ÔN THI LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ EL14 EHOU - ĐỀ SỐ 2509.docx ÔN THI LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ EL14 EHOU - ĐỀ SỐ 2509.docx ÔN THI LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ EL14 EHOU - ĐỀ SỐ 2509.docx
Trang 1ĐỀ SỐ 2509 - Môn: Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam - EL14 (Hình thức thi:
Tự luận)
Câu 1: (3 điểm)
Trình bày quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về thủ tục nhận và xử
lý đơn khởi kiện vụ án dân sự
Câu 2: (3 điểm)
Các khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
1 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Tòa án đình chỉ xét xử vụ án đối với họ
2 Bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm được xem đình chỉ thi hành án cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm
3 Thư ký Tòa án có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án
Câu 3: (4 điểm)
Anh A và chị B đã đăng ký kết hôn và có với nhau một đứa con chung tên là Tình Sau khi có con chung, anh chị phát sinh mâu thuẫn nên anh A bỏ sang nhà khác để ở Chị B nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh A
1 Cùng với việc nộp đơn khởi kiện ly hôn, chị B yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc anh A phải cấp dưỡng trước cho chị nuôi con Vậy yêu cầu của chị B về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên có được Tòa án chấp nhận không? Vì sao?
Trang 22 Tòa án tiến hành hòa giải nhưng chị B cương quyết xin ly hôn Vậy Tòa
án phải giải quyết như thế nào?
Bài làm
Câu 1 (3 điểm):
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành (2015), thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện vụ án dân sự được quy định như sau:
- Khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn, ghi rõ ngày, tháng, năm nhận đơn và cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và đưa ra một trong các quyết định sau:
+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện
+ Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền, nếu vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình
+ Trả lại đơn khởi kiện nếu không đủ điều kiện thụ lý theo quy định tại Điều
192 BLTTDS
+ Tiến hành thụ lý vụ án nếu đủ điều kiện thụ lý Khi quyết định thụ lý vụ án, Tòa án thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện và bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 3Câu 2 (3 điểm):
1 Sai Vì theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm không phải là căn cứ để đình chỉ xét
xử vụ án Tòa án vẫn xét xử nếu sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án
2 Sai Theo Điều 331 BLTTDS 2015, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm không tự động đình chỉ thi hành
án, trừ khi có quyết định tạm đình chỉ thi hành án của Hội đồng giám đốc thẩm
3 Sai Vì theo BLTTDS 2015, chỉ có Thẩm phán mới có quyền chủ trì phiên hòa giải Thư ký Tòa án chỉ thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ hành chính và ghi biên bản tại phiên hòa giải
Câu 3 (4 điểm):
1 Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc anh A cấp dưỡng trước cho chị B nuôi con có thể được Tòa án chấp nhận Theo Điều 114 BLTTDS
2015, biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người yêu cầu, đặc biệt là trong trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người yếu thế (ở đây là quyền lợi của đứa con chung) Nếu chị
Trang 4B chứng minh được nhu cầu cấp thiết trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và khả năng cấp dưỡng của anh A, Tòa án sẽ xem xét và có thể chấp nhận yêu cầu này
2 Nếu Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị B vẫn cương quyết xin ly hôn, Tòa án phải tiến hành lập biên bản hòa giải không thành và đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 207 và Điều 208 BLTTDS 2015 Theo đó, vụ án ly hôn
sẽ được giải quyết thông qua phiên tòa xét xử, nơi Tòa án sẽ quyết định cho ly hôn nếu xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn
Phiên bản 2
Câu 1 (3 điểm):
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành năm 2015, quy trình nhận và xử lý đơn khởi kiện vụ án dân sự được quy định cụ thể như sau:
- Khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, bộ phận tiếp nhận đơn phải thực hiện việc ghi chép vào sổ nhận đơn, ghi rõ thời gian nhận đơn và cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh
án Tòa án phải phân công một Thẩm phán chịu trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của đơn khởi kiện
Trang 5- Thẩm phán có thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công để xem xét và ra quyết định phù hợp, bao gồm:
+ Yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung nếu đơn khởi kiện chưa đáp ứng
đủ các điều kiện theo luật định
+ Chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền nếu xác định vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình
+ Trả lại đơn khởi kiện khi không đáp ứng đủ các điều kiện về thủ tục khởi kiện theo Điều 192 của BLTTDS
+ Thụ lý vụ án và ra thông báo thụ lý bằng văn bản cho các bên liên quan nếu đơn khởi kiện đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
Câu 2 (3 điểm):
1 Khẳng định "Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Tòa án đình chỉ xét xử vụ án đối với họ" là sai Vì theo Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015, Tòa án sẽ tiếp tục xét xử nếu xét thấy sự vắng mặt của người này không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi và nghĩa vụ pháp
lý của họ Chỉ khi việc vắng mặt gây khó khăn hoặc trở ngại cho việc giải quyết
vụ án thì Tòa án mới cân nhắc việc hoãn phiên tòa
2 Khẳng định "Bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm được xem đình chỉ thi hành án cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm" là sai Theo Điều 331
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm không
tự động làm đình chỉ thi hành án Chỉ khi có quyết định riêng của Hội đồng
Trang 6giám đốc thẩm về việc tạm đình chỉ thi hành án thì mới ngưng việc thi hành bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
3 Khẳng định "Thư ký Tòa án có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án" là sai Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chỉ Thẩm phán mới có quyền chủ trì phiên hòa giải, còn Thư ký chỉ thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ như lập biên bản hòa giải, chuẩn bị hồ sơ, hỗ trợ các công tác hành chính khác trong quá trình hòa giải
Câu 3 (4 điểm):
1 Việc chị B yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc anh A phải cấp dưỡng trước để nuôi con có thể được Tòa án chấp nhận, với điều kiện chị B chứng minh được yêu cầu này là cần thiết, cấp bách nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng và lợi ích tốt nhất của đứa con chung Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015 quy định rõ về các trường hợp Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có yêu cầu, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, đặc biệt đối với trẻ em Do đó, nếu chị B cung cấp đủ chứng cứ về điều kiện sống, nhu cầu thực
tế của con và khả năng cấp dưỡng của anh A thì Tòa án sẽ cân nhắc và có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp này
2 Khi Tòa án tiến hành hòa giải nhưng chị B vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, không đồng ý hòa giải, Tòa án sẽ phải lập biên bản hòa giải không thành theo quy định tại Điều 207, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Sau đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng thông thường Tại phiên xét xử,
Trang 7nếu Tòa án xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống chung, thì sẽ quyết định cho ly hôn theo yêu cầu của chị B, đồng thời giải quyết các vấn đề khác liên quan như quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng và phân chia tài sản chung (nếu có tranh chấp phát sinh)
Phiên bản 3
Câu 1:
Theo Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành (Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015), thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện vụ án dân sự được quy định cụ thể tại Điều 190
và Điều 191 Nội dung chi tiết như sau:
**1 Nhận đơn khởi kiện (Điều 190):**
- Người khởi kiện phải gửi đơn khởi kiện kèm theo các tài liệu, chứng cứ mà mình có tới Tòa án bằng một trong các hình thức sau đây:
+ Nộp trực tiếp tại Tòa án
+ Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính
+ Gửi trực tuyến thông qua cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)
Trang 8- Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp hoặc do dịch
vụ bưu chính chuyển đến và phải ghi vào sổ nhận đơn Trường hợp đơn được gửi trực tuyến thì Tòa án phải cấp thông báo xác nhận đã nhận đơn khởi kiện
- Tòa án cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn đối với trường hợp nộp đơn trực tiếp Trường hợp gửi qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được đơn, Tòa án phải gửi thông báo bằng văn bản về việc nhận đơn
**2 Xử lý đơn khởi kiện (Điều 191):**
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, Chánh án Tòa
án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải tiến hành các công việc sau:
+ Xem xét đơn khởi kiện có đủ các nội dung quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự hay không; nếu nội dung chưa đủ thì thông báo để người khởi kiện sửa đổi, bổ sung
+ Nếu đơn khởi kiện đúng thẩm quyền giải quyết, Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết để nộp tiền tạm ứng án phí Trường hợp được miễn hoặc
Trang 9không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán tiến hành thụ lý ngay khi nhận đơn
+ Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện và hướng dẫn người khởi kiện gửi đơn đến
cơ quan có thẩm quyền
- Trong trường hợp người khởi kiện đã được thông báo sửa đổi, bổ sung nhưng không thực hiện theo yêu cầu hoặc vẫn không đảm bảo điều kiện khởi kiện, Tòa
án trả lại đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo
- Quyết định trả lại đơn khởi kiện có thể bị khiếu nại, kiến nghị theo thủ tục quy định
Như vậy, thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện vụ án dân sự được quy định rõ ràng nhằm đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết các tranh chấp một cách minh bạch, nhanh chóng, phù hợp với quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan
Câu 2:
**Câu 2: (3 điểm)**
Các khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
Trang 10**1 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Tòa án đình chỉ xét xử vụ án đối với họ.**
*Khẳng định này là sai.*
Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trường hợp người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm mà đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa Nếu người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án Do đó, việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm không phải là căn cứ để Tòa án đình chỉ xét xử vụ án
**2 Bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm được xem đình chỉ thi hành án cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.**
*Khẳng định này là sai.*
Theo Điều 332 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm không đương nhiên làm đình chỉ thi hành án, trừ trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án,
Trang 11quyết định đó Việc đình chỉ thi hành án chỉ xảy ra khi có quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền, không phải là hệ quả tự động phát sinh từ việc kháng nghị giám đốc thẩm
**3 Thư ký Tòa án có quyền chủ trì phiên hòa giải tại Tòa án.**
*Khẳng định này là sai.*
Theo Điều 209 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải chủ trì phiên hòa giải Thư ký Tòa án chỉ tham gia hỗ trợ ghi biên bản và thực hiện các công việc hành chính liên quan đến phiên hòa giải chứ không có quyền chủ trì phiên hòa giải Việc chủ trì phiên hòa giải là quyền
và nghĩa vụ thuộc về Thẩm phán giải quyết vụ án
Như vậy, cả ba khẳng định trên đều là sai vì lý do cụ thể như đã trình bày
Câu 3
**Câu 3: (4 điểm)**
Anh A và chị B đã đăng ký kết hôn và có với nhau một đứa con chung tên là Tình Sau khi có con chung, anh chị phát sinh mâu thuẫn nên anh A bỏ sang nhà khác để ở Chị B nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh A
Trang 12**1 Cùng với việc nộp đơn khởi kiện ly hôn, chị B yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc anh A phải cấp dưỡng trước cho chị nuôi con Vậy yêu cầu của chị B về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên có được Tòa án chấp nhận không? Vì sao?**
Theo quy định tại Điều 114 và Điều 116 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được Tòa án xem xét chấp nhận khi có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng hoặc có khả năng gây ra hậu quả không thể khắc phục nếu không
áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong trường hợp này, việc chị B yêu cầu anh A phải cấp dưỡng trước cho chị
để nuôi con không thuộc các trường hợp cấp thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Cụ thể, việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ pháp lý được giải quyết trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn chứ không gây nguy cơ trực tiếp hoặc hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của chị B và con chung nếu không được thực hiện ngay lập tức Do đó, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của chị B sẽ không được Tòa án chấp nhận
**2 Tòa án tiến hành hòa giải nhưng chị B cương quyết xin ly hôn Vậy Tòa án phải giải quyết như thế nào?**
Trang 13Theo Điều 207 và Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khi giải quyết vụ
án ly hôn, Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải để các bên tự thỏa thuận, thống nhất giải quyết các vấn đề phát sinh trong hôn nhân Tuy nhiên, nếu quá trình hòa giải không thành, chị B cương quyết xin ly hôn và không thay đổi quyết định của mình thì Tòa án phải ra quyết định hòa giải không thành và đưa
vụ án ra xét xử theo thủ tục chung
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được các bên cung cấp và được Tòa án xác minh, làm rõ, nếu có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa anh A và chị B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Tòa án sẽ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B, đồng thời giải quyết các vấn đề liên quan đến con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng theo đúng quy định pháp luật
Như vậy, khi hòa giải không thành và chị B vẫn kiên quyết xin ly hôn, Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án bằng cách mở phiên tòa xét xử và ra bản án theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự