1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất Đồng nai

64 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất tỉnh đồng nai
Tác giả Vũ Thị Huyền
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Bé Thơ
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp - Phân Hiệu Đồng Nai
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Đặt vấn đề (12)
  • 1.2. Mục tiêu (12)
    • 1.2.1. Mục tiêu tổng quát (12)
    • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (12)
  • Chương 1 (14)
    • 1.1. Cơ sở khoa học của đề tài (14)
      • 1.1.1. Tổng quan về gà Tam Hoàng (14)
        • 1.1.1.1. Nguồn gốc (14)
        • 1.1.1.2. Đặc điểm ngoại hình (14)
        • 1.1.1.3. Một số dòng gà Tam Hoàng tại Việt Nam (14)
      • 2.1.4. Khả năng sinh trưởng của gà Tam Hoàng (15)
    • 1.2. Bệnh Cầu trùng trên gà (16)
      • 1.2.1. Định nghĩa (16)
      • 1.2.2. Lịch sử phát triển (16)
      • 1.2.3. Phân loại (18)
      • 1.2.4. Dịch tễ (20)
      • 1.2.5. Triệu chứng (20)
      • 1.2.6. Bệnh tích (21)
      • 1.2.7. Chẩn đoán (22)
      • 1.2.8. Điều trị (24)
      • 1.2.9. Các yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm cầu trùng ở gia cầm (25)
      • 1.2.10. Phòng bệnh (26)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu (27)
      • 1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (27)
      • 1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (28)
  • Chương 2 (34)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu (34)
      • 2.1.1. Đối tượng (34)
      • 2.1.2 Phạm vi nghiên cứu (34)
        • 2.1.2.1. Phạm vi về không gian (34)
        • 2.1.2.2. Phạm vi về thời gian (34)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (35)
      • 2.2.1. Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà Tam Hoàng (35)
      • 2.2.2. Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà Tam Hoàng (35)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (35)
      • 2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu sinh trưởng (35)
      • 2.3.2. Phương pháp theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng (37)
      • 2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu (39)
  • Chương 3 (40)
    • 3.1. Khả năng sinh trưởng của đàn gà Tam Hoàng khảo sát (40)
      • 3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống gà Tam Hoàng (40)
      • 3.1.2. Sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối (41)
      • 3.1.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn (44)
    • 3.2. Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở gà Tam Hoàng (45)
      • 3.2.1. Tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà (45)
      • 3.2.2. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo trạng thái phân (47)
      • 3.2.3. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh cầu trùng (48)
        • 3.2.3.1. Triệu chứng cá thể (48)
        • 3.2.3.2. Triệu chứng toàn đàn (49)
      • 3.2.4. Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà mắc bệnh cầu trùng (50)
    • 1. Kết luận (53)
    • 2. Kiến nghị (53)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (54)
  • PHỤ LỤC (57)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI VŨ THỊ HUYỀN Tên đề tài: KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN GÀ TAM HOÀN

Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá khả năng sinh trưởng và mức độ ảnh hưởng của bệnh cầu trùng trên gà Tam Hoàng.

Mục tiêu cụ thể

- Khảo sát tăng trọng gà Tam Hoàng qua các giai đoạn tuổi đến khi xuất bán

- Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng trên đàn gà

Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Tổng quan về gà Tam Hoàng

Gà Tam Hoàng có nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc, và được xuất khẩu qua công ty Trung Sơn sau năm 1949, dẫn đến tên gọi gà Thạch Kỳ Gà Thạch Kỳ thuần chủng nhỏ con, với khả năng sinh trưởng và sinh sản không cao, nên vào cuối thập niên 70, các nhà chăn nuôi Hồng Kông đã lai giống với gà Kabir (Israel), tạo ra giống gà Thạch Kỳ lai hay còn gọi là Thạch Kỳ tạp Giống gà Thạch Kỳ-Kabir sau đó được đưa trở lại Trung Sơn và qua nhiều thế hệ chọn lọc đã tạo ra các dòng gà Tam Hoàng với ngoại hình và năng suất khác nhau.

Gà Tam Hoàng nổi bật với bộ lông, mỏ và chân màu vàng, trong khi đuôi có màu đen vàng Gà con mới nở có màu sắc không đồng nhất, chủ yếu là màu vàng (62%), màu xám (23%) và một số màu khác với tỷ lệ thấp Sự khác biệt về màu lông giảm dần theo thời gian Gà có thân hình chắc chắn, đầy đặn với thân và chân ngắn, lưng bằng phẳng, đặc biệt là đùi phát triển Ngực nở và bầu bĩnh, gà nhanh nhẹn và thịt thơm ngon, đồng thời có khả năng chống chịu bệnh tật cao.

Gà Tam Hoàng có khối lượng trung bình từ 2 – 4 kg sau khi nuôi từ 3-4 tháng Gà trống trưởng thành nặng từ 2,5 – 4 kg, trong khi gà mái nặng từ 2 – 2,5 kg, với thịt có màu vàng và chắc Đây là giống gà kiêm dụng, bắt đầu đẻ trứng từ 4-5 tháng tuổi, với năng suất trung bình đạt khoảng 150 quả trứng mỗi năm cho mỗi con.

1.1.1.3 Một số dòng gà Tam Hoàng tại Việt Nam

Tam hoàng dòng 882 sở hữu màu lông vàng rơm đồng nhất và chân da vàng Gà trống của dòng này có khối lượng lớn, cơ bắp phát triển, mào đơn và chân thấp hơn so với gà Tàu của Việt.

Nam Gà nuôi 3,5 tháng theo phương thức bán công nghiệp khối lượng bình quân đạt 1,75 kg/con Năng suất trứng đạt 145-150 quả/ mái/năm

Tam hoàng 882-2: To con hơn và năng suất trứng cao hơn Khối lượng gà lúc 3 tháng tuổi đạt bằng dòng 882 lúc 3,5 tháng Năng suất trứng đạt 160 -170 quả/ mái/ năm

Tam hoàng 882-3 nuôi 3 tháng có thể đạt bình quân 1,9 – 2,0 kg/con và năng suất trứng có thể đạt 160 -170 quả/mái/năm

Hình 1.1 Gà Tam hoàng 882 và 882-3

Gà Ma hoàng (882 -2) có năng suất thịt và trứng gần tương đương với gà Tam hoàng 882, nhưng nổi bật với màu lông vàng sẫm và điểm rằn giống gà ta, nên rất được người dân ưa chuộng.

Gà Jiang là giống gà nhỏ hơn so với các dòng gà Tam hoàng, với khối lượng đạt từ 1.4 đến 1.5 kg ở độ tuổi 3 tháng Đặc biệt, gà Jiang nổi bật với phẩm chất thịt tốt, có vị thơm ngon và tỷ lệ các phần thịt giá trị cao như thịt ức và thịt đùi trong tổng khối lượng thịt xẻ.

2.1.4 Khả năng sinh trưởng của gà Tam Hoàng

Sinh trưởng, theo Trần Đình Miên và cộng sự (1992), là quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua đồng hóa và dị hóa, dẫn đến sự gia tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, và khối lượng của các bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể, dựa trên yếu tố di truyền Quá trình này chủ yếu là sự tích lũy protein, và tốc độ tích lũy các chất cùng với sự tổng hợp protein phản ánh hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng.

5 cơ thể Cũng theo Chambers, (1990) sinh trưởng là tổng sự tăng trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da

Khối lượng cơ thể của gà lúc mới sinh là 35g (Sử An Ninh và cs, 2003) Theo Hội Chăn nuôi Việt Nam (2002), dòng gà 882 có màu lông vàng hoặc lốm đốm đen, với đa số có cườm cổ, ở 11 tuần tuổi, con trống nặng từ 1,4 đến 1,45 kg, trong khi con mái nặng khoảng 1,2 kg Dòng gà Jiangcun có màu lông vàng tuyền, ở 11 tuần tuổi, con trống nặng khoảng 1,3 kg và con mái nặng trên dưới 1 kg Nếu được nuôi dưỡng tốt, dòng Jiangcun có thể đạt trọng lượng lên đến 1,8 kg/con sau 11-12 tuần tuổi.

Bệnh Cầu trùng trên gà

Bệnh cầu trùng gà (Emiriois) là bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm gây ra trên gà bởi nhóm nguyên sinh động vật Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidia, họ Eimeria

Cầu trùng ký sinh ở manh tràng và ruột non gây rối loạn tiêu hóa, tổn thương tế bào thượng bì, dẫn đến việc không hấp thu dinh dưỡng và ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất Hậu quả là giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn, làm gà còi cọc, chậm lớn và suy yếu, thậm chí có thể dẫn đến tử vong Gà mắc bệnh sẽ có sức đề kháng giảm, tạo điều kiện cho các bệnh khác phát triển Bệnh này rất phổ biến trong đàn gà nuôi công nghiệp, bán công nghiệp và cả chăn thả.

Bệnh được phát hiện cách đây hơn 370 năm tên Coccidiosis Trong lĩnh vực thú y, bệnh được phát hiện cách đây hơn 370 năm, ban đầu bệnh là Coccidiosis Năm

Vào năm 1863, Rivolta phát hiện ra một loại ký sinh trùng trong phân của những con gà đi tiêu ra máu, và một năm sau, Eimeria được xác định Đến năm 1875, Eimeria được công nhận là loài nguyên sinh động vật (Protozoa) thuộc lớp Sporozoa, bộ Coccidia, và bệnh do nó gây ra được gọi là Coccidiosis Tại Việt Nam, nghiên cứu về bệnh cầu trùng bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ 20, khi chăn nuôi gà công nghiệp phát triển Đến nay, các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện hầu hết các loại cầu trùng gây bệnh ở gà, tương tự như các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã mô tả.

6 bệnh cầu trùng trên gà được phát hiện ở khắp nơi trên thế giới, ở đâu có gà là ở đó có bệnh cầu trùng,

Bảng 1.1 Phân loại cầu trùng gây bệnh ở gà

STT Loài Tác giả, năm mô tả

Thời gian sản sinh bào tử

X (9,5 - 24,8) Không Xanh nhạt 18 - 48 Manh tràng

Vỏ hơi xù xì 30 - 48 Giữa ruột non

X (12,7-16,3) Có Không màu 13 - 17 Đầu ruột non

X (10,1 - 15,3) Có Không màu 18 - 21 Tá tràng

Ruột già, Cuối ruột non

X (14,3-29,5) Có Không màu 48 Đầu ruột non

X (14,8-19,4) Không Không màu 24 - 36 Đầu ruột non

Nguồn: Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Định Lân, (2001)

1.2.4 Dịch tễ Động vật cảm thụ: các loại gia cầm đều nhiễm bệnh, lứa tuổi nhiễm bệnh từ 5 ngày tuổi trở đi Bệnh thường xảy ra ở những đàn gà 10 - 90 ngày tuổi, nhưng nặng nhất là ở gà 18 - 45 ngày tuổi (Lê Văn Năm, 2006) Thời gian nung bệnh là 4 - 5 ngày

Eimeria là một loại cầu trùng có tính chuyên biệt cao, trong đó E.tenella sống ở màng niêm mạc manh tràng gà, còn E.acervulina sống trong tá tràng gà Sự chuyên biệt này thể hiện rõ qua quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng với từng ký chủ và từng cơ quan, mô bào riêng biệt.

Hình 2.1 Vòng đời của cầu trùng

Nguồn: Tạp chí gia cầm, (2017) Con đường và cơ chế gây bệnh:

Cơ chế cơ học của noãn nang sau khi vào cơ thể vật nuôi qua thức ăn và nước uống là quá trình cảm nhiễm, xâm nhập vào tế bào nhung mao ruột Tại đây, noãn nang phát triển qua các giai đoạn và gây ra sự phá hủy tổ chức ruột bằng cơ chế cơ giới.

Cơ chế hóa học: cầu trùng tiết ra các độc tố và các men dung giải mô ruột, gây độc cho cơ thể, (Lê Văn Năm, 2003)

Thể cấp tính xuất hiện khi một lượng lớn nang trứng độc lực cao xâm nhập vào cơ thể gà, với triệu chứng đầu tiên là khát nước sau 4 ngày nhiễm bệnh Đến ngày thứ 5, gà trở nên uể oải, giảm ăn và sau đó bỏ ăn hoàn toàn Gà thường tìm chỗ nắng ấm, quây tròn, nằm ủ rũ với lông xù, cánh xệ và dáng yếu ớt, không phản ứng với kích thích Tiếp theo, gà bỏ ăn, bỏ uống, tiêu chảy với phân loãng không có máu, sau đó có máu và nhiều màng giả Lông quanh lỗ huyệt dính phân, mào gà trắng bệch Gà con thường chết vào ngày thứ 6-7 sau khi nhiễm bệnh hoặc ngày thứ 2-3 sau khi có triệu chứng, với tỷ lệ chết cao lên đến 100% (Lê Văn Năm, 2006).

Thể á cấp tính là một dạng bệnh với triệu chứng lâm sàng tương tự như thể cấp tính nhưng nhẹ hơn và kéo dài hơn Trong thời gian này, có sự xuất hiện của biến đổi trong máu, dẫn đến giảm hồng cầu và bạch cầu Gà nhiễm bệnh có thể gặp phải tình trạng co giật hoặc thậm chí liệt nhẹ ở chân và cánh Đặc biệt, gà con sẽ có triệu chứng thần kinh như rướn cổ và duỗi thẳng cánh, chân Bệnh có thể kéo dài từ 7 đến 10 ngày, với tỷ lệ tử vong lên đến 50% trong số gà bị nhiễm (Lê Văn Năm, 2006).

Bệnh cầu trùng mãn tính ở gà có triệu chứng kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, thường xuất hiện ở gà từ 4 đến 6 tuần tuổi hoặc gà trưởng thành Triệu chứng lâm sàng tương tự như thể cấp tính nhưng không rõ ràng và không điển hình Gà mắc bệnh thường gầy còm, chân và cánh có dấu hiệu tê liệt nhẹ Năng suất trứng giảm từ 15-25%, thỉnh thoảng xuất hiện tình trạng kiết lỵ, nhưng tỷ lệ chết ở gà rất thấp.

1.2.6 Bệnh tích Điển hình của bệnh là: xuất huyết và hoại tử niêm mạc ruột (Thành ruột có nhiều tụ điểm xuất huyết) Nếu do E tenella ký sinh, manh tràng sưng rất to, bên ngoài có màu nâu đen hoặc đen, trong lòng manh tràng chứa đầy máu tươi lẫn trong chất chứa màu đen, máu có thể đông thành những cục lổn nhổn, vì thế phân gà luôn lẫn máu Hậu môn ướt, lông bết, xung quanh cơ vòng hậu môn có những điểm xuất huyết, (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2001)

Hình 1.2 Phân gà nhiễm cầu trùng

Hình 1.3 Bệnh tích trên đường ruột gà bị nhiễm cầu trùng

Gà thường mắc bệnh từ 10 đến 14 ngày tuổi, với triệu chứng nặng nhất xuất hiện trong khoảng từ 18 đến 45 ngày tuổi Sau 45 ngày, gà sẽ ở thể mãn tính, và sau 90 ngày tuổi, chúng chuyển sang thể mang trùng.

Gà mới bị nhiễm cầu trùng thường có biểu hiện uống nhiều nước, sau đó trở nên chậm chạp, xù lông, cánh rũ, mắt nhắm và phân có máu tươi.

Chẩn đoán bệnh dựa vào mổ khám bệnh tích cho thấy những biểu hiện đặc trưng ở manh tràng và ruột, bao gồm niêm mạc xung huyết, xuất huyết điểm hoặc lan tràn, và tế bào biểu mô bong tróc làm thành ruột mỏng Thỉnh thoảng, trong ruột có thể xuất hiện dịch nhày fibrin màu vàng nâu cùng với một số nốt sần hoại tử màu trắng đục.

Chẩn đoán phòng thí nghiệm, chẩn đoán bằng xét nghiệm phân:

Biện pháp chủ yếu để phát hiện noãn nang cầu trùng là sử dụng phương pháp xét nghiệm phù nổi của Willis (1927) Phương pháp này cho phép tìm ra noãn nang cầu trùng một cách hiệu quả Đồng thời, phương pháp Darling cũng cho thấy khả năng phát hiện số lượng gà con ốm cao nhất và nhiều nang trứng cầu trùng trên tiêu bản Ngoài ra, phương pháp Fullerbon được đánh giá là đơn giản, kinh tế và có độ chính xác cao hơn.

Bên cạnh đó, tiến hành chẩn đoán phân biệt với các bệnh Histomonosis, bệnh Trichomonas, bệnh xoắn khuẩn, bệnh tiêu chảy phân trắng

Hình 1.4 Noãn nang cầu trùng qua kính hiển vi

Nguyên tắc điều trị bệnh cầu trùng yêu cầu thời gian điều trị kéo dài ít nhất 3 - 4 ngày với liều dùng thuốc đủ để tiêu diệt căn nguyên theo hướng dẫn của nhà sản xuất Do chu trình phát triển của cầu trùng mất từ 3 - 5 ngày, sau khi điều trị, cần duy trì liều phòng liên tục trong 3 ngày để kìm hãm sự phát triển của chúng, sau đó nghỉ 3 ngày và lặp lại cho đến khi gia cầm đạt miễn dịch tự nhiên Lưu ý, trong quá trình điều trị không nên sử dụng vitamin nhóm B, vì chúng có thể tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển.

Giai đoạn 1: Gà từ 1 - 3 tuần tuổi chúng đang nằm trong giai đoạn phát triển thể

Giai đoạn đầu của quá trình phát triển cầu trùng trong tế bào biểu bì của vật chủ được gọi là schizont hoặc shizont 2,3 Các chế phẩm như sulfadoxin (sulfachloropyridazine), amprolium và diaveridin thường được sử dụng trong giai đoạn này.

Tình hình nghiên cứu

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Jordan F T W (1990) đã xác định bảy loài cầu trùng gây bệnh cho gà, bao gồm E brunetti, E tenella, E acervulina, E maxima, E mitis, E praecox và E hagani Trong số này, E hagani được mô tả lần đầu vào năm 1938 Các loài cầu trùng này phân bố rộng rãi trên toàn cầu.

Loài E acervulina và loài E maxima thường thấy ở bệnh cầu trùng gà, đặc biệt

E tenella tác nhân gây bệnh cao và phổ biến Ayssiwede và cs, (2011), đã nghiên cứu so sánh khả năng mẫn cảm của các giống gà đối với cầu trùng Các tác giả nhận thấy các giống gà địa phương ít mẫn cảm với cầu trùng hơn so với các giống gà nhập Những con gia cầm bị nhiễm một lượng nhỏ hợp bào Eimeria cho thấy khả năng chống lại sự tái nhiễm và khả năng kháng này đã tăng lên sau lần nhiễm thứ hai (Rose và Long, 1962)

Trong một đàn gà, thường có sự xuất hiện của nhiều loài Eimeria cùng lúc, với E acervulina, E maxima và E tenella là ba loài thường được phát hiện đồng thời trong các mẫu chất độn chuồng từ các trang trại gia cầm ở Hoa Kỳ (Schwarz, Jenkins, Klopp, & Miska, 2009).

Bệnh cầu trùng, theo Orlow (1975), chủ yếu ảnh hưởng đến gia cầm non, đặc biệt là gà một tháng tuổi Loài Eimeria tenella là tác nhân gây bệnh mạnh nhất và phổ biến nhất, trong khi Eimeria maxima cũng gây ảnh hưởng đến gà.

Gia cầm non từ 1,5-2 tháng tuổi dễ mắc bệnh, trong khi gia cầm lớn có thể là vật mang trùng Khi đàn gà bị nhiễm bệnh, chúng thường giảm rõ rệt lượng thức ăn và nước uống, trở nên chán nản và có xu hướng tụ tập lại Tình trạng giảm cân xảy ra do niêm mạc ruột bị gián đoạn, ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ Tiêu chảy có thể xuất hiện khi vật chủ cố gắng đào thải sinh vật gây bệnh, dẫn đến nguy cơ mất nước Tổn thương niêm mạc ruột và mất sắc tố có thể trở nên rõ ràng trong giai đoạn sau của nhiễm trùng (Conaway và McKenzie, 1991).

Singh.U.M(1996-1997) đã nghiên cứu và chế tạo vacxin cầu trùng mới bao gồm

E Maxima, E Acervulina, E Necatrix, E Tenella và đã sử dụng thử nghiệm tại Trung

Quốc Lee (Canada) đang nghiên cứu các loại vacxin cầu trùng mới với các loài Eimeria.spp tại chỗ có hiệu quả

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Một số nghiên cứu khả năng sinh trưởng trên gà Tam Hoàng

Giống gà Tam Hoàng được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam lần đầu năm

1993 và được nuôi ở Quảng Ninh Kết quả nuôi thích nghi ở đây cho thấy khối lượng

Gà Tam Hoàng ở 90 ngày tuổi chỉ đạt trung bình 0,81 kg/con, tiêu tốn 4,5 kg thức ăn để tăng 1 kg trọng lượng, và năng suất trứng đạt 131 quả/mái/năm Sau đó, gà Tam Hoàng được nuôi khảo sát tại trại giống của Viện Chăn nuôi và Xí nghiệp gà giống Lương Mỹ - Nam Hà Nhiều cơ sở giống nhà nước và tư nhân đã nhập khẩu hoặc mua con giống từ các cơ sở để nhân giống.

Gà lai F 1(Hồ -LP) có khối lượng lúc 12 tuần tuổi là 1997g (Bùi Hữu Đoàn,

Khối lượng cơ thể của gà Lương Phượng ở tuổi 12 tuần đạt từ 2,0 đến 2,57 kg mỗi con (Nguyễn Huy Đạt và cs, 2010) Trong khi đó, gà lai Đông Tảo x Tam Hoàng chỉ đạt khối lượng từ 1683,95 đến 1646,8 g (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999).

Báo cáo của Đào Văn Khanh (2002) về khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của các giống gà thịt lông màu như Kabil, Lương Phượng và Tam Hoàng nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên cho thấy sự khác biệt về khối lượng cơ thể giữa các giống Cụ thể, gà Tam Hoàng đạt khối lượng từ 1108-1316g ở tuần tuổi thứ nhất.

Năng suất thịt khi mổ khảo sát ở gà trống từ 63-70 ngày tuổi đạt khoảng 77,63 - 78,20%, trong khi gà mái là 78,25 - 80,50% Tỷ lệ thịt đùi của cả gà trống và gà mái đều cao hơn so với thịt ức, nhưng tỷ lệ thịt ức và mỡ bụng ở gà mái lại cao hơn gà trống Đối với gà Tam Hoàng, lượng thức ăn tiêu tốn để tăng 1kg trọng lượng cơ thể là 2,88 kg cho gà trống và 3,06 kg cho gà mái.

Tổng hợp nghiên cứu cầu trùng trên gà

Theo nghiên cứu của Phạm Hùng (1979), việc điều tra gà nuôi tại các tỉnh miền Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Sông Bé và Đồng Nai đã phát hiện ra 8 loài gà khác nhau.

Eimeria ký sinh ở gà bao gồm các loài như E tenella, E necatrix, E mivati, E mitis, E maxima, E hagani, E brunetti và E acervulina Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà khác nhau theo độ tuổi, cụ thể: gà 2 - 3 tuần tuổi có tỷ lệ nhiễm 60%, gà 4 - 5 tuần tuổi có tỷ lệ nhiễm 93%, và gà 6 - 13 tuần tuổi có tỷ lệ nhiễm cao hơn.

100 %, gà mái đẻ có tỷ lệ nhiễm 40 - 60 %

Hồ Thị Thuận và cộng sự (1984) đã điều tra bệnh cầu trùng tại một trại gà công nghiệp ở Sông Bé cũ, ghi nhận sự hiện diện của 5 loài cầu trùng: E tenella, E brunetti, E mitis, E maxima và E necatrix Gà 4 tuần tuổi bắt đầu xuất hiện cầu trùng, với tỷ lệ nhiễm cao nhất từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 7 Trong đó, E tenella là loài cầu trùng phổ biến nhất, gây bệnh với triệu chứng rõ rệt.

Nghiên cứu của Lương Tố Thu và cộng sự (1993) cho thấy việc sử dụng furazolidone để phòng bệnh cầu trùng cho gà từ 7 - 56 ngày tuổi không hiệu quả, với tỷ lệ mắc bệnh trung bình đạt 52,9%, dẫn đến gà chết lác đác và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng Hoàng Thạch và cộng sự (1997) đã xác định 6 loài cầu trùng gây bệnh cho gà tại hai huyện ở thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm E tenella, E necatrix, E mitis, E maxima, E hagani và E acervulina, với khả năng gà nhiễm từ 1 đến 6 loài cùng một lúc Gà dưới 2 tuần tuổi không bị nhiễm, nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất xảy ra ở gà từ 5 - 8 tuần tuổi và giảm dần ở những con lớn hơn Ở miền Bắc, Dương Công Thuận (1978) đã ghi nhận kết quả điều tra tại các cơ sở chăn nuôi.

Xí nghiệp gà Đông Anh tại Hà Nội nuôi gà trong môi trường chuồng trại thông thoáng, đảm bảo độ ẩm và vệ sinh tốt Để phòng bệnh cho gà, xí nghiệp sử dụng thuốc tik ouran Tỷ lệ nhiễm cầu trùng được ghi nhận ở gà 2 - 4 tuần tuổi là 4%, gà 5 - 8 tuần tuổi là 24%, và gà 9 - 13 tuần tuổi.

Xí nghiệp gà Thành Tô tại Hải Phòng nuôi gà trong môi trường chuồng trại với quy trình vệ sinh và chăm sóc tốt Đặc biệt, họ không sử dụng thuốc ngừa cầu trùng Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà được ghi nhận như sau: 46,9% ở gà 2 - 4 tuần tuổi, 32% ở gà 5 - 8 tuần tuổi, và 13,2% ở gà mái đẻ Gà trong độ tuổi từ 2 - 8 tuần có tỷ lệ nhiễm cao nhất.

19 là gà từ 2 - 4 tuần tuổi nhiễm từ 47-93 % Sau 8 tuần tuổi bệnh giảm, một số gà mái đẻ cũng còn nhiễm cầu trùng nhưng triệu chứng lâm sàng không rõ

Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng Đề tài được tiến hành trên 5.000 con gà giống Tam Hoàng 1 ngày tuổi

2.1.2.1 Phạm vi về không gian Địa điểm tiến hành thí nghiệm: Trại gà anh Trần Võ Minh, ấp Đức Long 2, xã Gia Tân 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Chuồng gà thí nghiệm có diện tích 10 x 25 m, được trang bị thiết bị cảm biến nhiệt tự động duy trì nhiệt độ từ 22-24°C Hệ thống tự động hóa hoàn toàn cho việc vệ sinh, cho ăn và cung cấp nước, đồng thời tất cả các xe ra vào đều phải qua hệ thống tiêu độc, khử trùng tại cổng Mái chuồng bằng tôn có hiên bạt dài 50 cm và hệ thống phông bạt xung quanh giúp tránh mưa tạt, gió lùa và giữ ấm cho gà Nền đất được lót bằng lớp trấu dày 5-7 cm, hạn chế mùi hôi và côn trùng Địa điểm phân tích mẫu là Bộ môn Giải phẫu - Tổ chức - Phôi thai, Khoa Thú y, Đại học Lâm nghiệp Phân hiệu Đồng Nai, với quy mô khoảng 50m2, trang bị đầy đủ cho học tập và nghiên cứu khoa học.

2.1.2.2 Phạm vi về thời gian

Thực hiện đề tài từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2022

Theo dõi trên đàn gà tam hoàng 5000 con một ngày tuổi tại một trại gà ở Gia Kiệm – Đồng Nai

Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà Tam Hoàng

Theo dõi tỷ lệ nuôi sống

Theo dõi khả năng sinh trưởng

Theo dõi hiệu quả sử dụng thức ăn

Phác đồ điều trị bệnh cầu trùng của trang trại khảo sát:

- Gà dưới 50 ngày tuổi thì dùng kháng sinh chứa Sulfamonomethoxine hoặc azurill, gà trên 50 ngày tuổi sử dụng kháng sinh có chứa Diclazuril

- Sử dụng Vitamin K nếu thấy phân lẫn máu

- Sử dụng kháng sinh điều trị kế phát bệnh khác: BIO - AMOXICILLIN thành phần Amoxicillin Trihydrate 50 %

- Giải độc gan thận sau khi điều trị kháng sinh: PHORETIC thành phần Ethanol amino phosphoric acid 10 % và Heparin chứa Sobitol 35 %

Khi điều trị cầu trùng ở gà, cần sử dụng thuốc triệt để trong 3-5 ngày đầu Nếu gà có dấu hiệu hồi phục, hãy cho gà nghỉ ngơi và tiến hành giải độc gan trong 2 ngày tiếp theo Điều này quan trọng vì cầu trùng có thể bị thải ra ngoài qua phân và tiếp tục gây bệnh, do đó cần sử dụng thuốc thêm trong thời gian này.

5 ngày nữa cho gà điều trị mang lại hiệu quả cao nhất

2.2.2 Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà Tam Hoàng

Nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà từ 0 - 8 tuần tuổi:

+ Theo lứa tuổi gà + Theo trạng thái phân khác nhau

+ Theo dõi triệu chứng lâm sàng ở gà mắc bệnh cầu trùng

+ Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà mắc bệnh cầu trùng.

Phương pháp nghiên cứu

Thời gian khảo sát bắt đầu lúc gà 1 tuần tuổi đến 8 tuần tuổi

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu sinh trưởng

Theo dõi tổng đàn 5.000 con gà là cần thiết để đảm bảo sự đồng đều về tuổi tác, nguồn gốc, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, cũng như quy trình thú y phòng bệnh.

Trong nghiên cứu gia cầm, các chỉ tiêu về năng suất sinh trưởng, tỷ lệ loại thải từ 0 - 8 tuần tuổi và tiêu tốn thức ăn được theo dõi và tính toán theo phương pháp thường quy (Bùi Hữu Đoàn và cs, 2011) Năng suất sinh trưởng được ghi nhận hàng tuần, từ tuần tuổi thứ nhất cho đến hết tuần thứ tám.

Sức sống và khả năng kháng bệnh của đàn gà được xác định thông qua tỷ lệ nuôi sống theo từng tuần tuổi Để theo dõi, cần thực hiện việc đếm chính xác số lượng gà chết trong chuồng nuôi hàng ngày Tỷ lệ nuôi sống được tính toán dựa trên công thức cụ thể, giúp đánh giá sức khỏe tổng thể của đàn gà.

Sinh trưởng tích lũy được xác định qua khối lượng gà tính bằng gam (g) ở các tuần tuổi Để đo lường, tiến hành lấy ngẫu nhiên 100 con gà từ đàn, phân bố ở các vị trí đầu, giữa và cuối chuồng Quá trình cân trọng lượng được chia thành 5 lần, mỗi lần cân 20 con gà.

Khối lượng tích lũy được tính B = 𝑃𝑛 − 𝑃1

Trong đó: B: Sinh trưởng tích lũy (g/con)

Khối lượng cơ thể được đo tại thời điểm tn (g) là thông số quan trọng trong việc theo dõi sự thay đổi cân nặng Để so sánh, khối lượng cơ thể tại thời điểm t1 (g) được ghi nhận trước đó Việc theo dõi khối lượng cơ thể giữa hai thời điểm tn và t1 (ngày) giúp đánh giá hiệu quả của chế độ dinh dưỡng và luyện tập.

Khối lượng bình quân của gà qua các tuần tuổi tăng lên thêm so với tuần 1 được tích lũy dần lên

Sinh trưởng tuyệt đối: Là mức tăng khối lượng một ngày tính theo trung bình của một tuần tuổi, tính bằng g/con/ngày

Trong đó: A: Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

Pn1: Khối lượng cơ thể cân tại thời điểm tn (g) Pn2: Khối lượng cơ thể cân tại thời điểm tn (g) tn1: Thời điểm cân trước (ngày)

26 tn2: Thời điểm cân sau (ngày) Hiệu quả sử dụng thức ăn: Phương pháp xác định tiêu tốn/kg tăng khối lượng

Để quản lý lượng thức ăn cho gà hiệu quả, hàng ngày cần cân chính xác lượng thức ăn cho gà vào một giờ cố định Vào ngày hôm sau, hãy vét sạch thức ăn thừa trong máng và cân lại Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày được tính theo công thức cụ thể.

Lượng TATN (g/con/ngày) = 𝐿ượ𝑛𝑔 𝑡ℎứ𝑐 ă𝑛 𝑐ℎ𝑜 ă𝑛 (𝑔) − 𝐿ượ𝑛𝑔 𝑡ℎứ𝑐 ă𝑛 𝑡ℎừ𝑎 (𝑔)

𝑆ố 𝑔à (𝑐𝑜𝑛) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (FCR):

2.3.2 Phương pháp theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng

Mẫu phân gà nghi mắc bệnh cầu trùng

Thiết bị: Kính hiển vi quang học, đũa thủy tinh, ống nghiệm, vòng vớt, dao, pank, kẹp

Hóa chất: Dung dịch nước muối bão hòa (dung dịch NaCl bão hòa)

Phương pháp thu lấy mẫu phân nghi nhiễm cầu trùng:

Mẫu phân cần được thu thập mới, sạch và ngẫu nhiên từ từng cụm dọc theo dãy chuồng, đảm bảo bao quát khắp khu vực Mỗi mẫu phân được cho vào túi nilon riêng biệt và ghi nhãn rõ ràng với thông tin về tuổi, trạng thái phân và ngày tháng lấy mẫu Sau khi thu thập, các mẫu phân phải được xét nghiệm ngay trong ngày, trong khi những mẫu chưa được xét nghiệm cần được bảo quản ở nhiệt độ 2-4 độ C.

Để lấy mẫu phân động vật, cần sử dụng túi nilon sạch, lộn ngược và đeo vào tay hoặc sử dụng găng tay bảo hộ Tiến hành lấy phân trực tiếp từ trực tràng con vật hoặc thu thập phân vừa thải ra ngoài môi trường, sau đó cho vào lọ miệng rộng hoặc túi nilon sạch Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bệnh động vật, việc lấy mẫu bệnh phẩm, bảo quản và vận chuyển phải tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt (2018) Đặc biệt, cần bảo quản bao gói bằng đá khô để đảm bảo chất lượng mẫu.

27 điều kiện lạnh 3 ngày cuối tuần mỗi ngày lấy 5 mẫu phân, bảo quản và đem xét nghiệm

Phương pháp kiểm tra phân tìm noãn nang của Willis năm 1927

Mẫu phân cần được thu thập mới, sạch từ từng cụm dọc theo dãy chuồng, đảm bảo tính ngẫu nhiên và bao quát toàn bộ khu vực Mẫu phải được ký hiệu rõ ràng với thông tin về lứa tuổi, hình thức chăn nuôi và tình trạng sức khỏe, sau đó bảo quản trong thùng đá khi chuyển về phòng thí nghiệm Nhiệt độ bảo quản mẫu phân là từ 5-10 độ C, và việc kiểm tra nên được thực hiện trong vòng 2-3 ngày Phương pháp kiểm tra noãn nang sử dụng kỹ thuật phù nổi Willis với dung dịch NaCl bão hòa, nhờ vào đặc tính tỷ trọng của NaCl bão hòa giúp noãn nang nổi lên bề mặt, kết hợp với việc định danh dựa trên các đặc điểm hình thái của noãn nang cầu trùng.

Lấy 5 - 10g phân cho vào một cốc nhỏ, dùng đũa thủy tinh khuấy đều phân trong 40 - 50 ml nước muối bão hòa Sau đó, lọc qua lưới lọc để loại trừ cặn bã Dung dịch lọc được để yên tĩnh trong lọ tiêu bản Sau khoảng 30 - 50 phút noãn nang sẽ nổi lên Dùng vòng vớt thép vớt lớp váng ở phía trên, để lên phiến kính, đậy lamen, sau đó kiểm tra dưới kính hiển vi tìm noãn nang cầu trùng

Tỷ lệ nhiễm cầu trùng (%) = 𝑺ố 𝒎ẫ𝒖 𝒏𝒉𝒊ễ𝒎

Theo dõi triệu chứng lâm sàng là cần thiết để đánh giá tình trạng chung của đàn gà, nhằm phát hiện những biểu hiện bất thường liên quan đến mức độ ăn uống, hoạt động và tình trạng phân của gà.

Trong tuần thứ 3 và thứ 4, gà có nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất Cần tiến hành bắt và cách ly những con gà có triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh cầu trùng, theo dõi hàng ngày tổng cộng 95 con gà.

Phương pháp mổ khám của Skrjabin được áp dụng trên gà mới chết và gà có triệu chứng bệnh cầu trùng nặng nhằm xác định bệnh tích và mức độ tổn thương Quá trình này bao gồm việc kiểm tra đặc điểm đường tiêu hóa tại ba vị trí khác nhau để phân loại cầu trùng gây bệnh Tất cả gà ốm chết nghi ngờ mắc cầu trùng đều được mổ khám để thu thập thông tin cần thiết.

28 tràng, ruột non và trực tràng Sau đó nạo lấy niêm mạc soi tươi dưới kính hiển vi tìm noãn nang

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được trong quá trình khảo sát được nhập và xử lý trên phần mềm Excel 2016

Khả năng sinh trưởng của đàn gà Tam Hoàng khảo sát

3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống gà Tam Hoàng

Tỷ lệ nuôi sống theo giai đoạn là chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng sống sót, khả năng thích nghi và sức đề kháng của gà đối với bệnh tật Thông qua đó, người nuôi có thể đưa ra các giải pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh hợp lý Tỷ lệ này được tính toán bằng cách cộng dồn tỷ lệ nuôi sống qua các tuần từ đầu kỳ nuôi đến cuối giai đoạn theo dõi, với kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 3.1.

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà (n=5.000) Tuần tuổi Tỷ lệ nuôi sống/tuần (%) Tỷ lệ nuôi sống/giai đoạn (%)

Tỷ lệ nuôi sống theo giai đoạn từ 1 - 8 tuần tuổi của gà đạt 96,23 % Tỷ lệ nuôi sống của gà Tam Hoàng theo tuần (Bảng 3.1) tương đối cao từ 99,18 – 99,88 % Từ

Trong giai đoạn từ 1 đến 4 tuần tuổi, tỷ lệ sống của gà thấp hơn so với các tuần sau do hệ tiêu hóa và miễn dịch chưa hoàn thiện, khiến gà dễ mắc tiêu chảy và tử vong Tuy nhiên, từ tuần thứ 3 trở đi, tỷ lệ nuôi sống của đàn gà tăng lên, cho thấy khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh được cải thiện Đặc biệt, trong khoảng thời gian này, gà thường mắc bệnh cầu trùng, dẫn đến số lượng gà chết cao hơn so với các giai đoạn khác.

Tỷ lệ nuôi sống của gà khảo sát cao hơn so với nghiên cứu của Trần Công Xuân và cộng sự (1993) trên các dòng gà Tam Hoàng Cụ thể, dòng gà Tam Hoàng (882) cho thấy tỷ lệ nuôi sống vượt trội.

Tỷ lệ sống của gà Tam Hoàng (Hà Nam Ninh) đạt 94%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Xoàn (1998) Trong giai đoạn từ 0-3 tuần tuổi, tỷ lệ sống là 95,73-97,33%, còn từ 4-8 tuần tuổi dao động từ 98,13-98,9% Tỷ lệ sống này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống gà, kỹ thuật nuôi dưỡng, điều kiện khí hậu và phương thức chăn nuôi Do đó, việc áp dụng quy trình nuôi phù hợp và an toàn sinh học là cần thiết để giảm tỷ lệ hao hụt và nâng cao tỷ lệ sống ở gà.

3.1.2 Sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối

Sinh trưởng tích lũy ở gia cầm là khối lượng cơ thể qua các giai đoạn tuổi, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sức sản xuất thịt và hiệu quả kinh tế Khối lượng cơ thể phản ánh tình trạng sức khỏe, chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và phẩm chất giống Nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc, thời tiết và khả năng thích nghi của giống ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà Sinh trưởng tích lũy nhanh giúp rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí thức ăn và nâng cao hiệu quả kinh tế Kết quả được thể hiện qua bảng 3.2.

Bảng 3.2 Khả năng sinh trưởng của gà (n = 100) Tuần tuổi

Khối lượng trung bình- Sinh trưởng tích lũy (g)

Tăng trọng bình quân -sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

Hình 3.1 Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Tam Hoàng

Khối lượng bình quân cơ thể gà tăng nhanh từ 34,30g ở 1 ngày tuổi lên 1.454g ở 8 tuần tuổi, như thể hiện trong bảng 3.2 và hình 3.1 So với nghiên cứu của Thạch Trực (2010) trên gà Lương Phượng, khối lượng bình quân gà đạt 1.505,8-1.556,1g ở 54 ngày tuổi, kết quả khảo sát này thấp hơn do quy mô chuồng nuôi lớn.

Nghiên cứu của Thạch Trực (2010) cho thấy gà 1 ngày tuổi có khối lượng bình quân từ 41,52-42,45g khi nuôi trong chuồng lồng với quy mô 340/lồng Tuy nhiên, khối lượng gà Tam Hoàng ở 8 tuần tuổi qua khảo sát tại trại lại thấp hơn Các yếu tố ngoại cảnh có thể ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể của gà trong quá trình nuôi dưỡng.

Sinh trưởng tích lũy ở gà khảo sát tăng liên tục qua các tuần tuổi, đặc biệt từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 6, khi gà đạt 1009g, tăng từ 233g Tuy nhiên, từ tuần 7 đến tuần 8, tốc độ tăng trưởng chậm lại, khối lượng cơ thể không tăng, và cơ thể bắt đầu tích mỡ, đánh dấu giai đoạn vỗ béo cuối cùng trước khi xuất bán.

Hình 3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của gà Tam Hoàng

Sinh trưởng tuyệt đối của gà Tam Hoàng thể hiện sự tăng trưởng khối lượng cơ thể trong thời gian giữa hai lần khảo sát Kết quả cho thấy, từ 1 đến 8 tuần tuổi, sinh trưởng tuyệt đối tăng từ 8,87g/con/ngày lên 31,00g/con/ngày Giai đoạn 1 đến 3 tuần tuổi ghi nhận sự tăng trưởng mạnh, trong khi từ 3 đến 4 tuần tuổi, tăng trọng giảm do gà bị nhiễm cầu trùng, làm giảm khả năng ăn uống và tiêu hóa Sau khi điều trị, sinh trưởng phục hồi từ tuần 4 với 22,49g/con/ngày đến tuần 5 là 25,57g/con/ngày Tuy nhiên, từ tuần 7 đến 8, sinh trưởng tuyệt đối giảm dần, từ 35,29g/con/ngày ở tuần 6 xuống còn 31,00g/con/ngày ở tuần 8.

Sinh trưởng tuyệt đối của gà tuân theo quy luật sinh trưởng của gia cầm, tăng nhanh từ 1 đến 5 hoặc 6 tuần tuổi rồi giảm dần Mục đích của sinh trưởng tuyệt đối là xác định khối lượng bình quân của gà trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó điều chỉnh chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng để đạt hiệu quả tăng trọng cao nhất.

Thời điểm lý tưởng để kết thúc nuôi gà Tam Hoàng thương phẩm là ở tuần tuổi thứ 9, tuy nhiên, thời điểm xuất bán thực tế còn phụ thuộc vào phương thức nuôi, mật độ, quy mô chuồng trại và thị hiếu thị trường Thông thường, người chăn nuôi thường xuất bán gà khi chúng đạt 8 tuần tuổi, đặc biệt là trong mô hình nuôi chuồng kín và quy mô công nghiệp.

3.1.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn

Hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia cầm được xác định qua mức tiêu tốn thức ăn cho mỗi đơn vị sản phẩm Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả này, bao gồm giống, lứa tuổi, chất lượng thức ăn và điều kiện môi trường Trong ngành chăn nuôi, mức tiêu tốn thức ăn chiếm từ 70-80% giá thành sản phẩm, do đó, đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả sản xuất.

Bảng 3.3 Khả năng thu nhận và tiêu tốn thức ăn của gà Tam Hoàng Tuần tuổi Lượng thức ăn thu nhận

Tiêu tốn thức ăn (kg/kg tăng trọng)

Lượng thức ăn thu nhận (TATN) và tiêu tốn thức ăn (TTTA) của gà khảo sát có xu hướng tăng dần theo tuần tuổi Cụ thể, TATN (g/con/ngày) tăng từ 11,83 g ở tuần 1 lên 86,76 g ở tuần 8 Trong khi đó, TTTA (kg/kg tăng trọng) cũng tăng từ 1,33 kg ở tuần 1 lên 2,36 kg ở tuần 4, cho thấy sự biến chuyển rõ rệt trong hiệu quả sử dụng thức ăn.

Trong giai đoạn từ tuần 4 đến tuần 5, chỉ số FCR giảm mạnh từ 2,36 xuống 2,7, sau đó tăng trở lại từ tuần 6 và tiếp tục tăng dần Lượng TATN và TTTA trung bình của gà từ 1-8 tuần tuổi là 56,01 g/con/ngày và 2,10 kg/kg tăng trọng.

Trong giai đoạn 0 - 4 tuần tuổi, hệ tiêu hóa của gà chưa phát triển hoàn chỉnh, dẫn đến khả năng tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất kém Tuy nhiên, vào tuần thứ 5, tỷ lệ tăng trưởng thể trọng (TTTA) giảm mạnh do gà bị nhiễm cầu trùng kéo dài, gây giảm sinh trưởng tuyệt đối và làm TTTA thấp hơn so với các tuần đầu.

Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở gà Tam Hoàng

3.2.1 Tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi của gà Tuổi gà

(Tuần) Số mẫu kiểm tra Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm

Hình 3.3 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Tam Hoàng theo tuần tuổi

Kết quả từ bảng 3.4 và hình 3.3 cho thấy trong tuần tuổi đầu tiên, không có sự xuất hiện của noãn nang Oocyst trong phân gà Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (1997), gà 1 tuần tuổi chưa bị nhiễm cầu trùng Tuy nhiên, noãn nang cầu trùng có thể có mặt trong phân gà 1 ngày tuổi, mặc dù gà chưa biểu hiện bệnh Nguyên nhân có thể do điều kiện vệ sinh chuồng nuôi kém và thời gian trống chuồng ngắn, dẫn đến noãn nang tồn tại và bị gà con ăn phải Hệ tiêu hóa của gà con chưa phát triển đầy đủ, khiến noãn nang không bị phá vỡ và thải ra ngoài theo phân mà không gây bệnh Đến tuần tuổi thứ 2, Oocyst bắt đầu xuất hiện trong phân gà với tỷ lệ nhiễm 20,00% Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên gà Tam Hoàng có sự biến động qua các tuần tuổi, tăng dần và đạt cao nhất vào tuần thứ 3, sau đó giảm.

Gà bắt đầu xuất hiện triệu chứng lâm sàng từ tuần tuổi thứ 3, với tỷ lệ nhiễm 46,67% Các biểu hiện bao gồm gà ủ rũ, lông xù, kém ăn và phân lỏng có máu Tỷ lệ nhiễm ở tuần 4 giảm xuống 40,00%, tiếp theo là 33,33% ở tuần 5, 20,00% ở tuần 7 và chỉ còn 6,67% ở tuần 8 Tỷ lệ nhiễm trung bình ghi nhận là 24,17%, phù hợp với nghiên cứu của Dương Công Thuận (1973).

Theo khảo sát, tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà tăng theo độ tuổi do lượng thức ăn tăng lên, khiến men tiêu hóa phá vỡ lớp vỏ Oocyst, giải phóng noãn trong hệ tiêu hóa Gà hoạt động nhiều hơn, dẫn đến phân rơi vào máng ăn và máng uống, làm ô nhiễm nguồn nước và thức ăn Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho cầu trùng phát triển trong chuồng trại, khiến gà nuốt phải lượng noãn nang lớn khi tìm kiếm thức ăn Do đó, tỷ lệ nhiễm cầu trùng nặng hơn ở gà lớn.

Sức đề kháng của gia cầm đối với mầm bệnh khác nhau theo từng lứa tuổi, dẫn đến tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng cũng biến đổi qua các tuần tuổi Đặc biệt, từ tuần thứ 5 trở đi, tỷ lệ nhiễm có xu hướng giảm dần Khi phát hiện gà có triệu chứng lâm sàng của bệnh, các trại đã kịp thời sử dụng thuốc điều trị, giúp giảm tỷ lệ nhiễm cầu trùng xuống còn 6,67% khi gà đạt 8 tuần tuổi.

3.2.2 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo trạng thái phân

Quá trình theo dõi mẫu phân gà nhằm tìm noãn nang cầu trùng có nhiều trạng thái và liên quan đến tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 3.5.

Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo trạng thái phân

Trạng thái phân Số mẫu kiểm tra

Số mẫu dương tính Tỷ lệ (%)

Phân màu hồng có màng nhầy 40 12 30,00

Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà khác nhau tùy thuộc vào trạng thái phân Cụ thể, gà có phân sáp có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 35%, tiếp theo là phân gà có màng nhầy, màu hồng với 30% Trong khi đó, phân gà bình thường chỉ có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 7,5% Những phát hiện này phù hợp với nghiên cứu của Phạm Ngọc Hà (2006), cho thấy gà có phân sáp có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với gà có phân màng nhầy, màu hồng và phân bình thường.

3.2.3 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh cầu trùng

Quan sát và bắt những con gà nghi mắc bệnh là rất quan trọng để theo dõi và đánh giá triệu chứng Ban đầu, gà có biểu hiện ủ rũ, lười vận động, thường đứng tụ lại thành từng nhóm nhỏ với dáng đi mệt nhọc và chậm chạp Sau đó, gà sẽ giảm ăn rõ rệt, có những con bỏ ăn, uống nước nhiều và đi lại khó khăn Những con gà bị bệnh thường đứng yên một chỗ, không muốn vận động, với biểu hiện thường thấy là đầu ngoặt sang một bên, hai mắt nhắm nghiền, hai cánh sã xuống và lông xơ xác.

Trạng thái phân đặc trưng bắt đầu với màu vàng của cám, sau đó chuyển sang màu xanh trắng, loãng và có bọt khí Cuối cùng, phân sẽ chuyển sang màu nâu đỏ và có lẫn máu.

Gà bệnh thường có mào và tích nhợt nhạt, lông xơ xác và gầy nhanh do mất máu và bỏ ăn Bệnh tiến triển trong khoảng 4 đến 5 ngày, và nếu không được điều trị kịp thời, gà có thể chết Tuy nhiên, nếu phát hiện gà chớm bệnh trong 1 đến 2 ngày và được điều trị, gà sẽ hồi phục, mặc dù sẽ chậm lớn hơn so với những con khỏe mạnh.

Kết quả mổ khảo sát gà nhiễm bệnh cầu trùng của Nguyễn Phúc Khánh và cs,

Nghiên cứu năm 2015 chỉ ra rằng gà bệnh thường có các triệu chứng như ủ rũ, ít vận động, xù lông, xà cánh và đứng riêng lẻ Ngoài ra, nhiều mẫu phân của gà bệnh có màng nhầy, lẫn máu, có dạng sáp hoặc có bọt Đặc điểm chung của những con gà này là tình trạng mệt mỏi và ủ rũ.

38 mỏi và xù lông tuy nhiên ở bệnh cầu trùng phân gà thường có đặc điểm là phân sáp màu nâu đỏ, đôi khi lẫn bọt khí hoặc lẫn máu

Trong đàn gà, có một số con chết với xác không gầy nhưng hơi trắng, và khi kiểm tra hậu môn thì phát hiện có máu tươi trong phân Quan sát trên nền chuồng cũng thấy có phân lẫn máu May mắn là bệnh đã được phát hiện và điều trị kịp thời, nên chưa lây lan rộng trong đàn Mặc dù tổng thể đàn gà vẫn ăn uống và hoạt động bình thường, nhưng có một số nhóm gà không ăn hết khẩu phần hàng ngày và chỉ đứng tụ lại thành từng đám, nhìn bên ngoài có vẻ xơ xác.

Bảng 3.6 Triệu chứng lâm sàng của gà Tam Hoàng bị bệnh cầu trùng Chỉ tiêu nghiên cứu Số con quan sát Số con có triệu chứng Tỉ lệ (%)

Uống nước nhiều 95 51 53.68 Ủ rũ, lười vận động 95 84 88.42

Lông xù, xơ xác, phân dính hậu môn

Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy triệu chứng lâm sàng điển hình ở gà mắc bệnh cầu trùng bao gồm ủ rũ, lười vận động với tỷ lệ lên tới 88,42% Bên cạnh đó, gà còn có biểu hiện lông xù, xơ xác và phân dính ở hậu môn, chiếm tỷ lệ cao 87,37%.

Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006), noãn nang cầu trùng xâm nhập vào tế bào biểu mô ruột, không chỉ gây ra sự phá hủy cơ học mà còn tiết ra độc tố và enzyme, dẫn đến độc hại cho cơ thể vật chủ Hậu quả là xuất huyết và triệu chứng rõ rệt nhất là tiêu chảy, đặc biệt khi gà mắc bệnh cầu trùng.

Phân loãng và có bọt ở gà là dấu hiệu của sự mất nước trong cơ thể, khiến gà cảm thấy khát nước hơn Để bù đắp lượng nước đã mất, gà uống nhiều nước hơn so với những con không mắc bệnh cầu trùng, với tỷ lệ gà uống nước nhiều lên tới 53,68% Ngoài ra, tỷ lệ gà Mía nhiễm bệnh cầu trùng có biểu hiện màu sắc nhợt nhạt chiếm 22,11%.

Một số triệu chứng lâm sàng như giảm ăn, bỏ ăn và uống nước nhiều có thể giúp chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác Đặc biệt, ở gà mắc bệnh cầu trùng, tỷ lệ gà bỏ ăn chỉ chiếm 11,58%, cho thấy đây là dấu hiệu quan trọng cần lưu ý.

Kết luận

Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà Tam Hoàng tại huyện Thống Nhất- tỉnh Đồng Nai cho thấy:

Tỷ lệ nuôi sống gà 1 - 8 tuần tuổi đạt 96,23 %

Khối lượng cơ thể gà tăng dần theo tuần tuổi, với sinh trưởng tuyệt đối từ 34.30 g ở tuần 1 lên 1,009.00 g ở tuần 6 Tuy nhiên, tại tuần thứ 5, gà mắc bệnh cầu trùng, dẫn đến sự giảm sinh trưởng tích lũy ở tuần 4 và 5 Đến tuần thứ 6, gà bắt đầu sinh trưởng tốt hơn, nhưng sau đó khối lượng cơ thể giảm dần trong giai đoạn từ tuần 7 đến 8 tuổi.

Lượng thức ăn tiêu thụ và tiêu tốn thức ăn trong giai đoạn 1-8 tuần tuổi tương ứng là 56,01g/con/ngày và 2,10 kg/kg tăng trọng

Biểu hiện của phân gà là yếu tố quan trọng trong chẩn đoán bệnh cầu trùng, với tỷ lệ nhiễm cao nhất ở phân sáp (35 %), tiếp theo là phân có màng nhầy màu hồng (30 %), trong khi phân gà bình thường có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (7,50 %) Sau 8 tuần mổ khám, bệnh tích xuất hiện chủ yếu ở manh tràng (60,64 %), tiếp đến là ruột non (14,89 %), và thấp nhất ở trực tràng (7,45 %) Nghiêm trọng hơn, bệnh tích nặng hơn khi gà nhiễm cả cầu trùng manh tràng và ruột non, nhưng tỷ lệ này vẫn tương đối thấp chỉ chiếm 5,32 %.

Kiến nghị

Tiếp tục theo dõi sự phát triển, khả năng sinh sản và tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở các lứa gà Tam Hoàng để đánh giá chính xác hơn về tác động của bệnh cầu trùng đối với giống gà này.

Cần tiến hành khảo sát thêm các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên gà để từ đó phát triển các quy trình phòng ngừa và điều trị bệnh cầu trùng một cách hiệu quả.

Ngày đăng: 26/03/2025, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006). Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 148 - 142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2006
12. Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001), Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001)," Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2001
13. Lê Văn Năm (2006). Bệnh cầu trùng ở gia súc - gia cầm. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu trùng ở gia súc - gia cầm
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
14. Nguyễn Thị Mai (1997). Tình hình nhiễm cầu trùng tại xí nghiệp gà Phúc Thịnh và thử nghiêm thuốc phòng trị. Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm cầu trùng tại xí nghiệp gà Phúc Thịnh và thử nghiêm thuốc phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp
Năm: 1997
15. Lê Thị Tuyết Minh (1994). Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng ở gà Hybro HV85 từ 1 đến 49 ngày tuổi. Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp. Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng ở gà Hybro HV85 từ 1 đến 49 ngày tuổi
Tác giả: Lê Thị Tuyết Minh
Năm: 1994
16. Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992). Chọn giống và nhân giống gia súc. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 40 - 41 - 84 - 99 - 116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1992
17. Hoàng Thạch, Phan Hoàng Dũng, Lê Thanh Ngà, Nguyễn Thị Mỹ Hiền và Lê Đức Thắng (1997). Kết quả xét nghiệm bệnh tích đại thể và bệnh tích vi thể ở gà bị bệnh cầu trùng. Khoa học kỹ thuật thú y. Tập IV. số 1. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xét nghiệm bệnh tích đại thể và bệnh tích vi thể ở gà bị bệnh cầu trùng
Tác giả: Hoàng Thạch, Phan Hoàng Dũng, Lê Thanh Ngà, Nguyễn Thị Mỹ Hiền, Lê Đức Thắng
Nhà XB: Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 1997
18. Hoàng Thạch (1999). Khảo sát tình hình nhiễm cầu trùng Eimeria và một số đặc điểm của bệnh cầu trùng gà ở Thành phố Hồ Chí Minh, một số vùng phụ cận và thử nghiệm một số thuốc phòng trị. Luận án tiến sỹ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm cầu trùng Eimeria và một số đặc điểm của bệnh cầu trùng gà ở Thành phố Hồ Chí Minh, một số vùng phụ cận và thử nghiệm một số thuốc phòng trị
Tác giả: Hoàng Thạch
Nhà XB: Luận án tiến sỹ nông nghiệp
Năm: 1999
19. Hồ Thị Thuận (1985). Điều tra và điều trị bệnh cầu trùng tại một số trại gà công nghiệp. Công trình nghiên cứu khoa học - Trung tâm Thú y Nam Bộ. tr.291 - 302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Điều tra và điều trị bệnh cầu trùng tại một số trại gà công nghiệp
Tác giả: Hồ Thị Thuận
Năm: 1985
20. Dương Công Thuận (1973). Bệnh cầu trùng gà trong chăn nuôi công nghiệp. Tạp chí Khoa học Thú y. tr.43 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cầu trùng gà trong chăn nuôi công nghiệp
Tác giả: Dương Công Thuận
Năm: 1973
21. Lương Tố Thu (1993). Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng bê nghé do Eimeria phân lập ở Việt Nam. Luận án phó TS khoa học Nông nghiệp. tr. 5 - 6; 20 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh cầu trùng bê nghé do Eimeria phân lập ở Việt Nam
Tác giả: Lương Tố Thu
Năm: 1993
22. Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga và Nguyễn Mạnh Hùng (1999). Khả năng sản xuất của gà Đông Tảo nuôi tại Thụy Phương.Chuyên san chăn nuôi gia cầm. Hội chăn nuôi Việt Nam. tr. 114 - 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của gà Đông Tảo nuôi tại Thụy Phương. "Chuyên san chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga và Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 1999
23. Hoàng Thạch, Phan Hoàng Dũng, Lê Thanh Ngà, Nguyễn Thị Mỹ Hiền và Lê Đức Thắng (1997). Kết quả xét nghiệm bệnh tích đại thể và bệnh tích vi thể ở gà bị bệnh cầu trùng. Khoa học kỹ thuật thú y. Tập IV. số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xét nghiệm bệnh tích đại thể và bệnh tích vi thể ở gà bị bệnh cầu trùng
Tác giả: Hoàng Thạch, Phan Hoàng Dũng, Lê Thanh Ngà, Nguyễn Thị Mỹ Hiền và Lê Đức Thắng
Năm: 1997
24. Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006). Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội. tr. 148 - 142.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2006
1. Chambers J. R. (1990). Genetic of grouth and meat production in chicken. Poultry breeding and genetic, RD Cawford ed Elsevier Amsterdam. pp. 627 - 628 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic of grouth and meat production in chicken
Tác giả: Chambers J. R
Nhà XB: Poultry breeding and genetic
Năm: 1990
2. Godfrey E.F and R. G. Joap (1952). Evidence of breed and sex differences in the weight of chicks hatched from eggs similar weight. Poultry Science. pp. 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evidence of breed and sex differences in the weight of chicks hatched from eggs similar weight
Tác giả: Godfrey E.F and R. G. Joap
Năm: 1952
3. Hayer J.F. and J.C. Mc Carthy (1970). The effect of selection at different ages for high and low weight are the pattern of deposition in mice. Genet Res. pp. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of selection at different ages for high and low weight are the pattern of deposition in mice
Tác giả: Hayer J.F., J.C. Mc Carthy
Nhà XB: Genet Res
Năm: 1970
4. Johannes Kaufmann (1996). Parasitic infections of domestic animals. A diagnostic manual, Birkhauser Verlag, Basal, Boston and Berlin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasitic infections of domestic animals
Tác giả: Johannes Kaufmann
Năm: 1996
5. Letner T. M. and V. S. Asmundsen (1938). Genetics of growth constants in domestic flow. Poultry Science. Vol 17. pp. 286 - 294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetics of growth constants in domestic flow
Tác giả: Letner T. M. and V. S. Asmundsen
Năm: 1938
6. William R.B. (1997). The most of action of Anticoccidial quinolones in chickens. International Journal for parasitology. pp. 30 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The most of action of Anticoccidial quinolones in chickens
Tác giả: William R.B
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Gà Tam hoàng 882 và 882-3 - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 1.1. Gà Tam hoàng 882 và 882-3 (Trang 15)
Hình 2.1. Vòng đời của cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 2.1. Vòng đời của cầu trùng (Trang 20)
Hình 1.2. Phân gà nhiễm cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 1.2. Phân gà nhiễm cầu trùng (Trang 22)
Hình 1.3. Bệnh tích trên đường ruột gà bị nhiễm cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 1.3. Bệnh tích trên đường ruột gà bị nhiễm cầu trùng (Trang 22)
Hình 1.4. Noãn nang cầu trùng qua kính hiển vi - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 1.4. Noãn nang cầu trùng qua kính hiển vi (Trang 24)
Bảng 1.3. Quy trình vaccine  Ngày - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Bảng 1.3. Quy trình vaccine Ngày (Trang 32)
Hình 3.1. Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Tam Hoàng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 3.1. Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Tam Hoàng (Trang 42)
Hình 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Tam  Hoàng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Tam Hoàng (Trang 43)
Hình 3.3. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Tam Hoàng theo tuần tuổi - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 3.3. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Tam Hoàng theo tuần tuổi (Trang 46)
Bảng 2: Chương trình chiếu sáng (chuồng kín)  Tuần tuổi  Ngày tuổi  Thời gian chiếu sáng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Bảng 2 Chương trình chiếu sáng (chuồng kín) Tuần tuổi Ngày tuổi Thời gian chiếu sáng (Trang 57)
Bảng 3: Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn gà Tam Hoàng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Bảng 3 Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn gà Tam Hoàng (Trang 58)
Bảng 4: Theo dõi lượng thức ăn và khối lượng cơ thể của gà - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Bảng 4 Theo dõi lượng thức ăn và khối lượng cơ thể của gà (Trang 59)
Hình 1. Cổng trại - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 1. Cổng trại (Trang 63)
Hình 2. Sơ đồ trại - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 2. Sơ đồ trại (Trang 63)
Hình 3. Kết cấu chuồng nuôi - Khảo sát khả năng sinh trưởng và tỷ lệ bệnh cầu trùng trên gà tam hoàng nuôi tại huyện thống nhất  Đồng nai
Hình 3. Kết cấu chuồng nuôi (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w