VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI -o0o- BÀI TIỂU LUẬN MÔN: LÝ LUẬN CHUNG NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Đề tài : Phân biệt vi phạm pháp luật với các vi phạm khác tr
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
-o0o-
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: LÝ LUẬN CHUNG NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đề tài : Phân biệt vi phạm pháp luật với các vi phạm khác trong xã hội bằng một ví dụ về vi phạm pháp luật cụ thể
và phân tích các dấu hiệu của vi phạm pháp luật đó
Họ và tên : Tạ Văn Đạt
Lớp : NL1B
Mã sinh viên : NL1240072
Hà Nội, năm 2025
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ CÁC VI PHẠM KHÁC TRONG XÃ HỘI 6
1.1 Vi phạm pháp luật 6
1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật 6
1.1.2 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật 6
1.1.2.1 Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người 6
1.1.2.2 Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật 6
1.1.2.3 Vi phạm pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện 6
1.1.2.4 Vi phạm pháp luật luôn chứa đựng lỗi của chủ thể 6
1.1.3 Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật 7
1.1.3.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật 7
1.1.3.2 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật 7
1.1.4 Khách thể của vi phạm pháp luật 8
1.1.5 Chủ thể của vi phạm pháp luật 8
1.1.6 Phân loại vi phạm pháp luật 9
1.2 Các vi phạm khác trong xã hội 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.1.1 Vi phạm đạo đức 10
1.2.1.3 Vi phạm chuẩn mực văn hóa ứng xử 10
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 10
Trang 3CHƯƠNG 2: PHÂN BIỆT VI PHẠM PHÁP LUẬT VỚI CÁC VI PHẠM
KHÁC TRONG XÃ HỘI 11
2.2 So sánh vi phạm pháp luật và vi phạm khác trong xã hội 11
2.2 Phân biệt vi phạm pháp luật và vi phạm xã hội khác bằng 1 tình huống cụ thể 11
2.2.1 Mô tả tình huống 11
2.2.2 Phân tích dấu hiệu tình huống 12
2.2.3 So sánh với tình huống vi phạm xã hội 12
2.2.4 Kết luận 13
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 13
PHẦN KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội ngày nay, các hành vi vi phạm không chỉ đa dạng về hình thức mà còn phức tạp về bản chất Vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức, vi phạm quy ước xã hội,
và vi phạm tôn giáo là những vi phạm thường xuyên xuất hiện trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ sự khác biệt giữa chúng, việc phân biệt rõ ràng giữa vi phạm pháp luật và các loại vi phạm khác là vô cùng cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và phức tạp Đồng thời việc phân tích một
ví dụ cụ thể về vi phạm pháp luật sẽ giúp làm rõ dấu hiệu , cách thức xử lý phù hợp từ
đó đưa ra những giải pháp giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật trong tương lai
2 Mục đích nghiên cứu
Phân biệt rõ ràng giữa vi phạm pháp luật và các loại vi phạm khác trong xã hội Từ đó góp phần nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật trong cộng đồng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu và phân tích khái niệm vi phạm pháp luật và các loại vi phạm khác trong xã
hội
So sánh sự khác biệt giữa vi phạm pháp luật và các loại vi phạm khác
Đưa ra một ví dụ cụ thể về vi phạm pháp luật và phân tích các dấu hiệu nhận biết
4 Đối tượng nghiên cứu
Phân tích sự khác biệt về bản chất, dấu hiệu của vi phạm pháp luật với các vi phạm khác trong xã hội
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về mặt không gian: Tập trung trong xã hội Việt Nam
Phạm vi thời gian: Bài tiểu luận được thực hiện vào tháng 1 năm 2025
Phạm vi về mặt nội dung: Tập trung phân tích giữa vi phạm pháp luật và các vi phạm khác trong xã hội Thông qua việc phân tích các dấu hiệu về 1 vi phạm pháp luật cụ
Trang 5thể như tính vi phạm pháp luật, tính có lỗi, chủ thể đủ năng lực trách nhiệm pháp lý, xâm hại các quan hệ xã hội khác được pháp luật bảo vệ
6 Câu hỏi nghiên cứu
Vi phạm pháp luật là gì? Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật?
Sự khác biệt giữa vi phạm pháp luật và các loại vi phạm khác trong xã hội là gì? Các dấu hiệu nhận biết vi phạm pháp luật thông qua ví dụ cụ thể?
7 Giả thiết nghiên cứu
Vi phạm pháp luật có những đặc điểm riêng biệt so với các loại vi phạm khác, bao gồm dấu hiệu, tính pháp lý, hậu quả nghiêm trọng, và biện pháp xử lý bằng cưỡng chế của Nhà nước
Việc phân tích một ví dụ cụ thể về vi phạm pháp luật sẽ giúp làm rõ các dấu hiệu nhận biết và cách thức xử lý loại vi phạm này
8 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
Phương pháp so sánh
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Bài tiểu luận góp phần làm rõ khái niệm và đặc điểm của vi phạm pháp luật, đồng thời phân biệt nó với các loại vi phạm khác trong xã hội
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để nâng cao nhận thức pháp luật, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và tuân thủ pháp luật
10 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo bài tiểu luận được kết cấu thành 2 chương
Chương 1: Khái quát vi phạm pháp luật và các vi phạm khác trong xã hội
Chương 2: Phân biệt vi phạm pháp luật với các vi phạm khác trong xã hội
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ CÁC VI PHẠM KHÁC TRONG XÃ HỘI
1.1 Vi phạm pháp luật
1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật
“Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”.[1]
1.1.2 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật
1.1.2.1 Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người
Hành vi là xử sự của con người trong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện bằng lời nói, thao tác, cử chỉ nhất định hoặc bằng sự thiếu vắng những thao tác, cử chỉ, lời nói nào đó
Pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của các chủ thể, không điều chỉnh suy nghĩ của họ, do vậy phải căn cứ vào các hành vi thực tế của chủ thể mới xác định được họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật.[1]
1.1.2.2 Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật
Những hành vi ngược với cách xử sự nêu ra trong quy phạm pháp luật bị coi là hành
vi trái pháp luật Đó có thể là hành vi bị pháp luật cấm, hành vi vượt quá sự cho pháp của pháp luật, hành vi không thực hiện sự bắt buộc của pháp luật hay hành vi không thực hiện đúng cách thức mà pháp luật yêu cầu.[1]
1.1.2.3 Vi phạm pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện Nặng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Năng lực trách nhiệm pháp lý được pháp luật quy định khác nhau tùy theo từng loại chủ thể và tùy từng loại trách nhiệm pháp lý Cá nhân có năng lực trách nhiệm pháp lý khi họ đạt đến một độ tuổi nhất định
và trí tuệ phát triển bình thường.[1]
1.1.2.4 Vi phạm pháp luật luôn chứa đựng lỗi của chủ thể
Trang 7Khi thực hiện hành vi trái pháp luật, chủ thể có thể nhận thức được hành vi của mình
và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội, đồng thời điều khiển được hành vi của mình Chỉ những hành vi trái pháp luật mà có lỗi của chủ thể thì mới bi coi là vi phạm pháp luật.[1]
1.1.3 Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật được cấu thành bởi bốn yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể vi phạm pháp luật.[2]
1.1.3.1 Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những yếu tố biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật Bao gồm các yếu tố sau :
a Hành vi trái pháp luật: là hành vi trái với những yêu cầu của pháp luật, nó gây ra hoặc đe dọa gây ra những hậu quả ngây nguy hiểm cho xã hội
b Hậu quả nguy hiểm cho xã hội : là những thiệt hại về người và tài sản hoặc những thiệt hại phi vật chất khác do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội
c Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả gây nguy hiểm cho xã hội: là giữa chúng phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu với nhau: Hành vi đã chứa đựng mầm mống gây ra hiệu quả hoặc là nguyên nhân trực tiếp của hậu quả nên nó xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; còn hậu quả phải là kết quả tất yếu của chính hành vi đó mà không phải là một nguyên nhân khác
d Thời gian vi phạm pháp luật: là giờ, ngày, tháng, năm xảy ra vi phạm pháp luật
e Địa điểm vi phạm pháp luật: là nơi xảy ra vi phạm pháp luật đó.[1]
1.1.3.2 Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể
vi phạm pháp luật bao gồm các yếu tố sau:
Trang 8a Lỗi của chủ thể vi phạm pháp luật: là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi
vi phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội được thể hiện dưới hai hình thức: cố ý hoặc vô ý
- Lỗi cố ý bao gồm hai loại là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp:
+ Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể vi phạm pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra
và mong muốn hậu quả xảy ra
+ Lỗi cố ý gián tiếp: Chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra những vẫn đề mặc cho hậu quả đó xảy ra
- Lỗi vô ý bao gồm hai loại là vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin:
+ Vô ý vì cẩu thả: Chủ thể vi phạm đã không nhận thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra mặc dù có thể hoặc buộc phải thấy trước điều đó
+ Vô ý vì quá tự tin: Chủ thể vi phạm nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng hy vọng, tin tưởng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
b Động cơ vi phạm: là động lực tâm lý bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật
c Mục đích vi phạm pháp luật: là kết quả cuối cùng mà trong suy nghĩ của mình, chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.[2]
1.1.4 Khách thể của vi phạm pháp luật
Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại.[2]
1.1.5 Chủ thể của vi phạm pháp luật
Chủ thể của vi phạm pháp luật là những cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý và đã thực hiện hành vi trái pháp luật.[2]
Trang 91.1.6 Phân loại vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật được phân chia thành bốn loại là vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật nhà nước và vi phạm dân sự Cơ sở của sự phân loại này là tổng hợp các yếu tố bao gồm khách thể, hậu quả, phương pháp, cách thức thực hiện hành vi, chủ thể…[1]
- Vi phạm hình sự là hành vi trái pháp luật được quy định trong pháp luật hình sự, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại những quan hệ xã hội quan trọng nhất, theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hình sự.[1]
- Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không bị coi là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hành chính.[1]
- Vi phạm kỷ luật nhà nước là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được xác lập trong nội bộ
cơ quan, tổ chứ thuộc phạm vi quản lý nhà nước.[1]
- Vi phạm dân sự là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm phạm quan hệ tài sản, quan hệ thân nhân gắn với tài sản, quan
hệ thân nhân phi tài sản.[1]
- Vi phạm Hiến pháp là hành vi có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hiến pháp trái với các quy định của Hiến pháp.[2]
1.2 Các vi phạm khác trong xã hội
1.2.1 Khái niệm
Trong xã hội, ngoài vi phạm pháp luật, còn tồn tại các hành vi vi phạm khác không bị
xử lý bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước nhưng vẫn gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng Vi phạm chuẩn mực xã hội là những hành vi xã hội không phù hợp giá trị, chuẩn mực xã hội đang được thừa nhận; hành vi sai lệch những gì mà số đông đang chờ đợi trong hoàn cảnh nhất định; những hành vi xã hội trượt ra ngoài chuẩn mực, giá trị, hay là sự vi phạm các quy tắc chuẩn mực, giá trị xã hội Các loại sai lệch chuẩn mực xã hội: pháp luật, chính trị, đạo đức, phong tục tập quán, tôn giáo,….[3]
Trang 101.2.1.1 Vi phạm đạo đức
Vi phạm đạo đức là những hành vi (chủ yêu là hành vi), dưới dạng hành động hay không hành động, trái với các chuẩn mực, quan điểm, nguyên tắc đạo đức xã hội, xâm phạm đến những quan hệ xã hội được đạo đức bảo vệ, do các chủ thế thực hiện một cách cố ý (là chủ yêu), gây nên những tác hại nhất định cho lợi ích cá nhân, tập thể và
xã hội.[4]
Ví dụ như bất hiếu, vô lễ, nói dối
1.2.1.3 Vi phạm chuẩn mực văn hóa ứng xử
Vi phạm chuẩn mực văn hóa ứng xử là vi phạm những quy tắc quy định mang tính tự nguyện, được cộng đồng thừa nhận và thực hiện nhằm duy trì sự ổn định của xã hội gây ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ xã hội và sự hài hòa trong cộng đồng.[5]
Ví dụ như con cái cãi cha mẹ, ngắt lời người khác khi đang nói chuyện
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã cung cấp cái nhìn tổng quan về vi phạm pháp luật và các vi phạm khác trong xã hội Vi phạm pháp luật được xác định là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện và xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật gồm mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể Ngoài ra, chương này cũng phân tích các loại vi phạm pháp luật như vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật và vi phạm dân
sự Đồng thời, bài viết cũng đề cập đến các vi phạm khác trong xã hội như vi phạm đạo đức, vi phạm chuẩn mực văn hóa ứng xử, từ đó làm nền tảng cho việc phân biệt giữa vi phạm pháp luật và các vi phạm khác trong chương tiếp theo
Trang 11CHƯƠNG 2: PHÂN BIỆT VI PHẠM PHÁP LUẬT VỚI CÁC VI PHẠM KHÁC TRONG XÃ HỘI
2.2 So sánh vi phạm pháp luật và vi phạm khác trong xã hội
Tiêu chí Vi phạm pháp luật Vi phạm khác trong xã hội
Cơ sở điều chỉnh Pháp luật do nhà nước ban
hành
Các quy tắc đạo đức, thuần phong mỹ tục, quy tắc nghề nghiệp
Chủ thể xử lý Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền
Gia đình, tổ chức, cộng đồng, dư luận xã hội
Chế tài Chế tài pháp lý: cảnh cáo,
phạt tiền, phạt tù, bồi thường, xử lý hành chính
Chế tài xã hội: phê phán, tẩy chay, mất uy tín, kỷ luật nội
bộ
2.2 Phân biệt vi phạm pháp luật và vi phạm xã hội khác bằng 1 tình huống
cụ thể
2.2.1 Mô tả tình huống
Nguyễn Văn A 30 tuổi lén lút đột nhập vào một cửa hàng điện thoại vào ban đêm và lấy đi 10 chiếc điện thoại di động trị giá 200 triệu đồng Sau đó, A mang số điện thoại này đi bán lấy tiền tiêu xài Chủ cửa hàng phát hiện mất tài sản và trình báo công an Sau khi điều tra, công an xác định A là người thực hiện hành vi trộm cắp và tiến hành bắt giữ
Trang 122.2.2 Phân tích dấu hiệu tình huống
- Hành vi lấy đi 10 chiếc điện thoại của Nguyễn Văn A là hành vi xác định hay xử xự thực tế của người này, và hành vi đó được thực hiện bằng một hành động cụ thể
- Nguyễn Văn A đã đột nhập trái phép vào cửa hàng điện thoại lúc ban đêm và lấy đi
10 chiếc điện thoại Đây là hành vi trộm cắp tài sản, vi phạm quy định của Bộ luật
Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) tại Điều 173 về Tội trộm cắp tài sản
- Nguyễn Văn A 43 tuổi là người có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý vì đã trên 18 tuổi, tức đã đạt đến độ tuổi mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm pháp lý và trí tuệ phát triển bình thường, có đủ khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi
- Hành vi lấy 10 chiếc điện thoại của Nguyễn Văn A đó đem đi bán lấy tiền tiêu xài là hành vi có lỗi bởi khi thực hiện hành vi này Nguyễn Văn A đủ khả năng để nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật, đủ khả năng nhận thức được hậu quả của hành vi mình là làm thiệt hại về tài sản của chủ cửa hàng; đồng thời Nguyễn Văn A hoàn toàn
có thể điều khiển được hành vi của mình
- Hành vi của Nguyễn Văn A đã xâm phạm quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, đó
là xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản đối với tài sản của họ
2.2.3 So sánh với tình huống vi phạm xã hội
Tình huống so sánh: Nguyễn Văn B là nhân viên trong cửa hàng điện thoại đó Trong thời gian làm việc, B lợi dụng sự tin tưởng của chủ cửa hàng để tự ý sử dụng một số thiết bị trong cửa hàng cho mục đích cá nhân mà không xin phép
Phân tích : Hành vi của B không vi phạm quy định của Bộ luật Hình sự vì không có yếu tố chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật như A
Tuy nhiên, hành vi của B có thể bị coi là vi phạm đạo đức nghề nghiệp, ảnh hưởng đến lòng tin giữa chủ và nhân viên Trong một số trường hợp, nếu bị phát hiện, B có thể bị khiển trách, sa thải hoặc mất uy tín trong công việc