1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài sự ra Đời triết học mác tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử phát triển triết học

33 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự ra đời triết học Mác tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử phát triển triết học
Người hướng dẫn ThS. Trần Tiến
Trường học Trường Đại Học Lạc Hồng
Chuyên ngành Triết học Mác - Lênin
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 57,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN (5)
  • CHƯƠNG 2: NỘI DUNG (7)
    • 1. Khái luận lịch sử về triết học (7)
      • 1.1. Triết học (7)
      • 1.2. Phân kì lịch sử triết học (8)
      • 1.3. Vấn đề cơ bản của triết học (10)
    • 2. Sự ra đời của triết học Mác (11)
      • 2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội (11)
      • 2.2. Tiền đề khoa học-tự nhiên (12)
    • 3. Quá trình hình thành và phát triển triết học Mác (14)
      • 3.1 Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và (14)
      • 3.2. Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học (17)
      • 3.3. Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện (18)
      • 3.4. V.I.Lênin phát triển triết học Mác (19)
    • 4. Nội dung triết học Mác (21)
    • 5. Cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học (24)
  • CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ (30)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

Sự ra đời của triết học Mác không phải là một hiện tượng biệt lập, tách rờilịch sử triết học nhân loại, mà là kết quả biện chứng của toàn bộ quá trình đó,Chính Ph.Ăngghen, trong tác phẩm

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tiền đề lý luận của triết học Mác thể hiện quá trình tiếp nhận có tính phê phán các giá trị nổi bật từ triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.

Sự ra đời của triết học Mác không tách rời khỏi lịch sử triết học nhân loại, mà là kết quả biện chứng của quá trình phát triển này Ph Ăngghen trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên" cho rằng triết học Hy Lạp cổ đại đã chứa đựng các hình thức thế giới quan sau này Triết học Mác, với tư cách là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, là kết quả của sự phát triển triết học duy vật trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học.

Tiền đề lý luận cho sự ra đời của triết học Mác chủ yếu xuất phát từ triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của Hêghen và Phoiơbắc.

Triết học duy tâm khách quan của Hêghen được coi là đỉnh cao của triết học cổ điển Đức, nơi ông hệ thống hóa tư tưởng biện chứng duy tâm và phát triển các quy luật cùng phạm trù của phép biện chứng từ "ý niệm tuyệt đối" Mặc dù C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán tính duy tâm và thần bí trong triết học của Hêghen, nhưng họ cũng ghi nhận giá trị của tư tưởng biện chứng mà ông đề xuất.

Hêghen là người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống về các hình thái vận động của phép biện chứng, mặc dù nó có tính chất thần bí Ông đã "lộn ngược" phép biện chứng, và khi được dựng lại, bản chất hợp lý của nó sẽ hiện ra C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng thiên tài của mình để cải tạo phép biện chứng duy tâm thành phép biện chứng duy vật, biến nó thành công cụ nhận thức cho các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người.

Lútích Phoiơbắc là một trong những đại biểu lớn nhất của triết học cổ điển Đức, nổi bật với chủ nghĩa duy vật nhân bản Ông coi con người là đối tượng nghiên cứu chính, phủ nhận Hêghen về bản thể luận và nhận thức luận, đồng thời bác bỏ chủ nghĩa duy tâm và phép biện chứng duy tâm của ông C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao nhưng cũng phê phán tư duy siêu hình và duy tâm trong lịch sử của Phoiơbắc, qua đó nhận thức rõ ràng đóng góp và hạn chế của ông, từ đó tạo tiền đề cho sự phát triển của thế giới quan duy vật biện chứng.

Trong tiến trình phát triển của triết học, triết học Mác ra đời là kết quả của việc tiếp nhận có phê phán tinh hoa triết học nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng triết học Hy Lạp đã tạo nền tảng cho hầu hết các thế giới quan sau này Sự kế thừa những hạt nhân hợp lý từ lịch sử triết học là cơ sở cho sự phát triển của tất cả các hệ thống triết học, bao gồm cả triết học Mác Bên cạnh đó, từ những giá trị biện chứng trong kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định nền tảng vật chất của sự phát triển lịch sử xã hội, đồng thời sáng tạo ra quan điểm duy vật về lịch sử và dự báo về chủ nghĩa xã hội hiện thực trong tương lai.

NỘI DUNG

Khái luận lịch sử về triết học

Triết học Mác-Lenin là một phần quan trọng của Chủ nghĩa Mác – Lenin, bao gồm Triết học Mác do Mác và Enghen sáng lập, sau đó được Lenin và các nhà mácxít phát triển Xuất hiện vào những năm 40 thế kỷ 19, Triết học Mác gắn liền với các thành tựu khoa học và thực tiễn trong phong trào cách mạng công nhân, đánh dấu một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng và triết học nhân loại Cuộc cách mạng này không chỉ mang tính mới mẻ mà còn kế thừa và tiếp thu những yếu tố tiên tiến từ lịch sử tư tưởng nhân loại.

Triết học Mác là triết học duy vật, nhưng các nhà sáng lập đã vượt qua những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật thế kỷ 18, vốn mang tính máy móc, siêu hình và duy tâm trong việc phân tích hiện tượng xã hội Họ đã tiếp thu phê phán các thành tựu của triết học cổ điển Đức, đặc biệt là phép biện chứng trong hệ thống của Hegel Mặc dù phép biện chứng của Hegel mang tính duy tâm, nhưng các nhà sáng lập Triết học Mác đã cải tạo nó và đặt trên nền tảng duy vật Qua quá trình này, cùng với việc tổng hợp các thành tựu khoa học tự nhiên và thực tiễn đến giữa thế kỷ 19, Mác và Enghen đã phát triển triết học riêng của mình.

Triết học Mác - Lenin, được phát triển bởi Lenin, là một hệ thống triết học duy vật biện chứng triệt để Lenin mong muốn khắc phục những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước Mác Trong triết học này, các quan điểm duy vật về tự nhiên và xã hội cùng với nguyên lý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng được liên kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống lý luận thống nhất.

1.2 Phân kì lịch sử triết học

Giai đoạn 1: Về quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và

Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và lập trường cộng sản chủ nghĩa (1842 - 1844)

Bước đầu hoạt động chính trị - xã hội và khoa học của C.Mác và Ph. Ăngghen.

Khuynh hướng tư tưởng và chính trị của C.Mác trong thời niên thiếu bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường sống, tư tưởng duy lý và chủ nghĩa tự do tôn giáo, cũng như hoạt động chính trị của cha ông và những giáo viên có tư tưởng dân chủ Năm 1837, C.Mác bắt đầu tìm hiểu triết học Hêghen và gia nhập phái Hêghen trẻ Đến năm 1841, ông nhận học vị tiến sỹ triết học với luận án về sự khác biệt giữa triết học tự nhiên của Êpiquya và triết học tự nhiên của Đêmôcrít tại trường Đại học Tổng hợp Iêna.

Trong giai đoạn làm việc tại báo Sông Ranh từ tháng 5 năm 1842 đến tháng 4 năm 1843, C.Mác đã trải qua sự chuyển biến tư tưởng và thế giới quan triết học, thể hiện qua thực tiễn đấu tranh Qua việc nhận thức các mối quan hệ vật chất trong đời sống xã hội, ông đã chú ý đến vai trò của lợi ích kinh tế và sở hữu, đồng thời nhận ra những hạn chế của triết học Hêghen và tính bảo thủ của nhà nước Phổ Đối mặt với các mâu thuẫn xã hội và vấn đề kinh tế, C.Mác đã viết nhiều bài báo như "Nhận xét bản chỉ thị mới nhất về chế độ kiểm duyệt của Phổ" và "Tuyên ngôn triết học của trường phái lịch sử pháp quyền" để bày tỏ quan điểm về tình cảnh khó khăn của quần chúng lao động, bảo vệ lợi ích của người nghèo và đấu tranh cho tự do, dân chủ.

C.Mác đặt cho mình nhiệm vụ tìm những động lực thật sự để biến đổi thế giới bằng cách mạng Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1843, C.Mác nghiên cứu lại mang tính phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen, ông viết Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen để phê phán học thuyết Hêghen về nhà nước và pháp luật (về thực chất tóm tắt những quan niệm duy tâm của Hêghen về xã hội) và qua đó phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen Trong sự đối lập với Hêghen, C.Mác đi tới kết luận, không phải nhà nước quy định xã hội công dân[4], mà ngược lại, xã hội công dân quy định nhà nước Việc làm nổi bật vai trò quyết định của mối quan hệ vật chất đối với sự phát triển của lịch sử đã mở ra con đường khắc phục quan niệm duy tâm của Hêghen về xã hội, làm tăng xu hướng duy vật trong tư tưởng và là điểm xuất phát nhận thức duy vật về lịch sử của C.Mác trong tương lai.

Tháng 9 năm 1841, trong thời gian làm nghĩa vụ quân sự tại Béclinh, Ph.Ăngghen tự học ở các trường đại học và tham gia phái Hêghen trẻ, chịu ảnh hưởng sâu sắc Bản chất đạo Cơ đốc của Phoiơbắc Những tác phẩm của Ph.Ăngghen thời kỳ 1841 - 1842 như Sêlinh nói về Hêghen (1841), Sêlinh- nhà triết học trong Kitô, hoặc việc cải biến đạo lý thế tục thành đạo lý thần thánh

Vào năm 1842, mặc dù vẫn giữ lập trường duy tâm của triết học Hêghen, ông đã nhận ra mâu thuẫn giữa tính cách mạng và tính bảo thủ trong triết học này, đồng thời thấy được sự triệt để hơn trong triết học Phoiơbắc Từ mùa Thu 1842, trong gần hai năm sống tại Mansextơ (Anh), việc nghiên cứu đời sống kinh tế và sự phát triển chính trị của nước Anh, cùng với việc tham gia trực tiếp vào phong trào công nhân mới, đã dẫn đến một bước chuyển biến căn bản trong thế giới quan và lập trường chính trị của ông.

Sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng triết học của C.Mác và Ph.Ăngghen Hai nhà triết học này đã phê phán lập trường dân chủ cách mạng, đồng thời phát triển lập trường cộng sản chủ nghĩa, nhấn mạnh tầm quan trọng của vật chất và thực tiễn trong việc hiểu và thay đổi thế giới Qua đó, họ đã xây dựng nền tảng lý luận cho phong trào công nhân và cách mạng xã hội, khẳng định vai trò của giai cấp công nhân trong việc giải phóng nhân loại khỏi áp bức.

Các tác phẩm "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen" thể hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật và lập trường cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen Trong lời nói đầu, tác giả nêu rõ lập trường của các chính đảng và tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh, đồng thời lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị, làm nổi bật những vấn đề cần thiết trong việc cải cách xã hội.

Giai đoạn 2: Về giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (1844-1848)

Các tác phẩm như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Gia đình thần thánh, Luận cương về Phoiơbắc, Hệ tư tưởng Đức, Sự khốn cùng của triết học và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã thể hiện một cách toàn diện các quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác Những tác phẩm này không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của triết học trong đời sống xã hội mà còn từng bước đề xuất những tư tưởng mới, góp phần định hình tư duy lý luận của thời đại.

Giai đoạn 3: Về giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung, phát triển lý luận triết học (1848-1895).

Các tác phẩm như "Đấu tranh giai cấp ở Pháp", "Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapáctơ", "Cách mạng và phản cách mạng ở Đức", "Tư bản", "Nội chiến ở Pháp", "Phê phán Cương lĩnh Gôta", "Chống Đuyrinh", "Biện chứng của tự nhiên", và "Nguồn gốc và gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước" cùng với "Lútvích Phoiơbắc" đã thể hiện sự bổ sung và phát triển toàn diện những vấn đề triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen, từ đó hình thành nên chủ nghĩa Mác hoàn chỉnh.

1.3 Vấn đề cơ bản của triết học

Vấn đề cốt lõi của triết học xoay quanh mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, cũng như giữa vật chất và ý thức Điều này mở ra hướng nghiên cứu về tác động của các tồn tại đối với bản chất cơ bản của triết học Nó giúp giải thích các hiện tượng vận động, hình thành và phát triển trong cuộc sống con người.

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt :

Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất trong tính chất tác động qua lại.

Câu hỏi về sự ưu tiên giữa các yếu tố và tác động của chúng luôn là chủ đề quan trọng trong nghiên cứu khoa học Việc xác định cái nào có trước, cái nào có sau, cùng với các chứng minh liên quan đến thời điểm xuất hiện và tồn tại, giúp làm rõ mối quan hệ giữa chúng Các yếu tố này không chỉ quyết định lẫn nhau mà còn có thể tạo ra tác động qua lại, do đó cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để đạt được cái nhìn chính xác và toàn diện.

Con người có khả năng nhận thức và hiểu biết về thế giới xung quanh, điều này liên quan đến quá trình vận động và phát triển Việc dự đoán các biến đổi trong thế giới dựa trên những cơ sở nghiên cứu và phân tích cụ thể Qua đó, con người có thể làm chủ và điều khiển môi trường sống của mình, mang lại lợi ích cho việc đáp ứng nhu cầu Tất cả các nghiên cứu đều phải được thực hiện trong tư duy của con người và có tác động đến các yếu tố vật chất tồn tại.

Sự ra đời của triết học Mác

2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bùng nổ ở Tây Âu, đặc biệt là ở Anh, Pháp và một phần Đức, đánh dấu sự vượt qua của thời kỳ phong kiến Sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh tính ưu việt của nó so với các chế độ xã hội khác Anh và Pháp trở thành những quốc gia tư bản hùng mạnh, thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu Châu Âu, đặc biệt là Tây Âu, đã trở thành trung tâm phát triển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, tạo nền tảng cho sự tiến bộ trong mọi mặt của đời sống xã hội.

Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một lực lượng đối lập, đó là giai cấp vô sản hiện đại C.Mác và Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nhấn mạnh rằng những vũ khí mà giai cấp tư sản sử dụng để đánh đổ chế độ phong kiến hiện nay lại quay về chống lại chính họ Giai cấp tư sản không chỉ tạo ra những công cụ sẽ dẫn đến sự diệt vong của mình mà còn sản sinh ra những người công nhân hiện đại, những người vô sản, sẵn sàng sử dụng những vũ khí này chống lại giai cấp tư sản.

Sự ra đời của giai cấp vô sản công nghiệp đã tạo ra mối quan hệ đối lập ngày càng sâu sắc với giai cấp tư sản Mâu thuẫn này thể hiện rõ nét qua sự chênh lệch giữa trình độ phát triển cao và tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất, đối lập với sự chiếm hữu tư nhân trong hệ thống tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.

Trong giai đoạn lịch sử này, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đã phát triển mạnh mẽ, với các cuộc khởi nghĩa nổi bật như cuộc khởi nghĩa công nhân Liông ở Pháp vào năm 1831 và 1884, cùng cuộc khởi nghĩa công nhân dệt Xilêdi ở Đức vào năm 1844 Phong trào Hiến chương ở Anh trong những năm 30 – 40 của thế kỷ XIX đã thu hút sự quan tâm và tham gia của các tri thức và tư sản tiến bộ Cuộc đấu tranh giai cấp đã dẫn đến nhu cầu cần có một lý luận khoa học để hướng dẫn, giúp giai cấp công nhân chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác vì lợi ích của mình Chính từ nhu cầu này, triết học Mác đã ra đời.

Lý luận chủ nghĩa xã hội không tưởng của Xanh Kimông, Phuriê và Ôoen không đáp ứng được yêu cầu và lợi ích của giai cấp vô sản Triết học Mác ra đời như một vũ khí tinh thần cho giai cấp này, trong khi giai cấp vô sản cũng là vũ khí vật chất cho triết học Mác Chỉ triết học Mác mới có khả năng biến chủ nghĩa xã hội không tưởng thành chủ nghĩa xã hội khoa học.

2.2 Tiền đề khoa học-tự nhiên

Giữa thế kỷ XIX, con người đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là vào những năm 40 khi các nhà khoa học như R Maye (Đức), P.P Giulo (Anh), E.Kh Lenxơ (Nga) và L.A Cônđinh (Đan Mạch) nghiên cứu về quá trình chuyển hóa năng lượng R Maye và P.P Giulo đã phát hiện ra định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, khẳng định rằng thế giới vật chất vận động và phát triển thông qua sự chuyển hóa năng lượng từ thấp đến cao Năng lượng không tự nhiên sinh ra hay mất đi mà chỉ chuyển đổi giữa các dạng khác nhau, gắn liền với vật chất và sự vận động Điều này chứng minh rằng thế giới thống nhất ở tính vật chất và nguồn gốc duy nhất của nó là các quá trình vật chất vận động và phát triển.

Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, sinh vật học đã đạt được nhiều thành tựu nghiên cứu quan trọng, trong đó có học thuyết tế bào do Svan và Slâyđen người Đức phát triển Học thuyết này khẳng định rằng tế bào là đơn vị cơ bản cấu thành nên thực vật và động vật, đồng thời chứng minh tính thống nhất của giới tự nhiên hữu cơ Nó phản ánh toàn bộ quá trình lịch sử của sự sống, từ những hình thức đơn giản đến phức tạp, thể hiện bản chất của sự sống như một quá trình phát triển liên tục và mối liên hệ chặt chẽ trong thế giới tự nhiên.

Năm 1859, nhà sinh học người Anh Đắcuyn đã phát triển lý thuyết duy vật về nguồn gốc và sự tiến hóa của các sinh vật Học thuyết tiến hóa chứng minh quá trình biến đổi của động vật và thực vật từ thấp đến cao thông qua chọn lọc tự nhiên và nhân tạo Đây là nền tảng khẳng định nguồn gốc duy vật của sự sống, trái ngược với quan điểm thần thánh và tôn giáo trong chủ nghĩa duy tâm.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học và sinh học, đã làm thay đổi quan niệm siêu hình về nhận thức thế giới tự nhiên và khẳng định phép biện chứng khách quan trong mọi quá trình vận động và phát triển Khoa học tự nhiên ở giai đoạn này là tiền đề cho sự ra đời của triết học Mác, đồng thời những khái quát của triết học Mác cung cấp cơ sở về thế giới quan và phương pháp luận cho các lĩnh vực khoa học cụ thể trong việc nhận thức thế giới khách quan.

Triết học Mác là sản phẩm quy luật của khoa học và triết học trong lịch sử tư tưởng nhân loại C.Mác và Ph.Ăngghen, với tư cách là những thiên tài, đã khái quát tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thần của nhân loại, từ đó xây dựng học thuyết triết học duy vật biện chứng Học thuyết này đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn xã hội trong bối cảnh lịch sử mới.

V.I Lênin đã nhấn mạnh rằng chủ nghĩa Mác không xuất phát từ một nguồn gốc tách biệt mà nằm trong dòng chảy phát triển của văn minh nhân loại Ông cho rằng, điểm xuất sắc của Mác là khả năng giải quyết những vấn đề mà tư tưởng tiến bộ của nhân loại đã đặt ra Học thuyết của Mác là sự kế thừa trực tiếp từ những tư tưởng vĩ đại trong triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội.

Quá trình hình thành và phát triển triết học Mác

3 1 Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Giai đoạn từ năm 1844 đến năm 1848

Quá trình Mác - Ăngghen xây dựng nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được thể hiện rõ qua các tác phẩm kinh điển, đặc biệt là trong "Bản thảo kinh tế - triết học" năm 1844.

Mác đã phê phán kinh tế chính trị học cổ điển của Anh và triết học duy tâm Hêghen, đồng thời chỉ ra "mặt tích cực" của nó là phép biện chứng Ông phân tích sự tha hoá của lao động qua khái niệm "lao động bị tha hoá", coi đây là một tất yếu lịch sử liên quan đến sở hữu tư nhân Sở hữu tư nhân, theo Mác, được hình thành từ "lao động bị tha hoá" nhưng sau đó trở thành nguyên nhân của sự tha hoá lao động và con người Do đó, để khắc phục sự tha hoá này, cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân và giải phóng người lao động.

Mác khẳng định tính tất yếu của chủ nghĩa cộng sản trong sự phát triển xã hội, coi nó như một hình thức hoàn thiện của chủ nghĩa nhân đạo Ông phản bác các hình thức chủ nghĩa cộng sản thô thiển, cho rằng chúng phủ nhận cá tính con người và dẫn đến sự trở lại với cuộc sống giản dị, nghèo khổ và thiếu nhu cầu.

Từ quan điểm triết học, Mác xem chủ nghĩa cộng sản là một bước tiến lịch sử vượt trội hơn chủ nghĩa tư bản, với những điều kiện tiên quyết được hình thành từ chính quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản.

Tác phẩm Gia đình thần thánh do Mác và Ănghen viết chung được xuất bản tháng 2-1845 Cùng với việc phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử của

Nhóm "phái Hêghen trẻ", do anh em nhà Bauơ lãnh đạo, đã đề xuất những nguyên lý cơ bản của triết học Mácxít và chủ nghĩa cộng sản khoa học Tác phẩm "Gia đình thần thánh" thể hiện "quan điểm gần gũi của Mác về vai trò cách mạng của giai cấp vô sản" và chỉ ra "Mác đã tiến gần đến tư tưởng cốt lõi của toàn bộ hệ thống của ông, tức là tư tưởng về các quan hệ sản xuất xã hội".

Tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" của Mác và Ăngghen, được viết vào cuối năm 1845 và đầu năm 1846, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong triết học Mác Qua việc phê phán các trào lưu triết học và chủ nghĩa xã hội thời bấy giờ ở Đức, tác giả đã hệ thống hóa quan niệm duy vật lịch sử và trình bày nhiều nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học, coi đó là hệ quả của duy vật lịch sử.

Trong Hệ tư tưởng Đức, hai tác giả nhấn mạnh rằng tiền đề của lịch sử nhân loại là sự tồn tại của những cá nhân Những cá nhân này không chỉ tồn tại mà còn tham gia vào sản xuất vật chất, điều này được coi là hành vi lịch sử đầu tiên của họ.

Sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, vì vậy, để hiểu rõ về con người, Mác đã nghiên cứu sâu sắc về quá trình sản xuất vật chất trong xã hội Ông đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó làm sáng tỏ cách thức mà con người tương tác và phát triển trong bối cảnh xã hội.

Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", Mác và Ăngghen đề cập đến chủ nghĩa xã hội khoa học nhưng chưa trình bày một cách rõ ràng Họ coi chủ nghĩa cộng sản là một lý tưởng cao đẹp của nhân loại, tuy nhiên việc thực hiện lý tưởng này cần có những bước đi cụ thể và mục tiêu rõ ràng Sự thành công của lý tưởng này phụ thuộc vào điểm xuất phát và chỉ có thể được xác định thông qua phong trào thực tiễn, từ đó tìm ra các hình thức và bước đi phù hợp.

Luận cương về Phoiơbắc của Mác được Ăngghen đánh giá là văn kiện đầu tiên chứa đựng mầm mống thiên tài của một thế giới quan mới.

Tư tưởng cốt lõi của Luận cương nhấn mạnh vai trò quyết định của thực tiễn trong đời sống xã hội, từ đó khẳng định sứ mệnh "cải tạo thế giới" của triết học Mác Mác chỉ ra "khuyết điểm chủ yếu" của các trường phái duy vật trước đây, bao gồm cả duy vật của Phoiơbắc, đồng thời phê phán quan điểm duy tâm về tính năng động và sáng tạo của tư duy Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, Mác nhận thức rằng bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.

Tác phẩm "Sự khốn cùng của triết học" (1847) và "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" (tháng 2 - 1848) trình bày chủ nghĩa Mác như một hệ thống lý luận hoàn chỉnh với ba bộ phận cơ bản Trong "Sự khốn cùng của triết học", Mác tiếp tục phát triển các nguyên lý triết học và chủ nghĩa cộng sản khoa học, đồng thời nhấn mạnh rằng tác phẩm này chứa đựng những mầm mống của học thuyết sẽ được trình bày trong bộ "Tư bản" sau hai mươi năm lao động.

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là văn kiện cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa Mác, trình bày triết học của chủ nghĩa này một cách tài tình và thống nhất với quan điểm kinh tế, chính trị - xã hội Tác phẩm giới thiệu một thế giới quan mới, chủ nghĩa duy vật triệt để, bao quát mọi lĩnh vực sinh hoạt xã hội Nó cũng đề cập đến phép biện chứng như một học thuyết toàn diện và sâu sắc về sự phát triển, lý luận đấu tranh giai cấp, và vai trò cách mạng của giai cấp vô sản trong lịch sử thế giới, giai cấp này được coi là lực lượng sáng tạo ra xã hội cộng sản mới.

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự hình thành của triết học Mác và chủ nghĩa Mác, được Mác và Ăngghen tiếp tục phát triển suốt cuộc đời của họ Họ đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ phong trào công nhân và khái quát các thành tựu khoa học để bổ sung cho lý thuyết này.

3 2.Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận triết học

Từ sau Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, học thuyết Mác đã được bổ sung và phát triển, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cách mạng Mác và Ăngghen không chỉ là đại biểu tư tưởng mà còn là lãnh tụ thiên tài của phong trào công nhân Qua hoạt động lý luận, họ đã biến phong trào công nhân từ tự phát thành tự giác, giúp phong trào ngày càng mạnh mẽ hơn, đồng thời thúc đẩy sự phát triển liên tục của học thuyết của mình.

Các tác phẩm nổi bật của Mác như "Đấu tranh giai cấp ở Pháp", "Ngày 18 tháng Sương Mù của Lui Boonapáctơ", "Nội chiến ở Pháp" và "Phê phán Cương lĩnh Gôta" thể hiện tầm quan trọng của việc tổng kết kinh nghiệm phong trào công nhân trong việc phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác và triết học Mác "Bộ Tư bản" không chỉ là một công trình kinh tế đồ sộ mà còn là sự phát triển và bổ sung cho triết học Mác Lênin đã nhận xét rằng, mặc dù Mác không để lại cho chúng ta một "lôgíc học" hoàn chỉnh, nhưng ông đã để lại cho chúng ta lôgíc của "Bộ Tư bản".

Nội dung triết học Mác

Triết học có một lịch sử lâu dài từ thời kỳ cổ đại, phát triển song song với đời sống xã hội Triết học Mác là sản phẩm của lịch sử, được hình thành từ những thành tựu của triết học trước đó và được bổ sung bởi những tiến bộ khoa học C Mác và Ph Ăng ghen đã kế thừa các tư tưởng triết học và lý luận châu Âu cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX như triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán Pháp Qua hoạt động lý luận và thực tiễn, họ đã tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học với những thành tựu to lớn.

Một là, sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng khoa học thành chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Lịch sử triết học từ khi ra đời là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, cùng với hai phương pháp biện chứng và siêu hình Trước triết học Mác, đã tồn tại nhiều học thuyết duy vật, đặc biệt là triết học Hy Lạp.

La Mã cổ đại đã nhìn nhận thế giới qua mối liên hệ và sự vận động, chủ yếu dựa vào quan sát trực tiếp, dẫn đến tính trực quan trong tư duy Trong giai đoạn này, cả chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng vẫn còn ở mức độ thô sơ và đơn giản Tuy nhiên, đến thời kỳ Phục hưng và Cận đại, chủ nghĩa duy vật đã có những bước tiến vượt bậc so với chủ nghĩa duy vật của Hy Lạp.

Trong thời kỳ cổ đại La Mã, chủ nghĩa duy vật, mặc dù đạt đến đỉnh cao với triết học của L Phơ - Bách, vẫn bị lún sâu vào phương pháp siêu hình và máy móc Các nhà triết học biện chứng đã đối lập phương pháp biện chứng với phương pháp siêu hình, dẫn đến sự phát triển chất lượng trong nhận thức Tuy nhiên, phương pháp biện chứng lại phát triển trong bối cảnh duy tâm và thần bí, đặc biệt qua G.W.f Hêghen, người được xem là đỉnh cao của phép biện chứng trước Mác, nhưng lại dựa trên lập trường duy tâm.

Sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đã dẫn đến những hạn chế nhất định, khiến chúng không trở thành khoa học thực thụ C.Mác và Ph Ăng ghen đã giải phóng phép biện chứng khỏi những yếu tố huyền bí, khẳng định rằng nó thuộc về bản chất của thế giới vật chất Sự kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng đã nâng cao cả hai lên một tầm cao mới, thực sự trở thành khoa học Trong Triết học Mác, sự thống nhất này không chỉ là sự lắp ghép đơn giản mà là một quá trình phát triển sáng tạo, như C Mác đã nhấn mạnh rằng: “Phép biện chứng của tôi không những khác phương pháp của G.W.F.”

Hêghen về căn bản mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa” (1).

Hai là, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trước khi có Triết học Mác, chủ nghĩa duy vật đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội và khoa học, nhưng chưa hoàn toàn triệt để L Phơ-bách, mặc dù là nhà triết học duy vật về tự nhiên, đã không áp dụng được điều này vào lĩnh vực lịch sử - xã hội C Mác và Ph Ăng ghen đã phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, giúp giải thích một cách duy vật cả thế giới tự nhiên lẫn xã hội, lịch sử, tinh thần Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử đã loại bỏ chủ nghĩa duy tâm khỏi lĩnh vực xã hội Mác đã chỉ ra các quy luật phát triển của lịch sử, như sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, và mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Triết học Mác mở ra một thời kỳ mới trong nghiên cứu lịch sử - xã hội, được V.I Lê-nin đánh giá là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học, mang lại lý luận chặt chẽ thay thế cho những quan niệm lộn xộn trước đây.

Triết học Mác đã giải quyết mâu thuẫn giữa triết học và thực tiễn, đóng vai trò là nền tảng khoa học cho việc nhận thức và cải tạo thế giới.

Trước khi triết học Mác ra đời, các nhà triết học chủ yếu tập trung vào việc giải thích thế giới mà ít quan tâm đến việc cải tạo nó C.Mác đã chỉ ra rằng: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới.”

Nhiều nhà triết học đã đề cập đến việc cải tạo thế giới, nhưng thường mang tính không tưởng, dựa vào các lực lượng siêu nhiên hoặc yếu tố chủ quan như giáo dục và đạo đức L.Phe - bách chỉ coi lý luận là hoạt động đích thực của con người, trong khi thực tiễn lại bị ông đánh giá thấp C.Mác đã có những nhận định quan trọng về vấn đề này.

Khuyết điểm chính của chủ nghĩa duy vật, bao gồm cả chủ nghĩa duy vật của L Phơ - bách, là việc nhận thức sự vật và hiện thực chỉ thông qua hình thức khách thể hay trực quan, mà không xem xét hoạt động cảm giác của con người và thực tiễn.

C Mác - Ph Ăngghen đã không phủ nhận các nhà triết học trước đó mà kế thừa một cách có chọn lọc Luận điểm của C Mác đã nói lên sự khác biệt về chất giữa Triết học Mác với các trào lưu triết học trước đây, kể các các học thuyết triết học mà điểm xuất phát và lập trường có tính duy vật Sợi chỉ đỏ xuyên suốt Triết học Mác là cải tạo thế giới, không có sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn của con người, trước hết là hoạt động thực tiễn của giai cấp vô sản Điều này đã được C.Mác khẳng định: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình”(5).

Cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học

Cuộc cách mạng triết học của C.Mác đã khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng, tạo nên sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng Sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử đã biến triết học thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới, đồng thời thiết lập mối liên minh giữa triết học và các khoa học cụ thể Ngày nay, cuộc cách mạng này vẫn giữ nguyên ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển triết học Mác - Lênin, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cách mạng của quần chúng và các lĩnh vực khoa học.

Sự ra đời của triết học Mác vào những năm 40 của thế kỷ XIX được coi là một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học, đánh dấu sự chuyển biến từ việc “giải thích thế giới” sang “cải tạo thế giới” Cuộc cách mạng này đã đưa triết học nhân loại vào một thời kỳ mới về chất, thể hiện rõ nét qua những điểm cơ bản trong tư tưởng của Mác.

C.Mác đã khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng trong lịch sử triết học, tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng, được gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Trước khi triết học Mác ra đời, chủ nghĩa duy vật thường tách rời phương pháp biện chứng, mặc dù có sự thống nhất nhất định trong triết học Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là ở Hêraclít Tuy nhiên, sự thống nhất này vẫn ở trình độ thấp và cả hai khái niệm đều còn thô sơ Trong thời kỳ Phục hưng và Cận đại, chủ nghĩa duy vật đã phát triển nhưng vẫn giữ tính siêu hình, tách rời phương pháp biện chứng Các nhà triết học cổ điển Đức, như Hêghen, đã tạo ra sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và siêu hình, nhưng phương pháp của Hêghen lại dựa trên thế giới quan duy tâm, không gắn kết với chủ nghĩa duy vật Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật nhân bản của L.Phoiơbắc, nhưng cũng vẫn mang tính siêu hình và tách khỏi phương pháp biện chứng.

Trong triết học của C.Mác, chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng được kết hợp một cách thống nhất và hữu cơ C.Mác đã làm phong phú chủ nghĩa duy vật thông qua phương pháp biện chứng, đồng thời đặt phương pháp này trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật Cả hai khái niệm này đều được ông phát triển lên một trình độ mới về chất, tạo nên sự thống nhất hữu cơ vượt trội so với triết học Hy Lạp cổ đại Điều này đánh dấu một bước phát triển cách mạng trong triết học mà C.Mác đã thực hiện.

Thứ hai, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiện vĩ đại nhất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác thực hiện.

Chủ nghĩa duy vật trước C Mác đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của xã hội, khoa học và triết học, nhưng chỉ dừng lại ở việc giải thích thế giới tự nhiên, còn duy tâm trong lĩnh vực xã hội, lịch sử và tinh thần Vì vậy, chủ nghĩa duy vật này chưa thể hoàn toàn đánh bại chủ nghĩa duy tâm C Mác đã phát triển một chủ nghĩa duy vật triệt để, giải thích không chỉ thế giới tự nhiên mà còn cả xã hội, lịch sử và tinh thần V.I Lênin khẳng định rằng triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, với chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác được coi là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học C.Mác đã mở ra một thời kỳ mới trong nghiên cứu xã hội và lịch sử bằng cách chỉ ra quy luật hình thành và phát triển của xã hội Ph Ăngghen so sánh phát minh của C Mác với phát minh của Đácuyn trong khoa học tự nhiên, cho thấy rằng chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác chỉ ra sự phát triển của hình thức tổ chức xã hội từ lực lượng sản xuất Chủ nghĩa duy vật lịch sử và biện chứng đã trở thành cơ sở cho C Mác nghiên cứu kinh tế, phát hiện ra học thuyết giá trị thặng dư và hiểu rõ sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, thể hiện cuộc cách mạng vĩ đại trong triết học do C Mác thực hiện.

C.Mác đã phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, giúp giải quyết mâu thuẫn giữa triết học và hoạt động thực tiễn của con người Nhờ đó, triết học của ông trở thành công cụ quan trọng cho việc nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loại tiến bộ.

Trước khi triết học Mác ra đời, các nhà triết học chủ yếu tập trung vào việc giải thích thế giới mà ít chú ý đến việc cải tạo nó C.Mác đã chỉ ra rằng "các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới." Một số triết gia đã cố gắng cải tạo thế giới nhưng lại dựa vào những con đường không tưởng, như lực lượng siêu nhiên hay giáo dục đạo đức Trước C.Mác, không ai nhận thức đúng về thực tiễn và vai trò của nó trong việc cải tạo thế giới Các nhà triết học Khai sáng Pháp, mặc dù muốn thay thế các quan hệ xã hội phong kiến bằng những quan hệ tiến bộ hơn, nhưng lại không hiểu rằng điều này chỉ có thể thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của quần chúng Ngay cả L.Phoiơbắc, đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác, chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người mà không nhận ra tầm quan trọng của thực tiễn.

Khuyết điểm lớn nhất của chủ nghĩa duy vật, bao gồm cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, là việc nhận thức sự vật và hiện thực chỉ thông qua hình thức khách thể hay trực quan, mà không xem xét hoạt động cảm giác của con người và thực tiễn.

Triết học Mác không chỉ nhằm giải thích thế giới mà còn tập trung vào việc cải tạo thế giới thông qua hoạt động thực tiễn của con người C.Mác đã nhấn mạnh rằng cải tạo thế giới chỉ có thể thực hiện được thông qua thực tiễn, làm cho triết học của ông vượt trội hơn so với các triết học trước đó Trong triết học Mác, không có sự đối lập giữa triết học và hoạt động thực tiễn, đặc biệt là của giai cấp vô sản, mà hoạt động này được dẫn dắt bởi chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Hoạt động thực tiễn của giai cấp vô sản không chỉ là cơ sở mà còn là động lực cho sự phát triển của các lý thuyết triết học này Sự thống nhất giữa triết học Mác và hoạt động thực tiễn của giai cấp vô sản thể hiện rõ qua quan điểm rằng triết học là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản Do đó, triết học Mác đã trở thành công cụ quan trọng trong việc nhận thức và cải tạo thế giới cho giai cấp vô sản và nhân loại tiến bộ.

C.Mác đã phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, qua đó giải quyết mâu thuẫn giữa triết học và các khoa học cụ thể.

Trước khi triết học Mác ra đời, triết học thường bị hòa tan hoặc ẩn giấu trong các lĩnh vực khác như chính trị, tôn giáo và đạo đức, và trong thời kỳ Trung cổ, nó được xem là một phần của thần học Trong thời kỳ Cận đại, triết học được hiểu là nền tảng thế giới quan của con người, trong khi triết học cổ điển Đức coi nó là "khoa học của các khoa học" Quan hệ giữa triết học Mác và các khoa học cụ thể là biện chứng, với triết học Mác được cung cấp tư liệu và dữ kiện từ các khoa học để khái quát hóa Sự phát triển của khoa học tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX đã chỉ ra hạn chế của phương pháp siêu hình và tạo cơ sở cho phương pháp biện chứng Triết học Mác đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất, và sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học cụ thể càng làm tăng vai trò này Như một nhà khoa học tự nhiên thế kỷ XX đã nhận xét, khái quát hóa triết học cần dựa trên kết quả khoa học và ảnh hưởng đến sự phát triển tư tưởng khoa học, qua đó chấm dứt mâu thuẫn giữa triết học và các khoa học cụ thể.

Cuộc cách mạng triết học do C.Mác khởi xướng đã mang lại ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn cho thời đại, giúp chủ nghĩa xã hội không tưởng chuyển mình thành một khoa học thực sự Sự thay đổi này không chỉ làm thay đổi vai trò, chức năng và nhiệm vụ của triết học, mà còn biến triết học Mác thành công cụ quan trọng trong việc nhận thức và cải tạo thế giới cho nhân loại tiến bộ.

Ngày đăng: 29/03/2025, 10:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w