Chuyên đề tốt nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức phối trộnthức ăn đến thành phan sinh hóa của cá Chạch lau Mastacembelus favusgiai đoạn giống” do sinh viên Nguyễn Hoàng Giang
Hình thái -:¿- 6c 5s x2E1221E2112711221711271121111111 211211111111 4
Cá Chạch lau có đặc điểm nhận dạng với đầu nhỏ, dẹp bên và mõm kéo dài thành râu ngắn Miệng nhỏ, rạch ngắn với răng nhỏ, mịn phân bố đều trên cả hai hàm Mắt nhỏ nằm dưới da, lệch về phía trên đầu gần chót mõm Thân cá dài, phần trước hình ống và phần sau dẹp hai bên, với đường bên liên tục từ mép trên mang đến gốc vi đuôi Gốc vi lưng dài, với gai cứng ở phần trước và tia mềm ở phần sau Vi hậu môn có ba gai, trong đó gai thứ ba nằm sâu trong cơ Cá có màu xanh đậm hoặc đen xám, với nhiều đốm vàng hình tròn hoặc bầu dục trên thân và các vây Vây ngực có một đốm đen nhỏ.
Hình 2 Hình thái cá chạch lau
Đặc điểm sinh sản - 2: ©22-2S22EEE 221 C2212221121127112711 211211 Execrre 5
Mùa sinh sản của cá Chạch lau diễn ra trong mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, với tháng 6 và 7 là thời điểm chủ yếu Hệ số thành thục trung bình của cá Chạch lau cái vào mùa này đạt 3,61%, trong khi cá Chạch lau đực chỉ đạt 0,21% (Nguyễn Văn Triều, 2010).
Đặc điểm sinh trưởng -: 2 2+k+EE+2EE2EESEEEEE211221221 7121.111 5
Cá Chạch lau là loài cá có tốc độ tăng trưởng chậm, có thể đạt chiều dài tối đa 90cm và khối lượng lên tới 500g trong môi trường tự nhiên (Huang, H et al, 1987).
Đặc điểm dinh dưỡng .- 2-22 5£©2S2EE£EESEECEEEEEEEEEE2E1 21.21 re 5
Cá Chạch lấu là loài cá ăn tạp, chủ yếu hoạt động vào ban đêm, trong tự nhiên chúng tiêu thụ côn trùng đáy, giun, ấu trùng giáp xác và mùn bã hữu cơ Trong môi trường nuôi nhân tạo, chúng có thể ăn thức ăn tươi sống hoặc đông lạnh như tôm, cá nhỏ, ấu trùng muỗi và đặc biệt là giun đất Nếu bể nuôi được che ánh sáng, cá Chạch lấu cũng có thể bắt mồi vào ban ngày.
Cá Chạch là loài ăn tạp, chủ yếu tiêu thụ thức ăn tươi sống như trùn chỉ, cá bột, artemia, ấu trùng muỗi, trùn qué và giáp xác chân chèo Chúng thường hoạt động và kiếm ăn vào ban đêm, với nhu cầu dinh dưỡng cao đối với thực phẩm tươi sống (Mongabay, 2007).
Kết hợp quan sát hình thái giải phẫu của ống tiêu hóa và phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa của cá thông qua các phương pháp tần số xuất hiện và khối lượng giúp hiểu rõ hơn về chế độ dinh dưỡng và thói quen ăn uống của chúng.
Van đề dinh dưỡng trong thức ăn của cá nước ngọt
Thức ăn công nghiỆp - - - 5 5 21112111311 93189318911 11 11 g1 ng ng 6
Thức ăn công nghiệp cho tôm và cá là một hỗn hợp được chế biến từ nhiều nguyên liệu, được phối hợp theo công thức của nhà sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho các loài thủy sản này (Vũ Duy Giảng, 2016).
Thức ăn viên là sản phẩm được chế biến theo quy trình công nghiệp, chia thành hai loại chính: thức ăn viên chìm (sinking feed) chủ yếu dùng cho nuôi giáp xác và thức ăn nổi (floating feed) dành cho nuôi cá.
Vai trò của dinh dưỡng đối với nghề nuôi thuỷ sản
Thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của động vật thủy sản, và không có thức ăn, động vật sẽ không thể sống sót Trong nghề nuôi cá, thức ăn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí, dao động từ 50-80%, vì vậy việc sử dụng thức ăn một cách hợp lý là rất cần thiết Để nâng cao năng suất và giảm giá thành sản phẩm, cần đảm bảo cung cấp đủ lượng và chất thức ăn cho cá Trong cùng một điều kiện nuôi, thức ăn quyết định tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế, thậm chí ảnh hưởng của thức ăn và chế độ nuôi dưỡng còn vượt trội hơn cả giống và tổ tiên của động vật (Trần Thi Thanh Hiền, 2004).
2.3 MOT SO KET QUÁ NGHIÊN CUU VE ANH HUONG CUA THỨC AN LEN THANH PHAN SINH HOA CUA CA
Sử dụng thức ăn chế biến có 45% protein và 6% lipid hoặc 40% protein và 9% lipid là lựa chọn tối ưu cho việc nuôi cá thát còm ở giai đoạn giống, đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, khi thức ăn có mức protein lên tới 50% và lipid 12%, sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá sẽ giảm.
Hàm lượng protein trong cơ thể cá không bị ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa protein và lipid trong thức ăn Nghiên cứu cho thấy hàm lượng protein của cá tăng dần theo mức protein trong thức ăn, với hàm lượng protein cao nhất đạt 13,91% ở nghiệm thức 45% protein-9% lipid, tiếp theo là 13,62% ở nghiệm thức 50% protein-9% lipid, và thấp nhất ở các nghiệm thức 35% protein Điều này chứng tỏ hàm lượng protein trong cơ thể cá chủ yếu phụ thuộc vào hàm lượng protein trong thức ăn (Trần Thi Thanh Hiền và cs, 2013).
Nghiên cứu cho thấy rằng hàm lượng chất béo trong thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng và thành phần hóa học của cá kèo (Pseudapocryptes elongatus, Cuvier 1816) Cụ thể, độ âm của cá giảm dần khi tăng hàm lượng chất béo trong thức ăn, với mức độ thấp nhất ghi nhận ở nghiệm thức 13,5% chất béo (79,7%), có sự khác biệt có ý nghĩa (p