1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - kinh tế du lịch - Đề tài - Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu về dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa

27 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu về dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa
Trường học Trường Đại Học Khánh Hòa
Chuyên ngành Kinh Tế Du Lịch
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 212 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu về dịch vụ lưu trú tại khudu lịch Nha Trang – Khánh Hòa Lời mở đầu Con người vốn tò mò về thế giới xung quanh, địa hình, hệ thống thực vật và nề

Trang 1

Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu về dịch vụ lưu trú tại khu

du lịch Nha Trang – Khánh Hòa

Lời mở đầu

Con người vốn tò mò về thế giới xung quanh, địa hình, hệ thống thực vật và nềnvăn hóa của những nơi khác Vì vậy, du lịch đã xuất hiện và trở thành một hiệntượng khá quan trọng trong đời sống của con người Đến nay, du lịch không còn làmột hiện tượng riêng lẻ, đặc quyền của cá nhân hay một nhóm người nào đó, mà

du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừngnâng cao, đời sống vật chất, tinh thấn cho con người Du lịch cũng là ngành kinh tếđóng góp phần lớn giá trị vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), làm thay đổi thunhập quốc dân và phân phối thu nhập quốc dân Sản phẩm du lịch là một loại sảnphẩm đặc biệt, nó không phải chỉ là một sản phẩm lao động cụ thể biểu hiện dướihình thái vật chất mà là phần nhiều sản phẩm vô hình biểu hiện bằng nhiều loạidịch vụ Nên khi nói đến dịch vụ du lịch là nói đến một số lớn trong các sản phẩmcủa ngành du lịch Cơ cấu của ngành du lịch gồm: khách sạn nhà hang, lữ hành,giao thông và các dịch vụ khác

Những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã được đầu tư rất nhiều, có nhiều điểm hấpdẫn du lịch được xây dựng và cải tạo Khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa là mộttrong số đó Chính vì thế cầu về du lịch ở đây rất lớn, đặc biệt cầu về dịch vụ lưutrú Bài thảo luận sẽ làm rõ hơn đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu vềdịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa

Trang 2

M c l c ụ ụ

Lời mở đầu 1

1 Những vấn đề lý luận chung 2

1.1 Khái niệm và vai trò của dịch vụ lưu trú 2

1.2 Đặc điểm của cầu dịch vụ lưu trú trong du lịch 2

1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến cầu dịch vụ lưu trú 4

2 Thực trạng cầu về dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa 5

2.1 Giới thiệu về khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa 5

2.2 Thực trạng cầu về dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa.6 2.3 Nhận xét chung về cầu dịch vụ lưu trú khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa ……….14

3 Một số giải pháp nhằm phát triển cầu về dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa 16

3.1 Xu hướng phát triển thị trường du lịch đến vùng Nam Trung bộ nước ta nói riêng và Nha Trang – Khánh Hòa nói chung 16

3.2 Đề xuất phát triển cầu dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa……… 20

Trang 3

1 Những vấn đề lý luận chung

1.1 Khái niệm và vai trò của dịch vụ lưu trú

Khái niệm cầu du lịch: cầu du lịch là số lượng hàng hóa, dịch vụ mà con ngườimua và tiêu dùng trong quá trình đi du lịch được giới hạn trong một phạm vithời gian và không gian nhất định

Từ khái niệm chung về cầu du lịch, ta có thể đưa ra khái niệm về cầu dịch vụlưu trú như sau:

Cầu dịch vụ lưu trú: là số lượng dịch vụ lưu trú mà mà con người mua và tiêudùng trong quá trình lưu trú được giới hạn trong một thời gian và không giannhất định

Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụkhác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu.Các loại cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: Khách sạn; làng du lịch; biệt thự dulịch; căn hộ du lịch; bãi cắm trại du lịch; nhà nghỉ du lịch; nhà ở có phòng chokhách du lịch thuê; các cơ sở lưu trú du lịch khác

Vai trò của cầu dịch vụ lưu trú:

Xuât phát từ các nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong quá trình đi du lịchcủa khách du lịch mà cầu về dịch vụ lưu trú như là đóng góp trực tiếp vào tổngsản phẩm quốc dân thông qua hoạt động chi tiêu, tiêu dùng Các hoạt động nhưnghi nghơi, vui chơi của khách du lịch như là động lực kích thích phát triển cácngành nghề, lĩnh vực khác trong nền kinh tế Khi nhu cầu con người cao hơntrong lĩnh vực lưu trú, các hoạt động sắm sửa trang thiết bị, đầu tư vật chất,cơ

sở hạ tầng cũng được kéo theo để thỏa mãn các nhu cầu đó Khi đáp ứng đầy

đủ các yêu cầu về tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực lưu trú củakhách du lịch đồng thời cũng tạo ra thu nhập quốc dân, phân phối lại thu nhập

và tạo thêm nhiều việc làm

1.2 Đặc điểm của cầu dịch vụ lưu trú trong du lịch

Theo Ryan-nhà kinh tế học người Anh, nếu căn cứ vào đối tượng khách du lịchthì có 4 loại cầu (thực tế) về dịch vụ lưu trú mà mỗi loại có những đặc điểm vànhân tố ảnh hưởng khác nhau:

Trang 4

- Cầu của khách du lịch thuần túy nội địa:

● Cầu về dịch vụ lưu trú của công nhân một quốc gia ở trong phạm vi quốc gia

đó và nảy sinh chủ yếu từ các chuyến đi nghỉ, tham quan, thăm thân nhân vàcác mục đích phi công việc khác

● Cầu của khách du lịch thuần túy nội thường đa dạng, mang tính thời vụ và

co giãn tương đối theo giá dịch vụ

- Cầu của khách du lịch thuần túy quốc tế:

● Cầu về dịch vụ lưu trú của công nhân các quốc gia khác đang ở quốc giađiểm đến và cũng nảy sinh chủ yếu từ các chuyến đi nghĩ, tham quan, thăm thânnhân, và các mục đích phi công việc khác

● Đặc điểm tương tự như khách du lịch nội địa, tuy nhiên chất lượng dịch vụcao hơn và thường đạt tiêu chuẩn quốc tế

- Cầu của khách du lịch đi công tác nội địa:

● Cầu về dịch vụ lưu trú của công nhân một quốc gia nảy sinh chủ yếu từ cácchuyến đi công việc như công tác, giao dịch kinh doanh…ở trong phạm vi quốcgia đó

● Đối với khách du lịch này, cầu về dịch vụ lưu trú thường được đáp ứng trongphạm vi ngành hoặc lĩnh vực của người đi công tác Do đó cầu thường địnhmức trong giới hạn của những quy định tài chính

- Cầu của khách du lịch đi công tác quốc tế:

● Cầu về dịch vụ lưu trú của công dân quốc gia khác nảy sinh chủ yếu từ cácchuyến đi công việc như công tác, giao dịch kinh doanh… ở quốc gia điểm đến

● Cầu của khách du lịch đi công việc quốc tế có lẽ yêu cầu chất lượng dịch vụcao nhất

Ngoài ra, đặc điểm lưu trú còn có thể phụ thuộc vào loại hình cơ sở lưu trú ởtừng quốc gia

Ví dụ :Ở Việt Nam thường có cầu về dịch vụ lưu trú các loại hình cơ sở như:khách sạn, nhà nghỉ, căn hộ, biệt thự, bãi cắm trại

Trang 5

1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến cầu dịch vụ lưu trú

Lưu trú là một nhu cầu không thể thiếu khi đi du lịch Lưu trú có thể là động lựcthúc đẩy con người đi du lịch, có thể không Nhưng do tính chất tự nhiên vềdịch vụ lưu trú nên nó chiếm phần đáng kể trong chi tiêu của khách du lịch và

có ý nghĩa xác định phần còn lại của cầu trong du lịch, đảm bảo chất lượng củachuyến đi Với mỗi loại đối tượng khách du lịch thì cầu dịch vụ lưu trú của bịảnh hưởng bởi những yếu tố khác nhau

● Cầu của khách du lịch thuần túy nội địa: Nhân tố ảnh hưởng bao gồm: Nhânthức tâm lý và xã hội về du lịch và giải trí nói chung, những nhận thức này bịchi phối bởi nhân cách của từng cá nhân, nghề nghiệp, thu nhập và tầng lớp( hoặc giai cấp ) trong xã hội

● Cầu của khách du lịch thuần túy quốc tế: Cũng chịu ảnh hưởng như các nhân

tố ở khách du lịch nội địa Tuy nhiên có một số nhân tố ảnh hưởng quan trọngkhác như tỷ giá trao đổi, các hạn chế đối với người đi du lịch của các quốc gianhư về tiền mang theo, thủ tục xuất nhập cảnh, y tế…

● Cầu của khách du lịch đi công tác nội địa: Nhân tố ảnh hưởng : Cơ cấu và tổchức hoạt động công nghiệp và thương mại trong phạm vi quốc gia, các môhình và dung lượng giao dịch thương mại, và định mức chi phí của một chuyến

đi công tác

● Cầu của khách du lịch đi công tác quốc tế: Các nhân tố ảnh hưởng đến loạicầu này bao gồm dung lượng giao dịch thương mại giữa các quốc gia, các mốiquan hệ chính trị, tỷ giá hối đoái và trình độ tổ chức hoạt động kinh doanh ở cáccông ty đa quốc gia Ngoài ra còn nhân tố khác là sự phát triển các phương tiệnthông tin liên lạc

Trang 6

2 Thực trạng cầu về dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa2.1 Giới thiệu về khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa

Du lịch Nha Trang - Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc giáptỉnh Phú Yên, Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, Tây giáp tỉnh Ðắc Lắc, Lâm Ðồng,Ðông giáp biển Ðông, có mũi Hòn Ðôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh,

là điểm cực Ðông trên đất liền của nước ta

Diện tích tự nhiên của Khánh Hòa, cả trên đất liền và hơn 200 đảo và quần đảo

là 5.197 km2 Bờ biển dài 385 km, với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, nhiều đảo vàvùng biển rộng lớn Ðặc biệt, Khánh Hoà có Trường Sa là huyện đảo, nơi có vịtrí kinh tế, an ninh quốc phòng trọng yếu

Tỉnh Khánh Hòa nằm ở vị trí thuận tiện về giao thông đường bộ, đường sắt,đường biển và đường hàng không Việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa KhánhHòa và các tỉnh thuận lợi nhờ đường sắt và quốc lộ IA xuyên suốt chiều dài củatỉnh

Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược về mặt quốc phòng,

vì nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh

và là cửa ngõ thông ra biển Ðông

Khánh Hoà luôn chan hòa ánh nắng, nhiệt độ trung bình hàng năm 26oC, lượngmưa trung bình hàng năm từ 1200-1800mm Khí hậu có hai mùa rõ rệt: mùakhô (từ tháng giêng đến tháng tám); mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12), chỉkéo dài khoảng hơn hai tháng, thuận lợi cho phát triển du lịch

Khánh Hòa có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, đặc biệt tàinguyên biển có nhiều loại hải sản quý hiếm có thể khai thác, nuôi trồng, chếbiến xuất khẩu với khối lượng lớn, có yến sào, là nguồn nguyên liệu đặc biệt đểxuất khẩu và bào chế các sản phẩm bổ dưỡng quý hiếm cho con người

Ðiều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử văn hóa đã đem đến cho tỉnh Khánh Hòamột tiềm năng lớn để phát triển du lịch, dịch vụ Nha Trang- Khánh Hòa hiệnđược xác định là một trong 10 trung tâm du lịch - dịch vụ lớn của cả nước Vào

Trang 7

tháng 5/2003, vịnh Nha Trang được công nhận là Thành viên chính thức củaCâu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới.

2.2 Thực trạng cầu về dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa

Trang 8

Trên đây là bảng chỉ tiêu đánh giá hoạt động lưu trú của khách du lịch đến Khánh

Hòa, nhìn vào bảng trên ta có thể thấy trong năm 2011 hoạt động lưu trú của khách

du lịch tại KH chia làm 2 đợt, chia theo mùa, Yếu tố mùa khá rõ rệt :

Mùa hè ( từ tháng 6 đến hết tháng 9) : vào những tháng mùa hè lượng khách du

lich tăng cao, nên nhu cầu về cơ sở lưu trú cũng tăng.trong 5 tháng mùa hè này,

lượng khách đến KH tăng nhanh chóng do nhu cầu đi du lịch và nghỉ mát của du

khách Trong tháng 7 năm 2011 lượng khách thực đến Khánh Hòa là 908.630 lượt,

và KH dã đáp ứng được 230.008 cơ sở lưu trú cho khách du lịch trong nước cũng

như quốc tế

Từ tháng 6-9 là mùa khách nội địa, nhu cầu sử dụng dịch vụ dưới 3 sao cao, dịch

vụ lưu trú bình dân không đáp ứng được nhu cầu của lượng khách nườm nượp tập

trung vào những điểm đến truyền thống, được quảng bá tốt: Đà Lạt, Nha Trang,

Phan Thiết, Hội An, Hà Nội Làm cho hệ thống lưu trú ở đây không đáp ứng kịp

nhu cầu sử dụng

Mùa khác : vào mùa khách ngoại từ tháng 12 đến tháng 3 hàng năm thì dịch vụ lưu

trú cao cấp (4-5 sao) lại không đủ đáp ứng cho nhu cầu khách nước ngoài Vào thời

Trang 9

điểm này, “bài toán” của các công ty lữ hành là chạy vạy kiếm tìm hợp đồng sanggiá từ các công ty khác có trữ phòng tiêu chuẩn cao, nếu không thành, họ sẵn sàngthương lượng chuyện “hạ sao” với du khách.

Chỉ tiêu về khách du lịch:  “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Khánh

Hoà” được thực hiện năm 1995 trong bối cảnh ngành du lịch nước ta phát triển vớitốc độ tương đối nhanh, Việt Nam vừa đạt con số 1 triệu lượt khách du lịch quốc tếvào năm 1994 Việc nghiên cứu dự báo một mặt có tính đến bối cảnh phát triểnchung của cả nước như Việt Nam vừa trở thành thành viên ASEAN, Mỹ vừa bãi bỏlệnh cấm vận và thiết lập ngoại giao với Việt Nam, khách du lịch quốc tế đến ViệtNam đang gia tăng rất nhanh ; mặt khác cũng tính đến những yếu tố thuận lợi củaKhánh Hoà nói riêng, chính vì thế trong phương án dự báo của Quy hoạch năm

1995 đưa ra dự báo lượng khách quốc tế đạt 197 ngàn lượt vào năm 2000 và 360ngàn lượt vào năm 2005. 

Tuy nhiên, do có nhiều yếu tố mới nảy sinh (kể khách quan và chủ quan,trong nước và quốc tế) như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, đại dịchSARS, diễn biến phức tạp của bối cảnh chính trị quốc tế và khu vực, tình trạngcạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia trong khu vực trong việc thu hút thị trườngkhách du lịch quốc tế, chất lượng dịch vụ du lịch của Việt Nam còn thấp, công tácquảng bá du lịch còn nhiều bất cập đã ảnh hưởng đến sự thu hút dòng khách dulịch quốc tế đến Khánh Hoà nói riêng và đến nước ta nói chung

Xuất phát từ những lý do nêu trên, lượng khách du lịch quốc tế đến KhánhHoà chỉ đạt 69,05% so với dự báo Để phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tếcũng như bối cảnh chung của cả nước, cần thiết có sự điều chỉnh lượng khách quốc

tế đến Khánh Hoà trong giai đoạn (2006 - 2010); đồng thời cân nhắc đến các yếu

tố thuận lợi như Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm đến an toàn vàthân thiện nhất châu Á; Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn 2010;tiềm năng tài nguyên du lịch của Khánh Hoà được quốc tế đánh giá cao; nhiều dự

án xây dựng các khu du lịch đã dần hoàn thiện và đi vào hoạt động ổn định nângcao chất lượng của dịch vụ du lịch; ngành du lịch Khánh Hoà được Tỉnh uỷ, Hộiđồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân và các cấp các ngành quan tâm tạo điều kiệnphát triển để tính toán chỉ tiêu khách du lịch quốc tế cho giai đoạn 20101- 2020.Đối với chỉ tiêu về khách du lịch nội địa, trong quy hoạch trước đây cũng đãnghiên cứu tính toán đến các yếu tố thuận lợi và hạn chế của Khánh Hoà Tuynhiên trong thực tế phát triển, có một số yếu tố thuận lợi chưa được tính đến nhưNhà nước thực hiện chế độ làm việc 5 ngày đối với người lao động, kinh tế pháttriển ổn định, đời sống người dân được tăng lên , do vậy nhu cầu đi du lịch củangười dân là rất lớn Khu vực Thành phố Nha Trang và phụ cận đã thu hút mộtlượng lớn khách từ khắp mọi miền trên đất nước về đây, ngoài ra khu tắm bùn

Trang 10

đang được đưa vào khai thác từng bước đã góp phần rất lớn thu hút khách du lịchcuối tuần đến với Khánh Hoà Với những thuận lợi đó, khách du lịch nội địa đếnngày một nhiều với mức tăng trưởng khá cao (16,6%/năm giai đoạn 2001 - 2005)

và vượt xa mức dự báo trước đây (năm 2005 vượt 67,66% so với dự báo)

Về chỉ tiêu ngày lưu trú bình quân của khách: Trong quy hoạch 1995 đã

không đề cập đến chỉ tiêu ngày lưu trú bình quân của khách du lịch Trong khi đóđây là một chỉ tiêu rất quan trọng dùng để tính toán nhu cầu đầu tư hệ thống cơ sởlưu trú cũng như thu nhập du lịch, lao động Do vậy trong điều chỉnh lần này chỉtiêu này được tính toán cho từng giai đoạn, đối tượng khách

Hiện nay, trên địa bàn  Khánh Hoà đang có một số dự án đầu tư xây dựng cáckhu du lịch có chất lượng cao tạo ra nhiều sản phẩm du lịch độc đáo, có chấtlượng, hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước, sẽ kéo dài thời gian lưu trú của

họ Với những yếu tố thuận lợi như vậy, và để phù hợp với bối cảnh chung của cả

nước, dự kiến trong thời gian tới ngày lưu trú trung bình của khách du lịch đến

Khánh Hoà sẽ 2,3 ngày; đến năm 2020 là 2,6 ngày (đối với cả khách quốc tế và nộiđịa)

   Với những phân tích và tính toán như trên, dự báo về khách du lịch củaKhánh Hoà  đến năm 2020 được điều chỉnh và tính toán cụ thể trong các bảng sau:

án 2

Tổng số lượt khách đến (ngàn) 2.300,00 3.400,00

Khách Tổng số lượt khách

Trang 11

quốc Ngày lưu trú trung bình 2,6 3,0

tế Tổng số ngày khách (ngàn) 2.340,00 4.200,00

Khách Tổng số lượt khách (ngàn) 1.400,00 2.000,00nội Ngày lưu trú trung bình 2,1 2,3địa Tổng số ngày khách (ngàn) 2.940,00 4.600,00

Phương

án 3

Tổng số lượt khách đến (ngàn) 2.700,00 4.100,00

Khách Tổng số lượt khách (ngàn) 1.000,00 1.700,00quốc Ngày lưu trú trung bình 2,6 3,0

tế Tổng số ngày khách (ngàn) 2.600,00 5.100,00

Khách Tổng số lượt khách (ngàn) 1.700,00 2.400,00nội Ngày lưu trú trung bình 2,1 2,3địa Tổng số ngày khách (ngàn) 3.570,00 5.520,00

Trang 12

Nhu cầu phòng lưu trú: Đầu tư cho hệ thống cơ sở lưu trú đòi hỏi lượng vốn lớn

nên cần tính toán để đảm bảo đủ cơ sở lưu trú cho khách du lịch đến Khánh Hoà,tránh đầu tư dàn trải gây hiện tượng thừa cục bộ, gây lãng phí vốn đầu tư Việc dựbáo nhu cầu phòng lưu trú có quan hệ chặt chẽ với số lượng khách, số ngày lưu trúbình quân, hệ số sử dụng chung phòng và  công suất sử dụng phòng trung bình Sốlượng phòng lưu trú được tính toán theo công thức sau :

          (Số lượt khách)   x   (Số ngày lưu trú trung bình)

Công suất sử dụng phòng trung bình năm hiện nay của hệ thống cơ sở lưu trú

ở Khánh Hoà nói chung đạt xấp xỉ 52% năm 2005 Dự kiến công suất sử dụngphòng trung bình năm sẽ đạt 60% vào năm 2010; 65% vào năm 2015 và 70% vàonăm 2020

Hệ số sử dụng chung phòng lưu trú (số người bình quân trong 1 phòng lưutrú) hiện nay ở Khánh Hoà là 1,6 đối với khách du lịch quốc tế và 1,9 đối vớikhách du lịch nội địa, đến năm 2010 chỉ số này vẫn chưa có gì thay đổi Tuy nhiên,theo xu hướng chung thì hệ số này đang giảm dần nên hệ số sử dụng chung phòngđối với khách du lịch quốc tế giảm xuống còn 1,5 và khách du lịch nội địa là 1,8

Theo xu hướng đi du lịch hiện nay, một vấn đề khác cần được quan tâm lànên khuyến khích xây dựng các khách sạn đủ tiêu chuẩn xếp hạng sao (năm 2004

có 3.728 phòng lưu trú trong số 6.335 phòng lưu trú của Khánh Hoà là thuộc cáckhách sạn được xếp hạng từ 1 - 5 sao), với các trang thiết bị đồng bộ và hệ thốngcác dịch vụ đa dạng, tránh đầu tư cho những cơ sở lưu trú nhỏ lẻ, trang thiết bị yếukém, chỉ phục vụ dịch vụ lưu trú Với những phân tích và tính toán như trên, dự

Trang 13

báo nhu cầu khách sạn của Khánh Hoà thời kỳ 2006 - 2020 được trình bày ở bảngsau:

Phương án Nhu cầu phòng lưu trú 2015 2020

Phương

án 1

Tổng lượng phòng 11.530 18.540Trong đó phòng đủ tiêu chuẩn

Phương

án 2

Tổng lượng phòng 12.400 21.000Trong đó phòng đủ tiêu chuẩn

Phương

án 3

Tổng lượng phòng 14.500 25.310Trong đó phòng đủ tiêu chuẩn

Công suất sử dụng phòng trung bình năm (%) 65 70

Với xu thế phát triển dịch vụ du lịch cao cấp hiện nay, ngành du lịch Khánh Hoàcần có khoảng 20 - 30% phòng đạt tiêu chuẩn 4 - 5 sao trong tổng số phòng đủ tiêuchuẩn sếp hạng sao được tính toán ở bảng Theo đó, nhu cầu phòng đạt 4 - 5 saocủa du lịch Khánh Hoà khoảng 1.300 – 1.400 phòng (năm 2010) ; 2.100 – 2.300phòng (năm 2015) và 4.000 phòng (năm 2020) theo phương án chọn

 Các nhân tố ảnh hưởng

- Giá cả

Giá cả là một nhân tố rất quan trọng tác động đến cầu về lưu trú Cũng giốngnhư các hàng hóa thông thường khác cầu về dịch vụ lưu trú cũng tuân theo quy luậtcung cầu Giá thuê phòng càng rẻ, càng hấp dẫn thì sẽ kích thích nhu cầu củakhách du lịch và ngược lại Như vậy, có thể thấy, dù có vị trí địa lý thuận lợi chocác hoạt động du lịch, tham quan, ngắm cảnh…nhưng nếu công tác về quảng bá dulịch kém mà giá thuê phòng khách sạn tăng lên sẽ khiến khách du lịch không hứngkhởi với chuyến đi của mình đồng thời không thu hút được thị hiếu của khách nênlượng khách bị giảm xuống

- Giá cả của hàng hóa có liên quan đến hàng hóa dịch vụ có nhu cầu

Ngày đăng: 30/03/2025, 12:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chỉ tiêu đánh giá hoạt động lưu trú tại Khánh Hòa - Tiểu luận  - kinh tế du lịch -  Đề tài -  Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu về dịch vụ lưu trú tại khu du lịch Nha Trang – Khánh Hòa
Bảng ch ỉ tiêu đánh giá hoạt động lưu trú tại Khánh Hòa (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w