Có hai loại thiệt hại được bồi thường, theo điều 74 bao gồm: i Tổn thất mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu những tài sản bị mất mát hoặc hủy hoại hoàn toàn, những hư hỏng, giảm sút về t
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
Đề bài: Trình bày khái quát quy định của
CISG về việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên bán Phân tích một án lệ
điển hình để minh họa
Hà Nội, 2023
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Cơ sở lý luận 1
1 Khái quát về CISG 1
2 Vi phạm hợp đồng 1
3 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên bán 2
II Án lệ Delchi Carrier, SpA v Rotorex Corp 3
1 Tóm tắt vụ tranh chấp 3
1.1 Các bên tham gia và giải quyết tranh chấp 3
1.2 Sự kiện pháp lý 3
1.3 Vấn đề pháp lý 4
1.4 Luật áp dụng 4
2 Lập luận các bên tham gia và giải quyết tranh chấp 4
2.1 Lập luận của nguyên đơn – Delchi Carrier, SpA 4
2.2 Lập luận của bị đơn – Rotorex Corp 6
2.3 Phân tích và phán quyết của Cơ quan tài phán 7
3 Bình luận 11
3.1 Bình luận về phán quyết của Tòa 11
3.2 Bình luận chung 12
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 31
MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển toàn cầu hoá hiện nay, hoạt động thương mại giữa các quốc gia diễn ra mạnh mẽ Chính vì thế, mua bán hàng hóa và những vấn đề liên quan luôn được quan tâm hơn bao giờ hết Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã ra đời nhằm giải quyết những vấn đề đó Kể từ ngày có hiệu lực đến nay, CISG đã trở thành một chế định cơ bản của thương mại quốc tế, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về tính ổn định và được nhiều quốc gia áp dụng Tuy nhiên, một thực tế là còn khá nhiều chủ thể tỏ ra lúng túng khi thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa, từ đó dẫn đến những tranh chấp đáng tiếc xảy ra trong quan
hệ mua bán hàng hoá Để tìm hiểu vấn đề này, nhóm em xin đi sâu vào phân tích đề bài: “Trình bày khái quát quy định của CISG về việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên bán Phân tích một án lệ điển hình để minh họa.” Đối với án lệ, chúng em xin phép chọn án lệ Delchi Carrier S.p.A v Rotorex Corp
NỘI DUNG
1 Khái quát về CISG
CISG là chữ viết tắt theo tiếng Anh của Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Convention on Contracts for the International Sale of Goods); được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Công ước này được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 (nên còn được gọi là Công ước Viên 1980)
và có hiệu lực từ ngày 01/01/1988
CISG thể hiện một số nội dung chính như sau: (i) Tiêu chí xác định một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy định của CISG; (ii) Phạm vi áp dụng CISG; (iii) Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế; (iv) Nghĩa vụ của bên bán và bên mua; và (v) Các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
2 Vi phạm hợp đồng
Vi phạm hợp đồng là vi phạm bất kỳ điều khoản và điều kiện đã thỏa thuận nào của hợp đồng ràng buộc Vi phạm có thể là bất cứ điều gì từ việc thanh toán chậm đến một vi phạm nghiêm trọng hơn như không giao tài sản đã hứa Một hợp đồng có giá trị ràng buộc và sẽ có giá trị pháp lý nếu bị đưa ra trước tòa Để khiếu nại thành công về hành vi vi phạm hợp đồng, bắt buộc phải có khả năng chứng minh rằng hành
vi vi phạm đã xảy ra
Trang 42
3 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên bán
Công ước Viên 1980 đã quy định các biện pháp bảo hộ pháp lý trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng thì người mua có căn cứ để: (i) Thực hiện những quyền hạn của mình theo các quy định tại các điều từ 46 đến 52; (ii) Đòi bồi thường thiệt hại như đã quy định tại các điều từ 74 đến 77 Điều này được quy định rõ ràng tại Điều 45.1 của Công ước nói trên
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là việc pháp luật yêu cầu bên
vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất định để bù đắp cho những thiệt hại, tổn thất mà mình đã gây ra Đây được coi là một trong những chế định trọng tâm của pháp luật hợp đồng nói chung
Có hai loại thiệt hại được bồi thường, theo điều 74 bao gồm: (i) Tổn thất mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu (những tài sản bị mất mát hoặc hủy hoại hoàn toàn, những hư hỏng, giảm sút về tài sản, ); (ii) Khoản lợi bị bỏ lỡ (thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút) đối với bên bị vi phạm, là hậu quả của sự vi phạm hợp đồng
Về tính chất của thiệt hại được bồi thường, CISG nhấn mạnh đến tính dự đoán trước được của thiệt hại: các thiệt hại được bồi thường không thể cao hơn những tổn thất và khoản lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm có khả năng đã dự liệu được vào lúc giao kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết Các khoản thiệt hại phải được tính toán
và chứng minh một cách hợp lý, được đánh giá một cách khách quan, dựa trên thực tiễn các yếu tố của tranh chấp và của thị trường Nguyên tắc này không cho phép các bên thổi phồng thiệt hại của mình một cách vô căn cứ, bất hợp lý
CISG không quy định cụ thể thiệt hại tinh thần có được bồi thường hay không,
ví dụ thiệt hại do ảnh hưởng đến uy tín của một bên mặc dù việc đòi bồi thường thiệt hại tinh thần ít xảy ra đối với hợp đồng mua bán hàng hóa Các bình luận chính thức của CISG khẳng định bên bị thiệt hại tinh thần được đòi bồi thường thiệt hại, với điều kiện phải tuân thủ các yêu cầu của CISG về tính dự đoán trước được thiệt hại
và phải chứng minh thiệt hại tinh thần đó một cách hợp lý
Về nghĩa vụ hạn chế tổn thất: Theo Điều 77 CISG khi có vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm hợp đồng phải áp dụng những biện pháp hợp lý, căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất, kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra Nếu bên bị vi phạm hợp đồng không thực hiện việc hạn chế tổn thất, bên vi phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được
Về lãi suất, CISG cho phép bên bị chậm thanh toán “bất kỳ khoản tiền nào” có quyền đòi tiền lãi trên số tiền chậm trả đó Tuy nhiên, CISG không quy định rõ ràng
Trang 53
về cách tính tiền lãi Theo Điều 78 CISG, thì có thể thấy Điều 78 cho phép bồi thường tiền lãi đối với bất kỳ “khoản nợ” nào (bao gồm cả việc người bán chậm trễ trả lại tiền hàng mà người mua đã thanh toán khi người mua sử dụng hợp lý quyền hủy bỏ hợp đồng của mình), tức là tiền lãi được cộng dồn cho đến ngày thanh toán
1 Tóm tắt vụ tranh chấp
1.1 Các bên tham gia và giải quyết tranh chấp
Nguyên đơn: Delchi Carrier, SpA
Bị đơn: Rotorex Corp
Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án Khu vực Liên Bang – Khu vực thứ hai (Tòa Phúc thẩm Liên Bang)
Năm: 1995
1.2 Sự kiện pháp lý
Vào tháng 1 năm 1988, Rotorex đã đồng ý bán 10.800 máy nén khí cho Delchi
để sử dụng cho dòng máy điều hòa không khí di động "Ariele" của Delchi Máy điều hòa không khí dự kiến sẽ được bán vào mùa xuân và mùa hè năm 1988 Trước khi thực hiện hợp đồng, Rotorex đã gửi cho Delchi một máy nén khí mẫu và các thông
số kỹ thuật hiệu suất bằng văn bản kèm theo Các máy nén dự kiến sẽ được giao thành ba chuyến hàng trước ngày 15 tháng 5 năm 1988
Rotorex đã gửi chuyến hàng đầu tiên bằng đường biển vào ngày 26 tháng 3 Delchi đã thanh toán cho chuyến hàng này không lâu sau đó bằng thư tín dụng Lô hàng này đã cập bến tại Ý vào ngày 20 tháng 4 Rotorex đã gửi lô hàng máy nén thứ hai vào khoảng ngày 9 tháng 5 Delchi cũng đã thực hiện việc thanh toán cho lô hàng này bằng thư tín dụng Trong khi lô hàng thứ hai đang trên đường vận chuyển, Delchi
đã phát hiện ra rằng lô máy nén đầu tiên không phù hợp với mẫu mã và thông số kỹ thuật đi kèm
Vào ngày 13 tháng 5, sau khi đại diện của Rotorex đến thăm nhà máy Delchi ở
Ý, Delchi đã thông báo cho Rotorex rằng 93% máy nén đã bị từ chối trong các cuộc kiểm tra kiểm soát chất lượng vì chúng có công suất làm mát thấp hơn và tiêu thụ nhiều điện năng hơn so với kiểu mẫu và thông số kỹ thuật Sau nhiều nỗ lực không thành công để sửa các lỗi trong máy nén, Delchi yêu cầu Rotorex cung cấp máy nén mới phù hợp với mẫu và thông số kỹ thuật ban đầu Rotorex từ chối, tuyên bố rằng các thông số kỹ thuật hiệu suất đã "vô tình được thông báo" cho Delchi
Trong một bức thư gửi qua fax ngày 23 tháng 5 năm 1988, Delchi đã hủy bỏ hợp đồng Mặc dù nó có thể đẩy nhanh đơn đặt hàng máy nén phù hợp đã được lên
kế hoạch trước đó từ Sanyo, một nhà cung cấp khác, nhưng Delchi đã không thể có
Trang 64
được máy nén thay thế kịp thời từ các nguồn khác và do đó đã bị lỗ trong doanh số mặt hàng điều hòa Ariele trong mùa bán hàng năm 1988 Delchi đã đệ đơn kiện theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế ("CISG" hoặc "Công ước Viên") vì vi phạm hợp đồng và không giao hàng phù hợp Vào ngày
10 tháng 1 năm 1991, Thẩm phán Cholakis đã chấp nhận đề nghị của Delchi về phán quyết tóm tắt một phần, buộc Rotorex phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu vi phạm hợp đồng
Khi kháng cáo, Rotorex lập luận rằng họ không vi phạm thỏa thuận, rằng Delchi không “có quyền” bị mất lợi nhuận vì Delchi đã duy trì mức tồn kho vượt quá tối đa
có thể xảy ra sự tổn thất về doanh số bán hàng; rằng việc tính toán lợi nhuận bị mất
là không chính xác; và rằng tòa án quận đã loại trừ chi phí cố định và chi phí khấu hao khỏi chi phí sản xuất một cách không phù hợp khi tính lợi nhuận bị mất Delchi kháng cáo chéo, tuyên bố rằng họ có quyền được hưởng các khoản chi phí tự trả bổ sung và lợi nhuận bị mất do bán hàng bổ sung bị Thẩm phán Munson từ chối trước
đó trong phiên tòa sơ thẩm
1.3 Vấn đề pháp lý
Liệu bị đơn là bên bán Rotorex Corp có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành
vi vi phạm hợp đồng của mình cho bên nguyên đơn là bên mua Delchi Carrier không?
1.4 Luật áp dụng
❖ Điều 74, 75, 77 CISG
❖ Điều 1.1.a, 7, 25, 35, 36, 45, 49, 78 CISG
2 Lập luận các bên tham gia và giải quyết tranh chấp
2.1 Lập luận của nguyên đơn – Delchi Carrier, SpA
❖ Trước khi khởi kiện Rotorex
Trong khi lô hàng thứ hai đang trên đường vận chuyển, Delchi phát hiện rằng
lô hàng đầu tiên không phù hợp với các thông số kỹ thuật, có tới 93% máy nén khí
có khả năng làm lạnh thấp hơn và tiêu thụ năng lượng nhiều hơn so với máy nén khí mẫu và bản thông số kỹ thuật được gửi tới Delchi trước khi họ ký kết hợp đồng Sau các nỗ lực nhằm khắc phục các lỗi kỹ thuật này, Delchi tuyên bố hủy hợp đồng và đòi bên bán là Rotorex bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, Rotorex đã từ chối việc bồi thường
❖ Delchi kiện Rotorex lên Tòa án Liên bang – Tòa sơ thẩm
Delchi đã kiện Rotorex lên Tòa án Liên Bang Quận phía Bắc New York (US Federal District Court for the Northern District of NY) dựa trên quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với lý do bên bán vi phạm
Trang 75
hợp đồng, không giao hàng hóa phù hợp và yêu cầu bồi thường thiệt hại cho nhiều tổn thất Cụ thể như sau:
Thứ nhất, chi phí phát sinh từ những nỗ lực nhằm khắc phục máy nén khí bị lỗi
Bao gồm các loại chi phí vận chuyển vòng đệm thay thế cho vòng đệm của Rotorex đến nhà máy Villasanta của Delchi; chi phí nhân công cho 790,5 giờ công để lắp đặt vòng đệm đặc biệt cho máy nén Rotorex từ ngày 3 đến ngày 10 tháng 5 năm 1988; chi phí vận chuyển các đầu nối bổ sung của Rotorex; và chi phí cho việc kiểm tra và thử nghiệm máy nén khí Rotorex với mức độ cao hơn dự kiến thông thường (hơn
582 giờ với 20.081 lia/giờ)
Thứ hai, chi phí xử lý và lưu trữ trong kho hàng lượng máy nén khí bị lỗi (trong
lô hàng đầu) và lượng máy nén khí mà Rotorex giao trong đợt thứ hai mà bên Delchi
đã nhận trước khi khởi kiện Rotorex
Thứ ba, chi phí vận chuyển khi đẩy nhanh đơn hàng máy nén khí thông qua việc
giao hàng cấp tốc bằng đường hàng không từ Sanyo nhằm bù lại chỗ cho những máy nén khí bị lỗi từ Rotorex, trong khi nếu giao đúng như đã thỏa thuận thì việc vận chuyển trên biển sẽ ít tốn kém hơn nhiều Ngoài ra Delchi cũng phải chi trả một lượng chi phí nhất định để điều chỉnh lại các bảng điện tử của sản phẩm Ariele cho phù hợp với máy nén khí thay thế từ Sanyo
Thứ tư, lợi nhuận bị mất đi do doanh thu sụt giảm vì không thể kịp thời tìm
những máy nén khí thay thế cho lượng hàng bị lỗi đặt từ Rotorex (khoản lãi mất hưởng) Cụ thể, Delchi bán được 22,999 mặt hàng Ariele trong năm 1988 Do Rotorex không hoàn thành nghĩa vụ của mình nên Delchi không thể hoàn thiện đơn đặt hàng gồm 2395 máy Ariele cho các chi nhánh công ty khắp Châu Âu, dẫn tới thiệt hại 421,187,095 lia lợi nhuận; và Delchi cũng không cung ứng đủ 100 đơn vị trên đơn hàng tổng là 350 đơn vị Ariele (250 đã được giao trước đó) của công ty White-Westinghouse (Đức) – không phải công ty có liên kết với Delchi - điều đã dẫn tới thiệt hại 31,310,200 lia lợi nhuận; ngoài ra Delchi cũng đã không hoàn thiện được đơn hàng 1257 máy Ariele để giao cho các khách hàng đến từ Ý, tương đương với khoản lợi nhuận bị mất đi là 546,377,612 lia Bên cạnh đó Delchi cũng có đề cập đến khoản lợi nhuận có thể đã được hưởng nếu xét đến lượng đặt hàng dự kiến từ khách hàng Ý với điều kiện là họ còn hàng
Thứ năm, chi phí vận chuyển, hải quan và các chi phí phát sinh liên quan đến
việc vận chuyển máy nén khí của Rotorex đối với cả hai lô hàng
Thứ sáu, chi phí cho việc sử dụng dụng cụ và chất liệu cách nhiệt, ống đặc biệt
trong mặt hàng Ariele được sản xuất với máy nén khí từ Rotorex Cụ thể là
Trang 86
66,129,822 lia để chuẩn bị các vật tư đặc biệt chuyên dụng đối với mặt hàng Ariele khi lắp đặt với máy nén khí từ Rotorex
Thứ bảy, chi phí nhân công trong 4 ngày (từ ngày 16 tới ngày 19 tháng 5 năm
1988) khi dây chuyền sản xuất Ariele của Delchi không hoạt động do thiếu máy nén khí từ Rotorex
❖ Sau khi bị đơn là Rotorex kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm
Sau khi phía bị đơn là Rotorex Corp kháng cáo, Delchi đã kháng cáo chéo, họ cho rằng mình được quyền hưởng các khoản chi phí tự trả bổ sung và khoản lợi nhuận
bị thiếu hụt bởi lượng bán hàng có thể đã xảy ra (khoản bồi thường thiệt hại mà phán quyết của Tòa án Quận đã không đưa ra trong phiên tòa sơ thẩm trước đó)
2.2 Lập luận của bị đơn – Rotorex Corp
❖ Trước khi bị Delchi khởi kiện
Khi bị Delchi đòi hủy hợp đồng với lý do Rotorex đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng và có yêu cầu bồi thường thiệt hại, Rotorex đã từ chối với lý do rằng họ đã “vô tình” gửi bản thông số kỹ thuật tới Delchi và đồng thời từ chối yêu cầu của Delchi
về việc cung ứng lô máy nén khí khác phù hợp với bản thông số kỹ thuật được nhắc tới
❖ Sau phiên tòa sơ thẩm
Sau khi nhận được phán quyết sơ thẩm của Tòa án Quận Liên bang là Rotorex
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Delchi, Rotorex đã kháng cáo lên Tòa Khu vực Liên bang – Khu vực thứ hai (Federal Circuit Court – Second Circuit) vì cho rằng họ không vi phạm hợp đồng do lợi nhuận của bên bán chưa mất đi, đồng thời việc tính toán lợi nhuận bị tổn thất và các chi phí khác liên quan là chưa hợp lệ Cụ thể:
Thứ nhất, Rotorex cho rằng Delchi không có cơ sở để “cho phép” bản thân bị
thiệt hại về lợi nhuận do phía họ đã duy trì hạn mức tồn kho vượt quá mức tối đa có thể để xảy ra tổn hại đến doanh thu Do đó theo quan điểm của Rotorex, không thể
có sự thiếu hụt về mặt hàng Ariele sẵn có cho việc buôn bán của Delchi trên thực tế
vì sự giao hàng không phù hợp của Rotorex Lập luận phía Rotorex đưa ra như sau:
“Mùa bán điều hòa kết thúc vào ngày 1 tháng 8 Nếu tính tổng các đơn vị máy nén khí mà Delchi có sẵn từ tháng 3 tới ngày 1 tháng 8 thì vẫn đủ để lấp đầy doanh số”
Thứ hai, Rotorex cũng có ý kiến rằng Tòa án Quận đã đưa ra phán quyết sai lầm
khi quyết định để họ bồi thường thiệt hại cho lợi nhuận mà Delchi đã bị mất do không thể hoàn thành các đơn đặt hàng đến từ các chi nhánh của Công ty Delchi ở khắp Châu Âu và từ các đại lý bán hàng tại Ý Rotorex cho rằng họ đã “không thể thấy trước” sự thiệt hại mà Delchi sẽ nhận do vi phạm của mình
Trang 97
Thứ ba, Rotorex cũng thể hiện sự phản đối đối với việc Tòa án Quận loại trừ
chi phí cố định và chi phí khấu hao khỏi chi phí sản xuất dùng để tính toán lợi nhuận
bị tổn thất Thẩm phán xét xử đã tính toán lợi nhuận tổn thất bằng cách trừ đi 478.783 lia “chi phí sản xuất” – tổng chi phí thay đổi – từ giá bán trung bình một máy điều hòa Ariele là 654.644 lia Bởi lẽ CISG không nêu rõ liệu chỉ trừ chi phí thay đổi hay trừ cả chi phí thay đổi và chi phí cố định khỏi doanh thu khi tính toán lợi nhuận bị tổn thất
2.3 Phân tích và phán quyết của Cơ quan tài phán
❖ Tòa án Liên bang Quận phía Bắc New York – Tòa sơ thẩm
Đầu tiên, Tòa án ra quyết định và các bên có liên quan đều nhất trí rằng tranh
chấp này sẽ được điều chỉnh bởi CISG, do Hoa Kỳ và Ý đều là các quốc gia thành viên của Công ước này Tòa án đã áp dụng Điều 7 CISG để thống nhất cách diễn giải CISG theo nguyên tắc chung gồm (i) tính quốc tế và tính thống nhất, (ii) nguyên tắc thiện chí Theo đó, án lệ giải thích Điều 2 của Bộ luật Thương mại Thống Nhất (UCC) sẽ có ảnh hưởng đến Tòa án trong việc hiểu các điều khoản tương tự của CISG với UCC Tuy nhiên, các án lệ của UCC sẽ không được áp dụng để diễn giải các quy định của CISG
Thứ hai, Tòa án đưa ra phán quyết rằng bên bị đơn – Rotorex Corp – đã vi phạm
hợp đồng với Delchi qua việc không thực hiện đúng nghĩa vụ là giao 10800 máy nén khí đã cam kết cho bên mua Ở đây, máy nén khí được giao không phù hợp với máy nén khí mẫu và thông số kỹ thuật mà hai bên đã thỏa thuận, cụ thể, công suất làm mát thấp hơn và khả năng tiêu thụ năng lượng lại nhiều hơn Cũng tức là vì lý do những yếu tố cơ bản làm nên giá trị của một chiếc máy nén khí không được thỏa mãn nên người mua là Delchi không thể thực hiện được mục đích của mình là sản xuất ra những chiếc điều hòa Ariele đạt tiêu chuẩn, tiêu thụ được trên thị trường
Vì vậy vi phạm này của Rotorex được coi là một vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG Do đó hành vi hủy hợp đồng của Delchi là hợp lý, có cơ sở pháp lý theo Điều
49 CISG
Thứ ba, Tòa nhận định Delchi có cơ sở đòi bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của Rotorex (Theo Điều 45:1.b CISG) Delchi có quyền đòi bồi thường thiệt
hại bằng tiền với “khoản tiền tương đương với sự thiệt hại, bao gồm cả tổn thất về lợi nhuận” mặc dù không được vượt quá số tiền mà hai bên đã dự liệu một cách hợp
lý – do đó Tòa chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của Delchi căn cứ theo Điều 74 CISG (điều khoản này nhằm cung cấp cho bên bị thiệt hại lợi ích của thỏa thuận, bao gồm cả lãi suất kỳ vọng và các chi phí phụ thuộc) Cụ thể như sau:
Trang 108
(i) Chi phí phát sinh khi cố gắng khắc phục sự không phù hợp của máy nén khí của bên nguyên đơn – Delchi;
(ii) Khoản tiền mà Delchi phải chi trả để đẩy nhanh tiến độ giao máy nén khí
từ một bên thứ ba nhằm giảm thiểu tổn thất cho các đơn hàng mà Delchi
không thể hoàn thành do vi phạm hợp đồng của bên bán – Rotorex (theo Điều 77 CISG; lô hàng máy nén khí thay thế được nhắc đến phía trên
không được xét vào trường hợp “người mua mua hàng thay thế” theo nghĩa của Điều 75 CISG vì lô hàng đó đã được Delchi đặt hàng từ trước khi Rotorex vi phạm hợp đồng và do đó không thể thay thế cho máy nén khí không phù hợp mà Delchi đã nhận được);
(iii) Chi phí mà Delchi phải bỏ ra để xử lý và lưu trữ máy nén khí không phù hợp;
(iv) Khoản lợi nhuận mà Delchi không đạt được do sự sụt giảm trong doanh thu mà phía Delchi có thể cung cấp, điều này phù hợp với Thông luật và luật pháp của New York khi có “đầy đủ bằng chứng (để mang lên trước tòa) để ước tính số tiền thiệt hại với cơ sở chắc chắn hợp lý
Tuy nhiên, ngoài các khoản chi phí bồi thường phía trên, Tòa sơ thẩm cũng từ chối yêu cầu bồi thường của nguyên đơn về các việc bù lại các chi phí dự kiến có liên quan đến hải quan, vật tư và các thiết bị mua chỉ để sử dụng cho máy nén khí của Rotorex và chi phí nhân công khi người lao động phải đợi việc khi không có đủ thiết bị để lắp đặt Tòa cho rằng “những chi phí đó đã được bao gồm trong yêu cầu tiền bồi thường cho tổn thất về lợi nhuận của Delchi” Và Tòa cũng không chấp nhận yêu cầu khoản bồi thường trong 4000 đơn vị máy đã có thể được bán ở Ý Đồng thời Tòa cũng cho rằng Delchi có quyền được hưởng tiền lãi đối với với khoản tiền mà
đáng lẽ được hưởng nếu bên bán không vi phạm nghĩa vụ giao hàng (theo Điều 78 CISG) Vì CISG không quy định cụ thể về lãi suất nên Tòa án đã áp dụng lãi suất áp
dụng cho tín phiếu kho bạc Hoa Kỳ
Như vậy, sau 3 năm điều tra và một phiên tòa kín (bench trial), Thẩm phán Munson ra phán quyết tổng số tiền bồi thường thiệt hại gốc mà Rotorex có nghĩa vụ phải thực hiện đối với hành vi vi phạm hợp đồng của mình sau phiên tòa sơ thẩm là 1.545.434,848 lia, tương đương với 1.248.331,87 USD (chưa tính tiền lãi) Các bên cũng không đưa ra ý kiến đối với việc áp dụng nguyên tắc “ngày vi phạm” của New York trong việc sử dụng ngày vi phạm làm ngày xác định tỷ giá hối đoái khi quy đổi ngoại tệ, với tỷ giá hối đoái giữa đồng lia Ý và USD là 1,238 = 1 USD vào ngày 20 tháng 4 năm 1988
❖ Tòa án Khu vực Liên bang – Tòa Phúc thẩm