ĐỀ TÀI:
Trình bày tóm lược các nguyên tắc kế toán, cho ví dụ minh hoạ việc vận dụng các nguyên tắc kế toán trong hoạt động ngân hàng.
Trang 2I Tóm lược về các nguyên tắc kế toán 1
II Việc vận dụng các nguyên tắc kế toán trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam 3
1 Nguyên tắc cơ sở dồn tích 3
2 Nguyên tắc hoạt động liên tục 4
3 Nguyên tắc giá gốc 5
4 Nguyên tắc phù hợp 7
5 Nguyên tắc nhất quán 9
6 Nguyên tắc thận trọng 10
7 Nguyên tắc trọng yếu 13
Trang 3Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường hiên nay, kế toán có vai trò vô cùng quan trọng trong việc lập và phản ảnh các nghiệp vụ kinh tế vào trong các BCTC Đó
là cơ sở để các nhà kiểm toán có thể đánh giá được tính chính xác của các nghiệp vụ, góp phần làm tăng uy tín trong các BCTC
Theo luật kế toán cũng như các chuẩn mực kế toán ở Việt Nam quy định có bảy nguyên tắc kế toán cần tuân thủ là: cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng và trọng yếu Trong bài tiểu luận này chúng ta sẽ xem xét một cách cụ thể về cơ sở lý thuyết và thực trạng áp dụng các nguyên tắc kế toán ở trong các ngân hàng hiện nay Từ đó có thêm các hiểu biết và cái nhìn tổng quát về kế toán ngân hàng
I Tóm lược về các nguyên tắc kế toán.
Theo chuẩn mực kế toán số 01 – Chuẩn mực chung, nguyên tắc cơ sở dồn tích được định nghĩa như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi
sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực
tế chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01(VAS 01), số 21(VAS 21) thì nội dung nguyên tắc hoạt động liên tục là: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là một ngân hàng đang trong quá trình hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là ngân hàng không có ý định cũng như không cần thiết phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trường hợp một ngân hàng đã có dấu hiệu hoạt động không liên tục đặc biệt
là tình trạng kiểm soát đặc biệt thì báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở khác và Ban lãnh đạo đơn vị ngân hàng phải giải thích các cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính
Mọi tài sản phản ảnh trong các khoản mục của báo cáo tài chính phải theo nguyên tắc giá gốc Giá gốc của tài sản được ghi chép theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả, hoặc ghi theo giá hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản
Trang 4được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chế độ kế toán cụ thể
Đối với ngân hàng, giá gốc của tài sản phản ánh trong các khoản mục của báo cáo tài chính là các giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được hoặc cho vay, đầu tư tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ Đối với nghiệp vụ phát hành cổ phiếu trong trường hợp giá bán cổ phiếu cao hơn mệnh giá thì số tiền thu được do bán cổ phiếu sẽ được tách thành hai phần: số tiền thu theo mệnh giá của cổ phiếu được ghi vào tài khoản vốn điều lệ, phần vượt mệnh giá cổ phiếu (thặng dư) sẽ được ghi vào tài khoản Thặng dư vốn điều lệ
Trong chuẩn mực Kế toán số 01 – Chuẩn mực chung, nguyên tắc phù hợp được thể hiện như sau: “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo
ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó”
Theo tiêu chuẩn kế toán VAS 01 thì nguyên tắc nhất quán được phát biểu: “Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.”
Nguyên tắc thận trọng là việc phải xem xét, cân nhắc, có những phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn.Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu phải được ghi nhận từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra
Theo nguyên tắc thận trọng, kế toán cần:
Phải trích lập đủ dự phòng nhưng không quá lớn
Trang 5 Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập.
Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ và chi phí
Doanh thu và chi phí chỉ ghi nhận khi có các bằng chứng chắc chắn
Nguyên tắc trọng yếu chỉ rõ kế toán phải thu thập, xử lí và cung cấp đầy đủ những thông tin có tính chất trọng yếu, còn những thông tin không trọng yếu, ít có tác dụng hoặc có ảnh hưởng không đáng kể tới quyết định của người sử dụng thông tin thì
có thể bỏ qua
Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính
II Việc vận dụng các nguyên tắc kế toán trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam.
1 Nguyên tắc cơ sở dồn tích.
Ví dụ: Ngày 25/5/2014 tại ngân hàng thương mại Sacombank có nghiệp vụ kinh
tế phát sinh: Ông Bình đến NH làm thủ tục xin mở sổ tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng số tiền 100trđ, lãi trả sau, lãi suất 6%/năm tương ứng 0,5%/ tháng Đến ngày 25/11/2014 ông Bình đến ngân hàng xin tất toán sổ tiết kiệm
Ở ví dụ trên mặc dù hàng tháng ông Bình không đến lĩnh tiền lãi nhưng cứ đến ngày 25 hàng tháng, thì hệ thống máy tính của NH sẽ tự động ghi nhận một khoản chi phí lãi phải trả cho ông Bình là 0,5 trđ, theo cơ sở dồn tích mọi khoản chi phí đều được ghi nhận khi phát sinh chứ không phải là thời điểm thực chi tiền ra
1.1 Thực trạng
Trong hoạt động của ngân hàng, nguyên tắc cơ sở dồn tích là nguyên tắc cơ bản nhất phải thực hiện khi ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Thống đốc NHNN đã ban hành Công văn số 8659/NHNN-KTTC ngày 10/10/2006 về việc Hướng dẫn thực hiện nguyên tắc kế toán “cơ sở dồn tích”
Trong thực tế, Ngân hàng áp dụng nguyên tắc cơ sở dồn tích trong hạch toán kế toán trong 1 số nghiệp vụ như:
-Tính lãi phải thu
Trang 6- Hạch toán lãi dồn tích đối với nghiệp vụ thu,trả lãi bằng ngoại tệ (lãi phải thu hoặc lãi phải trả bằng ngoại tệ phải được quy đổi ra Việt Nam đồng theo tỷ giá ngoại
tệ mua hoặc bán thực tế tại thời điểm hạch toán, để ghi vào tài khoản thu nhập hoặc chi phí thích hợp)
- Hạch toán dự thu, dự chi…
Các nghiệp vụ cơ bản liên quan hạch toán lãi hầu hết đều do bộ phận máy tính của Ngân hàng tự động thực hiện, do đó ít dẫn đến sai sót
Tuy nhiên trong thực tế, có 1 số trường hợp cán bộ ngân hàng đã lợi dụng nguyên tắc “cơ sở dồn tích” để chuộc lợi cho mình Ví dụ như 1 số trường hợp tại các ngân hàng lớn đã phát hiện cán bộ ngân hàng lập các lệnh mua vào rồi bán ra vàng
“ảo”, đô la “ảo” mặc dù không có nghiệp vụ kinh tế nào phát sinh thực tế, không có vàng thật giao dịch nhưng cán bộ ngân hàng vẫn lập lệnh “ảo” để ăn chênh lệch tỉ giá vào các thời điểm khác nhau trong ngày
1.2 Đánh giá
Hoạt động ngân hàng với những đặc thù riêng biệt như cho vay thu lãi, tiết kiệm của khách hàng, Việc áp dụng nguyên tắc dồn tích vào các TCTD là hoàn toàn cần thiết và phản ánh đúng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Tuy nhiên kế toán theo cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quan trong kế toán Ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà dựa vào thời điểm giao dịch phát sinh, số liệu trên BCTC thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà kế toán
1.3 Đề xuất, kiến nghị
Để hạn chế sai sót đến từ phía cán bộ ngân hàng thì cần xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ nghiêm ngặt, lành mạnh, đảm bảo ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đúng theo các nguyên tắc kế toán
2 Nguyên tắc hoạt động liên tục.
2.1 Thực trạng
Nguyên tắc hoạt động liên tục là cơ sở cho nguyên tắc giá gốc, liên quan đến việc phản ánh tài sản, thu nhập, chi phí của doanh nghiệp theo giá gốc,
Trang 7không phản ánh theo giá thị trường Mặt khác, nguyên tắc này còn làm cơ sở cho các phương pháp tính hao mòn để phân chia giá trị tài sản cố định vào các chi phí hoạt động của ngân hàng theo thời gian hoạt động của nó
Tuy nhiên, khi một ngân hàng chuẩn bị bán, sát nhập, giải thể,…thì nguyên tắc hoạt động liên tục sẽ không được vận dụng vào việc lập báo cáo tài chính
2.2 Ví dụ thực tế
Ngày 29/2/2012 SHB định giá sát nhập với ngân hàng Habubank do Habubank gặp khó khăn về tài chính do tập trung dư nợ cho vay, trái phiếu quá cao cho các CTy con của tập đoàn Vinashin lên tới 3.345.347 tỷ đồng, lãi huy động phải trả gần 500 tỷđồng/năm Khi Habubank sát nhập vào SHB thì giá trị tài sản của ngân hàng Habubank cũng phải được đánh giá lại theo mức hợp lý thị trường :
2.3 Đánh giá
Việc áp dụng nguyên tắc hoạt động liên tục đối với hoạt động kế toán ở các Ngân hàng là cần thiết, nó làm cơ sở cho nguyên tắc giá gốc, giúp ngân hàng đánh giá hợp lý về các chỉ tiêu tài sản, thu nhập, chi phí…vv
3 Nguyên tắc giá gốc
3.1 Ví dụ thực tế
Ngày 1/1/2014 ngân hàng mua BIDV mua một mảnh đất để phục vụ cho việc mở thêm một văn phòng đại diện ở Đông Anh Giá mua là 10 tỷ VNĐ Giá gốc của chiếc mảnh đất là: 10 tỷ VNĐ
Đến cuối kỳ kế toán giá của mạnh đất tăng lên 12 tỷ do sắp tới có dự án xây dựng một trường đại học ở gần đó, tuy nhiên theo nguyên tắc giá gốc, gía của mảnh
Trang 8đất vẫn được ghi nhận là giá tại thời điểm ngân hàng mua nó chứ không phụ thuộc vào biến động giá thị trường
Các khoản đầu tư vào công ty liên doanh liên kết được ghi nhận ban đầu theo giá gốc vào ngày giao dịch và luôn được phản ánh theo giá gốc trong thời gian nắm giữ tiếp theo Chứ không phải giá trị thị trường của khoản đầu tư
Ví dụ:
3.2 Thực trạng
Nhìn chung hiện nay các ngân hàng thương mại đang tuân thủ nguyên tắc giá gốc khá tốt
Chẳng hạn như như BCTC đã được kiểm toán của BIDV và Vietcom bank thì nguyên tắc giá gốc được tuân thủ khá nghiêm ngặt:
Mọi tài sản, công nợ đều được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc
Chứng khoán kinh doanh được ghi nhận ban đầu theo giá gốc Lãi hoặc lỗ từ việc bán chứng khoán kinh doanh được ghi nhận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Chứng khoán đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, bao gồm chi phí giao dịch và các chi phí có liên quan trực tiếp khác
Các khoản đầu tư dài hạn cũng được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc Giá gốc được tính theo phương pháp bình quân gia quyền
Các khoản góp vốn liên doanh liên kết cũng được ghi nhận theo giá gốc trên các bản BCTC
Trang 93.3 Đánh giá.
Nền kinh tế ngày càng biến đổi và nó cũng có những tác động đáng kể đến môi trường kế toán, đặc biết là ngành ngân hàng vì thế nguyên tắc giá gốc đã bộc lộ một số hạn chế không đánh giá chính xác việc đo lường giá trị của tài sản và nợ theo biến động thị trường, thiếu tính khách quan trong việc ghi nhận giá gốc theo biểu giá chính thức
3.4 Kiến nghị
Trong một số trường hợp, thay vì dùng nguyên tắc giá gốc ta có thể áp dụng theo nguyên tắc giá trị hợp lý Theo đó, việc ghi nhận giá trị khoản đầu tư ban đầu cũng tương tự như phương pháp giá gốc, nhưng cuối kỳ kế toán ngân hàng vẫn tiếp tục nắm giữ khoản đầu tư tài chính đó, thì giá trị khoản đầu tư sẽ được ghi nhận theo giá thị trường Nguyên tắc này sẽ phản ánh chính xác giá trị tài sản thực tế
4 Nguyên tắc phù hợp.
4.1 Thực trạng
Vì đặc thù của ngành ngân hàng nên nguyên tắc phù hợp dù đã được quán triệt tại các ngân hàng nhưng thường vẫn không thể và cũng không nhất thiết phải ghi nhận chi phí có liên quan đến thu nhập phát sinh Vậy tức là nguyên tắc phù hợp được tuân thủ một cách tương đối tùy vào tính chất từng loại doanh thu
4.1.1 Thu nhập lãi
a) Với các ngân hàng quản lý vốn theo mô hình tập trung: BIDV, MB…
Vì bản chất của mô hình này là hội sở là trung tâm quản lý vốn của tất cả các chinhánh:
Các khoản tiền huy động được từ chi nhánh cuối ngày sẽ bán hết cho hội sở, ngân hàng chi nhánh sẽ hưởng chênh lệch lãi và hàng kỳ ghi nhận doanh thu( lãi thu từ hội sở) và chi phí (lãi trả cho nguồn huy động)
Tương tự khi ngân hàng chi nhánh cho vay phải mua vốn từ hội sở và hưởng phần chênh lệch lãi, hàng kỳ ghi nhận doanh thu(lãi từ khách hàng) chi phí( lãi trả hội sở). Tuân theo nguyên tắc phù hợp
VD minh họa:
Trang 10Ngân hàng chi nhánh BIDV Nam Hà Nội: trong ngày khi nhận được khoản tiền gửi 100 triệu VND của khách hàng với lãi suất 7%/năm, trả lãi sau Cuối ngày chi nhánh sẽ bán số tiền huy động này cho hội sở với lãi suất lớn hơn, vd: 8% Kế toán sẽ định khoản doanh thu hàng tháng 100*8%/12 và chi phí 100%*7%/12
b) Với các ngân hàng quản lý vốn theo mô hình phân tán: PG bank, HD bank
Do việc mỗi ngân hàng chi nhánh độc lập trong việc quản lý nguồn vốn của mình nên việc hoạch toán doanh thu và chi phí trở nên rất khó khăn do các nguyên nhân: sự chênh lệch về thời hạn, khối lượng, lãi suất các khoản cho vay và huy động; nguyên tắc hoạch toán lãi tròn tháng hay cuối tháng tùy từng ngân hàng; số lượng các khoản huy động và khoản vay lớn Do đó khi phát sinh doanh thu để xác định ra được chi phí tương ứng rất phức tạp (có thể 1 nguồn cho vay lấy từ nhiều nguồn huy động với nhiều lãi suất khác nhau vv)Không tuân theo nguyên tắc phù hợp
VD minh họa: các khoản tiền huy động sẽ được phản ánh hằng ngày và hàng kỳ
số lãi sẽ tổng hợp trên khoản mục chi phí Các khoản cho vay hàng kỳ số lãi sẽ được cho vào khoản mục thu nhập lãi Sẽ không có các định khoản doanh thu tương ứng chi phí
4.1.2 Thu nhập ngoài lãi
a) Từ hoạt động dịch vụ: thánh toán, bảo lãnh, bảo hiểm…; kinh doanh vàng và ngoại hối; mua bán chứng khoán kinh doanh; mua bán chứng khoán đầu tư (phần sẵn sàng để bán)
Các hoạt động này doanh thu được ghi nhận khi các hợp đồng được ký kết hoặc bán được hàng, kế toán ghi nhận chi phí tương ứng: chi trả cho nhân viên, giá vốn mua, các dịch vụ khác… tuân theo nguyên tắc phù hợp
VD: ngân hàng Agribank kinh doanh vàng bằng cách mua vào rồi bán ra hưởng chênh lệch giá Khi bán ra kế toán ghi nhận doanh thu: giá bán ra và chi phí: giá mua vào
b) Từ hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư (phần giữ đến ngày đáo hạn); thu nhập lãi thuần từ hoạt động khác: hoàn nhập dự phòng, nợ xấu dc xử lý…; thu nhập từ góp vốn mua cổ phần…
Trang 11Các khoản thu nhập này rất khó để xác định chi phí tương ứng, nên nó được ghi doanh thu Không tuân theo nguyên tắc phù hợp
4.2 Đánh giá
4.2.1 Đối với thu nhập từ lãi
Ở mô hình quản lý vốn tập trung: sự ghi nhận doanh thu và chi phí sẽ rõ ràng hơn từ đó dễ dàng tính toán lợi nhuận từ một khoản vay, giúp đưa ra quyết định tín dụng chính xác hơn phù hợp hơn với các chính sách, mục tiêu đặt ra
Ở mô hình quản lý vốn phân tán: mô hình này khiến việc ghi nhận doanh thu chi phí không tuân theo nguyên tắc phù hợp, do đó mỗi kỳ chỉ có thể nhìn được tổng doanh thu và chi phí của các khoản vay mà không biết được các mức chi phí cho từng khoản vay là bao nhiêu, gây khó khăn cho việc đánh giá mức sinh lời, quản lý,xây dựng kế hoạch sử dụng vốn cũng như quyết định tín dụng phù hợp
4.2.2 Đối với thu nhập ngoài lãi
Đối với các hoạt động dịch vụ: các hoạt động kể trên của ngân hàng có thể hoạch toán doanh thu chi phí dễ dàng hơn nên hoàn toàn có thể tuân theo nguyên tắc phù hợp
Đối với các hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư: đây là các hoạt động đặc thù của ngân hàng nên việc tuân theo nguyên tắc phù hợp là rất khó, dù vậy nó vẫn có
ý nghĩa đúng với bản chất
4.3 Đề xuất, kiến nghị
Để tuân thủ tốt nguyên tắc phù hợp, các ngân hàng quản lý vốn theo quy mô phân tán có thể chuyển sang mô hình tập trung
5 Nguyên tắc nhất quán.
5.1 Thực trạng
Các ngân hàng thương mại tuân thủ nguyên tắc nhất quán khá chặt chẽ và nghiêm túc, các phương pháp và chính sách kế toán áp dụng thống nhất trong kỳ kế toán và các kỳ kế toán với nhau
Hầu hết các ngân hàng thương mại đều áp dụng kỳ kế toán năm là 12 tháng, tính
từ đầu ngày 01 tháng 01 của một năm đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch của năm đó
Các chính sách kế toán được các ngân hàng áp dụng thống nhất, không mâu thuẫn với nhau