1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam

96 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của công ty trách nhiệm xổ số điện toán việt nam
Tác giả Đinh Sơn Giao
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Ngọc Duy Phương
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU (15)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (15)
    • 1.2 Mục tiêu của luận văn (22)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (22)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (22)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (23)
    • 1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu (24)
    • 1.7 Cấu trúc của luận văn (24)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN (26)
    • 2.1 Một số khái niệm (26)
      • 2.1.1 Khái niệm cạnh tranh (26)
      • 2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (27)
      • 2.1.3 Sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán (28)
    • 2.2 Các lý thuyết liên quan (29)
      • 2.2.1 Lý thuyết nguồn lực (29)
      • 2.2.2 Lý thuyết năng lực (30)
      • 2.2.3 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1990) (30)
    • 2.3 Các nghiên cứu tình huống liên quan (32)
      • 2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài (0)
      • 2.3.2 Các nghiên cứu trong nước (34)
    • 2.4 Khung phân tích (37)
  • CHƯƠNG 3: THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG (39)
    • 3.1 Phương pháp nghiên cứu (39)
      • 3.1.1 Quy trình nghiên cứu (39)
      • 3.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu (40)
        • 3.1.2.1 Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo xác định nguyên làm giảm NLCT sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam (40)
        • 3.1.2.2 Thảo luận nhóm với lãnh đạo, quản lý, nhân viên phòng kế hoạch kinh (40)
        • 3.1.2.3 Thu thập dữ liệu định lượng thông qua khảo sát đồng loạt lãnh đạo, quản lý, nhân viên đang làm việc tại Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam (41)
        • 3.1.2.4 Thu thập dữ liệu về năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam (41)
      • 3.1.3 Phương pháp xử lý dữ liệu (41)
    • 3.2 Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam (0)
      • 3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển (42)
      • 3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò (45)
    • 3.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công (45)
      • 3.3.1 Thực trạng năng lực tài chính (45)
      • 3.3.2 Thực trạng đại lý, phân phối và marketing (49)
      • 3.3.3 Thực trạng Uy tín, thương hiệu, kinh nghiệm (53)
      • 3.3.4 Thực trạng năng lực tổ chức dịch vụ (57)
      • 3.3.5 Thực trạng nguồn nhân lực (60)
      • 3.3.6 Thực trạng năng lực thâm nhập thị trường (63)
    • 3.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam (Vietlott) (65)
      • 3.4.1 Kết quả đạt được (65)
      • 3.4.2 Hạn chế (67)
      • 3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế (68)
  • CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP (70)
    • 4.1 Định hướng phát triển của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam (Vietlott) ........... 56 4.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán (0)
      • 4.2.1 Giải pháp về năng lực tài chính (0)
      • 4.2.2 Giải pháp về đại lý, phân phối và marketing (72)
      • 4.2.3 Giải pháp về uy tín, thương hiệu, kinh nghiệm (74)
      • 4.2.4 Giải pháp về năng lực tổ chức dịch vụ (75)
      • 4.2.5 Giải pháp về nguồn nhân lực (76)
      • 4.2.6 Giải pháp về năng lực thâm nhập thị trường (78)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (81)
    • 5.1 Kết luận (81)
    • 5.2 Kiến nghị (82)
      • 5.2.1 Kiến nghị đối với Bộ tài chính (0)
      • 5.2.2 Kiến nghị đối với UBND TP. HCM (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (85)
  • PHỤ LỤC (87)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HỒ CHÍ MINH --- ∞0∞--- ĐINH SƠN GIAO GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XỔ SỐ TỰ CHỌN SỐ ĐIỆN TOÁN CỦA CÔNG TY TNHH MTV XỔ S

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Một số khái niệm

Cạnh tranh là một khái niệm quan trọng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong sản xuất kinh doanh, nơi các doanh nghiệp tranh giành thị trường để thu hút khách hàng và nhà đầu tư Thuật ngữ này có phạm vi sử dụng rộng rãi, bao gồm cả doanh nghiệp, ngành nghề và quốc gia Do đó, khái niệm về cạnh tranh được định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau.

Cạnh tranh có thể được hiểu đơn giản là sự tranh đua giữa các cá nhân, tập thể hoặc các loài nhằm giành lấy tài nguyên, lợi nhuận, ưu thế, địa vị, sự sống và nhiều thứ khác.

Cạnh tranh, theo Theo Marx (1997), là cuộc ganh đua khốc liệt giữa các nhà tư bản để giành lấy những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa các nhà sản xuất, thương nhân và doanh nhân trong nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng đến mối quan hệ cung cầu, với mục tiêu giành được các điều kiện sản xuất và tiêu thụ thị trường tốt nhất.

Cạnh tranh, theo Theo Porter (1990), là cuộc chiến giành thị phần, khách hàng và nguồn lực giữa các doanh nghiệp Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh không phải là tiêu diệt đối thủ, mà là tạo ra và cung cấp cho khách hàng những giá trị cao hơn hoặc mới lạ hơn so với đối thủ, giúp họ lựa chọn sản phẩm hoặc dịch vụ của mình thay vì của đối thủ cạnh tranh.

Cạnh tranh trong hoạt động kinh tế là một yếu tố không thể thiếu, mang đến cả mặt tích cực và tiêu cực Mặt tích cực của cạnh tranh là nó thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh, khuyến khích đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất Ngược lại, mặt tiêu cực của cạnh tranh là việc tìm kiếm lợi nhuận tối đa mà không chú ý đến hậu quả, như ô nhiễm môi trường và sự suy giảm đạo đức xã hội.

Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các cá nhân hoặc tập thể nhằm giành chiến thắng và chiếm ưu thế so với những đối thủ khác, với mục tiêu đạt được thành công chung.

2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Đến nay, có nhiều định nghĩa về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa chung thống nhất, vì mỗi cách tiếp cận mang đến một góc nhìn khác nhau về khái niệm này.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, lần đầu tiên được đề cập tại Mỹ vào đầu những năm 1980, được định nghĩa là khả năng sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn so với các đối thủ trong và ngoài nước Khả năng này không chỉ giúp doanh nghiệp đạt được lợi ích lâu dài mà còn đảm bảo thu nhập cho cả người lao động và chủ doanh nghiệp.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, theo Porter (1998), là khả năng duy trì và mở rộng thị phần cũng như đạt được lợi nhuận cao Để thành công trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần có lợi thế cạnh tranh thông qua việc giảm chi phí sản xuất hoặc khác biệt hóa sản phẩm để bán với giá cao hơn trung bình Năng lực cạnh tranh đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo thành công lâu dài, ảnh hưởng trực tiếp đến thị phần, lợi nhuận và tính bền vững của doanh nghiệp (Martin & cộng sự, 2017) Nó được hiểu là khả năng nắm giữ và chiếm lĩnh thị trường nhằm tối ưu hóa hiệu quả trong môi trường kinh doanh cụ thể (Porter, 1990) Tóm lại, năng lực cạnh tranh phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp trong việc tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, từ đó đạt được lợi nhuận cao hơn so với các đối thủ trên thị trường.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua năng lực cạnh tranh cốt lõi và năng lực cạnh tranh đặc biệt Năng lực cốt lõi bao gồm các nguồn lực và kỹ năng giúp doanh nghiệp khác biệt trên thị trường, đáp ứng ba tiêu chí chính: tạo giá trị gia tăng, tạo sự khác biệt khó bị sao chép và khả năng mở rộng phát triển thị trường (Prahalad & Hamel, 1990).

Năng lực cốt lõi là những năng lực động giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, từ đó định hướng cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường tương lai Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sản phẩm độc đáo, nâng cao vị thế trên thị trường và cho phép doanh nghiệp tự đa dạng hóa sau khi đã chiếm lĩnh vị trí dẫn đầu.

Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh được chia thành bốn cấp độ: quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm Năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của nền kinh tế quốc dân trong việc duy trì tăng trưởng bền vững thông qua các chính sách và thể chế hiệu quả Năng lực cạnh tranh ngành đề cập đến sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất khác nhau nhằm tối ưu hóa đầu tư Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện sức mạnh và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng, tăng trưởng lợi nhuận và cải thiện vị thế trên thị trường thông qua việc phát triển sản phẩm và dịch vụ hấp dẫn.

Trong lĩnh vực kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN) được xác định bởi khả năng sáng tạo và đổi mới, nhằm nâng cao năng suất lao động Điều này cho phép DN tạo ra các sản phẩm và dịch vụ chất lượng vượt trội hơn so với đối thủ, từ đó chiếm lĩnh thị trường.

Doanh nghiệp (DN) là sự kết hợp sáng tạo và đổi mới giữa các nguồn lực khác nhau, giúp DN đạt được mục tiêu và tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

2.1.3 Sản phẩm xổ số tự ch Ọ n số điện toán

Theo Điều 3 Thông tư 36/2019/TT-BTC quy định về sản phẩm xổ số tự chọn điện toán như sau:

Sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán bao gồm các nhóm như xổ số theo ma trận, xổ số theo dãy số, xổ số quay số nhanh và các sản phẩm khác theo quyết định của Bộ Tài chính Dựa trên quy định tại Thông tư 36/2019/TT-BTC và khảo sát thị trường, công ty xổ số điện toán sẽ xây dựng danh mục sản phẩm cụ thể để trình Bộ Tài chính phê duyệt trước khi triển khai Vietlott cam kết phát triển sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán với quy tắc chơi chi tiết, dễ hiểu, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đảm bảo tỷ lệ trả thưởng phù hợp với từng sản phẩm theo quy định hiện hành.

Các lý thuyết liên quan

Nguồn lực của doanh nghiệp được định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau và được coi là yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh, theo Wernerfelt (1984) Lý thuyết về nguồn lực tập trung vào phân tích các yếu tố nội tại, cho thấy các doanh nghiệp trong cùng ngành thường áp dụng những chiến lược kinh doanh khác nhau, và việc sao chép chiến lược này là không dễ dàng do nó phụ thuộc vào nguồn lực riêng của từng doanh nghiệp Nguồn lực được chia thành hai loại: nguồn lực hữu hình, bao gồm tài chính, con người và tổ chức, và nguồn lực vô hình, như công nghệ, danh tiếng và bí quyết Những nguồn lực này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo nghiên cứu của Theo Pratten và cộng sự (1991), các nguồn lực quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm năng lực marketing, khả năng phát triển sản phẩm, chất lượng dịch vụ khách hàng và hiệu quả sản xuất.

Theo quan điểm của Barney (1991), để một nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, nó cần đáp ứng bốn điều kiện: phải có giá trị, hiếm, khó bị bắt chước và không thể thay thế.

Dựa trên lý thuyết nguồn lực, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định bởi lợi thế nguồn lực sẵn có so với đối thủ Điều này không chỉ thể hiện vai trò và giá trị của doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, mà còn yêu cầu nguồn lực phải có những đặc điểm riêng, thể hiện giá trị và tính không thể thay thế để chiếm ưu thế cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh theo lý thuyết năng lực tập trung vào việc sử dụng và kết hợp tài sản, nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được tăng trưởng và hiệu quả Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cần đổi mới liên tục và linh hoạt trong sản xuất kinh doanh, tận dụng tối đa nguồn lực hiện có để phát triển Điều này dẫn đến sự hình thành lý thuyết nguồn lực và lý thuyết năng lực động, mà trong đó năng lực động được hiểu là khả năng tích hợp, xây dựng và điều chỉnh tiềm năng của doanh nghiệp để thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Nguồn năng lực động chính là yếu tố tạo ra năng lực cạnh tranh và mang lại kết quả kinh doanh tích cực cho doanh nghiệp.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xây dựng dựa trên lý thuyết nguồn lực, tập trung vào lợi thế nguồn lực so với đối thủ Theo lý thuyết năng lực, khả năng kết hợp các nguồn lực để phát triển năng lực là yếu tố then chốt (Sanchez, 2009).

Năng lực được coi là lợi thế cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp Để chiếm ưu thế trên thị trường, các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý và tối ưu hóa nguồn lực sẵn có nhằm phát triển bền vững.

2.2.3 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1990)

Theo Porter (1990), để cạnh tranh thành công, doanh nghiệp cần có lợi thế cạnh tranh thông qua chi phí sản xuất thấp hơn hoặc khả năng khác biệt hóa sản phẩm để định giá cao hơn Để duy trì lợi thế này, các doanh nghiệp cần phát triển lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao hơn hoặc đạt hiệu suất sản xuất tốt hơn.

Hình 2 1: Mô hình áp lực cạnh tranh

Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1990) cho thấy rằng sự cạnh tranh giữa các công ty dẫn đến cuộc chiến về giá cả, ưu đãi và chi phí quảng cáo Các công ty cần liên tục đổi mới để tạo ra rào cản thị trường lớn, hạn chế sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới Sản phẩm thay thế cũng gia tăng áp lực cạnh tranh, khiến nhiều ngành nghề có thể biến mất khi có sản phẩm mới xuất hiện Để duy trì giá cả ổn định, các công ty cần xây dựng hệ thống phân phối và bán lẻ mạnh mẽ, điều này hạn chế khả năng tăng giá tùy tiện Ngoài ra, các nhà cung cấp nguyên vật liệu cũng có vai trò quan trọng trong việc bình ổn giá cả Mô hình này được hình dung như một khối tứ diện với bốn đỉnh chính.

DN bao gồm chiến lược, cơ cấu và năng lực cạnh tranh, cùng với các yếu tố cung và cầu, cũng như các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến khối tứ diện là Chính phủ và các yếu tố bên ngoài (cơ hội), trong khi hình tứ diện phản ánh tiềm năng lợi nhuận của một ngành.

Các nghiên cứu tình huống liên quan

2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Shpak và cộng sự (2019) đã tiến hành đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông qua một nghiên cứu trường hợp, chỉ ra rằng các khuôn khổ hiện tại thường cung cấp cách tiếp cận hời hợt trong việc đánh giá này Mục tiêu của bài viết là xây dựng mô hình đánh giá khả năng cạnh tranh của dầu hướng dương đóng gói, xem xét cả yếu tố định lượng và định tính Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích lý thuyết, thực nghiệm, định tính và định lượng để làm rõ khái niệm “đánh giá khả năng cạnh tranh” và các phương pháp phân tích liên quan Phân tích thực nghiệm tập trung vào dữ liệu xuất khẩu dầu hướng dương, trong khi phân tích định tính xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh Sử dụng công cụ Logic mờ, bài viết đã phân tích tác động của các yếu tố phức tạp đến mức độ cạnh tranh của một thương hiệu dầu cụ thể Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc cho các nhà quản lý trong việc tối ưu hóa nguồn lực nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm Khung nghiên cứu có thể áp dụng cho nhiều loại sản phẩm khác nhau, giúp hiểu rõ hơn về tiềm năng nâng cao khả năng cạnh tranh.

Nghiên cứu của Jaya và cộng sự (2020) phân tích tác động của chất lượng nguồn nhân lực, hiệu suất sản phẩm và văn hóa địa phương đến khả năng cạnh tranh và phúc lợi của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Denpasar, Bali, Indonesia Tham gia nghiên cứu có 126 chủ doanh nghiệp, dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn và bảng hỏi Kết quả cho thấy chất lượng nguồn nhân lực, hiệu suất sản phẩm và văn hóa địa phương đều có ảnh hưởng tích cực đến khả năng cạnh tranh Đồng thời, năng lực cạnh tranh cũng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ Nghiên cứu khẳng định rằng hiệu suất sản phẩm và khả năng cạnh tranh đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa chất lượng nguồn nhân lực và phúc lợi.

Nghiên cứu của Sudirjo (2023) tập trung vào chiến lược tiếp thị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường toàn cầu, nơi mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và năng động Sự phát triển công nghệ, toàn cầu hóa và truy cập internet đã làm thay đổi mô hình tiêu dùng, mở ra cả cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong việc tiếp thị sản phẩm quốc tế Trong bối cảnh này, các công ty cần áp dụng các chiến lược tiếp thị hiệu quả để tăng cường khả năng cạnh tranh Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, thu thập dữ liệu thông qua việc lắng nghe và ghi lại thông tin quan trọng, từ đó phân tích dữ liệu để rút ra kết luận Kết quả cho thấy thị trường toàn cầu không chỉ mang lại cơ hội lớn mà còn đặt ra những thách thức phức tạp, yêu cầu các công ty phải có chiến lược tiếp thị phù hợp để thành công.

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Lương Ngọc Hiếu, Trần Lê Trà My, Nguyễn Thái Hà (2021) đã nghiên cứu về việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam Sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) đã đóng góp lớn vào việc đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn cầu Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều áp dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động kinh doanh, tạo ra nhiều cơ hội và lợi ích Đặc biệt, trong thời gian diễn ra đại dịch COVID-19, TMĐT tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và trở thành phương thức giao dịch chính của nhiều cá nhân.

DN lựa chọn trong giai đoạn đó Để bắt kịp xu hướng phát triển hiện nay đòi hỏi các

Doanh nghiệp cần tích cực áp dụng thương mại điện tử (TMĐT) vào quy trình sản xuất kinh doanh Mặc dù khái niệm TMĐT ở Việt Nam còn khá mới mẻ, nhưng việc phát triển lĩnh vực này vẫn gặp nhiều thách thức Cần thực hiện nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các quy luật vận động và phát triển của TMĐT, từ đó thiết lập các giải pháp chiến lược hiệu quả cho sự phát triển TMĐT trong kinh doanh.

Nguyễn Thị Phượng (2023) đã nghiên cứu về “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ nội địa” Thị trường bán lẻ trong nước hiện nay đang thu hút nhiều nhà đầu tư quốc tế thông qua các hình thức góp vốn, mua bán và sáp nhập.

Sự gia tăng của các doanh nghiệp nước ngoài đã dẫn đến nhiều thay đổi trong cơ cấu ngành bán lẻ tại Việt Nam, ảnh hưởng không nhỏ đến thị phần của các doanh nghiệp bán lẻ nội địa Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp bán lẻ trong nước trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19, nhằm giữ vững thị phần Để đổi mới sản xuất và tạo ra sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn, Nhà nước cần đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp Điều này sẽ giúp thị trường bán lẻ trong nước phục hồi nhanh chóng và phát triển bền vững Đồng thời, các doanh nghiệp nội địa cũng cần tận dụng lợi thế cạnh tranh và đào tạo kỹ năng chuyên môn cho nhân sự để nâng cao khả năng cạnh tranh so với doanh nghiệp quốc tế.

Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu trước

Tác giả Đề tài Kết quả nghiên cứu

Shpak và cộng sự (2019) Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm: Phân tích nghiên cứu trường hợp

Năng lực tài chính; Đại lý, phân phối, Marketing; Uy tín, thương hiệu, kinh nghiệm; Năng lực tổ chức dịch vụ

Nâng cao khả năng cạnh tranh và phúc lợi thông qua chất lượng nguồn nhân lực, văn hóa địa phương và hiệu suất sản phẩm

Chất lượng nguồn nhân lực, hiệu suất sản phẩm và văn hóa địa phương

Sudirjo (2023) Nghiên cứu chiến lược tiếp thị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường toàn cầu

Nghiên cứu chỉ ra rằng thị trường toàn cầu mở ra nhiều cơ hội cho các công ty, giúp họ đạt được sự tăng trưởng và thành công trên phạm vi quốc tế.

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN kinh doanh về TMĐT ở VN

Năng lực tài chính; Đại lý, phân phối, Marketing; Uy tín, thương hiệu, kinh nghiệm; Năng lực tổ chức dịch vụ; Nguồn nhân lực; Thâm nhập thị trường

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của DN bán lẻ nội địa

Nhà nước cần triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn sau đại dịch COVID-19, nhằm thúc đẩy sự phục hồi nhanh chóng và phát triển bền vững cho thị trường bán lẻ trong nước.

(Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2024)

Bài viết này tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời dựa vào lý thuyết nền để thảo luận nhóm với 10 lãnh đạo, nhà quản lý và nhân viên phòng kế hoạch kinh doanh Mục tiêu là thu thập ý kiến từ các đối tượng này nhằm điều chỉnh thang đo và biến quan sát cho phù hợp với sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam.

Năng lực tài chính của doanh nghiệp phản ánh khả năng và tiềm lực tài chính để đáp ứng hoạt động kinh doanh, bao gồm khả năng huy động vốn khi cần thiết và khả năng thanh toán nợ Hệ thống đại lý và kênh phân phối đóng vai trò quan trọng trong việc đưa sản phẩm, dịch vụ đến gần khách hàng, đồng thời thể hiện khả năng thích ứng của doanh nghiệp với biến động môi trường.

Uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp được phản ánh qua sự tín nhiệm trên thị trường từ đối tác, khách hàng và người lao động, cũng như thời gian hoạt động của doanh nghiệp Kinh nghiệm trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ cũng như các hoạt động xã hội mà doanh nghiệp thực hiện cho cộng đồng là những yếu tố quan trọng thể hiện giá trị và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội.

Năng lực tổ chức dịch vụ của doanh nghiệp được thể hiện qua khả năng, thái độ và cách phục vụ của nhân viên đối với khách hàng Trình độ chuyên môn của nhân viên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ khách hàng hiệu quả Hơn nữa, niềm tin mà nhân viên tạo ra cho khách hàng là yếu tố quyết định trong việc xây dựng mối quan hệ lâu dài và bền vững.

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng phản ánh trình độ chuyên môn của nhân viên trong việc tư vấn sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng Đội ngũ nhân viên cần có sự am hiểu sâu sắc về sản phẩm, đồng thời được tham gia đào tạo chuyên nghiệp để nâng cao kỹ năng và kiến thức trong lĩnh vực này.

Năng lực thâm nhập thị trường thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt với môi trường kinh doanh và ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động của doanh nghiệp Hệ thống tổ chức của doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, giúp tăng cường khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhanh chóng với thay đổi của thị trường.

Bảng 2 2: Mã hóa thang đo

Mã hoá Chỉ tiêu Nguồn

NNTC1 Vietlott có tiềm lực tài chính mạnh Nguyễn Thị Phượng

NNTC2 Khả năng huy động vốn tốt

NNTC3 Khả năng thanh toán tốt

2 Đại lý, phân phối, Marketing

DLPPM1 Vietlott có nhiều đại lý

Khung phân tích

THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG

Phương pháp nghiên cứu

Hình 3 1: Quy trình nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả đề xuất)

Trong giai đoạn 1, tác giả đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 5 lãnh đạo tại Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh hiện tại của công ty và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm năng lực cạnh tranh.

Trong giai đoạn 2, tác giả tiến hành thảo luận nhóm tập trung với 10 lãnh đạo, nhà quản lý và nhân viên phòng kế hoạch kinh doanh nhằm thu thập ý kiến để điều chỉnh thang đo và biến quan sát, đảm bảo phù hợp với bối cảnh nghiên cứu.

Giai đoạn 3 của nghiên cứu bao gồm việc tiến hành khảo sát đối với lãnh đạo và nhân viên tại Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam Mục tiêu của khảo sát là đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh (NLCT) của sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán mà công ty cung cấp.

3.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

3.1.2.1 Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo xác định nguyên làm giảm NLCT sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam

Tác giả đã thực hiện phỏng vấn 5 lãnh đạo tại Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam để tìm hiểu nguyên nhân khiến công ty chưa thâm nhập được thị trường, với thị phần hiện chỉ đạt 4% - 6% Qua đó, bài viết xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của công ty.

Lãnh đạo tại Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam có hơn 8 năm kinh nghiệm, với kiến thức sâu rộng về lĩnh vực xổ số và đặc biệt là sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán.

Hình thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp, mặt đối mặt

3.1.2.2 Thảo luận nhóm với lãnh đạo, quản lý, nhân viên phòng kế hoạch kinh doanh điều chỉnh thang đo, bảng câu hỏi khảo sát

Tác giả đã tổ chức một buổi thảo luận nhóm với 10 người, bao gồm lãnh đạo, quản lý và nhân viên phòng kế hoạch kinh doanh, nhằm điều chỉnh thang đo và bảng câu hỏi khảo sát Mục tiêu là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán.

Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam hướng đến việc điều chỉnh thang đo và biến quan sát để phù hợp hơn với thực tiễn và bối cảnh nghiên cứu của mình.

Lãnh đạo, quản lý có thâm niên công tác tại Công ty > 8 năm

Nhân viên phòng kế hoạch kinh doanh am hiểu về NLCT của Công ty

Thời gian thực hiện: 1 tháng

3.1.2.3 Thu thập dữ liệu định lượng thông qua khảo sát đồng loạt lãnh đạo, quản lý, nhân viên đang làm việc tại Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam

Tác giả đã hoàn thiện thang đo và bảng câu hỏi để tiến hành khảo sát trên một mẫu lớn, nhằm đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán tại Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh (NLCT) của sản phẩm.

Hình thức khảo sát: Gửi bảng câu hỏi khảo sát qua: Mail, Zalo, Viber

Thời gian khảo sát dự kiến: 2 tháng (60 ngày)

Phân tích dữ liệu bằng Excel, SPSS 20.0

Tiến hành phân tích thống kê mô tả, tính Mean

3.1.2.4 Thu thập dữ liệu về năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam

Bài viết phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán Vietlott dựa trên 6 yếu tố chính: năng lực tài chính, đại lý và phân phối, uy tín thương hiệu, năng lực tổ chức dịch vụ, nguồn nhân lực, và khả năng thâm nhập thị trường Dữ liệu được thu thập từ Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam trong 3 năm qua, cung cấp cái nhìn toàn diện về vị thế cạnh tranh của Vietlott trong ngành xổ số.

Từ năm 2021 đến 2023, tác giả đã áp dụng phương pháp tổng hợp, so sánh và đánh giá để phân tích sự biến động tăng giảm các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam.

3.1.3 Phương pháp xử lý dữ liệu

Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam được đánh giá thông qua thang Likert 5 bậc, với các mức độ hài lòng từ "Rất không đồng ý" đến "Hoàn toàn đồng ý" Tổng hợp điểm số bình quân sẽ phản ánh rõ ràng năng lực cạnh tranh của sản phẩm, cung cấp cái nhìn tổng quan về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ xổ số này.

Dữ liệu thứ cấp được sử dụng để so sánh, đánh giá và phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam trong các năm 2021, 2022 và 2023.

3.2 Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam 3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Vietlott, tên thương mại của Công ty TNHH MTV Xổ số điện toán Việt Nam, được thành lập vào năm 2011 theo Quyết định số 1109/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, và hoạt động dưới sự quản lý của Bộ Tài chính theo Quyết định số 2933/QĐ-BTC Công ty chuyên cung cấp các sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán và các trò chơi giải trí có thưởng trên toàn quốc, tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành Cơ cấu tổ chức của Vietlott được thiết kế theo hướng tinh gọn và hiệu quả.

Công ty TNHH MTV Xổ số điện toán Việt Nam (Vietlott) là doanh nghiệp nhà nước 100% vốn, chuyên cung cấp các sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán trên toàn quốc Vietlott cũng mở rộng kinh doanh các loại hình xổ số tự chọn khác theo chỉ đạo của Bộ Tài chính.

Vietlott đã ký hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với Tập đoàn Berjaya nhằm triển khai dự án xổ số tự chọn số điện toán trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Mục tiêu dự án: Kinh doanh các sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán theo quy định của pháp luật

Dự án có quy mô kinh doanh toàn quốc, áp dụng nhiều phương thức phân phối như qua thiết bị đầu cuối, điện thoại, Internet và các hình thức khác tuân thủ quy định pháp luật.

Vietlott đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới kinh doanh xổ số tự chọn tại Việt Nam, bổ sung thêm loại hình xổ số hiện đại bên cạnh xổ số truyền thống Hơn nữa, Vietlott góp phần lành mạnh hóa hoạt động giải trí có thưởng, hạn chế các hình thức xổ số vi phạm pháp luật.

Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của Vietlott được sử dụng để đóng góp vào ngân sách địa phương, nhằm đầu tư cho các lĩnh vực an sinh xã hội, y tế và giáo dục, từ đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân trong khu vực.

Vietlott là doanh nghiệp xổ số duy nhất tại Việt Nam tham gia Hiệp hội Xổ số thế giới (WLA) và Hiệp hội Xổ số châu Á - Thái Bình Dương (ALPA) Công ty cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định của WLA và ALPA, đảm bảo quản lý hoạt động kinh doanh hiệu quả, đồng thời khuyến khích việc chơi xổ số an toàn và có trách nhiệm.

Tên Công ty: CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XỔ SỐ ĐIỆN TOÁN VIỆT NAM

Tên quốc tế: VIETNAM LOTTERY ONE MEMBER COMPANY LIMITED

Mã số thuế: 0105993965 Địa chỉ: Tầng 15 Tòa nhà CornerStone, Số 16 Phan Chu Trinh, Phường Phan Chu Trinh, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Việt Nam

Người đại diện: Nguyễn Thanh Đạm Điện thoại: 02862686818

Công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài nhà nước, hiện đang hoạt động và đã được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh, được quản lý bởi Cục thuế Doanh nghiệp lớn Tầm nhìn của công ty là trở thành doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực trò chơi giải trí.

Sứ mệnh: “Phát triển thị trường trò chơi giải trí có thưởng Việt Nam theo hướng hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm”

Giá trị cốt lõi của chúng tôi bao gồm sự trung thực trong suy nghĩ và hành động, trách nhiệm trong quyết định và thực thi nhiệm vụ, nhằm tạo ra cơ hội cải thiện cho cộng đồng Chúng tôi luôn tôn trọng bản thân, đồng nghiệp và khách hàng.

Hình 3 2: Sơ đồ tổ chức của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam

(Nguồn: Phòng tổ chức nhân sự)

Vietlott là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, với Nhà nước là chủ sở hữu Cơ cấu tổ chức của Vietlott bao gồm Chủ tịch Công ty, Ban Tổng Giám đốc, Kiểm soát viên và Kế toán trưởng.

Tại trụ sở chính, có 08 phòng chức năng quan trọng bao gồm: Phòng Kinh doanh, Phòng Công nghệ thông tin, Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Tổ chức nhân sự, Phòng Quản trị rủi ro, Phòng Trả thưởng và Dịch vụ khách hàng, Phòng Quản lý Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh, và Văn phòng.

Chúng tôi có 6 chi nhánh phục vụ khách hàng trên toàn quốc, bao gồm: Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, Chi nhánh Cần Thơ, Chi nhánh Bà Rịa - Vũng Tàu, Chi nhánh Khánh Hòa, Chi nhánh Hải Phòng và Chi nhánh Nghệ An.

3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò

Vietlott hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xổ số tự chọn số điện toán trên toàn quốc, sử dụng các kênh phân phối như máy đầu cuối, mạng viễn thông và internet Bên cạnh đó, công ty còn cung cấp các trò chơi giải trí có thưởng khác theo quy định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của mình.

Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công

3.3.1 Thực trạng năng lực tài chính

Vietlott là công ty xổ số 100% vốn Nhà nước, với tổng vốn điều lệ 500 tỷ đồng, cho thấy năng lực tài chính mạnh mẽ Điều này đã ảnh hưởng tích cực đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty, đặc biệt là trong lĩnh vực vé số truyền thống và xổ số kiến thiết Việt Nam Sự tăng trưởng mạnh mẽ của vốn chủ sở hữu trong ngành đã củng cố niềm tin của khách hàng, giúp vé số truyền thống chiếm hơn 90% thị phần khách hàng hiện nay.

Bảng 3 1: Tình hình kinh doanh của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam qua 3 năm 2021 – 2023 ĐVT: Tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo KQKD của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam 3 năm 2021, 2022,

2023 và phân tích của tác giả)

Doanh thu của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam (Vietlott) trong năm 2021 đạt 4.063 tỷ đồng, tăng lên 4.958 tỷ đồng vào năm 2022, ghi nhận mức tăng 22,03% so với năm trước Tuy nhiên, vào năm 2023, doanh thu chỉ tăng nhẹ lên 5.085 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng giảm xuống còn 2,56% so với năm 2022 Điều này cho thấy tốc độ tăng trưởng doanh thu của Vietlott đang có dấu hiệu chững lại, phản ánh sự thay đổi trong hoạt động kinh doanh của công ty.

Chi phí của Vietlott đã có sự gia tăng đáng kể trong những năm gần đây Cụ thể, năm 2021, chi phí đạt 3.865 tỷ đồng, và năm 2022, con số này tăng lên 4.698 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 21,55% (833 tỷ đồng) Đến năm 2023, chi phí tiếp tục tăng lên 4.782 tỷ đồng, với mức tăng 1,79% (84 tỷ đồng) so với năm 2022.

LNTT của Vietlott đã có sự tăng trưởng đáng kể trong các năm qua, với 198 tỷ đồng vào năm 2021, tăng lên 260 tỷ đồng vào năm 2022, tương ứng với mức tăng 31,31% Năm 2023, LNTT tiếp tục đạt 303 tỷ đồng, tăng 16,54% so với năm trước, mặc dù tỷ lệ tăng doanh thu chỉ còn 2,56% Điều này cho thấy Vietlott đã quản lý chi phí hiệu quả, góp phần vào sự tăng trưởng bền vững của LNTT.

Trong năm 2022, Vietlott đã nộp 1.714 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước (NSNN), tăng 333 tỷ đồng so với năm 2021, tương ứng với tỷ lệ tăng 24,11% Đến năm 2023, số tiền Vietlott nộp vào NSNN đạt 1.728 tỷ đồng, tăng 14 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,82% so với năm trước.

Bảng 3 2: Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam qua 3 năm 2021 – 2023 ĐVT: %

Chỉ số thanh toán hiện hành 162,01% 173,76% 171,45% 11,74% 7,25 (2,31) (1,33) Chỉ số thanh toán tiền mặt 93,33% 50,16% 48,83% (43,17) (46,26) (1,33) (2,65) Chỉ số thanh toán nhanh 161,77% 173,45% 171,17% 11,68 7,22 (2,27) (1,31) ROA 12,71% 17,84% 18,94% 5,13 40,36 1,10 6,17 ROE 29,27% 39,92% 43,84% 10,65 36,39 3,92 9,82

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam 3 năm 2021,

2022, 2023 và phân tích của tác giả)

Chỉ số thanh toán hiện hành của Vietlott trong năm 2021 đạt 162,01%, tăng lên 173,76% vào năm 2022, tương ứng với mức tăng 7,25% Tuy nhiên, đến năm 2023, chỉ số này giảm còn 171,45%, giảm 1,33% so với năm 2022 Những con số này cho thấy khả năng thanh toán và đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn của Vietlott rất tốt.

Chỉ số thanh toán tiền mặt của Vietlott trong giai đoạn 2021-2023 đạt 93,33%, 50,16% và 48,83%, cho thấy công ty sở hữu tiềm lực tài chính mạnh mẽ và khả năng thanh toán tốt.

Chỉ số thanh toán nhanh của Vietlott trong 3 năm qua lần lượt đạt 161,77%, 173,45% và 171,17% Với vốn điều lệ 500 tỷ đồng, Vietlott chưa tham gia nhiều vào hoạt động đầu tư Hầu hết khách hàng mua vé số đều thanh toán ngay, điều này giúp Vietlott duy trì tiềm lực tài chính vững mạnh và không có nhiều khoản nợ phải thu.

ROA của Vietlott trong giai đoạn 2021 – 2023 lần lượt đạt 12,71%, 17,84% và 18,94% Điều này cho thấy Vietlott đã sử dụng tài sản của mình một cách hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, góp phần tăng tỷ suất sinh lời ROA và ROE.

Công ty đang gặp khó khăn về năng lực tài chính, dẫn đến việc đầu tư công nghệ hiện đại vào hoạt động kinh doanh chưa hiệu quả Hiện tại, công ty vẫn sử dụng phần mềm kế toán từ năm 2002, trong khi chi phí cho một phần mềm kế toán chuyên biệt cho ngành xổ số kiến thiết lên tới khoảng 400 triệu đồng, vượt quá khả năng tài chính hiện tại của công ty.

Biểu đồ 3 1: Tổng tài sản của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam qua 3 năm 2021 – 2023

(Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam 3 năm 2021,

2022, 2023 và phân tích của tác giả)

Tổng tài sản của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam trong giai đoạn 2021-2023 cho thấy sự biến động không đồng nhất Cụ thể, năm 2021, tổng tài sản đạt 1.368 tỷ đồng, nhưng đến năm 2022, con số này giảm xuống còn 1.166 tỷ đồng, tương ứng với mức giảm 202 tỷ đồng và tỷ lệ giảm 14,77% so với năm trước.

Năm 2023, Vietlott ghi nhận tổng doanh thu đạt 1.278 tỷ đồng, tăng 112 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 9,61% so với năm 2022 Mặc dù có nguồn vốn điều lệ ban đầu là 500 tỷ đồng, Vietlott cần tối đa hóa lợi nhuận và đa dạng hóa hoạt động kinh doanh Để thực hiện điều này, việc tăng thêm vốn điều lệ là cần thiết, nhằm tăng tổng tài sản của Vietlott và tạo nguồn lực cho việc mở rộng kinh doanh trong tương lai.

Bảng 3 3: Kết quả đánh giá về năng lực tài chính

Mã hóa Biến quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn

NNTC1 Vietlott có tiềm lực tài chính mạnh 4,20 0,761

NNTC2 Khả năng huy động vốn tốt 4,50 0,572

NNTC3 Khả năng thanh toán tốt 4,10 0,712

(Nguồn: Phụ lục kết quả khảo sát)

Khảo sát cho thấy lãnh đạo và nhà quản lý của Vietlott đánh giá cao năng lực tài chính của công ty, với điểm số 4,20, khẳng định rằng “Vietlott có tiềm lực tài chính mạnh”.

Vietlott, với điểm số 4,50 về khả năng huy động vốn và 4,10 về khả năng thanh toán, cho thấy công ty có nguồn vốn dồi dào nhờ 100% vốn Nhà nước Khả năng huy động vốn của Vietlott rất mạnh mẽ, trong khi khả năng thanh toán cao do doanh thu từ việc bán sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán được thu ngay từ người mua, giúp công ty hạn chế công nợ.

3.3.2 Thực trạng đại lý, phân phối và marketing

Vietlott là doanh nghiệp chuyên cung cấp các sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán trên toàn quốc theo quy định pháp luật Lợi nhuận từ việc bán vé số được nộp vào ngân sách địa phương để hỗ trợ phát triển y tế, giáo dục và an sinh xã hội Hình thức này không chỉ giúp huy động tiền nhàn rỗi của người dân mà còn góp phần vào việc đầu tư và phát triển đất nước.

Hình 3 3: Sơ đồ kênh phân phối của Vietlott

(Nguồn: Công ty Xổ số điện toán Việt Nam)

Các sản phẩm xổ số tự chọn của Vietlott được phân phối qua 2 kênh là thiết

Đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam (Vietlott)

Nhờ sự nhạy bén và nắm bắt tốt xu hướng thị trường, BLĐ Vietlott đã xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả, mở rộng thị trường và phát hành sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán, giúp Vietlott chiếm ưu thế cạnh tranh và nâng cao doanh số HĐKD của Vietlott ngày càng phát triển, đóng góp đáng kể cho ngân sách địa phương, đầu tư vào các lĩnh vực xã hội và mang lại cuộc sống ổn định cho người dân.

Vietlott thường xuyên khảo sát thị trường để nắm bắt nhu cầu khách hàng và thông tin đối thủ cạnh tranh, từ đó xác định thị trường mục tiêu nhằm nâng cao doanh thu và chiếm ưu thế cạnh tranh Sự gia tăng số lượng khách hàng trong những năm gần đây cho thấy niềm tin của họ vào sản phẩm xổ số tự chọn số điện toán của công ty Bên cạnh đó, Vietlott cũng chú trọng đến các chính sách hậu mãi để tạo dựng sự tin tưởng và khẳng định vị thế trên thị trường.

Vietlott xây dựng mối quan hệ thân thiện với các đại lý và lãnh đạo địa phương để tăng cường sự tin tưởng và thuận lợi trong kinh doanh Công ty tạo ra môi trường làm việc thoải mái, hòa đồng và vui vẻ nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao và giữ chân nhân viên giỏi lâu dài Ngoài ra, Vietlott tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng và kiến thức chuyên môn cho cán bộ nhân viên để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Vietlott chú trọng vào việc khai thác hiệu quả thị trường trọng điểm và đầu tư phát triển Đồng thời, công ty cũng chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ nhân viên (CBNV) bằng cách khen thưởng những nhân viên xuất sắc tại hệ thống KPP, tạo cơ hội giao lưu giữa CBNV và hệ thống đại lý, cũng như thăm hỏi, động viên CBNV trong những lúc khó khăn trong công việc và cuộc sống.

Vietlott đã xuất sắc hoàn thành các chỉ tiêu và quy định mà Nhà nước đề ra, góp phần bảo toàn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu từ lợi nhuận sau thuế Thành công này là kết quả của sự nỗ lực không ngừng của tập thể lãnh đạo, cán bộ và nhân viên trong công ty.

Lựa chọn và ký kết hợp đồng BCC với Tập đoàn Berjaya để triển khai kinh doanh xổ số điện toán tại Việt Nam, đồng thời xây dựng hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Phối hợp với Berjaya để nghiên cứu và phát hành sản phẩm xổ số tự chọn điện toán, đã nhận được sự đón nhận tích cực từ thị trường Hoàn tất việc lựa chọn đại lý và phát triển hệ thống phân phối tại 12 thị trường với gần 2.500 điểm bán hàng, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Đảm bảo hoạt động của hệ thống kỹ thuật, xây dựng trung tâm quay số mở thưởng, trung tâm chăm sóc khách hàng và đào tạo nhân viên bán hàng.

Thực hiện đúng quy định của Chính phủ theo BCC, Công ty cần hoàn thiện mô hình tổ chức và xây dựng hệ thống văn bản quản lý nội bộ hiệu quả Để đạt được mục tiêu chung, việc tạo dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp và đoàn kết là rất quan trọng Đồng thời, xây dựng văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ với đội ngũ cán bộ nhân viên trẻ, nhiệt huyết và năng động sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của Công ty.

Vietlott hoạt động trên toàn quốc, cho phép khai thác tiềm năng thị trường xổ số ở mọi tỉnh, thành phố Sự hiện diện rộng rãi này giúp Vietlott tiếp cận đa dạng phân khúc thị trường, bao gồm các yếu tố địa lý, tầng lớp xã hội và phương thức tiêu dùng khác nhau.

Hệ thống công nghệ thông tin và trang thiết bị kỹ thuật cho hoạt động kinh doanh xổ số điện toán được cung cấp bởi các nhà sản xuất hàng đầu thế giới, đạt tiêu chuẩn G7 Các thiết bị quay số mở thưởng đã được giám định và lắp đặt bởi đội ngũ chuyên gia quốc tế có kinh nghiệm dày dạn.

Vietlott là thành viên của ba Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực Bắc, Trung, Nam, đồng thời là thành viên chính thức của Hiệp hội Xổ số Châu Á Thái Bình Dương (APLA) và Hiệp hội xổ số Thế giới (WLA).

Vietlott đã chính thức hoạt động kinh doanh từ năm 2012, và so với các công ty xổ số kiến thiết khác trên toàn quốc, Vietlott là một công ty trẻ, còn thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Từ năm 2012 đến nay, doanh thu của Vietlott đã có sự tăng trưởng đáng kể Để tiếp tục nâng cao doanh thu trong tương lai, Vietlott cần cải cách chính sách quản lý, tăng giá trị giải thưởng và khuyến khích cán bộ khảo sát thị trường thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ tại các Phòng ban nghiệp vụ và trưởng/phó các KPP còn nhiều hạn chế, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm mà thiếu tính chuyên môn Việc này dẫn đến sự thiếu hụt trong chiến lược phát triển lâu dài Hơn nữa, trình độ hiểu biết về công nghệ thông tin của nhân viên cũng còn hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu công việc hiện tại.

Năng lực tài chính của Vietlott hạn chế với quy mô vốn nhỏ, điều này tạo ra điểm yếu trong khả năng cạnh tranh của công ty so với các đối thủ khác.

Chiến lược kinh doanh của ban lãnh đạo Vietlott hiện chưa phù hợp với thực tế, dẫn đến việc ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực cạnh tranh của công ty Hơn nữa, hoạt động kiểm tra và đánh giá năng lực chuyên môn trong quá trình hoạt động cũng không được công ty quan tâm và thực hiện một cách hiệu quả.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Ngày đăng: 29/03/2025, 17:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. 1: Mô hình áp lực cạnh tranh - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Hình 2. 1: Mô hình áp lực cạnh tranh (Trang 31)
Bảng 2. 2: Mã hóa thang đo - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 2. 2: Mã hóa thang đo (Trang 37)
Hình 3. 1: Quy trình nghiên cứu - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Hình 3. 1: Quy trình nghiên cứu (Trang 39)
Hình 3. 2: Sơ đồ tổ chức của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Hình 3. 2: Sơ đồ tổ chức của Công ty TNHH MTV Xổ Số Điện Toán Việt Nam (Trang 44)
Bảng 3. 1: Tình hình kinh doanh của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 1: Tình hình kinh doanh của Công ty Xổ số điện toán Việt Nam (Trang 46)
Hình 3. 3: Sơ đồ kênh phân phối của Vietlott - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Hình 3. 3: Sơ đồ kênh phân phối của Vietlott (Trang 49)
Bảng 3. 3: Kết quả đánh giá về năng lực tài chính - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 3: Kết quả đánh giá về năng lực tài chính (Trang 49)
Bảng 3. 5: Tình hình thực hiện quảng cáo của Công ty Xổ số điện toán Việt - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 5: Tình hình thực hiện quảng cáo của Công ty Xổ số điện toán Việt (Trang 52)
Bảng 3. 6: Kết quả đánh giá về đại lý, phân phối, Marketing - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 6: Kết quả đánh giá về đại lý, phân phối, Marketing (Trang 52)
Hình 3. 4: Logo của Vietlott - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Hình 3. 4: Logo của Vietlott (Trang 54)
Bảng 3. 7: Tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của Công ty Xổ số điện toán - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 7: Tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của Công ty Xổ số điện toán (Trang 55)
Bảng 3. 10: Kết quả đánh giá về năng lực tổ chức dịch vụ - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 10: Kết quả đánh giá về năng lực tổ chức dịch vụ (Trang 60)
Bảng 3. 11: Chương trình đào tạo và kinh phí đào tạo tại Công ty TNHH MTV - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 11: Chương trình đào tạo và kinh phí đào tạo tại Công ty TNHH MTV (Trang 61)
Bảng 3. 12: Kết quả đánh giá về nguồn nhân lực - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 12: Kết quả đánh giá về nguồn nhân lực (Trang 62)
Bảng 3. 13: Kết quả đánh giá về năng lực thâm nhập thị trường - Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xổ số tự chọn số Điện toán của công ty trách nhiệm xổ số Điện toán việt nam
Bảng 3. 13: Kết quả đánh giá về năng lực thâm nhập thị trường (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w