BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI PHÒNG KHẢO THÍ VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM – EL14 Hình thức thi: Tự luận Ngành: Luật Thời gian làm bài: 90 phút không kể thời gian phát đề ĐỀ SỐ 2596 Câu 1: (3 điểm) Phân tích các tính tất, sự kiện không phải chứng minh trong TTDS? Câu 2: (3 điểm) Các khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao? a. Đương sự chưa có đầy đủ quyền và cung cấp chứng cứ. b. Thư ký có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự. c. Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên phúc thẩm thì Hội đồng xét xử hoãn xét xử phúc thẩm. Câu 3: (4 điểm) Bà Lan cho ông Tư vay 300tr, lãi suất 40 triệu có thỏa thuận bên thế gia súc, thời hạn 2 năm, có hợp đồng vay ngày 10/10/2012. Do ông Tư không trả nợ vay, ngày 20/9/2013, bà Lan khởi kiện ông Tư đòi nợ và Tòa án đã thụ lý; phiên sơ thẩm xét xử buộc ông Tư trả nợ vay 300tr, không đề cập đến lãi. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, ông Tư chết, vợ và các con ông Tư kháng cáo yêu cầu tính lại lãi cao, mức lãi trong 1 năm (từ tháng 7/2013 chưa trả), được Tòa án chấp nhận giải quyết trong vụ án do bà Lan khởi kiện. Hỏi: 1. Xác định tính chất của vụ án trong trường hợp trên? 2. Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tư trong vụ án do bà Lan khởi kiện là đúng pháp luật hay không?
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
PHÒNG KHẢO THÍ VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
Môn: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM – EL14
Hình thức thi: Tự luận
Ngành: Luật
Thời gian làm bài: 90 phút không kể thời gian phát đề
ĐỀ SỐ 2596
Câu 1: (3 điểm)
Phân tích các tính tất, sự kiện không phải chứng minh trong TTDS?
Câu 2: (3 điểm) Các khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
a Đương sự chưa có đầy đủ quyền và cung cấp chứng cứ
b Thư ký có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự
c Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên phúc thẩm thì Hội đồng xét xử hoãn xét xử phúc thẩm
Câu 3: (4 điểm)
Bà Lan cho ông Tư vay 300tr, lãi suất 40 triệu có thỏa thuận bên thế gia súc, thời hạn 2 năm, có hợp đồng vay ngày 10/10/2012 Do ông Tư không trả nợ vay, ngày 20/9/2013, bà Lan khởi kiện ông Tư đòi nợ và Tòa án đã thụ lý; phiên
sơ thẩm xét xử buộc ông Tư trả nợ vay 300tr, không đề cập đến lãi Sau khi Tòa
án cấp sơ thẩm xử, ông Tư chết, vợ và các con ông Tư kháng cáo yêu cầu tính lại lãi cao, mức lãi trong 1 năm (từ tháng 7/2013 chưa trả), được Tòa án chấp nhận giải quyết trong vụ án do bà Lan khởi kiện Hỏi:
1 Xác định tính chất của vụ án trong trường hợp trên?
2 Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tư trong vụ án do bà Lan khởi kiện
là đúng pháp luật hay không?
HẾT
Bài làm
Câu 1: (3 điểm)
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong tố tụng dân sự được quy
Trang 2- Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án công nhận
- Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp những quyết định đó đã bị hủy bỏ hoặc thay đổi theo thủ tục luật định
- Những tình tiết, sự kiện đã được ghi nhận trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng những tình tiết, sự kiện
đó không đúng sự thật
- Những tình tiết, sự kiện đã được các bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối trong quá trình giải quyết vụ án
Ý nghĩa: Việc xác định rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh giúp tiết kiệm thời gian, đảm bảo tính khách quan, công bằng và hiệu quả trong hoạt động tố tụng
Câu 2: (3 điểm)
a Đương sự chưa có đầy đủ quyền và cung cấp chứng cứ (Sai)
- Vì theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự luôn có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay
từ khi khởi kiện hoặc tham gia tố tụng Không có quy định nào hạn chế quyền cung cấp chứng cứ của đương sự ở bất cứ giai đoạn nào
b Thư ký có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự (Sai)
- Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc lấy lời khai của đương sự
là trách nhiệm của Thẩm phán Thư ký tòa án chỉ có nhiệm vụ hỗ trợ Thẩm phán trong việc lập biên bản ghi lời khai, chứ không được trực tiếp lấy lời khai của đương sự
Trang 3c Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên phúc thẩm thì Hội đồng xét xử hoãn xét xử phúc thẩm (Sai)
- Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nếu người kháng cáo
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ Do đó, không bắt buộc phải hoãn phiên xử
Câu 3: (4 điểm)
1 Xác định tính chất vụ án:
- Ban đầu, đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Lan (nguyên đơn) và ông Tư (bị đơn) Tuy nhiên, sau khi ông Tư chết, vụ án tiếp tục được xét xử theo thủ tục kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng với sự tham gia của người thừa kế hợp pháp (vợ và con của ông Tư) Vụ án chuyển sang tính chất đặc biệt vì liên quan đến nghĩa vụ của người thừa kế trong quan hệ dân sự (nghĩa vụ tài sản phát sinh từ quan hệ vay nợ)
2 Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tư (thông qua vợ và con ông Tư) trong vụ án bà Lan khởi kiện là đúng pháp luật:
- Theo Bộ luật Tố tụng dân sự và Bộ luật Dân sự, khi bị đơn chết, những người thừa kế của bị đơn kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn
- Tuy nhiên, việc yêu cầu tính lại lãi suất theo hướng giảm mức lãi suất quá cao
là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 (quy định mức lãi suất cho vay tối đa là 20%/năm) Do đó, yêu cầu xem xét lại lãi suất từ phía gia đình ông Tư là hợp lý, hợp pháp
- Việc Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết yêu cầu của người thừa kế ông Tư xem xét lại lãi suất nhằm đảm bảo tính hợp pháp, công bằng và đúng pháp luật là hoàn toàn phù hợp
Kết luận, việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tư thông qua những người thừa kế của ông trong vụ án mà bà Lan khởi kiện là đúng quy định của pháp luật
tố tụng dân sự và pháp luật dân sự
Trang 4Phiên bản 2
Câu 1: (3 điểm)
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bao gồm:
- Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án công nhận
- Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp những quyết định đó đã bị hủy bỏ hoặc thay đổi theo thủ tục luật định
- Những tình tiết, sự kiện đã được ghi nhận trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng những tình tiết, sự kiện
đó không đúng sự thật
- Những tình tiết, sự kiện đã được các bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối trong quá trình giải quyết vụ án
Ý nghĩa: Việc xác định rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh giúp tiết kiệm thời gian, đảm bảo tính khách quan, công bằng và hiệu quả trong hoạt động tố tụng
Câu 2: (3 điểm)
a Đương sự chưa có đầy đủ quyền và cung cấp chứng cứ (Sai)
- Vì theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự luôn có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay
từ khi khởi kiện hoặc tham gia tố tụng Không có quy định nào hạn chế quyền cung cấp chứng cứ của đương sự ở bất cứ giai đoạn nào
b Thư ký có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự (Sai)
Trang 5- Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc lấy lời khai của đương sự
là trách nhiệm của Thẩm phán Thư ký tòa án chỉ có nhiệm vụ hỗ trợ Thẩm phán trong việc lập biên bản ghi lời khai, chứ không được trực tiếp lấy lời khai của đương sự
c Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên phúc thẩm thì Hội đồng xét xử hoãn xét xử phúc thẩm (Sai)
- Theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nếu người kháng cáo
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ Do đó, không bắt buộc phải hoãn phiên xử
Câu 3: (4 điểm)
1 Xác định tính chất vụ án:
- Ban đầu, đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Lan (nguyên đơn) và ông Tư (bị đơn) Tuy nhiên, sau khi ông Tư chết, vụ án tiếp tục được xét xử theo thủ tục kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng với sự tham gia của người thừa kế hợp pháp (vợ và con của ông Tư) Vụ án chuyển sang tính chất đặc biệt vì liên quan đến nghĩa vụ của người thừa kế trong quan hệ dân sự (nghĩa vụ tài sản phát sinh từ quan hệ vay nợ)
2 Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tư (thông qua vợ và con ông Tư) trong vụ án bà Lan khởi kiện là đúng pháp luật:
- Theo Bộ luật Tố tụng dân sự và Bộ luật Dân sự, khi bị đơn chết, những người thừa kế của bị đơn kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn
- Tuy nhiên, việc yêu cầu tính lại lãi suất theo hướng giảm mức lãi suất quá cao
là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 (quy định mức lãi suất cho vay tối đa là 20%/năm) Do đó, yêu cầu xem xét lại lãi suất từ phía gia đình ông Tư là hợp lý, hợp pháp
- Việc Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết yêu cầu của người thừa kế ông Tư xem xét lại lãi suất nhằm đảm bảo tính hợp pháp, công bằng và đúng pháp luật là hoàn toàn phù hợp
Trang 6Kết luận, việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tư thông qua những người thừa kế của ông trong vụ án mà bà Lan khởi kiện là đúng quy định của pháp luật
tố tụng dân sự và pháp luật dân sự
Phiên bản 3
Câu 1: (3 điểm)
Phân tích các tính tất, sự kiện không phải chứng minh trong TTDS?
Câu 1: (3 điểm)
Phân tích các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong tố tụng dân sự (TTDS)
Trong tố tụng dân sự (TTDS), hoạt động chứng minh đóng vai trò trung tâm, quyết định trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự cũng quy định một số tình tiết, sự kiện nhất định mà các đương sự không cần phải chứng minh Quy định này nhằm đơn giản hóa quá trình tố tụng, bảo đảm hiệu quả, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên tham gia tố tụng cũng như giảm tải công việc cho cơ quan tiến hành tố tụng Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015, các tình tiết,
sự kiện không phải chứng minh bao gồm:
Thứ nhất, những tình tiết, sự kiện rõ ràng, ai cũng biết và được thừa nhận rộng rãi (khoản 1 Điều 92 BLTTDS) Đây là các tình tiết mà về mặt khách quan đã trở nên phổ biến trong xã hội, được đa số người dân nhận thức chung một cách hiển nhiên mà không cần tranh luận hoặc điều tra, xác minh thêm Chẳng hạn như các sự kiện lịch sử nổi tiếng, thiên tai lớn đã xảy ra, địa danh nổi bật, các chính sách phổ biến đã ban hành và thực thi rộng rãi Ví dụ, nếu một vụ án có liên quan đến cơn bão số 9 năm 2020 tại miền Trung, thì sự kiện này được coi là
rõ ràng, phổ biến, các bên tham gia tố tụng không cần phải chứng minh về sự tồn tại hay mức độ nghiêm trọng của nó
Thứ hai, những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác (khoản 2 Điều 92 BLTTDS) Việc pháp luật quy định như vậy nhằm bảo đảm tính ổn định, thống nhất trong hoạt động
tố tụng, tránh tình trạng một tình tiết hay sự kiện đã được xác nhận ở một vụ án trước đây lại bị đưa ra tranh luận lại ở vụ án sau, gây lãng phí nguồn lực tố tụng
và mất ổn định xã hội Ví dụ, trong trường hợp tài sản tranh chấp đã được xác
Trang 7định quyền sở hữu hợp pháp bởi một bản án dân sự có hiệu lực, các bên tham gia tố tụng ở vụ án sau không cần chứng minh lại việc xác định quyền sở hữu đó
Thứ ba, những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp (khoản 3 Điều 92 BLTTDS) Văn bản được công chứng, chứng thực theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật được xem như có giá trị chứng minh cao, do cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức được pháp luật quy định thực hiện, bảo đảm tính xác thực, khách quan và chính xác của nội dung Do đó, trong tố tụng dân sự, các bên tham gia tố tụng không phải chứng minh lại nội dung đã được xác nhận trong các văn bản đó Ví dụ, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng hợp pháp, thì các bên không cần phải chứng minh lại nội dung hợp đồng này trước tòa án
Thứ tư, những tình tiết, sự kiện mà một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối và sự thừa nhận hoặc không phản đối đó phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (khoản 4 Điều 92 BLTTDS) Điều này thể hiện nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện, thống nhất ý chí và quan điểm của các bên đương sự, đồng thời giảm nhẹ gánh nặng chứng minh trong quá trình xét
xử Khi một bên đương sự đã tự thừa nhận các sự kiện hoặc tình tiết liên quan, phù hợp với hồ sơ và tài liệu khác đã được thu thập thì không cần thiết phải đưa
ra chứng cứ bổ sung để xác nhận các tình tiết đó
Như vậy, việc xác định rõ các tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh giúp cho hoạt động xét xử diễn ra nhanh chóng, khách quan và hiệu quả hơn Đây cũng là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự, bảo đảm cho các bên tham gia tố tụng có thể tiết kiệm nguồn lực, tập trung vào những vấn đề trọng tâm, tranh chấp thực sự cần giải quyết, góp phần nâng cao chất lượng xét xử và thực hiện tốt công lý trong xã hội
Câu 2
Câu 2: (3 điểm) Các khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
a Đương sự chưa có đầy đủ quyền và cung cấp chứng cứ
b Thư ký có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự
c Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên phúc thẩm thì Hội đồng xét xử hoãn xét xử phúc thẩm
Câu 2: (3 điểm)
Các khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
Trang 8(a) Đương sự chưa có đầy đủ quyền và cung cấp chứng cứ.
Khẳng định này là sai Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự
(BLTTDS) năm 2015, đương sự trong tố tụng dân sự có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cần thiết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Cụ thể, các đương sự có quyền cung cấp chứng cứ, tài liệu, tham gia tranh tụng, trình bày ý kiến, yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu giám định, định giá tài sản và các quyền khác theo quy định pháp luật Pháp luật đã trao cho các bên tham gia tố tụng dân sự quyền chủ động trong việc thu thập và cung cấp chứng
cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Việc quy định này nhằm bảo đảm quyền tự
do, bình đẳng giữa các bên và nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Vì vậy, không thể nói rằng đương sự chưa có đầy đủ quyền và cung cấp chứng cứ
(b) Thư ký có nhiệm vụ lấy lời khai của đương sự
Khẳng định này là sai Theo Điều 51 và Điều 239 BLTTDS năm 2015, nhiệm
vụ lấy lời khai của đương sự thuộc về Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử được phân công giải quyết vụ án Thư ký Tòa án không có thẩm quyền trực tiếp lấy lời khai mà chủ yếu đảm nhiệm công việc hỗ trợ Thẩm phán và Hội đồng xét xử như chuẩn bị hồ sơ, lập biên bản phiên tòa, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự, thực hiện việc ghi biên bản tại các buổi làm việc và phiên tòa, và các công việc hành chính khác Việc quy định như vậy nhằm bảo đảm tính khách quan, chính xác và đúng pháp luật của quá trình lấy lời khai và thu thập chứng cứ
(c) Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên phúc thẩm thì Hội đồng xét xử hoãn xét xử phúc thẩm
Khẳng định này là sai Theo Điều 296 BLTTDS năm 2015, trong trường hợp người kháng cáo được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ nhất không có lý
do chính đáng thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt người kháng cáo Nếu người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất vì lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa Nếu sau khi hoãn phiên tòa, người kháng cáo vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do chính đáng, Hội đồng xét xử sẽ tiến hành xét xử vắng mặt Như vậy, không phải cứ người kháng cáo vắng mặt
Trang 9là Hội đồng xét xử buộc phải hoãn xét xử phúc thẩm, mà phải căn cứ vào lý do vắng mặt và việc vắng mặt lần thứ mấy để quyết định tiếp tục phiên tòa hay hoãn phiên tòa Điều này nhằm tránh việc cố tình kéo dài thời gian giải quyết vụ
án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng, đồng thời bảo đảm nguyên tắc xét xử nhanh chóng, hiệu quả và đúng pháp luật
Câu 3
Câu 3: (4 điểm)
Bà Lan cho ông Tư vay 300tr, lãi suất 40 triệu có thỏa thuận bên thế gia súc, thời hạn 2 năm, có hợp đồng vay ngày 10/10/2012 Do ông Tư không trả nợ vay, ngày 20/9/2013, bà Lan khởi kiện ông Tư đòi nợ và Tòa án đã thụ lý; phiên
sơ thẩm xét xử buộc ông Tư trả nợ vay 300tr, không đề cập đến lãi Sau khi Tòa
án cấp sơ thẩm xử, ông Tư chết, vợ và các con ông Tư kháng cáo yêu cầu tính lại lãi cao, mức lãi trong 1 năm (từ tháng 7/2013 chưa trả), được Tòa án chấp nhận giải quyết trong vụ án do bà Lan khởi kiện Hỏi:
1 Xác định tính chất của vụ án trong trường hợp trên?
2 Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tư trong vụ án do bà Lan khởi kiện
là đúng pháp luật hay không?
Câu 3: (4 điểm)
Bà Lan cho ông Tư vay 300 triệu đồng, lãi suất 40 triệu đồng có thỏa thuận bên thế chấp gia súc, thời hạn vay là 2 năm, hợp đồng vay được lập ngày
10/10/2012 Do ông Tư không trả nợ đúng hạn, ngày 20/9/2013, bà Lan đã khởi kiện ông Tư ra Tòa án yêu cầu trả nợ và được Tòa án thụ lý giải quyết Phiên tòa sơ thẩm đã xét xử và buộc ông Tư trả số tiền gốc 300 triệu đồng nhưng không đề cập đến tiền lãi Sau phiên sơ thẩm, ông Tư qua đời Vợ và các con ông Tư kháng cáo yêu cầu tính lại tiền lãi, cho rằng lãi suất thỏa thuận quá cao
và yêu cầu tính lại lãi suất trong 1 năm (kể từ tháng 7/2013 chưa trả) Yêu cầu này đã được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết trong cùng vụ án bà Lan khởi kiện Hỏi:
1 Xác định tính chất của vụ án trong trường hợp trên?
Tính chất của vụ án trên là vụ án dân sự liên quan đến tranh chấp hợp đồng vay tài sản Cụ thể, đây là vụ án phát sinh từ tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ theo hợp
Trang 10nguyên đơn (bà Lan) đã khởi kiện để yêu cầu bị đơn (ông Tư) thực hiện nghĩa
vụ trả tiền vay gốc theo hợp đồng Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý và giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ Việc không đề cập đến vấn đề tiền lãi trong phiên
sơ thẩm là chưa toàn diện nhưng không làm thay đổi bản chất tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa các bên
Khi ông Tư qua đời, quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự vẫn tiếp tục được giải quyết với sự tham gia của những người thừa kế của ông Tư (vợ và các con) Việc các bên kháng cáo yêu cầu tính lại lãi suất chỉ là việc bổ sung thêm yêu cầu giải quyết một phần nghĩa vụ tài chính liên quan, không làm thay đổi bản chất vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản đã xác định ban đầu
2 Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tư trong vụ án do bà Lan khởi kiện
là đúng pháp luật hay không?
Việc Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người thừa kế ông
Tư về tính toán lại tiền lãi trong cùng vụ án mà bà Lan khởi kiện là phù hợp với quy định pháp luật
Theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, phạm vi xét xử phúc thẩm bao gồm toàn bộ hoặc một phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị Trường hợp này, bản án sơ thẩm chưa giải quyết đầy đủ về vấn đề tiền lãi mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Do đó, yêu cầu kháng cáo của
vợ và các con ông Tư nhằm yêu cầu Tòa án xem xét, tính toán lại mức lãi suất thỏa thuận, kiểm tra sự phù hợp của mức lãi suất thỏa thuận so với quy định pháp luật là hoàn toàn chính đáng
Mặt khác, việc ông Tư qua đời sau phiên sơ thẩm không làm chấm dứt vụ án dân sự Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của người chết được chuyển giao cho người thừa kế hợp pháp Vì vậy, người thừa kế (vợ và các con ông Tư) có quyền tiếp tục tham gia tố tụng và đưa ra các yêu cầu chính đáng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến nghĩa vụ trả nợ mà người chết để lại