Gà thường mắc các bệnh theo từng giai đoạn, từng lứa tuổi khác nhau như ORT, CRD, E.coli, cầu trùng, thương hàn,… Trong đó bệnh CRD hay còn gọi là bệnh hô hấp mãn tính trên gà, là một bệ
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát tình hình bệnh CRD do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum gây ra tại trang trại chăn nuôi
Từ đó ánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị
Mục tiêu cụ thể
- Nhận biết triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của gà nhiễm bệnh CRD
- Xác định Tỷ lệ mắc bệnh trên đàn gà theo dõi
- Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh
- Đánh giá ảnh hưởng của CRD tới khả năng sinh trưởng, phát triển và tiêu tốn thức ăn
- Xác định được Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà theo dõi
Tổng quan về trại chăn nuôi
Trại gà anh San tọa lạc tại xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, với điều kiện giao thông thuận lợi nhờ vào đường đất rộng, cách đường nhựa chính hơn 1km, phù hợp cho xe chở cám và vận chuyển gà Xung quanh trại là vườn cây cao su, tạo không gian thoáng mát tự nhiên Trại sử dụng nguồn điện 1 pha và có máy phát điện dự phòng khi mất điện Nguồn nước được cung cấp từ giếng khoan, bơm lên bồn chứa để phục vụ hệ thống nước uống tự động Với diện tích 8000m2, trại có quy mô nuôi 12000 gà thịt.
Cho gà ăn tự do là phương pháp hiệu quả, với việc kiểm tra và bổ sung cám vào buổi sáng từ 7-8h và buổi chiều từ 4-5h Đảm bảo cám đủ cho đến ngày hôm sau Nếu gà ăn hết cám sớm hoặc còn dư nhiều, cần tìm hiểu nguyên nhân để điều chỉnh lượng cám cho phù hợp.
Bảng 1.1: Một số loại cám sử dụng tại trại Loại cám
SUNS 610 (từ 1 đến 29 ngày tuổi)
SUNS 612 (từ 29 đến 42 ngày tuổi) Độ ẩm (max) 14% 14%
Methionine + Cystine tổng số (min) 0,85% 0,8%
Năng lượng trao đổi (min) 3000Kcal/kg 3100Kcal/kg
Kháng sinh (min) Không có Không có
Khi phát hiện gà có triệu chứng bất thường, cần kiểm tra ngay và trộn thuốc vào thức ăn cho cả đàn, loại bỏ những con yếu và chết để bảo vệ sức khỏe đàn gà Trong những ngày nắng nóng, nên cho gà uống vitamin và điện giải để bổ sung dinh dưỡng và ngăn ngừa mất nước, giảm stress Ngược lại, trong thời tiết ẩm thấp và mưa nhiều, việc bổ sung men tiêu hóa là cần thiết để hỗ trợ quá trình tiêu hóa cho gà.
Bảng 1.2 Chương trình thuốc tại trại sử dụng cho gà úm
Ngày tuổi Hoạt chất thuốc Công dụng Liều lượng
+ Men tiêu hóa Úm gà, giảm tiêu chảy thương hàn, E.coli, CRD Men tiêu hóa, phân khô, giảm mùi- kích tăng trọng
4-5-6-7 Sáng: Vitamin K Cầm máu, chống xuất huyết
Sáng: Men tiêu hóa (Bacillus subtilis Đường lactose)
Men tiêu hóa, phân khô, giảm mùi- kích tăng trọng
Trưa: Vitamin C Tăng cường sức đề kháng chống stress
8-14 Tilmicosin Kháng sinh điều trị và phòng bệnh trên đường hô hấp
Uống 2 lần mỗi lần 2ml/10 lít Doxyfort (Acetyl salicylic acid Paracetamol)
Phòng điều trị bệnh trên đường hô hấp
TT Bromhexine Long đờm sát trùng đường hô hấp
Bổ sung vitamin Pha nước
15 Men tiêu hóa Hỗ trợ tiêu hóa 10g/100 L
16-24 Canxi Bổ sung canxi 10ml/100L nước Vitamin tổng hợp A,
Bổ sung vitamin Pha nước
Bảng 1.3: Quy trình vaccine của trại Ngày tuổi
Vaccine Phòng bệnh Liều Cách dùng
Tả và viêm phế quản truyền nhiễm
Gumboro 1 giọt/ con Nhỏ miệng
14 Vaksimune POX Đậu Chủng màng cánh
Tả và viêm phế quản truyền nhiễm
28 Vaksimune ND Inaktif Tả 0.5 ml/ con
35 H5N1 RE6 (RTD) Cúm 0.5 ml/ con
Sau mỗi lần làm vaccine phải tiến hành pha sẵn para c hạ sốt cho gà uống để
6 giảm strees và hạ sốt cho gà Đối với vaccine tiêm phải được xả lạnh từ 3-6 tiếng trước khi tiêm để tránh gây sốc và áp xe khi tiêm.
Cơ sở khoa học của đề tài
1.2.1 Tổng quan về bệnh CRD
Bệnh CRD, hay còn gọi là bệnh “hen gà”, là một căn bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh qua đường hô hấp do không khí và bụi bẩn nhiễm vi khuẩn Bệnh có thể truyền từ mẹ sang con qua trứng và lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với gà bệnh hoặc qua thức ăn.
Bệnh hô hấp mãn tính ở gà, do Mycoplasma gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra, là một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng trong ngành chăn nuôi MG là tác nhân chính gây viêm đường hô hấp mãn tính, dẫn đến gà chậm lớn, giảm chất lượng thịt và tiêu tốn nhiều thức ăn Bệnh không chỉ làm tăng chi phí điều trị mà còn kéo theo các chương trình phòng ngừa như giám sát huyết thanh học, nuôi cấy, phân lập và tiêm phòng vacxin, góp phần làm gia tăng gánh nặng kinh tế cho người chăn nuôi trên toàn thế giới.
MG chỉ có khả năng gây bệnh trên một số loại gia cầm nhất định và không gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người
CRD có thể xếp theo 3 dạng sau:
Bệnh đường hô hấp mãn tính chủ yếu do căng thẳng (stress) gây ra, dẫn đến sự gia tăng lượng vi khuẩn MG, từ đó làm phát bệnh Ngoài ra, bệnh nhân thường bị nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như E.coli và Streptococcus.
Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính thứ cấp ở gia cầm thường xảy ra khi gà mắc các bệnh lý khác như cầu trùng hay viêm phế quản truyền nhiễm, khiến sức đề kháng của cơ thể giảm sút Điều này tạo điều kiện cho vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum (MG) phát triển và gây ra bệnh.
+ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính giả: thể hiện triệu chứng, bệnh tích ở túi khí của một số bệnh khác như bệnh Mycoplasma
Giống Mycoplasma Khoảng 22 loài thuộc giống Mycoplasma được nhận biết có nguồn gốc từ gia cầm nhưng chỉ có 5 loài trong đó đã gây bệnh cho gia cầm là:
-Hai loài này gây bệnh cho gà và gà tây
-Hai loài này chỉ gây bệnh cho gà tây
Là những procaryotes tự sao chép nhỏ nhất với kích thước từ 300 đến 800 nm, chúng không có thành tế bào và được bao bọc bởi màng sinh chất gấp ba lần Đặc biệt, chúng có khả năng ngưng kết hồng cầu gà.
Vi khuẩn MG có độc lực thuộc giống Mycoplasma, trong họ Mycoplasmataceae, được biết đến là các mollicute với đặc điểm không có thành tế bào, dẫn đến sự đa dạng về hình thái Mycoplasma được coi là cơ thể sống nhỏ nhất, có khả năng tồn tại độc lập và phát triển trong môi trường nhân tạo MG được phân loại vào serotype A trong số các Mycoplasma gây bệnh cho gia cầm, có khả năng bắt màu tốt với thuốc nhuộm Giemsa, nhưng lại bắt màu Gram âm kém.
Dưới kính hiển vi thường, vi khuẩn có hình dạng cầu với kích thước khoảng 0,25 - 0,5μm Khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử, vi khuẩn thể hiện các cấu trúc lỏng hoặc hình đầu chóp, có các cơ quan bám dính giúp chúng gắn vào thành tế bào của vật chủ, đóng vai trò quan trọng trong đặc tính gây bệnh của chúng.
MG yêu cầu môi trường phải giàu chất dinh dưỡng, cho thêm huyết thanh
8 ngựa hay gia cầm, heo, đã khử hoạt tính ở 56 o C, khoảng 10 – 15%
Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp 37 – 38 o C, pH = 7,8 Thời gian nuôi cấy 2 – 5 ngày ở không khí rất ẩm
Khuẩn lạc rất nhỏ, trơn, tròn có những khối sáng đục với sự nhô lên, dày đặc ở vùng trung tâm, đường kính 0,2 – 0,3 mm
Mycoplasma có thể được nuôi cấy trên phôi gà trong 7 ngày thông qua phương pháp tiêm vào túi lòng đỏ Sau khoảng thời gian này, phôi gà thường chết trong vòng 5 – 7 ngày, với các triệu chứng bệnh lý đặc trưng như còi cọc, phù thũng toàn thân, gan hoại tử và lách sưng to.
Most disinfectants, such as phenol, formaldehyde, propiolactone, and methiolate, are effective against MG Resistance to penicillin and thallous acetate at low concentrations (1/4000) is often added to culture media to combat fungi.
MG yếu ớt khi ra ngoài cơ thể vật chủ và chỉ tồn tại trong vài ngày hoặc ít hơn trong điều kiện chuồng nuôi bình thường Tuy nhiên, nếu được bảo vệ bởi chất tiết hoặc ở trong môi trường lạnh, thời gian sống sót của nó sẽ kéo dài hơn.
Vi khuẩn có thể tồn tại trong phân gà từ 1 đến 3 ngày ở nhiệt độ 20°C, trong khi trên quần áo mỏng, chúng có thể sống sót đến 3 ngày ở cùng nhiệt độ và 1 ngày ở 37°C Ngoài ra, vi khuẩn có thể tồn tại từ 2 đến 4 năm trong canh trùng ở nhiệt độ -30°C, và trong canh trùng đông khô, thời gian tồn tại lên đến 7 năm ở 4°C Đặc biệt, trong xương sườn của gà nhiễm bệnh đã được đông khô bảo quản, vi khuẩn vẫn có thể duy trì sự sống.
4 o C trong vòng 13 – 14 năm MG trong trứng gà ấp nhiễm bệnh sẽ bị bất hoạt trong vòng 12 – 14 giờ sau khi xử lí nhiệt ở 56 o C
Dịch tễ Động vật cảm thụ:
Mycoplasma là tác nhân gây bệnh phổ biến ở gà và gà tây trong tự nhiên Ngoài ra, vi khuẩn này cũng đã được phân lập từ các trường hợp nhiễm trùng tự nhiên ở trĩ, công, chim cút, vẹt Amazon, vịt và ngỗng.
Gà tây mẫn cảm với bệnh hơn gia cầm khác
Gà mới nở mẫn cảm với bệnh nhất
Trong các phòng thí nghiệm, giống gà nuôi SPF, gà không nhiễm Mycoplasma, và trứng gà tây có phôi thường được sử dụng để gây bệnh Ngoài ra, chim vẹt đuôi dài Úc, chim trĩ và chim sẻ cũng là những loài được áp dụng trong các nghiên cứu thí nghiệm.
MG dễ dàng lây nhiễm từ con này sang con khác qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp Khi MG cư trú ở đường hô hấp trên, mầm bệnh được phát tán ra môi trường qua dịch rỉ mũi, hô hấp và ho Sự lây truyền phụ thuộc vào kích thước vùng mầm bệnh, số lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa chúng Các đàn gà nhiễm bệnh đối mặt với các yếu tố bất lợi như nồng độ amoniac cao, thời tiết thay đổi đột ngột và các mầm bệnh khác như virus Newcastle, Gumboro, cúm, có thể làm tăng bài tiết mầm bệnh MG.
Theo Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2004), bệnh CRD do Mycoplasma gây ra có thể nhẹ nếu chỉ xuất hiện một mình, nhưng trở nên nghiêm trọng hơn khi kết hợp với các bệnh khác hoặc trong điều kiện môi trường ẩm thấp, bẩn thỉu Đặc biệt, khi ghép với ba bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, viêm phế quản truyền nhiễm và bệnh cúm, tình trạng bệnh sẽ kéo dài và trở nên khó chữa trị hơn.
Tổng quan về giống gà Dabaco
J- DABACO là giống gà đươc công ty nghiên cứu, lai tạo, là sản phẩm tích hợp của những công nghệ tiên tiến nhất về di truyền, giống và những tinh hoa cổ truyền của nhiều giống gà đặc sản của Việt Nam
J- DABACO là giống gà giữ được phẩm chất thịt đặc biệt thơm ngon của gà
Gà Ri truyền thống nổi bật với ngoại hình đẹp, bao gồm mào cờ, lông ôm gọn và lông đỏ màu mận chín, cùng với đôi chân nhỏ màu vàng Đặc biệt, năng suất của giống gà này đã được cải thiện đáng kể, với thời gian nuôi chỉ 90 ngày.
105 ngày: gà trống: 2,5- 2,7 kg, gà mái: 2,0- 2,1 kg) với mức tiêu tốn từ 2,7- 2,8 kg
19 thức ăn/ kg tăng trọng
Tỷ lệ sống của gà J-DABACO rất cao, với nuôi nhốt đạt từ 96,6% đến 98,6% và nuôi bán chăn thả từ 96,4% đến 97,8% Gà nuôi nhốt có tỷ lệ sống cao hơn gà nuôi bán chăn thả khoảng 0,2% đến 0,7% So với gà Mía, tỷ lệ sống của gà J-DABACO cao hơn từ 0,2% đến 0,8% trong cùng điều kiện nuôi Đặc biệt, gà thường chết chủ yếu vào tuần tuổi thứ nhất, với tỷ lệ cho phép từ 5% đến 7%.
Gà J – DABACO nổi bật với giống thuần nhất và sự phát triển đồng đều về trọng lượng, thích nghi tốt với khí hậu Việt Nam và có khả năng chống chịu bệnh tật cao Giống gà này tận dụng hiệu quả nguồn thức ăn tại chỗ và phát huy lợi thế đất vườn đồi, giúp giảm chi phí chăn nuôi Đặc biệt, giá bán gà thịt J – DABACO cao hơn so với các giống gà khác, đáp ứng tiêu chí “Giá thành thấp, lợi nhuận cao”, nên được người chăn nuôi khắp cả nước ưa chuộng.
Giống gà J-DABACO, được nuôi dưỡng theo phương pháp chăn thả gần gũi với tự nhiên, phát triển đúng theo sinh lý của gà Ri Quy trình chăn nuôi kỹ thuật và điều kiện nuôi dưỡng tối ưu đã mang lại chất lượng thịt cao, với tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực vượt trội cùng tỷ lệ mỡ thấp Điều này không chỉ có lợi cho sức khỏe mà còn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao đối với các sản phẩm hữu cơ.
Gà J-DABACO, với chất lượng thực phẩm cao, đã trở thành lựa chọn phổ biến trên bàn ăn của các khách sạn sang trọng và hệ thống nhà hàng gà tươi, cũng như trong các bữa cơm gia đình Điều này chứng tỏ rằng gà J-DABACO đã khẳng định được tên tuổi và vị thế vững chắc trên thị trường Việt Nam.
Giống gà J-DABACO đã trở thành sự lựa chọn ưu việt cho người chăn nuôi gia cầm, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình chăn nuôi quy mô trang trại và gia trại.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Đào Thị Hảo và cs (2007) cho biết, sử dụng phương pháp chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ đặc hiệu với MG1, MG2 có kết quả tốt trong việc chẩn đoán bệnh CRD Kháng huyết thanh được chế đạt tiêu chuẩn đã giúp cho việc xác định được vi khuẩn Mycoplasma gây bệnh phân lập được từ gà mắc bệnh CRD
Việc sản xuất thành công kháng huyết thanh kháng MG và MS trên thỏ không chỉ mang lại giá trị kinh tế đáng kể mà còn nâng cao độ tin cậy trong chẩn đoán bệnh CRD thông qua phương pháp ngưng kết nhanh, có khả năng áp dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm.
Theo Hoàng Huy Liệu (2002), CRD được Đào Trọng Đạt phát hiện ở gà công nghiệp tại Việt Nam vào năm 1972, với tỷ lệ mắc bệnh cao ở tất cả các giống gà nuôi công nghiệp Nghiên cứu của Phan Lục (1994) cũng cho thấy tất cả các giống gà tại các xí nghiệp gà ở phía Bắc đều bị nhiễm MG với mức độ khác nhau, dao động từ 0,82% đến 11,97%, trong đó giống Plymouth có tỷ lệ cao nhất là 11,97% và giống Lerghorn thấp nhất là 0,82%.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tăng Huy (1996) về tình hình nhiễm bệnh CRD trên đàn gà nuôi công nghiệp tại các tỉnh Tây Nam Bộ cho thấy tất cả 8 trại gà ở Cần Thơ, Vĩnh Long và An Giang đều có sự hiện diện của vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum (MG), với tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 4,9% đến 6,2% (Phạm Sỹ Lăng và cộng sự, 2002) Theo Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001), tác nhân gây bệnh này cần được chú ý trong công tác chăn nuôi gà công nghiệp.
21 bệnh CRD là Mycoplasma gallisepticum, tỷ lệ nhiễm bệnh ở miền Bắc Việt Nam là 51,6% ở gà thương phẩm, còn gà giống là 10%, tỷ lệ đẻ trứng giảm 20 - 30%
Bệnh CRD có thể làm giảm tỷ lệ đẻ trứng đến 30%, tỷ lệ ấp nở giảm 14% và trọng lượng gà thịt thương phẩm giảm tới 16% (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002) Ngoài ra, bệnh này còn kết hợp với các bệnh khác như Newcastle, Viêm phế quản truyền nhiễm, Tụ huyết trùng và bệnh do E.coli, gây ra các vụ dịch với tỷ lệ chết cao.
Theo Nhu Vân Thu và cộng sự (2002) đã lần đầu tiên thiết lập phản ứng PCR lồng dựa trên trình tự gen 16S rARN của Mycoplasma gallisepticum (MG) Phương pháp này có độ nhạy cao, cho phép phát hiện mầm bệnh ở nồng độ thấp hơn một đơn vị khuẩn lạc trong một phản ứng, giúp khắc phục vấn đề chẩn đoán bệnh từ bệnh phẩm Nó cũng cho phép phát hiện mầm bệnh trong nhiều loại mẫu khác nhau như nền chuồng, nước uống và phôi gà, mà các phương pháp khác khó hoặc không thể phân biệt được.
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Việc lưu thông hàng hoá giữa các nước, đặc biệt là xuất, nhập khẩu trứng và gà giống đã tạo điều kiện cho bệnh CRD lây lan mạnh
Bệnh Mycoplasmosis ở gia cầm, chủ yếu do Mycoplasma gallisosystemum và M syviae gây ra, là một vấn đề kinh tế nghiêm trọng trong ngành chăn nuôi gia cầm, dẫn đến thiệt hại lớn về tăng trọng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn, sản lượng trứng và tỷ lệ sống sót của phôi Bệnh do bốn loại vi khuẩn chính là M gallisectsum (MG), M syviae (MS), M meleagradis (MM) và M iowae (MI) gây ra, trong đó MG và MS được Tổ chức Thú y Thế giới công nhận là mầm bệnh hô hấp MG gây ra bệnh hô hấp mãn tính ở gà và viêm xoang ở gà tây, trong khi MS gây viêm màng hoạt dịch và viêm khí quản ở gia cầm Bệnh lây truyền theo cả chiều ngang và chiều dọc, vì vậy biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bao gồm an toàn sinh học, điều trị và tiêm phòng bằng các loại vắc xin vi khuẩn bất hoạt và virus sống.
Trong thập kỷ qua (2010–2020), đã có 22 loại vắc xin giảm độc lực và tái tổ hợp được phát triển và bán trên thị trường nhằm chống nhiễm trùng Mycoplasma gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) Bài viết tổng quan hệ thống hiện tại tóm tắt các nghiên cứu dịch tễ học về nhiễm MG và MS ở gia cầm tại nhiều vị trí địa lý khác nhau ở Ấn Độ và quốc tế, đồng thời đề cập đến tác động kinh tế, các phương pháp chẩn đoán, cũng như các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh.
Theo nghiên cứu của Gunther Vogl và cộng sự (2008), Mycoplasma có khả năng tồn tại và nhân lên trong tế bào ít nhất 48 giờ, góp phần vào sự lây lan của M gallisfyingum từ đường hô hấp đến các cơ quan nội tạng M gallisosystemum có khả năng xâm nhập vào hồng cầu của cừu và gà, với tần số xâm nhập của ba loài M gallisnitium được xác định rõ trong 24 giờ, và sự gia tăng khả năng xâm lấn đáng kể sau 8 giờ nhiễm Các mẫu máu từ gà nhiễm thực nghiệm qua đường khí dung với chủng M gallisosystemum R độc lực thấp cũng đã được phân tích, và M gallisfyingum R thấp đã được phát hiện trong máu gà nhiễm bệnh bằng PCR lồng nhau và phương pháp soi miễn dịch huỳnh quang phân biệt.
Mycoplasmas tồn tại không chỉ ở bề mặt mà còn bên trong hồng cầu gà, điều này mở ra cái nhìn mới về cơ chế bệnh sinh của M gallisosystemum và có thể ảnh hưởng đến việc phát triển các chiến lược phòng ngừa hiệu quả.
Theo Osman KM và cộng sự (2009), môi trường nuôi cấy vi sinh vật giống viêm phổi màng phổi (PPLO) và thạch PPLO được sử dụng để phân lập Mycoplasma Để phát hiện nhiễm trùng Mycoplasma gallisosystemum trong các mẫu từ phổi, khí quản và gạc khí quản của gia cầm, các phương pháp như độ nhạy Digitonin, xét nghiệm ngưng kết mảng huyết thanh, xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzym (ELISA) và phản ứng chuỗi polymerase (PCR) đơn giản đã được áp dụng Các mẫu này được thu thập từ đàn gà thịt, đàn gà đẻ và đã tiến hành chiết xuất và khuếch đại axit deoxyribonucleic (DNA) của vi khuẩn gen bằng PCR đơn giản.
Tỷ lệ huyết thanh của kháng thể M gallisfyingum ở gà và gà con cũng được nghiên
Tỷ lệ nhiễm M gallis ở đàn gà đẻ cao nhất, đạt 33,3% (17/51) khi áp dụng quy trình ngoáy khí quản Đối với gia cầm non, các phương pháp xét nghiệm như ngưng kết mảng huyết thanh và ELISA đã phát hiện kháng thể chống lại vi khuẩn này.
M gallisnitium lần lượt ở 69,9% (320/458) và 58,3% (267/458) mẫu gà, và 48,7%
(146/300) và 60% (180/300) mẫu từ gà con
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đề tài được tiến hành trên 2900 gà J-Dabaco 4 tuần tuổi
2.1.2.1 Phạm vi về không gian
Trại gà anh Phạm San tại xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
2.1.2.2 Phạm vi về thời gian
Nội dung nghiên cứu
Khảo sát bệnh CRD trên đàn gà, nhận biết triệu chứng, bệnh tích, phương pháp điều trị và hướng phòng bệnh
Hiệu quả điều trị Ảnh hưởng của CRD đến khả năng sinh trưởng của gà.
Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Trại gà Dabaco của anh San tại xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Ghi nhận số lượng gà bệnh, số lượng gà được điều trị khỏi, số gà bị chết theo ngày
Vào mỗi cuối ngày chủ nhật hàng tuần, tiến hành cân gà bằng cách chọn ngẫu nhiên 5 con từ chuồng Trong lần đầu, bắt 5 con ở đầu dãy chuồng, lần hai ở giữa dãy chuồng và lần ba ở cuối dãy chuồng Sau đó, tính toán và ghi nhận cân nặng trung bình của 15 con gà đã được cân.
Khi gà chết hoặc có dấu hiệu bệnh nặng, tôi thực hiện mổ khám tử thi để xác định nguyên nhân Việc kết hợp triệu chứng lâm sàng với các bệnh tích đại thể giúp tôi đưa ra chẩn đoán và phương pháp điều trị kịp thời.
Quan sát biến đổi của gia cầm qua các yếu tố như màu sắc, mồng tích, lông, mắt và mũi, cùng với hoạt động đi lại bình thường hay khập khiễng Đánh giá phân theo tính chất (lỏng, sáp, có nhầy, có máu) và màu sắc (trắng, xanh, đỏ tươi) Đối với bệnh hô hấp lây lan cao, áp dụng phương pháp đánh giá theo Intervet Schering Plough (2009) với 4 mức độ điểm: 0 là không có dấu hiệu bệnh, 1 là một vài con hắt hơi và chảy nước mắt, 2 là nhiều con hắt hơi và chất nhầy chảy ra khi ấn vào mũi, và 3 là nhiều con chảy nước mắt, sưng mặt, suy hô hấp, chảy nước mũi và âm rale khí quản Đối với bệnh ít lây lan, đánh giá qua tỷ lệ chết.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi dự kiến sẽ thực hiện mổ khám tử cho 41 con gà Số lượng mổ khám tử dự kiến chiếm 70% tổng số gà chết đối với các ca bệnh nặng hoặc những trường hợp chết có triệu chứng lâm sàng lần đầu tiên được ghi nhận Đối với các ca bệnh nặng hoặc chết có triệu chứng lâm sàng đã được ghi nhận trước đó, số lượng mổ khám tử dự kiến sẽ lớn hơn 20% tổng số gà chết.
Dụng cụ mổ khám: dao, kéo, găng tay, khẩu trang,…
Quan sát bệnh tích đại thể và triệu chứng lâm sàng là phương pháp chẩn đoán đơn giản và tiết kiệm chi phí Quy trình mổ khám tử cung được thực hiện theo các bước cụ thể.
Giết gà: trại chúng tôi thường dùng kéo cắt đứt động mạch cổ
Trình tự mổ khám gà bắt đầu bằng việc đặt gà nằm ngửa trên bàn và cắt phần da giữa bụng và bẹn ở cả hai bên Tiếp theo, hai tay bẻ quặt hai đùi ra ngoài để làm cho đầu trên của xương đùi trật ra khỏi khớp Sau đó, cắt da bụng, một tay giữ hai chân, tay còn lại kéo phần da đã cắt lên phía trên ngực để lộ ra cơ ngực Trong quá trình này, người mổ khám sẽ kiểm tra tình trạng cơ ngực và cơ đùi để phát hiện xuất huyết hoặc thoái hóa cơ.
Biến dạng xương lưỡi hái xảy ra khi cắt phần sau cơ bụng, theo hướng từ sụn xương sườn đến xương đòn ở hai bên Sau đó, dùng tay lật phần cơ ức đã được cắt sang một bên.
Trong quá trình phẫu thuật, một bên của cơ thể được mở ra để lộ ra các cơ quan bên trong Người mổ cần quan sát cẩn thận các phủ tạng và túi khí để đảm bảo an toàn và chính xác trong quá trình khám xét.
Kiểm tra cơ quan hô hấp bao gồm việc đánh giá xoang mũi (hình dạng, dịch chất, màu sắc), khí quản và phế quản (dịch chất và tình trạng khí quản), cùng với túi khí và phổi Đối với cơ quan tiêu hóa, cần kiểm tra xoang miệng, thực quản, diều và dạ dày, cắt theo chiều dọc để xem xét hình dạng, dịch chất, chất chứa và mùi.
Sử dụng kéo để cắt dọc dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non và ruột già đến tận hậu môn nhằm kiểm tra các tổn thương, xuất huyết và ký sinh trùng Đồng thời, tiến hành kiểm tra các mảng Peyer, van hồi manh tràng và hạch amydal.
Kiểm tra tình trạng tụy, bề mặt gan và túi mật là cần thiết, bao gồm màu sắc, kích thước, sự xuất huyết, tụ huyết và hoại tử Đối với hệ tiết niệu, cần kiểm tra ống dẫn tiểu từ thận tới hậu môn và thận với các yếu tố như màu sắc, hình dạng, kích thước và sự xuất huyết Đối với cơ, cần kiểm tra cơ đùi, cơ ức và cơ cánh để đánh giá màu sắc, sự thoái hóa, hoại tử và xuất huyết Ngoài ra, cần thực hiện các kiểm tra bổ sung như kiểm tra tim và xoang bao tim để phát hiện dịch màng bao tim, xuất huyết mỡ và cơ tim Cũng cần kiểm tra tình trạng bất thường của túi Fabricius, lách và cơ quan sinh dục, bao gồm buồng trứng ở gà mái và tinh hoàn ở gà trống.
2.3.3 Theo dõi biện pháp và hiệu quả điều trị cho từng bệnh
Ghi nhận các biện pháp điều trị, rút ra nhận xét cho từng biện pháp điều trị
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Tính toán dựa trên công thức có sẵn trên phần mềm Excel 2019
2.3.5 Một số chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu
2.3.5.1 Tỷ lệ gà mắc CRD theo tuần tuổi (%)
Tỷ lệ gà mắc bệnh CRD = (Số gà bị nhiễm bệnh / tổng số gà theo dõi) x 100
2.3.5.2 Tỷ lệ dấu hiệu bệnh tích trên các bộ phận của gà bị nhiễm CRD
Tỷ lệ dấu hiệu bệnh tích = (số gà có bệnh tích trên từng bộ phận/ tổng số gà
Hiệu quả điều trị được tính toán bằng công thức: Số gà khỏi bệnh chia cho số gà được điều trị, nhân với 100 Đánh giá hiệu quả dựa trên tỷ lệ số gà điều trị khỏi so với tổng số gà được điều trị.
2.3.5.4 Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình
Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình (g) = Tổng lượng thức ăn/ (Tổng số con * tổng số ngày nuôi)
2.3.5.5 Tăng trọng bình quân (ADG)
Tăng trọng bình quân (ADG) = (Trọng lượng cuối tuần – Trọng lượng đầu tuần)/ Số ngày nuôi
2.3.5.6 Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)
Hệ số chuyển hóa thức ăn FCR = Lượng thức ăn tiêu thụ/ kg tăng trọng
2.3.5.7 Tỷ lệ chết, loại thải (%)
Tỷ lệ chết, loại thải (%) = (Tổng số con chết, loại thải/ Tổng số con nuôi) *
Tỷ lệ gà mắc CRD theo tuần tuổi (%)
Gà 4 tuần tuổi có thể xuất hiện triệu chứng thở khò khè, chảy nước mắt và nước mũi, với âm thanh thở ngày càng tăng Vào giữa tháng 9, thời tiết nắng mưa thất thường làm giảm sức đề kháng của gia cầm, dễ dẫn đến các bệnh hô hấp và tiêu hóa.
Theo Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002), dấu hiệu đầu tiên của bệnh CRD ở gà là kém ăn và có âm ran khí quản, ban đầu xuất hiện ở một số con rồi lây lan ra nhiều con khác Các triệu chứng điển hình bao gồm viêm kết mạc mắt, tiết chất nhầy hoặc nhầy mủ từ mũi, viêm đường hô hấp và túi khí Gia cầm thường hắt hơi, ho khan, lắc đầu, thở nhanh và khó, với mỏ nửa kín, nửa hở Ho và khó thở thường có âm ran, tiếng kêu rít và khò khè, đặc biệt vào ban đêm Lê Văn Năm (1999) cũng ghi nhận gà bị CRD có triệu chứng ho và thở khò khè, miệng luôn bán mở, với tư thế ngẩng cao cổ và thở khó khăn Qua quan sát, bệnh diễn biến ở mức độ nhẹ, gà có các triệu chứng điển hình như thở khò khè và vảy mỏ.
“tóoc tóoc” xuất hiện rõ nhất vào ban đêm
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phước Ninh (2012), gà mắc bệnh CRD thường có triệu chứng tiêu chảy với phân vàng hoặc xanh trắng loãng, kèm theo sốt và uống nhiều nước Nếu có sự nhiễm khuẩn E coli, gà có thể bị viêm túi khí nặng, kèm theo fibrin hoặc fibrin mủ Ngoài ra, viêm màng bao quanh gan và viêm bao tim cũng có thể xảy ra Trong một trường hợp ghi nhận ở gà 4 tuần tuổi, đã có 8 cá thể gà chết, trước đó chúng có dấu hiệu ủ rũ, phân xanh trắng loãng và khó thở.
Nghiên cứu của Phan Lục, được trích dẫn bởi Hoàng Huy Liệu (2002), cho thấy tất cả các giống gà nuôi tại xí nghiệp phía Bắc Việt Nam đều nhiễm Mycoplasma gallisepticum (MG) với tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 4,90% đến 6,20%, trung bình là 3,31%.
Bảng 3.1: Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh CRD theo tuần tuổi Tuần tuổi Số gà theo dõi (con) Số con mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc bệnh
Theo bảng số liệu, tỷ lệ mắc bệnh trung bình ở gà là 3,31% Gà bắt đầu xuất hiện các triệu chứng như khẹc và vảy mỏ từ tuần tuổi thứ 4, kéo dài đến tuần thứ 7 và 8 Tỷ lệ gà mắc CRD tăng nhanh qua các tuần Điều này có thể do gà nuôi trong trại hở và thời tiết ẩm ướt, mưa nhiều làm giảm sức đề kháng của chúng.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Tăng Huy được tổng hợp bởi Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002), tình hình nhiễm bệnh CRD trên đàn gà nuôi công nghiệp tại các tỉnh Tây Nam Bộ cho thấy tất cả các đàn gà đều bị nhiễm Mycoplasma Gallisepticum (MG), với tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 4,90% đến 6,20%.
Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001) cho biết, tỷ lệ nhiễm bệnh CRD của gà thương phẩm ở miền Bắc Việt nam là 51,60%, ở gà giống là 10%
Bệnh CRD là một vấn đề phổ biến ở gà, với tỷ lệ nhiễm bệnh cao: 10-15% ở gà giống, 30-40% ở gà thịt và 70-80% ở gà đẻ (Hoàng Hà, 2009).
Tỷ lệ nhiễm CRD trung bình ở đàn gà từ 4 đến 13 tuần tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi được xác định là nằm trong mức trung bình so với các kết quả từ các nghiên cứu trước đây.
Tỷ lệ dấu hiệu bệnh tích trên các bộ phận của gà bị nhiễm CRD
Để nắm bắt và phân tích bệnh tích của gà nhiễm CRD, chúng tôi đã tiến hành mổ khám và kiểm tra các triệu chứng bên trong của gà mắc bệnh điển hình cũng như gà chết trong đàn gà thí nghiệm Kết quả quan sát bệnh tích qua mổ khám được trình bày chi tiết trong bảng 3.2.
Bảng 3.2: Theo dõi tỷ lệ bệnh tích trên các cơ quan mổ khám
Bệnh tích trên các cơ quan Tuần tuổi
Số con mắc bệnh (con)
Số con mổ khám (con)
Tỷ lệ bệnh tích trên các cơ quan
Kết quả quan sát cho thấy bệnh tích xuất hiện chủ yếu ở khí quản, phổi và túi khí, với tỷ lệ 100% ở mắt, mũi và túi khí Tỷ lệ bệnh tích ở phổi và khí quản lần lượt đạt 92.68% và 87.80%, trong khi tỷ lệ ở khớp và tim là 58.54% và 56.10%.
Bệnh tích của gà bị mắc bệnh CRD biểu hiện ở các cơ quan, bộ phận khá điển hình Cụ thể là:
Mắt gà sưng và chảy nước mắt, nước mũi là dấu hiệu cho thấy gà bị nhiễm CRD lâu ngày Trong quá trình mổ khám, chúng tôi phát hiện có 5 con gà bị sưng đầu Thêm vào đó, một số con gà còn có màng phổi, màng bao tim và màng gan bị phủ lớp fibrin dày màu trắng ngà, cho thấy tình trạng bệnh nặng.
+ Phổi, túi khí: Phổi phù thũng, viêm, những con bị nặng rải rác một số vùng bị viêm hoại tử
+ Khí quản: tích nhiều dịch viêm keo nhày màu trắng hơi vàng
So sánh với nghiên cứu của Lê Văn Năm (2004), chúng tôi nhận thấy viêm niêm mạc đường hô hấp là dấu hiệu đặc trưng của bệnh CRD Khi bệnh mới khởi phát, niêm mạc đường hô hấp bị phù nề và được bao phủ bởi dịch nhầy, trong khi túi khí cũng xuất hiện lớp dịch nhầy trong suốt Khi tình trạng bệnh tiến triển nặng, niêm mạc đường hô hấp và túi khí sẽ bị phủ bởi lớp nhầy trắng, được gọi là fibrin Nếu có sự bội nhiễm với E Coli, tình trạng này có thể dẫn đến bệnh ghép CCRD, gây viêm dính lên màng gan, màng bao tim và màng treo ruột.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Bá Hiên và cộng sự (2008), trong đó mô tả bệnh tích của CRD chủ yếu tập trung ở phần trên đường hô hấp và có sự thay đổi theo các giai đoạn của bệnh cũng như các yếu tố nhiễm Cụ thể, thành túi khí bị viêm dày và thô nhám, bên trong có chất bã đậu Ngoài ra, viêm màng phổi và sự xuất hiện các vùng cứng trong phổi cũng được ghi nhận Trong các trường hợp bệnh nặng, khi kết hợp với E Coli, có thể thấy lớp màng giả trắng đục trên màng bao tim, gan và lách.
Kết quả quan sát của chúng tôi về bệnh tích ở những con gà mắc bệnh CRD sau khi mổ khám hoàn toàn phù hợp với mô tả về bệnh tích của gà mắc CRD từ các tác giả trước đây.
32 giả đã nghiên cứu trước đó.
Hiệu quả điều trị
Khi phát hiện gà bệnh trong đàn, chúng tôi trộn thuốc cho cả đàn ăn liên tục trong 5 ngày và tách riêng những con có biểu hiện bệnh để theo dõi Sử dụng thuốc Flophenicol kết hợp với Doxyciclin và bổ sung Brom, sau đó cho uống giải độc gan và vitamin trong 2 ngày Chúng tôi tiếp tục điều trị theo quy trình cho đến khi đàn gà có chuyển biến tích cực.
Bảng 3.3: Tỷ lệ khỏi bệnh Tuần tuổi Số con điều trị (con)
Thời gian điều trị (ngày)
Số con khỏi bệnh (con)
Tỷ lệ chết do CRD (%)
Theo bảng 3.3, tỷ lệ khỏi bệnh đạt khoảng 92,5% đến 95%, với trung bình là 93,22% Điều này cho thấy quy trình điều trị bằng thuốc tại trại rất hiệu quả, giúp khống chế kịp thời bệnh CRD và giảm thiệt hại do bệnh gây ra.
Hình 3.1: Flofenicol dùng trong điều trị CRD tại trại
Hình 3.2: Doxycycline dùng trong điều trị CRD tại trại
Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình
Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg khối lượng là chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà thịt, vì chi phí thức ăn chiếm 70-80% giá thành sản phẩm Để hiểu rõ hơn về tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, chúng tôi đã tiến hành tính toán lượng thức ăn tiêu tốn qua từng tuần.
Bảng 3.4: Tiêu tốn thức ăn trung bình Tuần tuổi
Số bao cám Khối lượng (g) Số lượng gà đầu tuần (con)
Thức ăn tiêu thụ (g/con/ngày)
Theo bảng thống kê, lượng thức ăn trung bình mà gà tiêu thụ trong 24 giờ là 80.83g/ngày, tăng dần từ 51.72g/ngày ở tuần tuổi thứ 4 lên 89.77g/ngày ở tuần thứ 9 Sau tuần thứ 9, lượng thức ăn ổn định trong khoảng từ 93.13g/ngày đến 101.72g/ngày.
Tăng trọng bình quân theo tuần tuổi
Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm 70-80% giá thành sản phẩm, do đó là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả sản xuất Gia súc và gia cầm cần thức ăn để duy trì sự sống và tạo ra sản phẩm Khả năng sử dụng và chuyển hóa thức ăn của gia cầm phụ thuộc vào giống, điều kiện môi trường, phương pháp nuôi dưỡng và chất lượng thức ăn.
Bảng 3.5: Theo dõi tăng trọng bình quân theo tuần
Tiêu tốn thức ăn (g/con/ngày)
Khối lượng gà đầu tuần (g)
Khối lượng gà cuối tuần (g)
Theo bảng trên, tăng trọng bình quân của đàn gà đạt 30.44 g/ngày Mặc dù bị ảnh hưởng bởi CRD, gà vẫn tăng trọng chậm hơn ở giai đoạn đầu so với các tuần cuối, nhưng không bị ảnh hưởng nhiều Điều này cho thấy quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị tại trại khá hiệu quả.
Kết quả khảo sát của chúng tôi tương đồng với kết quả của Phan Thị Kim
Theo nghiên cứu của Yến (2009), gà có tăng trọng tuyệt đối trung bình đạt 28,42; 29,48; 30,84; 32,35 g/con/ngày Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Triệu Thị Phương (2009), khi gà có tăng trọng tuyệt đối trung bình là 27,87; 28,93; 30,07; 30,84 g/con/ngày.
Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) là chỉ số quan trọng trong chăn nuôi, giúp đánh giá hiệu quả chăn nuôi tại giai đoạn xuất chuồng FCR được xác định bằng tỷ lệ giữa lượng thức ăn tiêu thụ và trọng lượng của vật nuôi.
Bảng 3.6: Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) theo tuần Tuần tuổi Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình (g)
Tăng trọng bình quân (ADG)
Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR)
Dữ liệu cho thấy rằng do tác động của CRD, chỉ số FCR trong những tuần đầu có mức cao, nhưng vẫn nằm trong khoảng chấp nhận được, với giá trị trung bình là 2.64.
Việc sử dụng thuốc Flofenicol và Doxycycline có ảnh hưởng một phần nhỏ tới chuyển hóa thức ăn
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khả năng tăng trọng của gà Lương Phượng từ 2 đến 10 tuần tuổi khi sử dụng chế phẩm Bio – T cao hơn so với nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Khen (2010), với các giá trị lần lượt là 2,56; 2,45; 2,18; 2,30 Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi vẫn thấp hơn so với mong đợi.
Trong nghiên cứu của Phan Thị Kim Yến về ảnh hưởng của các mức độ bổ sung chế phẩm Vem (0%; 0,6%; 0,9% và 1,2%) trong thức ăn, kết quả cho thấy trọng lượng tăng trưởng tương ứng là 3,07 kg TĂ/kg với mức bổ sung 0%, 2,88 kg TĂ/kg với 0,6%, 2,79 kg TĂ/kg với 0,9% và 2,65 kg TĂ/kg với 1,2%.
Tỷ lệ chết, loại thải (%)
Tỷ lệ chết và loại thải là những chỉ tiêu quan trọng, phản ánh sức sống và tình trạng sức khỏe của gia cầm Những yếu tố này không chỉ phụ thuộc vào di truyền mà còn liên quan đến chế độ chăm sóc và vệ sinh thú y Khả năng chống chịu bệnh tật và thích nghi với điều kiện ngoại cảnh cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ này.
Để giảm tỷ lệ nuôi chết và loại thải, việc chọn giống tốt là rất quan trọng Cần thực hiện quy trình chăm sóc và vệ sinh thú y một cách nghiêm ngặt để phòng ngừa dịch bệnh, giúp con giống phát huy tối đa tiềm năng sức sống Các chỉ tiêu này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chăn nuôi mà còn quyết định giá thành sản phẩm.
Bảng 3.7: Tỷ lệ chết và loại thải Tuần tuổi
Số gà chết loại trên tổng đàn theo dõi (con)
Số gà sau mỗi tuần
Tỷ lệ chết, loại thải/ tuần (%)
Tỷ lệ gà chết và loại thải trung bình trong giai đoạn từ tuần 4 đến tuần 8 là 0.57% Tuy nhiên, tỷ lệ này có thể dao động khá cao, từ 0.48% đến 1.75%.
Thời tiết thay đổi thất thường kết hợp với tỷ lệ gà mắc bệnh CRD cao và tác động sau khi tiêm vaccine dịch tả và cúm đã dẫn đến tỷ lệ gà chết tăng cao.
So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến Linh (2013) về bệnh hô hấp mãn tính (CRD) ở gà ta tại Long An, tỷ lệ chết và loại thải của đàn Nòi chỉ đạt 0,81%, thấp hơn nhiều so với gà BT với tỷ lệ 2,72%.
Khi so sánh kết quả với gà cùng giai đoạn thì cho ta thấy kết quả khá tương đồng
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Qua thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi có kết luận sau:
Tỷ lệ mắc bệnh ở gà cao nhất trong giai đoạn từ tuần 4 đến cuối tuần 8, với tỷ lệ trung bình là 3.31% Đặc biệt, tỷ lệ mắc bệnh đạt đỉnh 14% khi gà được 6 tuần tuổi.
Mổ khám bệnh tích trên các cơ quan nội tạng cho thấy tỷ lệ bệnh tích 100% ở mắt và mũi, với tình trạng sưng và có dịch nhầy Khí quản cũng có dịch nhầy và xuất huyết, trong khi túi khí bị viêm và tích dịch với tỷ lệ bệnh tích lần lượt là 87.8% và 100% Ngoài ra, một số con bị viêm màng bao tim với tỷ lệ 56.1%, và phổi bị viêm cùng phù thũng đạt tỷ lệ 92.68% Một số trường hợp nặng đã hình thành màng fibrin trong xoang ngực.
Trại áp dụng phương pháp điều trị kết hợp bằng cách cho gà uống và trộn thuốc vào thức ăn, sử dụng Flophenicol kết hợp với Doxyciclin, đạt hiệu quả điều trị trung bình lên tới 93.22% Mặc dù việc điều trị ban đầu gặp khó khăn do chủ quan, nhưng sau hơn hai tuần, tỷ lệ chết của gà đã giảm đáng kể.
Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình của đàn là 80.83g/con/ngày
Kết quả tăng trọng bình quân của đàn gà sau khi điều trị CRD cho thấy sự cải thiện rõ rệt, với mức tăng từ 22.8 g/ngày ở tuần thứ 4 lên 33.8 g/ngày vào cuối tuần thứ 7 Sau đó, trọng lượng gà duy trì ổn định với mức trung bình 30.44 g/ngày cho đến tuần theo dõi cuối cùng, chứng tỏ hiệu quả của việc kiểm soát bệnh.
Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (FCR) trung bình là 2.64, cho thấy hiệu suất dinh dưỡng tốt trong giai đoạn từ tuần 4 đến tuần 8 Tuy nhiên, từ tuần 9 trở đi, FCR tăng cao, có thể do ảnh hưởng của bệnh CRD Mặc dù không có dấu hiệu bệnh rõ ràng, nhưng một số con trong đàn vẫn thở khò khè và vẩy mỏ.
Tỷ lệ chết và loại thải trung bình đạt 0.57%, với mức cao nhất xuất hiện ở tuần tuổi thứ 5, 6 và 7 Nguyên nhân có thể là do tác động của việc tiêm vaccine tả và cúm, dẫn đến hiện tượng sốc và gia tăng tỷ lệ gà chết.
Kiến nghị
Tiếp tục nghiên cứu về tình trạng nhiễm bệnh CRD trên nhiều đối tượng gà
40 khác nhau, phương thức nuôi khác nhau với các thí nghiệm và số mẫu lớn hơn để thu được kết quả chính xác nhất
Để nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán, cần kết hợp các phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm bên cạnh việc quan sát triệu chứng và bệnh tích, do độ chính xác từ chẩn đoán chỉ dựa vào quan sát vẫn còn hạn chế.
Hạn chế cách quản lý đàn theo lối gối đầu, nên áp dụng các biện pháp “cùng vào, cùng ra”
Khử trùng chuồng trại kỹ lưỡng sau mỗi lứa nuôi và thường xuyên dọn dẹp, phát quang bờ cỏ là rất cần thiết Người chăn nuôi nên tham khảo ý kiến từ các chuyên gia để biết cách sử dụng thuốc hiệu quả trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh cho đàn gia cầm.