1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa: Nhận thức của sinh viên khoa Lý luận Chính trị, trường Đại học An Giang đối với vần đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển đông trong giai đoạn hiện nay

70 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức của sinh viên khoa Lý luận Chính trị, trường Đại học An Giang đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thi
Người hướng dẫn Cử Nhân Ngô Hùng Dũng
Trường học Trường Đại học An Giang
Chuyên ngành Lý luận Chính trị
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2013
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (6)
  • 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (7)
  • 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (7)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 5. Đóng góp của đề tài (8)
  • 6. Kết cấu của đề tài (9)
    • 1.1. Vị trí chiến lƣợc của Biển Đông, đảo và quần đảo của Việt Nam trên Biển Đông (10)
      • 1.1.1. Vị trí địa lý và tầm quan trọng của Biển Đông (10)
        • 1.1.1.1. Vị trí địa lý (10)
        • 1.1.1.2. Tầm quan trọng của Biển Đông (12)
      • 1.1.2. Vị trí địa lý và tầm quan trọng của biển, đảo Việt Nam (13)
        • 1.1.2.1. Vị trí địa lý (13)
        • 1.1.2.2. Tiềm năng và tầm quan trọng của biển, đảo Việt Nam (13)
    • 1.2. Tình hình tranh chấp biển, đảo trong giai đoạn hiện nay (17)
      • 1.2.1. Tranh chấp giữa các nước trong khu vực hoặc có liên quan đến Biển Đông (17)
      • 1.2.2. Trung Quốc tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực (18)
    • 1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo 16 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo (21)
      • 1.3.2. Thể hiện qua các văn bản pháp lý (21)
    • 1.4. Nhận thức về chủ quyền biển, đảo của tầng lớp sinh viên (23)
      • 1.4.1. Nhận thức của sinh viên về chủ quyền biển, đảo (23)
      • 1.4.2. Thực trạng sinh viên bị lực lượng phản động lợi dụng biểu tình (25)
    • 2.1. Tình hình nhận thức của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông (30)
      • 2.1.1. Khái quát chung về tình hình nhận thức của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt (30)
      • 2.1.2. Nhận thức của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị về “yêu sách đường lưỡi bò” của Trung Quốc (39)
      • 2.1.3. Nhận thức của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị đối với một số chương trình hướng về biển, đảo thể hiện quan điểm bảo vệ chủ quyền Biển Đông của Đảng và Nhà nước ta (41)
    • 2.2. Một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông (44)
      • 2.2.1. Đối với sinh viên (44)
      • 2.2.2. Đối với cấp quản lý (46)
  • PHỤ LỤC (55)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀ

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài “Bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông” tập trung vào việc nâng cao “nhận thức” của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học An Giang, nhằm tuyên truyền và giáo dục về tầm quan trọng của vấn đề này.

Đề tài này nhằm nâng cao ý thức và nhận thức của thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên Do tính chất quan trọng và yêu cầu nghiên cứu lâu dài, phạm vi nghiên cứu ban đầu được giới hạn trong môi trường sinh viên Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học An Giang trong giai đoạn hiện nay.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, vì thế giới quan và phương pháp luận này giúp con người có cái nhìn và đánh giá vấn đề một cách chính xác, từ đó tìm ra phương pháp giải quyết hiệu quả Ngoài ra, đề tài còn áp dụng các phương pháp logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp và điều tra xã hội học để nâng cao tính chính xác và độ tin cậy trong nghiên cứu.

Phương pháp logic và lịch sử cho thấy rằng tư duy bắt nguồn từ nguồn gốc lịch sử của sự vật, hiện tượng Để hiểu rõ bản chất và logic của chúng, cần nắm vững quá trình lịch sử, sự vận động và phát triển của chúng Mỗi sự vật, hiện tượng đều có một lịch sử phát triển phong phú và phức tạp Do đó, việc kết hợp logic giúp chúng ta nhận diện hình ảnh lý tưởng của lịch sử, đồng thời loại bỏ những khúc quanh, sự kiện và yếu tố ngẫu nhiên không mang tính chất bản chất của quy luật vận động.

Phương pháp phân tích và tổng hợp có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong việc hiểu rõ các khía cạnh đối lập và các bộ phận của một hệ thống Trong quá trình phân tích, chúng ta cần tổng hợp thông tin để có cái nhìn tổng quát và chính xác hơn Bằng cách phân chia toàn thể thành các yếu tố, thuộc tính và khía cạnh, chúng ta có thể tổng hợp lại để hình thành một cái toàn thể mới.

Phương pháp điều tra xã hội học, hay khảo sát dư luận, là một công cụ quan trọng trong nghiên cứu khoa học, giúp nắm bắt ý kiến và sáng kiến của cộng đồng Qua đó, nó cho phép đánh giá các hiện tượng một cách khách quan, từ đó điều chỉnh và cải thiện tiến trình công việc một cách hiệu quả hơn.

Đóng góp của đề tài

Bài viết cung cấp thông tin quan trọng về Biển Đông, bao gồm các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam Đồng thời, nó trình bày quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Qua đó, bài viết góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và tuyên truyền giáo dục về tầm quan trọng của vấn đề này.

Sinh viên, đặc biệt là sinh viên Khoa Lý luận Chính trị, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Họ cần được tạo điều kiện để nâng cao nhận thức và thực hiện các hành động đúng đắn theo quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc bảo vệ chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Kết cấu của đề tài

Vị trí chiến lƣợc của Biển Đông, đảo và quần đảo của Việt Nam trên Biển Đông

1.1.1.Vị trí địa lý và tầm quan trọng của Biển Đông

Biển Đông là một biển lớn và nửa kín, thuộc phần Thái Bình Dương, trải dài từ Singapore đến eo biển Đài Loan Với diện tích khoảng 3,5 triệu km², Biển Đông lớn gấp 1,5 lần Địa Trung Hải và gấp 8 lần Hắc Hải Chiều dài của biển này lên tới hơn 3.000 km và rộng khoảng 1.000 km, nằm giữa vĩ độ 0° đến 25° Bắc.

Biển Đông nằm giữa tọa độ 100 0 đến 121 0, với độ sâu trung bình là 1.140m và tổng lượng nước khoảng 3,928 triệu km3 Đây là vùng biển có thềm lục địa rộng lớn nhất thế giới, với độ sâu trung bình dưới 100m Biển Đông được xếp hạng là biển lớn thứ tư thế giới, sau biển Philippin, biển San hô và biển Ả-rập.

Trong thời kỳ Hán và Nam Bắc triều, biển này được người Trung Quốc gọi là “Trướng Hải”, và từ thời Đường, tên gọi này dần chuyển thành “Nam Hải” Đến thời cận đại, do tên biển này trong nhiều ngôn ngữ có nghĩa là biển nằm ở phía nam Trung Quốc, nên khi dịch sang tiếng Trung, nó đã phát sinh thêm tên gọi “Nam Trung Quốc Hải”.

Philippines gọi là biển Luzon (theo tên hòn đảo lớn Luzon của Philippines) hoặc biển Tây Philippines

Biển Đông, thường được biết đến tại Việt Nam, là vùng biển nằm ở phía đông của đất nước Cần phân biệt rõ ràng giữa "biển Đông" ở Việt Nam và "Đông hải" mà Trung Quốc sử dụng để chỉ biển Hoa Đông, nhằm tránh nhầm lẫn giữa hai khái niệm này.

Tên gọi quốc tế của Biển Đông, được biết đến là biển Nam Trung Hoa, xuất phát từ nhiều thế kỷ trước khi Trung Quốc là quốc gia lớn nhất và phát triển nhất trong khu vực, nổi bật với hoạt động giao thương qua con đường tơ lụa Các tên gọi của biển và đại dương thường dựa vào vị trí địa lý so với các vùng đất lân cận, không nhằm mục đích khẳng định chủ quyền.

Trang 6 ra các thí dụ là Ấn Độ Dương, là đại dương ở phía nam Ấn Độ, giáp nhiều nước ở châu Á và châu Phi, không phải là của riêng nước Ấn Độ; hay biển Nhật Bản, được bao quanh bởi Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản [22]

Tổ chức Thủy văn học Quốc tế xác định giới hạn Biển Đông với các điểm chính như sau: phía nam bắt đầu từ eo biển Singapore và eo biển Malacca, kéo dài đến Tanjong Kedabu (1°06′B 102°58′Đ), tiếp theo là bờ biển phía đông đảo Sumatra đến mũi Lucipara (3°14′N 106°05′Đ), rồi đến Tanjong Nanka - cực tây của đảo Banka, tiếp tục qua đảo này đến Tanjong Berikat (2°34′N 106°51′Đ) và Tanjong Djemang (2°36′N 107°37′Đ) trên đảo Billiton Sau đó, tuyến đường đi theo bờ biển phía bắc đảo Billiton đến Tanjong Boeroeng Mandi (2°46′N 108°16′Đ) và cuối cùng là Tanjong Sambar (3°00′N 110°19′Đ) - cực tây nam của đảo Borneo.

Borneo đến điểm phía bắc Tanjong Sampanmangio, sau đó theo đường thẳng đến các điểm phía tây đảo Balabac và cụm rạn đá Secam, tiếp tục hướng đến điểm tây đảo Bancalan và mũi Buliluyan (tây nam đảo Palawan) Từ đây, băng qua đảo Palawan đến điểm phía bắc mũi Cabuli, rồi di chuyển đến tây bắc đảo Lubang và mũi Fuego (14°08'B) thuộc đảo Luzon Tiếp tục băng qua đảo Luzon đến mũi Engaủo (điểm đụng bắc của đảo Luzon), rồi đi dọc theo đường thẳng nối mũi này với điểm phía đông đảo Balintang (20°B) và điểm phía đông đảo Y'Ami (21°05'B) Cuối cùng, từ đây hướng đến Garan Bi (mũi phía nam đảo Đài Loan) và băng qua đảo này đến điểm đông bắc Santyo (25°B) Ở phía bắc, từ Fuki Kaku - điểm phía bắc đảo Đài Loan - đến đảo.

Ngưu Sơn, sau đó di chuyển đến điểm phía nam của đảo Bình Đàm (25°25'B), tiếp tục hướng về phía tây dọc theo vĩ tuyến 25°24'B cho đến bờ biển Phúc Kiến Phía tây là đất liền châu Á, giới hạn phía nam của vịnh Thái Lan và bờ biển phía đông bán đảo Mã Lai.

Biển nằm trên một thềm lục địa ngầm, và trong các kỷ băng hà gần đây, mực nước biển đã giảm xuống hàng trăm mét, khiến Borneo từng trở thành một phần của lục địa Châu Á.

Các nước và lãnh thổ giáp biển này, theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc, bao gồm: đại lục Trung Quốc, Ma Cao, Hồng Kông, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

1.1.1.2.Tầm quan trọng của Biển Đông

Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân trong khu vực, đóng vai trò chiến lược quan trọng không chỉ đối với các quốc gia xung quanh mà còn với toàn bộ châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ.

Biển Đông là vùng biển giàu tài nguyên thiên nhiên, đóng vai trò quan trọng trong đời sống và phát triển kinh tế Khu vực này cung cấp nguồn tài nguyên sinh vật phong phú như thủy sản, cùng với khoáng sản quý giá như dầu khí Biển Đông tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động như đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản, khai thác dược liệu và khoáng sản, cũng như phát triển du lịch, nghỉ mát và giao thông đường biển.

Biển Đông là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới, với trữ lượng dầu mỏ ước tính khoảng 1,2 km³ (7,7 tỷ thùng) và tổng khối lượng lên tới 4,5 km³ (28 tỷ thùng) Các quốc gia trong khu vực như Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia và Thái Lan đều tham gia khai thác và sản xuất dầu khí, trong đó Indonesia là thành viên của OPEC Ngoài ra, trữ lượng khí tự nhiên trong khu vực này được ước tính khoảng 7.500 km³ Đặc biệt, các chuyên gia Nga cho rằng vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa tài nguyên khí đốt đóng băng, có trữ lượng tương đương với dầu khí và được xem là nguồn năng lượng thay thế trong tương lai gần.

Biển Đông là một trong những tuyến đường giao thông biển quan trọng nhất thế giới, kết nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Âu với châu Á, và Trung Đông với châu Á Nó nằm trong số 10 tuyến đường biển lớn nhất toàn cầu, bao gồm các tuyến từ Tây Âu và Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Suez đến Ấn Độ, Đông Á, Úc và New Zealand Hàng ngày, Biển Đông chứng kiến khoảng 150-200 tàu qua lại, trong đó 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn và hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên, biến nơi đây thành một trong những tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai trên thế giới.

Tình hình tranh chấp biển, đảo trong giai đoạn hiện nay

1.2.1.Tranh chấp giữa các nước trong khu vực hoặc có liên quan đến Biển Đông Ở Biển Đông có hai loại tranh chấp, gồm tranh chấp về các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn, tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Chiều rộng hạn chế của một số khu vực ở Biển Đông, như Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan, dưới 400 hải lý đã dẫn đến sự chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia láng giềng, gây ra những tranh chấp về ranh giới giữa các quốc gia ven Biển Đông.

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nằm giữa Biển Đông, gồm nhiều đảo đá san hô nhỏ và hiện đang là điểm nóng của tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia ven biển Tranh chấp Hoàng Sa chủ yếu giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong khi tranh chấp Trường Sa liên quan đến Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan.

1.2.2 Trung Quốc tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực

Theo tài liệu lịch sử và pháp lý, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII Chính quyền Đông Dương đã củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo này bằng cách thành lập chính quyền, cử lính ra đồn trú, lập trạm thông tin và xây dựng đèn biển Đến đầu thế kỷ XX, không có nước nào yêu sách chủ quyền trên hai quần đảo này Các bản đồ cổ của Trung Quốc chỉ thể hiện lãnh thổ phía Nam đến đảo Hải Nam Tuy nhiên, vào năm 1956, Trung Quốc đã lợi dụng sự rút lui của Pháp để chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, và năm 1974, tiếp tục chiếm phần phía Tây bằng lực lượng hải quân và không quân.

Trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 là một sự kiện quan trọng khi Trung Quốc huy động hàng chục tàu, bao gồm hai tàu Ko Ma có trang bị tên lửa, cùng với máy bay và tàu chiến khác, tấn công vào tàu Hải quân Việt Nam Cộng hòa đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Mặc cho các tuyên bố và phản đối từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc vẫn tiếp tục hành động bạo lực, dẫn đến cái chết của 50 binh sĩ và việc bắt giữ 48 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa cùng một người Mỹ Cuối cùng, do chênh lệch lực lượng, một phần lãnh thổ Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm chiếm, gây thiệt hại nặng nề cho các tàu Hải quân và căn cứ trên đảo.

Tiếp tục xâm chiếm Trường Sa

Vào ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực để chiếm đóng một số đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam Trong trận chiến không cân sức này, 64 chiến sĩ dũng cảm đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Trung Quốc gia tăng gây hấn xâm phạm thềm lục địa của Việt Nam

Sự gia tăng gây hấn của Trung Quốc tại vùng biển Việt Nam đạt đỉnh điểm vào ngày 26/5/2011, khi ba tàu hải giám Trung Quốc cắt đứt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 2 trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam, chỉ cách bờ biển 116 hải lý Ngày 27/5/2011, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động vi phạm chủ quyền và bồi thường thiệt hại Đến tối 28/5/2011, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố vùng biển mà tàu Bình Minh 2 đang hoạt động thuộc “chủ quyền Trung Quốc” Tiếp theo, vào ngày 31/5/2011, tàu Viking 2 cũng bị tàu Trung Quốc quấy rối trong vùng biển Việt Nam, trong khi một ngư dân Việt Nam bị bắt giữ và tài sản bị tịch thu tại quần đảo Hoàng Sa Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn yêu cầu Việt Nam "tránh tạo ra những sự cố mới".

Trung Quốc xây dựng trái phép trên Hoàng Sa, Trường Sa

Thành phố Tam Sa, một đơn vị hành chính của Trung Quốc bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, được thành lập vào tháng 7 năm 2012 Hành động này diễn ra bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ phía Việt Nam và cộng đồng quốc tế.

Trung Quốc dự kiến đầu tư 1,6 tỉ USD cho việc xây dựng sân bay, bến tàu và các cơ sở hạ tầng khác tại thành phố Tam Sa, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Dự án bao gồm xây dựng khu phức hợp các tòa nhà chính quyền, mở rộng sân bay, cùng với việc xây dựng cơ sở hỗ trợ quân sự và trung tâm hỗ trợ ngư nghiệp, cũng như các tàu hải giám.

Trung Quốc đã xây dựng trái phép các công trình kiên cố tại đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, bao gồm cả cảng biển và sân bay, điều này thể hiện rõ tham vọng bá quyền của họ ở Biển Đông.

Trung Quốc đã tổ chức tour du lịch tại đảo Phú Lâm dành cho công dân của mình Gần đây, theo thông tin từ Tờ Tân Kinh ngày 20/1/2013, chính phủ Trung Quốc đã công bố "Quy hoạch phát triển kinh tế biển toàn quốc 5 năm lần thứ 12", trong đó có kế hoạch xây dựng các khu nghỉ mát và du lịch nhiệt đới trên quần đảo Hoàng Sa, khu vực đang tranh chấp chủ quyền với Việt Nam.

*Những cứ liệu lịch sử khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam

Theo nhiều tài liệu trong và ngoài nước, Việt Nam là quốc gia đầu tiên chiếm hữu và thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Gần đây, tài liệu thu thập tại huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi đã cung cấp thêm bằng chứng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

Ông Đặng Lên ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn đang lưu giữ một sắc chỉ quý của triều đình nhà Nguyễn liên quan đến đội Hoàng Sa, được tộc họ Đặng gìn giữ hơn 170 năm Ông là hậu duệ của Đặng Văn Siểm, người dẫn đường trong đội thuyền 3 chiếc với 24 lính thủy canh giữ đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (1835) Kỉ vật này rất quý giá, đã được truyền lại cho con cháu qua 8 đời Gần đây, cháu đích tôn của họ đã hiến tặng sắc chỉ cho Nhà nước, góp phần khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và tiếp nối truyền thống bảo vệ Tổ quốc.

* Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII, khi các quần đảo này không thuộc về bất kỳ quốc gia nào Qua nhiều thế kỷ, Việt Nam đã liên tục và hòa bình xác lập chủ quyền của mình tại đây Nhiều tài liệu cổ như Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII), Phủ biên tạp lục (1776), và các Châu bản nhà Nguyễn (1802-1945) đều ghi nhận về Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định tính hợp pháp và lịch sử của chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo này.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo 16 1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo

1.3.1.Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo

Trước tình hình phức tạp ở Biển Đông, Đảng ta nhấn mạnh việc bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyền lợi trên biển là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược quốc phòng, an ninh Việt Nam kêu gọi các quốc gia liên quan không có hành động làm phức tạp thêm tình hình Với đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý, Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Để tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các tranh chấp, các bên cần tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và Tuyên bố DOC giữa ASEAN và Trung Quốc, nhằm duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Dựa trên tình hình hiện tại của các vùng biển, chúng ta cần xác định rõ các nội dung liên quan đến việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bao gồm những vấn đề cơ bản cần được chú trọng trong bối cảnh mới.

Bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển

Bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội và văn hóa trên các vùng biển

Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới của đất nước

1.3.2.Thể hiện qua các văn bản pháp lý

Chủ quyền biển, đảo Việt Nam đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm

Hiến pháp Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã được quy định trong đạo luật có tính pháp lý cao nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời Quy định này được kế thừa từ Hiến pháp năm 1980, khẳng định sự nhất quán trong việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quan đến quy chế các vùng biển và chủ quyền đối với hai quần đảo, bao gồm Tuyên bố năm 1977 về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Tuyên bố năm 1982 về đường cơ sở, và Luật Biên giới quốc gia năm 2003 Việt Nam cũng tham gia Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc cùng với các công ước đa phương khác về giao thông hàng hải và an toàn trên biển, cũng như Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC).

Luật biển Việt Nam số 18/2012/QH13, được ban hành ngày 21/6/2012 và có hiệu lực từ 1/1/2013, khẳng định chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển Điều 1 của luật quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, cùng các đảo và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc quyền chủ quyền quốc gia Luật cũng quy định về hoạt động trong vùng biển Việt Nam, phát triển kinh tế biển, cũng như quản lý và bảo vệ biển.

Luật biển Việt Nam không chỉ khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển mà còn thể hiện cam kết của Việt Nam đối với Công ước quốc tế năm 1982 Điều này cho thấy Việt Nam luôn tôn trọng các quy định của luật pháp quốc tế và có những hành động cụ thể để thể hiện sự tôn trọng đó.

Trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam khẳng định chủ quyền quốc gia và thực hiện quản lý hành chính đối với 21 đảo, đá và bãi cạn nửa nổi nửa chìm.

Trang 18 sách trắng các năm 1979, 1981 và 1989, Việt Nam đã thể hiện quan điểm trước sau như một, khẳng định chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo này, bên cạnh công tác đàm phán ngoại giao, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng các biện pháp hoà bình, chúng ta cũng tiếp tục củng cố vị trí của mình trên quần đảo Trường Sa Để giải quyết vấn đề chủ quyền, Việt Nam đã mở diễn đàn đàm phán các vấn đề trên biển thực chất là giải quyết vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc, đến nay đã đàm phán được 8 vòng Cùng với hoạt động đàm phán song phương, chúng ta kiên trì đấu tranh, khẳng định chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo tại tất cả các diễn đàn quốc tế có liên quan và đồng thời tiếp tục hoàn thiện hồ sơ pháp lý lịch sử về chủ quyền của ta trên hai quần đảo Tháng 11/2002 tại Pnonh Penh (Campuchia), các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC), được đánh giá là một bước tiến quan trọng, là cơ sở để duy trì ổn định khu vực trong khi các bên tiếp tục tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông Một số đảo đá và bãi cạn khác thuộc quần đảo Trường Sa đang bị một số nước và vùng lãnh thổ chiếm đóng trái phép, các bên tranh chấp cũng đưa ra các lập luận, ban hành các văn bản pháp luật để biện minh cho việc chiếm đóng này (Tham khảo Phụ lục 5)

Nhận thức về chủ quyền biển, đảo của tầng lớp sinh viên

1.4.1 Nhận thức của sinh viên về chủ quyền biển, đảo

Theo tâm lý học nhận thức, các hiện tượng tâm lý được hình thành một cách nhanh chóng và dễ dàng Nhận thức đóng vai trò phản ánh các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan thông qua hình tượng, biểu tượng và khái niệm.

Nhận thức, theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", là quá trình biện chứng phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, giúp con người tư duy và tiến gần hơn tới khách thể.

Theo triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng của hiện thực khách quan vào tư duy con người Quá trình này mang tính tích cực, năng động và sáng tạo, dựa trên nền tảng thực tiễn.

Theo phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người diễn ra từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng quay trở lại thực tiễn Quá trình nhận thức này được thực hiện qua nhiều giai đoạn khác nhau.

Trang 19 từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong

Theo Lênin, khái niệm và phạm trù là sản phẩm của trí tuệ con người, phản ánh giới tự nhiên một cách khái quát và trừu tượng Tuy nhiên, quá trình hình thành các khái niệm này gặp phải nhiều khó khăn và phức tạp Đặc điểm và vai trò của nhận thức rất quan trọng trong việc sáng tạo ra các khái niệm và phạm trù mới.

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức của con người có những đặc điểm quan trọng: đó là quá trình tư duy từ cái riêng đến cái chung và từ hiện tượng đến bản chất Nhận thức tuân thủ nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể, đồng thời thể hiện sự trừu tượng hóa và khái quát hóa.

Việc phân tích các đặc điểm trên giúp chúng ta có thể luận giải vai trò của nhận thức đối với việc sáng tạo các khái niệm, phạm trù

Sự hình thành các khái niệm và phạm trù gắn liền với quá trình nhận thức của con người Qua việc chuyển từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất, và từ trừu tượng đến cụ thể, con người có khả năng trừu tượng hóa và khái quát hóa, từ đó sáng tạo ra các hình thức phản ánh thế giới một cách gián tiếp Các khái niệm và phạm trù triết học (hay logic học) được hình thành với mức độ khái quát và trừu tượng hóa cao, cho thấy vai trò quan trọng của nhận thức trong việc sáng tạo tri thức.

Chủ quyền quốc gia là quyền tự chủ và toàn vẹn của một quốc gia trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp trên lãnh thổ của mình Quốc gia thể hiện chủ quyền qua các khía cạnh kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao.

Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là phần quan trọng của chủ quyền quốc gia, khẳng định quyền làm chủ trên vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia Mỗi quốc gia có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến lãnh thổ của mình, đồng thời không được xâm phạm lãnh thổ hay can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác Chủ quyền lãnh thổ chỉ tồn tại trong phạm vi biên giới quốc gia.

Trang 20 hành động thể hiện chủ quyền quốc gia vượt quá biên giới quốc gia của mình đều là hành động xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác và trái với công ước quốc tế Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm; tôn trọng chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế.[12,tr.132]

1.4.2.Thực trạng sinh viên bị lực lượng phản động lợi dụng biểu tình

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã có những hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ từ quần chúng, đặc biệt là sinh viên Hệ quả là nhiều cuộc biểu tình của sinh viên đã diễn ra tại đại sứ quán Trung Quốc, thể hiện sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia Ngày 9 tháng 12 năm

Vào năm 2007, hàng trăm người Việt Nam, chủ yếu là sinh viên và học sinh, đã tổ chức biểu tình ôn hòa trước cổng Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và Lãnh sự quán Trung Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh Họ nhằm phản đối Trung Quốc và khẳng định tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sa Các cuộc biểu tình ôn hòa lại tiếp diễn vào ngày 16 tháng 12 tại hai thành phố trên

Trong cộng đồng người Việt hải ngoại và các du học sinh Việt Nam, đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình phản đối việc Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa Các cuộc biểu tình này được tổ chức tại nhiều thành phố lớn như Little Saigon, Washington D.C., Los Angeles, Luân Đôn và Paris nhằm thể hiện sự phản đối đối với hành động của Trung Quốc.

Theo báo Đại Đoàn Kết của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, việc Trung Quốc thành lập "thành phố Tam Sa" là sai trái và không có giá trị pháp lý Kế hoạch này đã được chuẩn bị từ lâu, và Trung Quốc công bố nhằm "trả đũa Việt Nam" qua Luật Biển Mặc dù không phải là phản ứng chính thức, một số trang mạng xã hội tại Việt Nam đã kêu gọi biểu tình ôn hòa để phản đối quyết định này Hai cuộc biểu tình đã diễn ra vào sáng ngày 01/07/2012 tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, thu hút hàng trăm người tham gia, tiếp theo là cuộc biểu tình vào ngày 08/07/2012 tại Hà Nội với sự tham gia tương tự.

Thế hệ trẻ hôm nay thể hiện tinh thần yêu nước mạnh mẽ và trách nhiệm trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, đồng thời tiếp tục phát triển đất nước.

Tình hình nhận thức của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông

2.1.1.Khái quát chung về tình hình nhận thức của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông

* Đặc điểm và vai trò của sinh viên

Trong bối cảnh cách mạng hiện nay, Đảng ta khẳng định vai trò quan trọng của thanh niên như một lực lượng xã hội lớn, quyết định tương lai và vận mệnh dân tộc Thanh niên không chỉ là lực lượng chủ yếu trong nhiều lĩnh vực mà còn đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, sức khỏe và sự sáng tạo Với độ tuổi sung sức nhất về thể chất và trí tuệ, thanh niên luôn thể hiện sự năng động, sáng tạo và khát khao tự khẳng định bản thân.

Sinh viên là một bộ phận tiên tiến trong thanh niên, đóng vai trò quan trọng trong xã hội với trình độ học vấn cao và khả năng tư duy độc lập Họ không chỉ là những người lao động trí óc mà còn là những người chủ tương lai của đất nước, nắm giữ vận mệnh và dẫn dắt cách mạng Việt Nam vượt qua những thách thức của thời đại.

Sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc đại diện cho sự tiến bộ của đất nước Với kiến thức phong phú và đam mê nghiên cứu, họ không ngừng sáng tạo và được tiếp cận với những tiến bộ mới nhất trong khoa học công nghệ Chính vì vậy, sinh viên sẽ trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho các dự án trọng điểm phát triển kinh tế quốc gia.

Tham gia các chương trình giao lưu văn hóa và du học, sinh viên trở thành những đại sứ văn hóa, mang đến tinh hoa văn hóa dân tộc cho bạn bè quốc tế Đồng thời, họ cũng tiếp thu những tiến bộ văn hóa từ thế giới, góp phần thay đổi những thói quen và nét văn hóa chưa đẹp trong xã hội như văn hóa giao thông, văn hóa xếp hàng và văn hóa nơi công cộng.

Sinh viên Việt Nam đang tích cực tham gia vào việc bảo vệ an ninh trật tự xã hội và chủ quyền biển đảo, góp phần vào nền quốc phòng toàn dân Với vị trí chiến lược quan trọng của biển, đảo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiều sinh viên đã có những hành động thiết thực để nâng cao nhận thức về vai trò của biển đảo và khẳng định chủ quyền Việt Nam Họ tham gia vào các hoạt động như thi tìm hiểu về biển đảo, chương trình “Vì Trường Sa thân yêu”, và hỗ trợ các chiến sĩ hải quân Các sinh viên thuộc các ngành nghề liên quan đến biển như thủy sản, dầu khí, năng lượng cũng tích cực nghiên cứu và đóng góp ý kiến cho việc khai thác tài nguyên biển Sinh viên các trường lực lượng vũ trang không ngừng rèn luyện kỹ năng và phẩm chất chính trị để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, thể hiện vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước.

*Tổ chức và nhiệm vụ của Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học An Giang

Khoa Lý luận Chính trị, được thành lập theo Quyết định số 1603/QĐ-UBND, ban đầu mang tên Khoa Mác-Lênin Vào ngày 28/05/2008, khoa đã được đổi tên thành Khoa Lý luận Chính trị và duy trì tên gọi này cho đến nay Khoa đào tạo hai chuyên ngành chính là Giáo dục Chính trị và Giáo dục Chính trị-Quốc phòng (liên kết với Đại học Huế), nhưng từ năm 2012, chỉ còn chuyên ngành Giáo dục Chính trị được duy trì.

Tổ chức thực hiện các chủ trương công tác và chỉ thị, nghị quyết của cấp trên trong phạm vi khoa

Quản lý quy trình đào tạo chuyên ngành sư phạm Giáo dục chính trị tại trường Đại học An Giang là một nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Hệ đào tạo đại học cần được tổ chức hiệu quả, đặc biệt trong việc quản lý lớp liên kết với các trường đại học khác Việc này không chỉ giúp cải thiện chương trình giảng dạy mà còn đảm bảo sự đồng bộ trong quy trình đào tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho ngành giáo dục.

SP Huế chuyên ngành GDCT-GDQP

Thực hiện kế hoạch giảng dạy, học tập theo quy định của Hiệu trưởng Nghiên cứu, đề xuất những vấn đề lớn về chuyên môn như:

Phương hướng phát triển các ngành đào tạo

Nội dung, chương trình, phương thức đào tạo

Quản lý cán bộ giảng viên và sinh viên của Khoa

Triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học

Quản lý và sử dụng an toàn, có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật thuộc khoa phụ trách

* Đặc điểm của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị

Trong năm học 2012-2013, Khoa Lý luận Chính trị tổ chức 7 lớp chuyên ngành, bao gồm 4 lớp Giáo dục Chính trị và 3 lớp Giáo dục Chính trị-Quốc phòng, với tổng cộng 276 sinh viên theo học.

Sinh viên Khoa Lý luận Chính trị được trang bị kiến thức cơ bản và hiện đại về Lý luận Chính trị, cùng với những hiểu biết cập nhật về khoa học giáo dục và nghiệp vụ sư phạm Họ cũng nắm vững các vấn đề quan trọng liên quan đến kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Ngành học Lý luận Chính trị trang bị cho sinh viên kiến thức sâu rộng về chủ nghĩa Mác - Lênin và các môn khoa học chính trị khác, giúp họ hiểu rõ tình hình chính trị trong và ngoài nước Sinh viên cũng thường xuyên cập nhật thông tin về chính trị, kinh tế, xã hội và không ngừng mở rộng kiến thức liên quan đến tình hình biển, đảo của đất nước.

*Kết quả đạt được sau quá trình khảo sát nhận thức về chủ quyền biển, đảo của sinh viên Khoa Lý luận Chính trị

Tôi đã tiến hành khảo sát 112 sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị và Giáo dục chính trị - quốc phòng của Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại

Trang 28 học An Giang (chiếm khoảng gần 50% sinh viên của Khoa) Việc tiến hành khảo sát với số lượng sinh viên trên để bước đầu tìm hiểu nhận thức của họ về chủ quyền biển, đảo là vì:

Sinh viên được đào tạo, trang bị hệ thống những kiến thức cơ bản, hiện đại, rộng và sâu sắc về các môn Lý luận chính trị

Sinh viên Khoa Lý luận Chính trị, với kiến thức vững vàng về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin, có khả năng hiểu biết sâu sắc và khoa học về vấn đề chủ quyền biển, đảo.

Khảo sát được thực hiện với khoảng 50% sinh viên Khoa Lý luận Chính trị, đảm bảo tính đại diện do các lớp chuyên ngành có cùng niên khóa và ngành học, dẫn đến trình độ nhận thức tương đối đồng nhất Để thuận lợi cho quá trình nhận thức, sinh viên cần có kiến thức cơ bản về từ ngữ khoa học, giúp phân biệt rõ ràng các thuật ngữ liên quan đến vùng biển và đảo Việc giải thích khái niệm “vùng biển Việt Nam và vùng biển có ranh giới chung với các nước khác” là bước quan trọng trong việc tìm hiểu nhận thức của sinh viên Khảo sát sử dụng câu hỏi trắc nghiệm với nội dung: “Vùng biển Việt Nam bao gồm:” để đánh giá kiến thức của sinh viên.

Biểu đồ thể hiện số phiếu và tỷ lệ sinh viên chọn đáp án đúng với nội dung “Vùng biển Việt Nam bao gồm:”

Kết quả khảo sát cho thấy 97.3% sinh viên đã chọn đúng đáp án về phần giải thích từ ngữ liên quan đến vùng biển Việt Nam, cho thấy đa số sinh viên có kiến thức cơ bản vững vàng Tuy nhiên, 2.7% sinh viên vẫn chọn đáp án chưa chính xác, cho thấy cần nâng cao tính khoa học và chính xác trong hiểu biết Điều này cho thấy phần lớn sinh viên đã tự trang bị kiến thức cần thiết để nghiên cứu sâu hơn và nhận thức rõ trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông

đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là trách nhiệm thiêng liêng của mọi người Tuy nhiên, gần đây, các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều phương pháp tuyên truyền để kích động quần chúng, đặc biệt là thanh niên và sinh viên, dẫn đến tình trạng mất trật tự an toàn xã hội Thanh niên, với sự nhạy cảm và nhiệt huyết, dễ bị lôi kéo nếu không có lập trường vững vàng, điều này trở thành nhược điểm mà các thế lực xấu lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước Do đó, tìm ra giải pháp giúp sinh viên không bị ảnh hưởng bởi âm mưu của các thế lực thù địch trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo là vấn đề quan trọng trong nghiên cứu Cần nâng cao nhận thức và tinh thần cách mạng của sinh viên để thực hiện đúng theo quan điểm của Đảng.

Trang 40 trước hết sinh viên cần phải rèn luyện phẩm chất cho chính bản thân mình thông qua những giải pháp sau:

Sinh viên cần tích cực học tập và nâng cao kiến thức chuyên ngành, đồng thời rèn luyện nhân cách và bản lĩnh chính trị để nhận thức đúng đắn về các vấn đề chính trị - xã hội nhạy cảm Việc trang bị tri thức nền tảng không chỉ phục vụ cho tương lai cá nhân mà còn giúp sinh viên hiểu biết khoa học hơn về các vấn đề quan tâm Ngoài ra, việc rèn luyện nhân cách theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và phát triển kỹ năng mềm là cần thiết để ứng phó với các tác động tiêu cực từ bên ngoài Khi có đủ tri thức, sinh viên sẽ ít bị ảnh hưởng bởi thông tin không chính thống và có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân một cách tự tin, vững vàng, sống có trách nhiệm và sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thanh niên và sinh viên cần trung thành với sự nghiệp cách mạng và chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng cho mọi hành động Đảng Cộng sản Việt Nam, đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã lãnh đạo dân tộc đấu tranh giành độc lập và tự do, hướng tới mục tiêu giải phóng con người khỏi áp bức Thế hệ trẻ phải tự hào về thành quả của cha ông, giữ vững lòng yêu nước và tinh thần nhân nghĩa, đồng thời đấu tranh vì chủ quyền dân tộc theo đúng trình tự và tuân thủ pháp luật.

Ba là, chủ động tham gia nghiên cứu khoa học đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bám sát và theo dõi tình hình Biển Đông

Tham gia nghiên cứu khoa học là một phương pháp hiệu quả để nâng cao chuyên môn và trình độ nhận thức của sinh viên, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ chủ quyền biển, đảo Thực hiện các đề tài nghiên cứu giúp sinh viên tiếp cận thông tin chuyên sâu và các lĩnh vực liên quan, từ đó phát triển khả năng xử lý thông tin một cách khoa học và lôgic Nghiên cứu yêu cầu sinh viên phải kết hợp nhiều kỹ năng và tìm hiểu nguồn thông tin phong phú, mặc dù nhiều sinh viên Khoa Lý luận Chính trị vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nó Tuy nhiên, việc chủ động tham gia nghiên cứu và theo dõi tình hình chính trị - xã hội, đặc biệt là tình hình Biển Đông, sẽ cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho công tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Sinh viên, đặc biệt là sinh viên Khoa Lý luận Chính trị, cần tích cực tham gia các phong trào của Đoàn, Hội để rèn luyện nhân cách, nâng cao bản lĩnh chính trị và tích lũy kinh nghiệm sống Tham gia vào các hoạt động này không chỉ giúp sinh viên tự tin và có trách nhiệm với cộng đồng mà còn trang bị cho họ khả năng chống lại những biểu hiện tiêu cực Qua đó, sinh viên sẽ trở thành những tuyên truyền viên hiệu quả, góp phần nâng cao ý thức về bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong xã hội Đoàn, Hội đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy tinh thần xung kích của thanh niên, giúp họ vượt qua khó khăn và thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.

2.2.2.Đối với cấp quản lý

Một là, Kết hợp với lực lượng Hải quân tổ chức báo cáo thường xuyên về tình hình biển, đảo

Bảo vệ chủ quyền biển, đảo và các vấn đề liên quan hiện nay rất quan trọng và thường xuyên được cập nhật trên các phương tiện truyền thông và Internet Tuy nhiên, do sự phức tạp của các nguồn thông tin và đa dạng trong cách tiếp cận, việc tổ chức các buổi báo cáo, thảo luận với giảng viên và báo cáo viên là cần thiết Điều này đặc biệt quan trọng khi kết hợp với lực lượng Hải quân có đơn vị đóng quân để đảm bảo thông tin đáng tin cậy.

Trang 42 gần nhất để thực hiện các bài báo cáo về tình hình biển, đảo, tuyên truyền về các quan điểm của Đảng và Nhà nước thể hiện tinh thần bảo vệ chủ quyền quốc gia là một trong những cách giúp cho sinh viên được tiếp cận với nguồn thông tin chính xác tuyệt đối và góp phần tạo niềm tin trong thế hệ trẻ đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sinh viên được tiếp xúc trực tiếp và nghe báo cáo của những chiến sĩ công tác trong lực lượng Hải quân sẽ củng cố niềm tin, tinh thần và bản lĩnh cách mạng một cách triệt để

Kết quả khảo sát cho thấy 70% sinh viên cho rằng việc tổ chức các buổi báo cáo về chủ quyền biển, đảo là rất cần thiết, trong khi 26% cho rằng cần thiết và chỉ 3.6% cảm thấy chưa thật sự cần thiết Điều này cho thấy sự đồng tình cao của sinh viên đối với việc tuyên truyền giáo dục về chủ quyền biển, đảo Tuy nhiên, các buổi báo cáo cần được tổ chức theo lịch trình cụ thể, diễn giải ngắn gọn và cung cấp thông tin thiết thực mà sinh viên quan tâm, nhằm nâng cao hiệu quả tác động đến tư tưởng của họ.

Để nâng cao nhận thức của sinh viên về biển, đảo, cần tổ chức các cuộc thi kết hợp chương trình nghệ thuật nhân các ngày lễ lớn Những hoạt động như hái hoa dân chủ, diễn kịch, và trình chiếu phim tư liệu sẽ khơi gợi sự tìm hiểu sâu sắc về vấn đề này Đồng thời, các tiết mục ca múa nhạc hướng về biển, đảo sẽ tạo sự hấp dẫn và gắn kết với tâm tư tình cảm của thế hệ trẻ yêu quê hương đất nước.

Theo kết quả khảo sát, có 25% sinh viên cho rằng các cuộc thi là rất cần thiết, 68% cho rằng cần thiết, trong khi 7.1% cảm thấy chưa thật sự cần thiết Điều này cho thấy phần lớn sinh viên quan tâm đến các cuộc thi có nội dung chặt chẽ, hình thức sinh động và ý nghĩa sâu sắc Tuy nhiên, vẫn còn một số ít sinh viên không quan tâm do một số chương trình chưa được đầu tư tổ chức đúng mức, dẫn đến việc chưa thu hút và để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng họ.

Ba là, Tổ chức du khảo về nguồn hướng ra biển, đảo

Học đi đôi với hành là nguyên tắc quan trọng giúp sinh viên áp dụng tri thức vào thực tiễn Nhà trường và giảng viên cần tạo điều kiện cho sinh viên tham gia du khảo tại các địa điểm lịch sử, đặc biệt là các di tích ven biển và đảo Những chuyến đi này không chỉ phục vụ nghiên cứu chuyên môn mà còn mang lại không khí mới mẻ, giúp sinh viên dễ dàng tiếp nhận kiến thức và hiểu sâu hơn về giá trị lịch sử của từng địa điểm.

Kết quả khảo sát cho thấy 31.3% sinh viên cho rằng việc tổ chức du khảo về biển, đảo là rất cần thiết, trong khi 55.4% cho rằng cần thiết Chỉ có 8.9% sinh viên cảm thấy chưa thật sự cần thiết và 4.5% không thấy cần thiết, chủ yếu do các yếu tố như chi phí, lộ trình, khoảng cách và sức khỏe Đa số sinh viên nhận thức rõ tầm quan trọng của việc kết nối và giáo dục tư tưởng giữa đất liền và biển đảo, thể hiện sự quan tâm của thế hệ trẻ đối với lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Để thu hút sự tham gia của sinh viên, cần tổ chức các chuyến du khảo một cách chặt chẽ, có chính sách hỗ trợ chi phí và nêu rõ ý nghĩa của chuyến đi.

Bốn là, Động viên sinh viên chuyên ngành tình nguyện thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên biển, đảo

Rèn luyện đạo đức và sức khỏe để tham gia bảo vệ Tổ quốc là quyền và nghĩa vụ của thanh niên Việt Nam Trong quá trình lập thân, lập nghiệp, thanh niên, sinh viên cần nâng cao tri thức và rèn luyện tác phong, đồng thời cống hiến tài lực cho quê hương Đặc biệt, sinh viên chuyên ngành Lý luận chính trị, với kiến thức về các học thuyết và tư tưởng chính trị, cần được tạo điều kiện và động viên để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên biển, đảo.

Kết quả khảo sát cho thấy 53.6% sinh viên cho rằng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là rất cần thiết, 40.2% cho rằng cần thiết, trong khi chỉ 6.3% cho rằng chưa thật sự cần thiết Điều này cho thấy đa số sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ Tổ quốc và trách nhiệm của họ đối với sự bình yên của đất nước Tuổi trẻ được xem là rường cột của quốc gia, với tinh thần cống hiến và hy sinh vì cộng đồng xã hội, là nền tảng cho mọi hành động và suy nghĩ.

Năm là, Tăng cường khảo sát và mở rộng chương trình nghiên cứu, khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học về vấn đề biển, đảo

Nghiên cứu khoa học là một quá trình đầu tư và thu thập thông tin đòi hỏi kiên nhẫn, hiểu biết và đam mê Tuy nhiên, hiện nay, số lượng sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học vẫn còn hạn chế do nhiều lý do, bao gồm thiếu điều kiện vật chất và thiếu đam mê Đặc biệt, nghiên cứu về vấn đề biển, đảo còn rất ít do tính nhạy cảm và phức tạp của chủ đề này, khiến sinh viên e dè trong việc tham gia Do đó, cần khuyến khích sinh viên mạnh dạn hơn trong nghiên cứu, nhấn mạnh tầm quan trọng của các công trình nghiên cứu đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong lĩnh vực lý luận chính trị, nhằm góp phần vào tiếng nói chung của thế hệ trẻ.

Ngày đăng: 26/03/2025, 05:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Mỹ Hạnh, Bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo khái niệm, phạm trù, Tạp chí Triết học – 31/12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo khái niệm, phạm trù
Tác giả: Hoàng Mỹ Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 2006
3. Th.s Lê Thanh Hùng (2010), Tâm lý học đại cương (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Th.s Lê Thanh Hùng
Nhà XB: Lưu hành nội bộ
Năm: 2010
9. Th.s Phạm Quang Trưởng (2007), Giáo trình Một số nội dung cơ bản về lãnh thổ, biên giới quốc gia, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Một số nội dung cơ bản về lãnh thổ, biên giới quốc gia
Tác giả: Th.s Phạm Quang Trưởng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2007
14. Luật Biển số 18/2012/QH13 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Biển số 18/2012/QH13 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
18. Website Đài truyền hình, truyền thanh huyện Cư Jut, tỉnh Đắc Nông http://daitruyenthanhcujut.daknong.gov.vn/news/f12/Khai-quat-ve-bien-dao-Viet-Nam-Bai-1-1221/ Link
19. Website Đoàn khối các cơ quan tỉnh Lào Cai http://doankhoiccq.laocai.gov.vn/TinChiTiet.aspx?idTin=279 20. WebsiteNghiên cứu Biển Đông Link
1. Lê Ngọc Cường-chủ biên (2012), Biển, đại dương và chủ quyền biển, đảo Việt Nam, Bộ Giáo dục và đào tạo Khác
4. Nhiều tác giả (Song Lam, Thái Quỳnh-Tuyển chọn) (2012), Toàn cảnh biển đảo Việt Nam, Nxb Thanh niên Khác
5. Nguyễn Nhã-Lê Minh Nghĩa (2008), Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Nxb Trẻ Khác
6. Nguyễn Huy Toàn (1996), Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt-Trung, Nxb Đà Nẵng Khác
7. Nguyễn Hồng Thao (2007), Những điều cần biết về Luật biển, Nxb Công an nhân dân Khác
8. PGS,TS Võ Văn Thắng (2013), Logic học biện chứng (Lưu hành nội bộ) Khác
10. Hoàng Việt, Độc chiếm biển Đông là chiến lược nhất quán của Trung Quốc, Lao động cuối tuần - số 31- Chủ nhật 12/8/2012 Khác
11. Bộ Tư lệnh Hải quân- Tổng chỉ đạo (2008), Một số vấn đề về chủ quyền biển, đảo Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân Khác
12. Giáo trình Giáo dục Quốc phòng-An ninh, Tập một (2010) Khác
13. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Khác
15. Niên lịch đào tạo 2012-2013, Trường Đại học An Giang Khác
16. Nhiều tác giả (2011), Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Nxb Trẻ Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w