn khoản lãi chắc chắn là 1.000$ thay vì chọn canh bạc, nếu giả định có ác cảm rủi ro Tuy nhiên, hai tác giả cũng lập luận rằng, mọi người sẽ thể hiện hành vi tìm kiếm rủi ro khi đứng trước sự lựa chọn giữa một khoản thua chắc chắn và một canh bạc, cũng như họ có xu hướng chọn canh bạc 2.000$ hoặc không nhận được gì, thay vì chắc chắn nhận khoản thua là 1.000$
Ý nghĩa của phân tích này cho thấy, việc tiếp tục hay hủy bỏ dự án là rất quan trọng Kế toán kinh tế chỉ ra rằng, chi phí chìm 2.000$ được bỏ qua và dự án sẽ bị hủy
bỏ, nếu giả định có ác cảm rủi ro
Thế nhưng, vấn đề có thể được giải quyết theo tính toán cảm tính, trong đó chi phí chìm không được bỏ qua Trong trường hợp như vậy, khả năng mất 2.000$ hoặc không mất gì khi tiếp tục dự án trong một khoảng thời gian khác sẽ được chọn, thay vì khoản lỗ chắc chắn là 1.000$ do việc từ bỏ dự án Vì vậy, những dự án lẽ ra phải bị loại
bỏ theo quy định của lý thuyết tài chính tiêu chuẩn có thể được tiếp tục theo quan điểm của lý thuyết tài chính hành vi
2.2 Ác cảm hối tiếc
Kahneman và Tversky và Thaler cho rằng, mọi người không muốn nhận ra sự mất mát vì sẽ gây ra cảm giác hối tiếc Bởi hối tiếc là một dạng thất vọng đặc biệt, trong đó
sự kiện mà một người sẽ thay đổi hành động mà người đó đã thực hiện hoặc không thực hiện được Hay hối tiếc là việc hình dung ra hành động của bản thân đã không đạt được
kết quả như mong muốn
Thaler cũng chỉ ra rằng, sự hối tiếc sẽ trở nên gay gắt khi một cá nhân phải chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng Thaler đã giải thích cho điều này như là sự miễn cưỡng của các binh lính khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, ngay cả khi việc làm như vậy sẽ khiến nhiệm vụ trở nên thuận lợi hơn cho tất cả các cá nhân
➢ Thí nghiệm của Staw: Mức độ trách nhiệm ảnh hưởng đến quyết định chấm dứt dự án
Staw yêu cầu các đối tượng của mình đóng vai thành những người điều hành trong Công ty Adams và Smith (một công ty lớn định hướng về công nghệ đang bị suy giảm lợi nhuận) và đưa ra quyết định về việc phân bổ quỹ nghiên cứu và phát triển cho các
dự án khác nhau Tài liệu được cung cấp ở đây là mô tả về 2 bộ phận của công ty (Sản phẩm Công nghiệp và Sản phẩm Tiêu dùng) và dữ liệu về doanh thu và thu nhập trong
10 năm
Staw đã thao túng mức độ trách nhiệm của các chủ thể đối với quyết định này Khi
“trách nhiệm cá nhân cao”, các đối tượng tự mình chọn một trong 2 bộ phận và đầu tư
Trang 610 triệu USD vào đó Khi "trách nhiệm cá nhân thấp", các đối tượng được thông báo
rằng nhân viên tài chính thực hiện thủ tục cho họ đã chọn bộ phận để đầu tư
Sau đó, các đối tượng nhận được kết quả bán hàng và lợi nhuận dựa trên khoảng thời gian 5 năm của khoản đầu tư ban đầu 10 triệu USD Một nửa số đối tượng nhận được
dữ liệu cho thấy, bộ phận họ chọn đang được cải thiện Nửa còn lại nhận được dữ liệu cho thấy, bộ phận họ chọn đang ngày càng xấu đi
Sau đó, các đối tượng đều được thông báo rằng, họ có thêm ngân sách 20 triệu USD
để phân bổ giữa 2 bộ phận Kết quả cho thấy, các đối tượng có trách nhiệm cá nhân cao
họ vẫn tiếp tục phân bổ số tiền cao nhất cho bộ phận mà họ đã chọn đầu tiên, mặc dù bộ phận đó ban đầu đem lại hậu quả tiêu cực và họ cũng không muốn chấm dứt dự án, trong khi họ có thể đối mặt với rủi ro cao
Staw nhận thấy rằng, mối tương tác giữa trách nhiệm cá nhân và hậu quả của quyết định là rất mạnh mẽ Vì vậy, thí nghiệm Staw đã chứng tỏ, mức trách nhiệm cá nhân cao
sẽ làm tăng khả năng chống lại việc chấm dứt dự án
➢ Lập luận của Fox và Staw: Sự bất an và sự phản kháng làm gia tăng tình trạng mắc kẹt dự án
Điều này sẽ được chứng minh dựa vào trường hợp “Adams và Smith” đã trình bày trước đó Trong tình trạng "bất an cao", các đối tượng được thông báo rằng giờ đây họ
được thăng tiến với vị trí phó chủ tịch tài chính của công ty và vị trí này có thể vĩnh viễn hoặc có thể bị giáng chức, tùy theo hiệu quả công việc của họ Trong thời gian tạm thời, các đối tượng phải đối phó với những người điều hành khác có trình độ tốt và những
người không có khả năng hỗ trợ nhiều Trong tình trạng "bất an thấp", các đối tượng
được cho biết rằng, vị trí phó chủ tịch tài chính là cố định và các giám đốc điều hành khác hài lòng với lựa chọn này và có khả năng sẽ hỗ trợ
Như thí nghiệm của Staw, mỗi đối tượng được yêu cầu chọn một trong 2 bộ phận
với số tiền đầu tư ban đầu là 10 triệu USD Trong điều kiện “chống đối cao”, các đối
tượng nhận được đánh giá tiêu cực từ ban giám đốc về quyết định tài trợ của mình Đồng thời, các thành viên hội đồng cũng rất bất mãn và tin chắc rằng lựa chọn này là sai,
nhưng vẫn miễn cưỡng chấp nhận Trong điều kiện “chống đối thấp”, các đối tượng
nhận được đánh giá tích cực từ ban giám đốc về quyết định tài trợ của mình
Trong giai đoạn thí nghiệm thứ hai của Staw, các đối tượng được thông báo rằng kết quả của quyết định đầu tư ban đầu không mấy thành công và cần nhiều vốn hơn cho nghiên cứu và phát triển Các đối tượng được yêu cầu phân bổ số tiền từ 0 đến 20 triệu
USD cho bộ phận họ đã chọn trước đó Kết quả là, các đối tượng trong tình trạng "bất
an cao" phân bổ nhiều tiền hơn đáng kể so với các đối tượng trong tình trạng "bất an thấp" Tương tự, các đối tượng ở điều kiện “chống đối cao” phân bổ nhiều tiền hơn các
đối tượng ở điều kiện “chống đối thấp”
Trang 7Phân tích trên cho thấy rằng, sự bất an và sự phản kháng đều làm tăng sự cam kết của các đối tượng đối với bộ phận mà họ đã chọn trước đó Vì vậy, mức độ trách nhiệm
cá nhân đã góp phần tạo ra sự miễn cưỡng chấm dứt dự án do bị thay đổi bởi các điều kiện chống đối và bất an
2.3 Tự chủ
Sự tiếc nuối được cảm nhận sâu sắc nhất khi một dự án bị chấm dứt và nhận thấy
có mất mát mà mọi người thường có xu hướng trì hoãn khi đối mặt với nó Đó là một biểu hiện của tự chủ hay tự kiểm soát
➢ Lập luận của Thaler và Shefrin: Vấn đề tự kiểm soát
Vấn đề tự kiểm soát có thể được phân tích trong khuôn khổ Thaler và Shefrin, khi
nó được coi là xung đột nội tâm giữa tác nhân lý trí, cách nhìn xa và tác nhân cảm xúc, cách nhìn thiển cận Sự hợp lý ở đây sẽ được hiểu là lợi ích gắn liền với việc tuân theo các quy định của lý thuyết tài chính tiêu chuẩn Tuy nhiên, hành động chỉ có thể được thực hiện bởi tác nhân cảm xúc và tác nhân đó là người sẽ phải chịu nỗi đau hối hận khi nhận ra sự mất mát
Vấn đề tự kiểm soát có thể dẫn đến việc miễn cưỡng nhận ra tổn thất bởi mối liên hệ giữa trách nhiệm cá nhân đối với quyết định ban đầu và việc miễn cưỡng nhận ra tổn thất trong giai đoạn tiếp theo
2.4 Tác động của sai lệch sợ lỗ đến quyết định chấm dứt dự án
Các tác giả trong bài báo đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về sự lo ngại thua lỗ của các nhà quản trị, liệu có nên đưa ra quyết định chấm dứt dự án hay không
Để chứng minh điều đó, các tác giả đã tiến hành các thí nghiệm và sử dụng các lý thuyết tài chính hành vi để tìm ra ác cảm thua lỗ của họ như: Lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky, ác cảm hối tiếc và tính tự chủ Kết quả thu được từ các thí nghiệm cho thấy rằng, tâm lý sợ thua lỗ luôn tồn tại trong hầu hết các nhà quản trị và nó làm ảnh hưởng đến quyết định của họ về việc có nên bắt đầu, tiếp tục hay kết thúc các dự án trên dòng tiền không chắc chắn Bởi bản chất con người là không dễ dàng thích nghi với những mất mát và họ sẽ luôn lựa chọn những cơ hội nào đem lại lợi nhuận cao cho họ với xác suất thấp thay vì lựa chọn chấp nhận một khoản lỗ chắc chắn Nếu nhà quản trị chấp nhận chịu thua lỗ hay chịu mất mát thì họ sẽ chọn chấm dứt dự án Ngược lại, họ
sẽ chọn tiếp tục dự án và có thể đối mặt với một cơ hội tiềm năng hoặc rủi ro gặp phải
3 Các nghiên cứu khác chứng minh sự tồn tại sai lệch sợ lỗ của nhà quản trị
insights from Vietnamese SMEs”
● Mục tiêu nghiên cứu
Trang 8Nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra xem liệu có tồn tại tâm lý lo sợ thua lỗ
ở các nhà quản lý và đo lường tác động của nó đến hành vi tài trợ nợ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
● Mẫu nghiên cứu
Các tác giả đã tiến hành thử nghiệm với các nhà quản lý của các công ty dệt may vào năm 2018 tại 3 tỉnh của Việt Nam là Thái Bình, Hải Dương và Bình Dương Phối hợp với Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), các tác giả đã lựa chọn ngẫu nhiên các doanh nghiệp có số lao động bằng hoặc dưới 200 người theo định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ do pháp luật Việt Nam quy định Mẫu cuối cùng có 320 nhà quản lý cấp cao
từ 320 doanh nghiệp vừa và nhỏ và hầu hết trong số họ là CEO
Các tác giả bắt đầu tiến hành thí nghiệm riêng biệt ở 3 tỉnh Mỗi buổi thử nghiệm với thời lượng trung bình là 1 giờ được thực hiện bởi các trợ lý nghiên cứu của họ từ GSO Trong tháng 8 năm 2018, các tác giả đã thực hiện 4 đợt thực nghiệm với 93 cán
bộ quản lý tại tỉnh Thái Bình, 5 đợt thực nghiệm với 112 cán bộ quản lý tại tỉnh Bình Dương và 6 đợt thực nghiệm với 115 quản lý được tiến hành tại tỉnh Hải Dương Tổng cộng, các tác giả đã thực hiện 15 buổi thử nghiệm với 320 nhà quản lý Những người tham gia được thông báo rằng, các thí nghiệm được khuyến khích và quyết định của họ
sẽ được giữ bí mật
● Thiết kế thí nghiệm đo lường mức độ sợ thua lỗ
Có 320 nhà quản lý tham gia thử nghiệm phải thực hiện 7 lựa chọn nhị phân trong trò chơi xổ số được thiết kế để thể hiện ác cảm thua lỗ Chuỗi xổ số này bao gồm nhiều bảng giá, trong đó người tham gia phải đưa ra quyết định nhị phân giữa việc nhận được mức hoàn trả cao hay thấp với xác suất bằng nhau (phương án A và phương án B)
Lấy lựa chọn 1 làm ví dụ như sau: Phương án A ngụ ý 50% cơ hội kiếm được 12,5 USD và 50% cơ hội mất 2 USD; trong khi việc chọn phương án B ngụ ý rằng người tham gia đang chấp nhận một canh bạc với 50% cơ hội kiếm được 15 USD và 50% cơ hội thua 10,5 USD Như đã được hướng dẫn rõ ràng từ trước, phương án B trở nên hấp dẫn hơn so với phương án A khi người tham gia tiến dần xuống danh sách các lựa chọn
Vì vậy, điều hợp lý là người tham gia càng chuyển từ phương án A sang phương án B thì cho thấy họ càng sợ mất mát hơn Mức độ ác cảm mất mát (λ) của người tham gia được đo bằng điểm chuyển đổi của họ từ phương án A sang phương án B Giá trị thấp hơn của λ biểu thị mức độ ác cảm mất mát thấp hơn
● Hàm hồi quy
Yi = α0 + α1λi + αMMi + αxXi + εi
o Yi: Logarit tự nhiên của tổng nợ của công ty i
Trang 9o Mi: Các biến đặc điểm nhân khẩu học của người quản lý bao gồm trình độ
học vấn theo thang điểm từ 1 (không đi học) đến 9 (cao hơn hoặc bằng tiến sĩ), tuổi (theo năm) và giới tính được mã hóa 1 nếu người tham gia là nam và 0 nếu ngược lại
o Xi: Các biến số đặc trưng của doanh nghiệp bao gồm logarit tự nhiên của doanh thu thuần trong năm trước, logarit tự nhiên của giá vốn hàng bán
trong năm trước và quy mô doanh nghiệp, được đo bằng logarit tự nhiên
của tổng số nhân viên
● Kết quả nghiên cứu
Các tác giả tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng, các công ty được lãnh đạo bởi các nhà quản lý có mức độ lo sợ thua lỗ lớn hơn sẽ ít có khả năng tham gia vào việc tài trợ bằng nợ Việc tăng một độ lệch chuẩn trong mức độ lo sợ thua lỗ của các nhà quản
lý sẽ dẫn đến mức nợ của công ty giảm 3,21 điểm phần trăm Do đó, nó sẽ tồn tại những tác động không đồng nhất khi có sự khác nhau về mức độ lo ngại thua lỗ của các nhà quản lý dẫn đến thái độ đối với hành vi tài trợ bằng nợ cũng khác nhau Các tác giả ghi nhận rằng, tác động của tâm lý lo ngại thua lỗ của các nhà quản lý đối với nợ trong nước lớn hơn nhiều so với nợ nước ngoài Sự gia tăng một độ lệch chuẩn trong tâm lý lo sợ thua lỗ của các nhà quản lý sẽ dẫn đến mức nợ trong nước giảm hơn 9,07 điểm phần trăm so với mức nợ nước ngoài chỉ giảm 1,71 điểm phần trăm
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo tiếng Việt:
1 Lê Văn Tuấn (2013), ‘Các kiểu sai lệch về hành vi của nhà đầu tư cá nhân’, truy
cập tại <https://tuanvanle.wordpress.com/2013/08/20/cac-kieu-sai-lech-ve-hanh-vi-cua-nha-dau-tu-ca-nhan/>, [27/09/2023]
2 ‘5 khuynh hướng hành vi nên tránh để không ảnh hưởng xấu đến quyết định đầu
tư’, truy cập tại
<https://www.prudential.com.vn/vi/blog-nhip-song-khoe/5- khuynh-huong-hanh-vi-nen-tranh-de-khong-anh-huong-xau-den-quyet-dinh-dau-tu/>, [28/09/2023]
3 Cao Minh Tiến (2023), Nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi đối với nhà đầu
tư cá nhân trên thị trường chứng khoán, Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán
Tài liệu tham khảo tiếng Anh:
1 Huong Trang Kim, Quang Nguyen (2021), Managers’ loss aversion and firm
debt financing: Some insights from Vietnamese SMEs, Finance Research Letters
2 Meir Statman and David Caldwell (2010), Applying Behavioral Finance to
Capital Budgeting: Project Terminations, Financial Management