1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)

93 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)
Tác giả Trần Thanh Nguyện
Người hướng dẫn PGS.TS Trịnh Sâm
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Lý Luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 81,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, trong một chừng mực nhất định, luận văn sẽ trình bày những đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo chí, góp thêm những ýkiến về việc chuẩn hóa ngôn ngữ trên các phương tiện thông ti

Trang 1

TRẦN THANH NGUYỆN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ

CỦA CÁC VĂN BẢN BÁO CHÍ

(TRÊN CỨ LIỆU BÁO BÌNH DƯƠNG)

CHUYEN NGANH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

MÃ SỐ: 5.04.08

LUẬN VĂN THAC SĨ KHOA HỌC NGU VAN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Trịnh Sâm

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-2004

Trang 2

0.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong vài thập niên gần đây ngôn ngữ báo chí mới được thừa nhận là một phong

cách chức năng trong hệ thống phong cách chức năng tiếng Việt Do đó, những thành tựu

nghiên cứu về lĩnh vực này là chưa nhiều Trong khi phải thấy rằng, hơn một thế kỷ nay,

ở nước ta các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và báo chí nói riêng đang có

bước phát triển rất nhanh về số lượng lẫn chất lượng Báo chí không chỉ là phương tiệnthông tin như buổi đầu hình thành mà đến nay đã trở thành phương tiện hữu hiệu trongviệc phổ biến các quan điểm, đường lối của một tổ chức chính trị, xã hội, trong việc góp

phần nâng cao tri thức và tác động giáo dục đối với đông đảo công chúng Với mục đínhgiao tiếp như vậy, hướng đến một đối tượng đa dạng (không đồng nhất về trình độ, vềtuổi tác, về giới tính, v.v ), báo chí đã sử dụng đường kênh ngôn ngữ như một hệ đa chức

năng: không chỉ để thông tin mà còn nhằm tác động đến mọi đối tượng, trong mọi lĩnhvực Để đạt được mục đích này, ngôn ngữ trên báo luôn chứa đựng những thông tin mới

lạ, hấp dẫn, được tổ chức ngắn gọn, dễ hiểu, rõ ràng Mặt khác, báo chí là một phương

thức giao tiếp khá đặc biệt Ở đó, người tạo ngôn tức tác giả và người thụ ngôn tức độc

giả không đồng thời có mặt, không có các hành vi giao tiếp kèm lời (cử chỉ, nét mặt, v.v ), cũng không có ngữ cảnh giao tiếp Mọi thông tin - hay nói khác là hoạt động giao

tiếp - chỉ thể hiện qua các văn bản trên báo Vì thế, ngôn ngữ báo chí có những yêu cầu

rất nghiêm ngặt, được xem như là một ngôn ngữ chuẩn mực (để người thụ ngôn hiểu và

hiểu đúng thông tin)

Tuy nhiên, trên hầu hết các báo hiện nay, người ta có thể tìm thấy khá nhiềunhững lỗi dùng từ, những lỗi viết câu, những cách diễn đạt có tính chất mơ hồ về nghĩa,v.v Thậm chí có những bài mà cách tổ chức văn bản không phù hợp với đặc điểm phong

cách chức năng Điều này làm ảnh hưởng không ít đến chất lượng thông tin và tất nhiên

là ảnh hưởng đến nhận thức, thẫm mỹ va cả kha năng ngôn ngữ của người đọc.

Trang 3

Khảo sát thực tế sử dụng ngôn ngữ trên các văn bản báo chí hiện nay, tìm ranguyên nhân và hướng khắc phục những lỗi sai sót thường gặp là mục tiêu ban đầu để

chúng tôi đi đến lựa chọn dé tài “ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGU CUA CÁC VAN BẢN BAO

CHÍ” (trên cứ liệu báo viết Bình Dương) Qua đó, trong một chừng mực nhất định, luận

văn sẽ trình bày những đặc điểm của phong cách ngôn ngữ báo chí, góp thêm những ýkiến về việc chuẩn hóa ngôn ngữ trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung và

báo chí nói riêng.

0.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngôn ngữ được dùng trong phong cách báo chí tổn tại ở cả dạng nói và dạng viếttrên các phương tiện in ấn (báo viết), phát thanh (báo nói) và truyền hình (báo hình).Nhưng như giới hạn đã nêu ở dé tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn là cứ liệu ngônngữ trên báo viết và chỉ với báo viết ở Bình Dương từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh)

đến nay Trong quá trình xem xét, luận văn cũng sử dụng một số cứ liệu ngôn ngữ trêncác báo viết tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích đối chiếu so sánh để làm rõ hơn

những vấn để nêu ra có liên quan

0.2.2 Phạm vỉ nghiên cứu

Có nhiều vấn dé cần nói về việc sử dụng ngôn ngữ trên báo hiện nay Tuy nhiên,trong phạm vi có thể, luận văn chủ yếu nghiên cứu đặc điểm chung của phong cách ngônngữ báo chí, cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (ngữ âm và chữ viết, từ vựng,ngữ pháp), và cách thức tổ chức ngôn ngữ trên văn bản một số thể loại fin tức, bình luận,

ký, tiểu phẩm,v.v Đối với thể loại quảng cáo, dù chiếm một số trang đáng kể trên các

báo hiện nay nhưng vì nó có những đặc thù riêng (về đối tượng, về mục đích) nên người

viết chỉ để cập đến ở tiểu mục nhận diện thể loại, chứ không xem nó là đối tượng khảo

sát.

Trang 4

0.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.3.1 Nội dung nghiên cứu

Phần đầu luận văn tập trung trình bày những đặc trưng cơ bản của phong cách ngônngữ báo chí Đây là những quan điểm đã được công bố trong các công trình nghiên cứu

về phong cách học tiếng Việt, trong các tài liệu hội thảo khoa học những năm gần đây

Trên cơ sở lý luận chung này, luận văn tiến hành khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trên báoviết Bình Dương Như đã nói, ngôn ngữ báo chí là một ngôn ngữ giao tiếp khá đặc biệt.

Do vậy, các hiện tượng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp được khảo sát không chỉ đặt trong hệ

thống để xem xét mà còn phải được luận giải bằng những tri thức liên ngành như ngôn

ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tâm lý, ngữ dụng hoc,v.v Vấn để tổ chức văn bản của các

thể loại cũng là một nội dung người viết quan tâm Trong thời đại thông tin, phong cáchbáo chí là phong cách của ngôn ngữ sự kiện, cho nên văn bản trên báo phải được tổ chứcsao cho trong một thời lượng, một số lượng tối thiểu các phương tiện biểu đạt có thể chứađựng được một lượng thông tin tối đa.

Những bất cập trong việc sử dụng ngôn ngữ trên các báo được chọn làm cứ liệu

nêu ra trong luận văn (ở chương hai) không nhằm mục đích phê phán Mà trên cơ sở thực

tế này, những giải thuyết được dé nghị (ở chương ba) là nhằm nâng cao hiệu quả choviệc sử dụng ngôn ngữ trên các phương tiện truyền thông nói chung và báo chí nói riêng

0.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong khi hành chức với phạm vi nội dung như trên làcông việc đòi hỏi phải áp dụng nhiều phương pháp Ngoài những thủ pháp quen thuộc

như quan sát, sưu tập, phân tích, miêu ta theo hướng quy nạp, luận văn chủ yếu sử dụng

các phương pháp sau:

-Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê các đối tượng (từ ngữ, câu, văn bản

các thể loại, v.v ) và phân loại theo chủ điểm nghiên cứu, từ đó tìm ra các quy luật, cácmối liên hệ giữa các đối tượng.

Trang 5

-Phương pháp đối chiếu, so sánh: so sánh, đối chiếu các đơn vị cùng loại; so sánh,đối chiếu cứ liệu ngôn ngữ trên báo Bình Dương với một số báo khác để tìm ra nhữngtương đồng và khác biệt; từ đó các kết luận có được vừa mang tính cụ thể, vừa có thể

khái quát.

-Phương pháp cú pháp - ngữ nghĩa: là phương pháp đặc trưng để nghiên cứu ngữ

nghĩa, chức năng, cấu trúc của các đối tượng đã thống kê (các yếu tố được đặt trong hệ

thống và xem xét trên nhiều bình diện)

-Phương pháp mô hình hóa: để trình bày một cách hệ thống, mô hình các thể loạivăn bản, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu ta quan hệ của các đối tượngkhảo sát (dưới dạng các bảng biểu, sơ đồ)

Trong quá trình nghiên cứu, các thủ pháp, phương pháp được vận dụng kết hợp; có

khi tầy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thé mà sử dụng chủ yếu

một phương pháp thích hợp.

0.4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Phong cách học là bộ môn đã có từ rất lâu trên thế giới với tên gọi ban đầu làThuật tu từ ( rhetoric) Nhưng chỉ đến đầu thé kỷ XX, với công trình “Khảo luận về phong

cách học tiếng Pháp”(1909) của Charles Bally, nó mới thật sự được khẳng định là một

ngành học độc lập Ở Việt Nam, phong cách học tiếng Việt được chính thức biết đến từ

thập niên 80 trở lại đây (mà tiền thân là bộ môn Tu tit học trong các giáo trình đại học)

Những thành tựu bước đầu của phong cách học tiếng Việt đã được ứng dụng trên nhiềulãnh vực như giải mã ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, miêu ta các phong cách chức

năng, lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ thích hợp trong từng phạm vi giao tiếp, v.v Tuy

nhiên cũng còn khá nhiều vấn để chưa được thống nhất trong giới ngữ học

Trong bối cảnh chung này, vị trí của phong cách ngôn ngữ báo chí cũng chưa được

quan tâm thích đáng Có tác giả cho là “các tin tức đưa trên báo chí, dưới các hình thức

lược thuật, điều tra, phóng sự, v.v ít nhiều có tính chất bình giá” là thuộc phong cách

chính luận [Cù Đình Tú,1983, tr.151] Cũng có tác giả không đưa “phong cách ngôn ngữ báo

Trang 6

chí-tin tức” vào hệ thống các phong cách chức năng “vì phong cách này cũng bao gồm

nhiều phong cách phức tạp ”[Nguyễn Nguyên Trứ,1988.tr.19] Điểm qua các công trình nghiên

cứu, ta thấy phong cách ngôn ngữ báo chí có nhiều tên gọi khác nhau:

-Phong cách báo chí-tin tức (Cù Dinh Tú-Lê Anh Hién-Nguyén Thái Hòa-Võ Bình,

Phong cách học tiếng Việt, 1982).

-Phong cách thông tấn-báo chí (Nguyễn Nguyên Trứ, Phong cách học chức năng

tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám, 1990).

-Phong cách báo chí-công luận (Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Phong cách

học tiếng Việt, 1993).

-Phong cách thông tấn ( Hồ Lê, Dẫn luận ngôn ngữ học, 1994).

-Phong cách báo chí (Hữu Đạt, Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng

Viét, 2000).

Nhìn chung, các công trình này đã xác định sự tổn tai của phong cách ngôn ngữbáo chí trong hệ thống các phong cách chức năng tiếng Việt dù với nhiều tên gọi khác

nhau, dù có lúc xếp chung nó trong phong cách chính luận Các công trình này cũng đã

chỉ ra những đặc trưng cơ ban về mặt chức năng, về cách thức sử dung các phương tiện

biểu đạt, về kết cấu các thể loại văn bản trên báo Đây là những vấn dé có ý nghĩa lýluận và thực tiễn rất lớn.

Vấn để chuẩn hóa tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đượcnhiều tác giả dé cập đến trong các cuộc hội thảo, trao đổi khoa học về chuẩn hóa tiếngViệt Tiêu biểu là hội nghị về chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ khoa học do Viện ngônngữ và Trung tâm biên soạn sách cải cách giáo dục tổ chức trong hai năm 1978 và 1979,

hội thảo Các vấn đề chuẩn ngôn ngữ sách và báo chí tiếng Việt do Phân viện Báo chítuyên truyền và Hội Ngôn ngữ học Việt Nam tổ chức ngày 12/9/1997 tại Hà Nội và cuộc

thảo luận trên tạp chí Ngôn ngữ kể từ số 2/2000 về vấn để Phiên chuyển từ ngữ nướcngoài sang tiếng Việt Các tham luận chủ yếu nêu lên những hạn chế và yêu cầu chuẩn

hóa khi nói, viết tiếng Việt hiện nay Chuẩn hóa và phong cách ngôn ngữ, giữ gìn bản

sắc tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là mục tiêu của các hội thảo, hội nghị

Trang 7

này Một số dé tài trong đó có dé cập riêng đến phong cách báo chí nhưng cũng chỉ ở

một phạm vi giới hạn.

Dưới góc độ chuyên môn nghiệp vụ báo chí, cũng có nhiều tác giả để cập đến một

số vấn dé như thuật ngữ báo chí, ngôn ngữ ban tin, ngôn ngữ quảng cáo,v.v Thật ra, đây

chỉ là những mảng dé tài riêng lẻ và thiên về kỹ thuật viết lách biên tập hơn là khảo sátđặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí Năm 2001, Vũ Quang Hào khi công bố công

trình Vgôn ngữ báo chí (Nxb ĐHQG Hà Nội) đã khẳng định là chưa có một công trình nào như vậy trước đó Tác phẩm này, như tác giả đã nói, là tập bài giảng đành cho sinh

viên khoa báo chí nên dù đã có nhiều ý kiến rất giá trị về các vấn dé ngôn ngữ chuẩnmực, tên riêng, thuật ngữ, tít báo nhưng phần khảo sát về đặc điểm tổ chức ngôn ngữ của

các văn bản thì lại quá sơ lược có lẽ do tác giả này chỉ xem xét vấn để dưới quan điểm của báo chí học Cũng nhìn từ góc độ này, tác giả Nguyễn Tri Niên trong tác phẩm Ngôn ngữ báo chí (2003, Nxb Tổng hợp Đồng Nai) đã chỉ ra ba đặc điểm loại hình của ngôn

ngữ báo chí: ngôn ngữ sự kiện, ngôn ngữ định lượng, ngôn ngữ của độ không xác định và

xem xét ngôn ngữ báo chí trong nhiều mối quan hệ: quan hệ phản ánh, quan hệ đối xứng.quan hệ liên tưởng Đây là một cách nhìn mới mẻ, xuất phát từ bản chất của thông tinbáo chí Tuy nhiên, các vấn để chỉ mới được nhìn nhận như những nguyên tắc trong việc

sử dụng ngôn ngữ đối với nhà báo Cách tiếp cận này có lẽ xuất phát từ sự phân biệt khá

cực đoan của chính tác giả: “Ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ là hai lĩnh vực khác

nhau “{tr.13}.

Một số quan điểm rất đáng chú ý khi xem xét đặc điểm ngôn ngữ báo chí theo

hướng “động”, “hai chiều” - nghĩa là những biến đổi của ngôn ngữ trên báo hiện nay

không chỉ vì thực hiện chức năng đa dạng của nó đối với xã hội mà còn vì chịu sự tácđộng nhiều mặt của thời đại đối với chính nó

Hoàng Tuệ, trong bài viết Vgười giáo viên trước các vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt

(1983) khi bàn về hoạt động ngôn ngữ cũng đã xác định báo chí hiện nay thuộc phạm vi

thông tin đại chúng và theo hướng phát triển tương lai, nó sẽ thuộc phạm vi giao tiếp

khoa học - kỹ thuật.

Trang 8

Trịnh Sâm, trong bài viết Đặc trưng ngôn ngữ của phong cách báo chí trong thờiđại thông tin (2001, Đi tìm bản sắc tiếng Việt, Nxb Trẻ} đã đặt ra một hướng tiếp cận

mới: tiếp cận trên bình diện ngoại tại của ngôn ngữ Theo tác giả này, mối tương quan

giữa thời đại và ngôn ngữ trong thời đại thông tin, kinh tế, xã hội như hiện nay được thể

hiện tiêu biểu trong phong cách ngôn ngữ báo chí-nhất là ở cách thức tổ chức văn bản

Kế thừa các thành tựu đã nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ báo chí và nhữnghướng tiếp cận mà các công trình trước đã đặt ra, luận văn tiếp tục nghiên cứu dé tài nàyvới mong muốn có được một cái nhìn tổng thé, xem xét vấn để một cách toàn diện hơn

và góp thêm một cách nhìn riêng về phong cách ngôn ngữ báo chí.

0.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Cho đến nay chưa có nhiều các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trên báo và

hoàn toàn chưa có một công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của báo Bình Dương Khi chon dé tài này, chúng tôi có mong muốn là:

5.1 Về mặt lý luận, luận văn sẽ đúc kết lại những thành tựu lý thuyết về phong

cách ngôn ngữ báo chí ở nước ta trong những năm gan đây Trong quá trình kiến giảitừng vấn dé nỗ lực của luận văn cố gắng vươn tới là thông qua những xử lý cụ thể gópthêm tiếng nói nhằm xác định rõ hơn bản chất của ngôn ngữ báo chí dựa vào những đặc

điểm nội tại cũng như ngoại tại của nó.

5.2 VỀ mặt thực tiễn, trên cơ sở khảo sát thực trạng ngôn ngữ trên báo Bình

Dương, luận văn sẽ có những đóng góp thiết thực cho phong cách ngôn ngữ của tờ báo ở

địa phương Cụ thể là những dé nghị về cách dùng từ, viết câu tổ chức văn bản sao cho

chuyển tải được nội dung thông tin một cách tốt nhất Những “lỗi” diễn đạt được chỉ ra từ

các trang báo cũng sẽ có giá trị tham khảo cho các tác giả và người biên tập để có thể

nâng cao chất lượng của tờ báo.

0.6 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Trang 9

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, phần chính củaluận văn bao gồm 3 chương.

Chương một: Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí

1.L Giới thuyết chung

1.2.3 Vấn dé trình bày kiểu chữ

1.3 Đặc điểm về từ vựng

1.3.1 Từ vựng xét về mặt phạm vi sử dụng 1.3.2 Từ vựng xét về mặt nguồn gốc

1.3.3 Từ vựng xét về mặt phong cách

14 Đặc điểm về ngữ pháp

1.4.1 Vấn để lựa chọn các kiểu loại câu

1.4.2 Vấn để phân đoạn và liên kết câu

1.4.3 Vấn đề tổ chức câu theo khuôn mẫu

1.5 Đặc điểm về tổ chức văn bản

1.5.1 Về thể loại văn bản 1.5.2 Về kết cấu văn bản

1.5.3 Về cấu trúc nội dung văn bản1.6 Tiểu kết

Chương hai: Một số vấn dé về ngôn ngữ trên báo Bình Dương

2.1 Giới thuyết chung

2.1.1 Vài nét về Bình Dương

2.1.2 Về lịch sử báo Bình Dương 2.1.3 Về ngôn ngữ báo Bình Dương2.2 Những vấn đề về ngữ âm và chữ viết

2.2.1 Về chính tả 2.2.2 Về viết tắt và viết hoa tên riêng

2.2.3 Việc sử dụng từ ngữ tiếng nước ngoài

2.3 Những vấn đề về từ vựng

2.3.1 Lỗi về từ vựng - ngữ nghĩa

2.3.2 Lỗi về từ vựng - cú pháp

2.3.3 Lỗi về phong cách2.4 Những vấn đề về ngữ pháp

2.4.1 Lỗi về cấu trúc cú pháp 2.4.2 Lỗi về lôgic - ngữ nghĩa

Trang 10

Chương ba: Từ thực tiễn báo Bình Dương đến yêu cầu của việc

chuẩn hóa ngôn ngữ báo chí

3.1 Giới thuyết chung

3.1.1 Những nguyên tắc chung của việc chuẩn hoá ngôn ngữ

3.1.2 Đặc trưng ngôn ngữ báo chí

3.1.3 Vấn để chuẩn hoá ngôn ngữ báo chí

3.2 Yêu cầu về chuẩn ngữ âm va chữ viết

3.2.1 Những nguyên tắc của việc chuẩn hoá ngữ âm và chữ viết 3.2.2 Những yêu cầu về chuẩn ngữ âm và chữ viết các văn bản báo chí

3.2.3 Mấy ý kiến bàn luận thêm

3.3 Yêu cầu về chuẩn từ vựng

3.3.1 Những nguyên tắc của việc chuẩn hoá từ vựng 3.3.2 Những yêu cầu về chuẩn từ vựng trên các văn bản báo chí

3.3.3 Mấy ý kiến bàn luận thêm

3.4 Yêu cầu về chuẩn ngữ pháp

3.4.1 Những nguyên tắc của việc chuẩn hoá ngữ pháp 3.4.2 Những yêu cau về chuẩn ngữ pháp trên các văn bản báo chí

3.4.3 Mấy kiến bàn luận thêm

3.5 Yêu cầu về chuẩn văn bản

3.5.1 Những nguyên tắc của việc chuẩn hoá văn bản

3.5.2 Những yêu câu về chuẩn văn bản báo chí

3.5.3 Mấy ý kiến bàn luận thêm3.6 Tiểu kết

Trang 11

CHƯƠNG MỘT

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA PHONG CÁCH BÁO CHÍ

1.1 GIỚI THUYẾT CHUNG

1.1.1 Khái niệm

Phong cách ngôn ngữ báo chí (phong cách báo chí) là phong cách ngôn ngữ được

dùng trên các văn bản báo chí dưới hình thức báo viết, báo nói và báo hình Báo viết là

các loại báo in như nhật báo, tuần báo, nguyệt san, tap chí, v.v Báo nói là các văn bản

được phát ngôn trên sóng phát thanh Báo hình là những thông tin bằng hình ảnh (có kèm

lời thuyết minh) trên kênh truyền hình Cả ba có chung một đặc điểm là đều sử dụng

ngôn ngữ làm phương tiện dé chuyển tải thông tin đến với công chúng, tuy mức độ nhiều

ít và những đặc trưng riêng có khác.

Ngôn ngữ báo chí là kiểu ngôn ngữ phi nghệ thuật tổn tại dưới cả dang nói và dạngviết trong các thể loại như tin, bình luận, phỏng vấn, ký, phóng sự, v.v Để đáp ứng nhucầu thông tin nhanh nhạy, kịp thời về mọi lĩnh vực ngôn ngữ báo chí sử dụng hầu hết các

lớp từ toàn din với cách thức diễn đạt ngắn gọn, rõ rằng, dé hiểu và tuân theo chuẩn mực

chung của xã hội Trong mối quan hệ với hiện thực, ngôn ngữ báo chí chính là tin tức, sự

kiện được thể hiện qua ngôn từ Nhìn từ góc độ giao tiếp, sự kiện tin chính là sự kiện giao

tiếp đã được mã hoá trong các thông điệp mà người viết muốn gửi đến người đọc (là

đông đảo công chúng) Vì thế ngôn ngữ báo chí có nhiều đặc trưng rất riêng và chịu khánhiều yếu tố chỉ phối

1.1.2 Những yếu tố quy định đặc điểm của ngôn ngữ báo chí

1.1.2.1 Yếu tố chức năng

Báo chí có hai chức năng chính là thông tin và tác động.

Ngay từ buổi đầu hình thành, báo chí đã tổn tại với chức năng thông tin Người ta

xem một tờ báo, trước hết là xem những thông tin can biết về một công việc, về một món

Trang 12

hàng,v.v Nhung dan về sau, thế giới vật chất ngày càng phong phú, đa dạng, những mối

quan hệ của con người ngày càng rộng mở, con người càng có nhu cầu thông tin nhiều

hơn Sự phát triển không ngừng của các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã đáp ứng rất

nhanh, nhiều nhu cầu thông tin của con người: những khoảng cách thông tin (cả khônggian và thời gian) đã được rút ngắn lại Chỉ mất ít giây, người ta có thể biết ngay một sựkiện vừa xảy ra ở nửa vòng bên kia trái đất Và đôi khi, thông tin sớm hay muộn mộtchút sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả một đời người, cả một công đồng

Chức năng cơ bản thứ hai là chức năng tác động Theo nghĩa rộng, báo chí tác động

đến độc giả trên nhiều lĩnh vực nhận thức, giáo dục, thẫm mỹ; theo nghĩa hep, báo chí lôicuốn, hấp dẫn người đọc quan tâm ngay đến những vấn dé thời sự thường ngày Chức

năng tác động ở đây được hiểu theo nghĩa bao hàm cả một số chức năng mà nhiều tác giả cũng đã để cập đến: chức năng thấm mỹ, chức năng giáo dục, chức năng hướng dẫn dư luận, chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng.

Ngôn ngữ báo chí phải có những cách thức thể hiện để thực hiện tốt hai chức năng

này.

1.1.2.2 Đặc trưng về thể loại

Theo sự phát triển của xã hội, con người không chỉ có nhu cầu được thông tin về

các sự kiện quanh mình mà còn có nhu cầu nhận xét, đánh giá, nhìn rõ sự thật Mặt khác,hiện thực khách quan cũng phải được phan ảnh theo nhiều chiều Cho nên, thông tin trênbáo chí tổn tại dưới nhiều hình thức thể loại: tin, phóng sự, phỏng vấn, bình luận, ký, traođổi bạn đọc,v.v Báo chí có nhiều thể loại cũng nhằm thực hiện tốt hai chức năng thông

tin và tác động Khả năng thông tin và tác động của từng thể loại có nhiễu mức độ khác nhau Chẳng hạn, nếu tin, phóng sự có tu thế trong việc thông tin thì tiểu phdm, bình luận

lại có ưu thế trong việc tác động Do đó, cách tổ chức ngôn ngữ trong từng thể loại cũng

mang nhiều đặc trưng khác nhau

1.1.2.3 Yếu tố thời đại

Trang 13

Ở thời cuộc có rất nhiều sự kiện hàng ngày đáng chú ý như hiện nay thì yếu tố thời

đại đã tác động đến tất cả các lĩnh vực chứ không riêng gì báo chí Báo chí với chức năng

thông tin, tác động đã chiếm ưu thế trong việc thể hiện nhu cau của con người; đồng thời

nó cũng đặt con người trong chừng mực nào đó vào vị thế phải quan tâm đến tất cảnhững vấn để thời đại Tính chất thời đại của báo chí gắn liền với sự kiện tin - sự kiệnmới, tiêu biểu nằm trong xu thế vận động và phát triển của thời đại Một tờ báo mangtầm thời đại không có chỗ cho những sự kiện giật gân, rẽ tiền, chạy theo những thị hiếu

tâm thường Vì thế, cũng có thể nói, thông tin báo chí là (hông tin thời đại Điều này dẫn

đến một yêu cầu có tính bất buộc là ngôn ngữ báo chí phải chuẩn mực, tiến bộ, hòa nhập

phát triển nhưng không được lai căng, lố bịch mà phải đảm bảo được bản sắc riêng củangôn ngữ dân tộc (tính thời đại không phủ nhận tính kế thừa).

Ngoài ra, hàng loạt những vấn để khác như: sự phát triển không ngừng của các

phương tiện kỹ thuật, sự giao lưu hội nhập toàn cầu trên nhiều lĩnh vực, khả năng cạnh

tranh thông tin, v.v cũng đang đem đến cho báo chí nhiều năng lực mới, những yêu cầu

mới.

Chính những đặc điểm về chức năng về thể loại và các yếu tố thời đại đã buộc

thông tin báo chí trở thành théng tin nén Đó là thông tin của sự kiện diễn ra trong một

không gian có thể rất rộng nhưng lại được chuyển tải trong một thời gian rất ngắn Đó

cũng có thể là thông tin mà bằng một hình thức biểu hiện tối thiểu phải chuyển tải được

một nội dung thông tin tối đa.

1.1.3 Đặc điểm chung của ngôn ngữ báo chí

1.1.3.1 Trong ý nghĩa đó, thông tin báo chí phải là thông tin mới Xu hướng khám

phá, tìm tòi những gì mới mẻ là xu hướng thuộc về bản chất của con người Ở góc độ

này, nhà báo - người phát tin - phải có năng lực “đặc biệt mẫn cảm, nhanh nhạy, kịp thờiphát hiện đúng và trúng những hiện tượng mới, những vấn để mới muôn mặt của xã hội”

[Nghẻ báo-14/2003.tr.16); còn độc giả - người nhận tin - chỉ thật sự quan tâm đến những gìmới la, hấp dẫn “tin tức là những gì thời sự trung thực và hấp dẫn công chúng ”(Leonard

Trang 14

Rayteel-Ron Taylor;1993,tr.214] Từ đó, thông tin báo chí cũng phải là thông tin chính xác.

Thông tin được quy chiếu trong một không gian cụ thể, trong một thời gian xác định.

Thông tin có giá trị biểu vật Hiện thực được quy chiếu trong tác phẩm báo chí phải đồng

nhất với thực tại Thông tin chính xác không chỉ thỏa mãn nhu cầu nhận thức mà còn có

giá trị tác động đến tình cảm của người đọc Để thực hiện chức năng tác động, thông tin

báo chí phải là thông tin mới lạ, hấp dẫn, ngắn gọn Nội dung phải luôn luôn mới mẻ, đa

đạng, nêu được những vấn để đích thực của cuộc sống mà công chúng đang quan tâm.

Ngôn ngữ phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc từ việc lựa chọn từ ngữ đến cách thức

tổ chức văn bản sao cho “bất mắt", đễ hiểu, dễ đọc.

1.1.3.2 Trước những yêu cẩu đó ngôn ngữ báo chí phải mang tinh chất ngắn gọn Nhiều toà soạn xem đây là tiêu chuẩn dau tiên, có những quy ước bắt buộc về số câu, số chữ trong từng kiểu bài.

Điều này có thể được lý giải từ góc độ của các vai giao tiếp: đối với người viết, “phong cách ngắn gọn

này phat sinh từ nhu cau cẩn thiết Báo chí phải kể nhiều chuyện trong ngày, và chỉ có bấy nhiêu

trang "{Leonard Rayteel-Ron Taylor.1993.tr.211]: còn đối với người đọc “ngày càng bị lôi cuốn bởi

cách xử lý ngắn gọn các tin tức thai sự”[lacques Locquin,2003, tr.24].

Ngôn ngữ báo chí mang tính chính xác, chuẩn mực Báo chí ngày nay đã trở thành diễn đàn công

luận Những thông un trên báo luôn được độc giả tin cậy và kể cho nhau nghe truyền cho nhau xem Do

đó, ngôn ngữ báo chí phai chân thực, hướng đến sự chuẩn mực trong dién đạt.

Ngôn ngữ báo chí phải mang tính chiến đấu cao Báo chí luôn là cơ quan ngôn luận

của một tổ chức, một đảng phái, tuyên truyền và tác động đến độc giả vì một mục tiêu

nào đó về chính trị, về kinh tế, xã hội.

Ngôn ngữ báo chí cũng phải mang tính thời sự và hấp dẫn để thực hiện tốt chức

năng tác động, đáp ứng được kha nang cạnh tranh thông tin.

1.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ NGỮ ÂM VÀ CHỮ VIET

Trang 15

Ngữ âm và chữ viết là thứ chất liệu cơ bản để tạo nên tín hiệu ngôn ngữ Chữ viết

mặc dù chỉ là đường nét ghi lại âm thanh theo sự quy ước chung của xã hội nhưng lại có

tác dụng củng cố chuẩn mực ngữ âm bởi tính định hình, cố định của nó Hệ thống chữ

viết biểu thị hệ thống âm thanh của một ngôn ngữ Chữ viết cũng góp phần thống nhất

ngôn ngữ Chữ viết còn có khả năng mở rộng phạm vi sử dụng ngôn ngữ vượt cả khônggian và thời gian và có giá trị lưu trữ, bảo tổn (điều mà âm thanh không có được): “Ngônngữ viết truyền đi và trữ lại một khối lượng thông tin lớn lao Ngôn ngữ viết là công cụ

chủ yếu của sự phát triển xã hội” (Hoàng Tuệ,2001,tr.355] Cho nên, phong cách báo chí có

những quy định rất nghiêm ngặt đối với thứ chất liệu này

1.2.1 Vấn đề chính âm

Phong cách ngôn ngữ báo chí là kiểu phong cách dùng trong giao tiếp mang tính

chính thức xã hội, cho nên nhu cầu chuẩn mực, hướng đến chuẩn mực là đặc điểm cơ ban

nhất trong việc sử dụng các phương tiện ngữ âm và chữ viết Hơn nữa, chức năng tác

động của báo chí lại rất đặc thù: tác động tức thời đến đông đảo công chúng về nhậnthức, về thẫm mỹ và cả kha năng sử dụng ngôn ngữ Do vậy, viết đúng chính tả, nghĩa làđúng theo các quy tắc hệ thống chữ viết của một ngôn ngữ là yêu cầu hàng đầu của chữ

viết trên các văn bản báo chí.

Mặt khác, bản thân ngữ âm là một hệ thống bên vững, khép kín, ít thay đổi Chữ

viết tiếng Việt với hệ thống 22 âm đầu, 16 âm chính, 2 âm đệm, 8 âm cuối và 6 thanh

điệu có khả năng biểu thị rõ âm thanh lời nói và tạo ra đủ các đơn vị giao tiếp Tiếng

Việt là một ngôn ngữ âm tiết tính, âm tiết tiếng Việt có giá trị phân giới hình thái học rất

ro rằng - sự tri giác ngôn ngữ của người Việt vốn dựa trên cơ sở này Hiện nay, do tác

động của thời đại, tiếng Việt đã vay mượn nhiều từ ngữ tiếng nước ngoài Điều này là

một nhu cầu tất yếu, vấn dé là phải tuân theo những quy ước đã được thống nhất về cáchđọc, cách viết, cách phân giới âm tiết những từ ngữ vay mượn này

Cũng theo hướng chuẩn mực mà phương ngữ ít được dùng trên các văn bản báo

chí Hiện nay, báo trung ương và đặc biệt là báo địa phương luôn có những tin, bài viết

Trang 16

về tình hình kinh tế xã hội ở địa phương Việc viết và nói theo tiếng địa phương có tác

động trực tiếp đến sự tiếp nhận và hiểu đúng thông tin; có tác dụng bảo tổn những đặc

trưng văn hóa riêng của vùng miễn mà trong nhiều trường hợp khó thay thế bằng từ ngữ toàn đân Nhưng do yêu cầu thông tin rộng rãi, hướng đến chuẩn mực xã hội nên chữ viết trên báo không thể ghi theo cách phát âm địa phương Thực tế hiện nay người Việt ở

nhiều vùng khác nhau nói nhiều phương ngữ khác nhau nhưng đều thống nhất chung về

mặt chữ viết

1.2.2 Vấn đề viết tắt

Viết tắt là một đặc điểm khá nổi trội của chữ viết thuộc phong cách báo chí Một

thống kê cho thấy, cứ trung bình một trang báo (khổ 42x58) có từ 2 đến 38 đơn vị viết tất[Nguyễn Ngọc Trâm NN&DS-9/2003] Trên bất cứ một trang báo nào hiện nay, ta đều có thể

thấy hàng loạt các từ viết tất kiểu như: UBND, HĐND, KT-XH TDTT, GD-ĐT, HLV,

CLB, BCH, ASEA, NATO, UNESCO,v.v Viết tắt là một xu thế tất yếu trên thế giới trong

thời đại bùng nổ thông tin Đặc biệt trong các văn bản báo chí, như đã nói, thông tin báo

chí vốn là thông tin nén, phương thức viết tắt khá phổ biến tạo nên một điện mạo mớicho văn bản và làm tăng thêm hiệu quả chuyển tải thông tin Tuy nhiên, tình trạng viếttắt đến mức tuỳ tiện cũng đang tạo ra không ít khó khăn cho việc giải mã văn bản, nhất

là những trường hợp đồng dang tắt dé làm hiểu sai lệch nội dung.

1.2.3 Vấn đề trình bày chữ viết

Cách trình bày chữ viết với nhiều kiểu chữ, cỡ chữ khác nhau là một đặc điểm độc

đáo của phong cách ngôn ngữ báo chí Trước sự tác động của nền kinh tế thị trường hiệnnay, nhiều tờ báo phải tự hạch toán thu chi Để lôi cuốn được độc giả, hầu như tất cả cácbáo, tạp chí đều cải tiến kỹ thuật trình bày Sự cải tiến này trước hết tập trung chủ yếu

vào các tiêu dé (ti) của bài báo Có thể nói, sự thành công trong giao tiếp báo chí trước

hết là hướng được sự chú ý của người đọc vào tiêu để Do vậy, trong thực tế, tập thể

Trang 17

người phát tin (tác giả và tòa soạn) luôn tạo sự chú ý cho người nhận tin bằng những tiêu

dé có ấn tượng nhất (màu sắc rực rỡ, cỡ chữ to, đậm, có khung vién,v.v ).

1.3 ĐẶC ĐIỂM VỀ TỪ VỰNG

Từ vựng là đơn vị cơ sở để tạo văn bản Do vậy, từ vựng thể hiện khá rõ đặc trưng

của từng phong cách ngôn ngữ Xem xét đặc điểm từ vựng của một phong cách ngôn ngữchính là xem xét khả năng biểu đạt của các phương tiện từ ngữ - mà khả năng này tùy

thuộc vào cách thức lựa chọn và sử dụng các lớp từ ngữ trong từng kiểu văn bản.

1.3.1 Đặc điểm từ vựng xét về mặt phạm vi sử dụng

1.3.1.1 Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng cho nên từ ngữ dùng trong báo

chí phải dễ hiểu thông dụng Phong cách báo chí sử dụng lớp từ vựng toàn dân một cách

rộng rãi Đây là lớp từ vựng quan yếu, là vốn từ chung cho những người cùng cộng đồng

ngôn ngữ dù thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, ở nhiều địa phương khác nhau Đọc bản tin

sau, chắc chan là những ai thông thạo tiếng Việt đều có thể hiểu được:

(1) — “Một phụ nữ mang trả cho thứ viện tại bang Connecticut, Hoa Kỳ một quyển sách đã mượn

cách nay 94 năm Đó là quyển mang tựa dé Tuyển chọn 100 tác phẩm văn học Ba Kelly

Woodward mang trả cho thi viện công cộng Vemon, lẽ ra phải là vào ngày 3-5-1903, do ông nội

của minh ký tên thuê mướn Với tiền thuê sách lúc đó là 2 cen/ngày, cho đến nay bà phải trả là

685 USD! Tuy nhiên, ban giám đốc thư viện quá mừng ré với nghĩa cử cao đẹp này,chẳng những

tha cho tiền thuê sách mà còn tặng cho bà một tấm bằng khen nữa!" (CA -16/8/2003)

Văn bản trên dùng nhiều từ ngữ thuần Việt: mượn, trả, sách, mừng rỡ, cho, tặng,

dùng cả nhiều từ Hán Việt: phy nữ, thư viện, giám đốc, tác phẩm văn học là những từ ngữ

rất quen thuộc với người Việt

/.3.1.2 Đôi khi ta cũng thấy xuất hiện những từ ngữ chuyên ngành những thuật

ngữ khoa học trên các bài báo Chẳng hạn, bản tin ngắn sau:

(2) "Bộ Y Tế vừa hoàn tất dự thảo phát dé chẩn đoán và điều trị bệnh viêm não cấp ở trẻ

Theo đó khi trẻ có các biểu hiện: sốt cao 39 - 40°C, kém linh hoạt, nhức đầu, co giật, rối loạn tiêu

hóa phải tiến hành chống co giật, chống suy hô hấp, truyền dịch kèm điện giải "(TT- 31/5/2003)

Trang 18

dùng hàng loạt những từ ngữ chuyên môn y học: chẩn đoán, điều trị, viêm não cấp, truyền

dịch, điện giải, v.v nhưng người đọc vẫn hiểu được nội dung Đã có một sự chuyển hóa,

xâm nhập lẫn nhau giữa lớp từ vựng toàn dân và thuật ngữ Không ít thuật ngữ đã được

hình thành trên cơ sở của những từ ngữ thông dụng hàng ngày.

!.3.1.3 Khác với lớp từ toàn dân, tiếng long và từ địa phương được dùng rất han

chế trên các văn bản báo chí Tiếng lóng vốn chỉ gan liền với một tầng lớp nào đó, trongmột điều kiện hoàn cảnh nào đó nên chỉ có giá trị nhất thời (thường chỉ dùng trong phong

cách khẩu ngữ) Một số tiếng lóng không thô tục đôi khi được dùng trong phong cách văn chương với ý nghĩa tu từ nhưng trong phong cách báo chí không tổn tại loại này Đối với

từ địa phương thì có khác, khá nhiều từ địa phương không mang tính chất đối lập với từ

toàn đân Đó là những từ ngữ biểu thị những sự vật, sự việc, hoạt động đặc thù ở một địa

phương Chẳng hạn: măng cut, sâu riêng (loại trái cây) ở vùng Nam Bộ hay hưng, cối,khóc (loại đơn vị đong) ở Hải Hưng,v.v Ngôn ngữ báo chí chỉ dùng đến từ địa phương khicần thông tin những nội dung riêng biệt nay

1.3.1.4 Một đặc điểm khá nổi bật là trong các văn bản báo chí, lớp từ ngữ chính trị

- xã hội xuất hiện với một tần số rất cao Trên các tờ báo hiện nay, ta có thể bắt gặp

thường xuyên các từ ngữ chính trị xã hội - nhất là ở các bài “đinh” Cha ng hạn: chứ nghĩa

xd hội, dân chủ, văn mình, đấu tranh, công nhân, nông dân, lập trường, lí tưởng, cách

mạng, đẳng, hội, đoàn,v.v Một thống kê mới đây cho thấy, qua khảo sát 35 diễn ngônQuốc ngữ trong giai đoạn 1920-1930 thì có đến 2003 đơn vị có nội dung chuyên môn,

trong đó số từ ngữ xã hội chính trị chiếm 43.9% [Lê Quang Thiém;2003,1r.110] Chính khanăng nhạy cảm của lớp từ ngữ này đã khiến chúng thật thích hợp với mảnh đất báo chí:

“Quy luật cho thấy trong một xã hội thuộc thời đại nhất định, những từ ngữ thuộc phạm vi

xã hội chính trị (XHCT) xét về công năng và tác động xã hội, về hiệu lực hành ngôn và

sự phản ánh thực tại chúng bao giờ cũng nằm ở rung tâm chú ý của nhận thức và vậndụng xã hội "(Lê Quang Thiêm,2003.tr.102 Sự có mặt ngày càng nhiều những từ ngữ này

trên các văn bản báo chí chứng tổ ngày càng xuất hiện nhiều sự kiện chính trị xã hội trên

Trang 19

đất nước ta Mặt khác, có thể nói, đây là một đặc điểm đã góp phần khẳng định sự tổn tại

riêng biệt của phong cách báo chí trong hệ thống các phong cách chức năng tiếng Việt

1.3.1.5 Lớp từ ngữ chuyên ngành báo chí thể hiện khá rõ đặc điểm nghề nghiệp

báo chí Chẳng hạn, liên quan đến đối tượng nghề báo: tin tức, thời sự, sự kiện, thông tin,

tư liệu, người tốt việc tốt,v.v liên quan đến thể loại: tin, tường thuật, phóng sự, ký, ghinhanh, phông vấn, bình luận,v.v liên quan đến công việc nghề báo: điều tra, ghi chép, thuthập, đưa tin, biên tập, thu thanh, phát sóng, ấn hành,v.v liên quan đến người tạo ngôn:

biên tập viên, thi ký tòa soạn, cộng tác viên, ký giả, nhà báo, phóng viên, đặc phái viên,

phát thanh viên,v.v và người thụ ngôn: độc giá, khán giả, thính gia, công chúng,v.v Day

chính là lớp từ chuyên dùng của phong cách ngôn ngữ báo chí.

1.3.2 Dac điểm từ vựng xét về mặt nguôn gốc

1.3.2.1, Xét về mặt nguồn gốc, trong các văn bản tiếng Việt nói chung, văn bảnbáo chí tiếng Việt nói riêng đều có mặt của các đơn vị từ ngữ thuần Việt, từ ngữ gốc Hán

và từ vay mượn tiếng nước ngoài Kha năng sử dung của mỗi loại không như nhau tùy

vào từng giai đoạn phát triển xã hội - ngôn ngữ, tùy vào từng thể loại phan ánh Khảo sát

lich sử từ vựng tiếng Việt, tác giả Lê Quang Thiêm đã cho thấy thời kỳ trước 1858 là thời

kỳ song ngữ bất bình đẳng Hán-Việt, tiếng Hán là ngôn ngữ chính thức Nhưng thời kỳ

sau 1858 đến 1945, tiếng Hán đã mất đi địa vị độc tôn, nhường chỗ cho sự tiếp xúc vàảnh hưởng Pháp Chỉ đến thời kỳ sau 1945, tiếng Việt mới trở thành ngôn ngữ quốc gia

[Lê Quang Thiém:2003,tr.209].

Trong quá trình tiếp xúc, tiếng Việt đã chủ động tiếp nhận khá nhiều từ ngữ tiếngHán Lớp từ ngữ này hầu hết đã nhập hệ, chịu sự chi phốt của các quy luật ngữ âm, ngữ

nghĩa và ngữ pháp tiếng Việt nên được dùng khá rộng rãi trong các văn bản tiếng Việt

Ngôn ngữ báo chí sử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt ở những nội dung mang tính chấtnghiêm túc, trang trọng (thông tin chính trị xã hội) hoặc những nội dung cần đảm bảo tính

ngắn gon, chính xác (thông tin chuyên ngành) Chính báo chí là phương tiện phổ biến và làm thuần hóa lớp từ ngữ vay mượn này Tuy nhiên, việc lạm dụng từ Hán Việt trên các

Trang 20

phương tiện thông tin trong nhiều trường hợp sẽ khiến cho nội dung diễn đạt thiếu trong

sáng, khó hiểu đối với công chúng độc giả (trong khi có thể dùng từ thuần Việt tương

đương).

1.3.2.2 Trong thời đại thông tin hiện nay, nhiều thuật ngữ vay mượn từ tiếng nước

ngoài (chủ yếu từ các ngôn ngữ châu Âu) xuất hiện khá phổ biến trên các phương tiện

thông tin đại chúng Đây là xu thế tất yếu, tích cực, tiết kiệm của một xã hội tiến bộ để

đáp ứng nhu cầu tư duy và giao tiếp Tuy nhiên, đây là những từ ngữ khó đọc, khó nhớ,

khó tiếp thu đối với người Việt Phiên chuyển hay giữ nguyên dạng những từ ngữ này

dang là vấn để chưa được thống nhất và đã gây không ít khó khăn cho người đọc, đòi hỏicần có một sự quy ước chặt chẽ về vấn để này

1.3.2.3 Từ cổ từ mới xét về khả năng sử dụng đều thuộc lớp từ vựng tiêu cực Ít

khi ta bắt gặp những từ cổ kiểu như: rốc (đầu), mảng (mai mê), lo (huống chi),v.v trên

các văn bản báo chí Do ở lớp từ toàn dân thông dụng hiện nay đã có những từ ngữ tương

đương khiến cho từ cổ trở nên lỗi thời, chỉ còn giá trị lịch sử, chẳng hạn những từ: /xẩn

phủ, án sát, hương cống, phó bảng, v.v đôi khi chỉ xuất hiện trong phong cách khẩu ngữ ở

địa phương, hoặc trên các văn bản khảo cứu còn đang lưu dụng Sự có mặt của loại từ cổ

này thường khiến độc giả khó tiếp thu vì phải truy tầm nghĩa từ nguyên của chúng, mà

việc này không phải ai cũng có thể làm được Cho nên lớp từ cổ có tần suất rất thấp trên

các văn bản báo chí.

Trái với từ cổ, lớp từ mới lại có khả năng phát triỂn tích cực Cùng với sự phát triển

của thế giới vật chất cũng như nhu cầu nhận thức và giao tiếp của con người trong xã hội,

khá nhiều từ ngữ mới được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông theo con đường

du nhập hoặc tạo mới Ban đầu chúng như một sự cách tân, thử nghiệm: về sau trở nên

phổ biến, thông dụng Chính báo chí đã có công đầu trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ

và góp phần rất lớn trong việc hình thành vốn từ ngữ của dân tộc Khảo sát những đơn vị

từ vựng mới theo cách “phức tạp hóa”, “da thành tố hóa” trong các văn bản báo chí đầuthế kỷ XX, tác giả Lê Quang Thiêm cho thấy số lượng từ phức và thành ngữ tăng lên

Trang 21

trong vòng trên một thập niên là 16,05% Ở các giai đoạn sau, những yếu tố tạo từ phức

cũng xuất hiện nhiều hơn với tan số cao hơn [Lê Quang Thiêm;2003,tr.223] Trên các văn

bản báo chí hiện nay, số lượng từ mới cũng không ngừng xuất hiện, nhất là trong các thể

loại phóng sự điều tra, tường thuật, bình luận, ký, v.v với nhiều phương thức cấu tạo độcđáo làm nên một đặc trưng riêng của phong cách báo chí Chẳng hạn:

-Theo phương thức mở rộng nghĩa: cất điện, cất nước, cdt viện trợ, cấ: quan hệ,

V.V,

-Theo phương thức mô phỏng: gid sàn, điểm sàn, chạy trường, chạy điểm, đỉnh tặc,tin tặc, đất tặc, khoan tặc, khoáng tặc mém hoá chỉ tiêu, mém hoá hội nghị, v.v

-Tạo mới: phần cứng, phần mém, hệ điều hành, bộ vì xử lý, v.v

-Phiên chuyển từ ngữ vay mượn: ma ket ting, shốp, shốc, xtrét, xì căng đan, v.v

Nhiều từ ngữ này còn đang trong thời kỳ sàng lọc và báo chí đóng vai trò là

phương tiện thử nghiệm, truyền bá nhanh chóng, rộng rãi

1.3.3 Đặc điểm từ vựng xét về mặt phong cách

Xét về mặt phong cách, ngôn ngữ báo chí có khả năng rất đa dạng trong việc lựa

chọn và sử dụng các lớp từ ngữ với nhiều màu sắc phong cách khác nhau để đạt được

hiệu quả giao tiếp

1.3.3.1 Về đại thể, lớp từ ngữ báo chí mang màu sắc trung tính Có hai lý do sau:

Thứ nhất, ngôn ngữ báo chí sử dụng rộng rãi lớp từ ngữ đa phong cách Đây là lớp

từ ngữ thông dụng, dễ tiếp thu đối với đông đảo công chúng: “Người Việt Nam nào cũng

có vốn từ ngữ này và dùng nó để nói viết trong mọi phong cách tiếng Việt Trong ngôn

ngữ, cái gì luôn được ding, cái gì được mọi người đều dùng thi cái đó trở nên quen thuộc

và dé hiểu "(Cù Đình Tú;1983.tr.202].

Thứ hai, để đảm bảo được tính khách quan của thông tin, tính chân thật của sự

kiện ngôn ngữ báo chí phải dùng những từ ngữ có sắc thái trung hoà Trong nhiều trường

hợp, sắc thái biểu cảm (âm tính hoặc dương tính) dễ làm sai lệch nội dung, làm mất đi

tính chính xác của sự kiện.

Trang 22

1.3.3.2 Ngôn ngữ báo chí cũng nổi bật với khả năng sử dụng lớp từ ngữ có màu sắc

biểu cảm Để thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng bạn đọc, báo chí lựa chọn và

sáng tạo những từ ngữ có mau sắc cảm xúc rõ rệt Đây thường là những từ ngữ chính trị

xã hội có tính thời sự cao: thdm họa hạt nhân, khủng hoảng con tin, tấn công khủng bố,biến động chính trường, trừng phạt kinh tế, leo thang chiến tranh, chuyển giao quyền lực,căn bệnh thế kỷ, v.v Mức độ biểu cảm thể hiện không đồng đều ở các thể loại Lớp từngữ biểu cam này thường xuất hiện nhiều ở thể loại có tính chiến đấu và thuyết phục

cao, thể hiện chính kiến của người viết như bình luận, phóng sự điểu tra, v.v Tuy nhiên,

trong một thể loại vốn rất khô khan như bản tin thì cách diễn đạt cụ thể, sinh động gợi

cảm sẽ làm “mềm hoá” thông tin, tạo ấn tượng thích thú, dé tiếp nhận, dễ nhớ đối với

người đọc Chẳng hạn trong bản tin sau:

(3) “ Được mệnh danh là “thiên đường trên mặt đất", mỗi năm Bali thu hút hàng triệu du khách và thu về một lượng ngoại tệ lớn cho Inđônesia Thế nhưng, vụ khủng bố kinh hoàng làm nổ

tưng hộp đêm nức tiếng Sari, cướp di mạng sống gân 200 người, chủ yếu là công đân Australia,

đã đặt dấu chấm hết cho chuỗi ngày yên bình trên hàn đảo nay.” (BD- 5/1/2003)

Bản tin ngắn viết về nạn khủng bố phá huỷ tiểm năng du lịch của đảo Bali, nhưng

hàng loạt từ ngữ gợi hình ảnh, gợi cảm như: mệnh danh, thiên đường trên mặt đất, vụ

khủng bố kinh hoàng, nổ tung, hộp đêm nức tiếng, cướp di mạng sống, đặt dấu chấm hết,chuỗi ngày yên bình đã khiến cho bản tin trở nên rất hấp dẫn

Xét cho cùng, chính sự hấp dẫn của từ ngữ báo chí đã tác động đến tình cảm và

nhận thức của người đọc, nhất là đối với những từ ngữ mang màu sắc đương tính Báo chí

thường dùng lớp từ này trong những văn bản biểu dương người tốt việc tốt, trong những

thông tin về thành tựu kinh tế, văn hoá, xã hội Chẳng hạn: kinh tế Bình Dương một năm

thắng lợi, một cán bộ hội nông dân gương mẫu, v.v N gược lại, đối với những văn bản có

nội dung phê phán thì lớp từ ngữ được dùng mang màu sắc âm tính rõ rệt

1.3.3.3, Ngôn ngữ báo chí cũng thường dùng nhiều từ ngữ có mau sắc trang trọng

như: xw thế đối ngoại, thiện chí hoà bình, tăng cường hợp tác, đoàn đại biếu, tổng lãnh sự,

bổ nhiệm, quán triệt, v.v Đây là lớp từ ngữ có ưu thế khi cần thể hiện những nội dung

Trang 23

mang tính chất trang nghiêm như ở các bản tin, tường thuật về lễ hội, hội nghị, về những

buổi viếng thăm, đón tiếp ngoại giao, v.v Chẳng hạn:

(4) — “Ngày 9-7-2002, Chui tịch UBND tình Hỗ Minh Phương có buổi tiếp và làm việc với đoàn

đại sứ, tổng lãnh sự Việt Nam tại các nước "(BD- 12/7/2002).

(5S) — “Lúc 15 giờ hôm qua (giờ địa phương), hội nghị liên Triéu cấp bộ trường về vấn dé hạt

nhân đã khai mạc tại Bình Nhưỡng, với sự tham dự của hai phái đoàn do bộ trưởng Bộ Thống

nhất của Hàn Quốc Jeong Se Hyun và bộ trường của CHDCND Triều Tiên Kim Ryung Sung dẫn

đầu "(TT- 28/4/2003).

Sắc thái trang trọng này được toát lên từ những từ ngữ thuần Việt cũng như từ ngữ

Hán Việt có trong bản tin.

1.4 ĐẶC ĐIỂM VỀ NGỮ PHÁP

Đặc điểm ngữ pháp ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp là đặc điểm về câu Trong

giao tiếp nói chung, mỗi một câu khi được phát ngôn bên cạnh việc thông báo một sự

tình còn nhằm có một tác động nào đó đối với người nghe (về mặt nhận thức hoặc hành

vi) Trong giao tiếp báo chí, điều này càng quá rõ ràng Việc lựa chọn và tổ chức cáckiểu loại câu trong văn bản báo chí luôn nhằm đến mục đích thông tin, tác động sao chogây được sự hấp dẫn thuyết phục đối với người đọc

1.4.1 Vấn để lựa chọn các kiểu loại câu trong văn bản báo chí

1.4.1.1 Câu xét theo cấu tạo

Trên thực tế cái cốt lỗi của câu khi được nói ra, viết ra chính là nội dung cơ bản cẩn thông báo

mà người nói, người viết đã tổ chức ngôn từ thành một cấu trúc cú pháp nhất định Như đã nói, thông tin

báo chí thường là những thông tin ngắn gọn, mới lạ, hấp dẫn, cho nên xu hướng tổ chức của câu báo chí

là ngắn gon, súc tích Theo đó, loại câu đơn hai thành phan là kiểu câu được ding rộng rãi nhất Thống

kê trong một công trình nghiên cứu của nhóm sinh viên đại học sư phạm cho thấy cứ 1000 câu được đưa

ra sử dung trong văn bản báo chí thì có khoảng §33 câu đơn (chiếm §3,3%}) và 167 câu ghép (chiếm

167%) [TL§0:tr L7]

Trang 24

Kiểm chứng của chúng tôi trên 540 văn ban tin ở 40 số của báo Lao động, Sài Gòn giải phóng.

Tuổi trẻ, Bình Dương cho thấy trong số 1655 câu thì câu đơn chiếm tỷ lệ là 90,45%:

cio đơn = _ Chêm | Chu ghép,

SÀI GÒN GIẢI PHONG | 135 4% 214 | 3_

LAODONG |135_ 45: 404 89,18 |

49-TUỔTRE |135 363 | 329 |90,64 x4 | 936

BÌNH DƯƠNG _ 135 | : 4 65 36

Tổng cộng 540 _ 158

Bang 1: Bang thống kê tỷ lệ cau đơn, câu ghép

Như vậy để đạt được mục đích thông tin ngắn gọn chính xác thì cách chuyển tinnhanh nhất, rõ nhất chính là bằng câu đơn Về cơ bản câu đơn hai thành phần có cấu trúc

cú pháp trùng với cấu trúc lôgic của câu nên có khả năng diễn đạt sự kiện đúng vớinguyên mẫu của nó Ví dụ:

(6) “MY công bố xoá bé cấm vận chống Nam Ti” (SGGP-20/01/2001)

Trong trường hợp cẩn mở rộng thì cốt lõi của cấu trúc cầu vẫn phẩi được bảo đảm Những thành

phan mở rộng thường là: thêm phan trạng ngữ chỉ thời gian địa điểm, cách thức,v.v dién ra sự kiện, vi

du:

(7) — “Từ ngày 16-1, những tờ giấy bạc in gương mặt Saddam Hussen sẽ không còn law hành tại

Iraq" {BD-17/01/2004)

thêm phan chém xen để chú thích rõ thành phan nào đó trong câu, ví dụ:

(8) — “Cá rạn san hô ở Việt Nam (chủ yếu vùng biển miền Trung) can được bảo toàn và khai

thác hap lý" (SGGP-29/3/2001)

(9) “Theo ông Trần Quang Phượng, phó giám đốc sở GTCC TPHCM, quy hoạch này nhằm

hoàn chỉnh mạng lưới giao thông” (Tuổi trẻ-1 1/3/2003)

thông thường là mở rộng vị ngữ để tăng thêm lượng thông tin mới, ví dụ:

(10) *Chiéu 27-3, tại tổng lãnh sự quán Anh đã kết thúc khoá học tiếng Anh dành cho cán bộ

lãnh đạo cao cấp Các học viên học mỗi tuần 2 buổi trong 9 tháng, do giáo viên người Anh đứng

lớp, với hai phần học gém Anh ngữ tổng quát và Anh văn thương mại, để phát triển kỹ năng giao

Trang 25

tiếp bằng tiếng Anh trong các buổi họp, hội nghị và các tình huống giao tiếp xã hội”

(SGGP-28/3/2094)

Theo tác giả Dinh Trọng Lac, đây là kiểu “câu đơn phát triển ”:phát triển các thành phin của câu

theo vị trí của các thành phan di dài hay ngắn vẫn đảm bảo được tính mach lạc [2000:tr.234] Đây là

cách bổ sung làm cho nội dung thông tin thêm rõ ràng, tạo sức thuyết phục hấp dẫn đối với người đọc Điều quan trọng là, phát triển câu phải đựa trên cấu trúc cơ bản, tránh tình trạng câu đài, chứa quá nhiều thông tin, làm người đọc khó nhớ, khó hiểu.

Trong xu hướng đó, cầu ghép lại ít được dùng Trong bảng 1 chúng tôi đã chỉ ra câu ghép chỉ

chiếm độ 10% số câu trong văn bản Trong đó, có câu vẫn có thể tách ra thành hai hoặc ba câu đơn,

không làm tăng thêm số chữ mà vẫn đảm bảo được thông tin Ví dụ, có thể tách câu sau đây:

(11) “Theo hiến pháp Hàn Quốc, một vị tổng thống đương nhiệm có thé trở thành mục tiêu bịbuộc tội vi phạm hiến pháp hoặc các luật khác và nếu kiến nghị về việc này được phê chuẩn, vấn

đề sẽ được chuyển lên Toà án Hiến pháp nơi can có 6 trên tổng số 9 thẩm phán phải dua ra phán quyết chấp thuận thì mới có thé cách chức tổng thống" (LĐ-10/3/2004)

Viết ngắn không phải là mục đích tự thân của báo chí, trong thực tế câu đài ngắn lại tuỳ thuộc

vào nội dung phan ảnh Nhưng viết ngắn thể hiện tài năng của nhà báo và làm cho người đọc dễ tiếp

thu hơn: “Những công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng trung bình người ta nhớ được mười hai từ trong

mỗi câu” [Jean-Luc Martin-Lagardette,2003,tr.46] Vấn để là cẩn tránh tình trạng rút ngắn làm mất đi

Trang 26

cấu trúc cơ bản của câu làm cho câu trở nên tối nghĩa Mặt khác câu quá ngắn gọn có khi lại không

làm thoa mãn được nhu cầu thông tin của người đọc.

Thống kê của chúng tôi trong bảng dưới đây cho thấy độ dài trung bình của một câu đơn là

khoảng từ 25 đến 30 chữ và d6 dài ung bình của một câu ghép là khoảng từ 40 đến 45 chữ: đây là kết

quả phù hợp với khảo sát trong công trình nghiên cứu nói trên [TL80:tr 17].

SÀI GÒN GIẢI PHÓNG

h AO ĐỘNG

sử dụng câu đơn với độ dai vừa phải, những trường hợp mở rộng câu là nhằm tăng thêm lượng thông tin,

tạo sức hấp dẫn người đọc Câu ghép được dùng trong xu thé rút gọn và han chế.

Câu đặc biệt (một thành phần) rất ít dùng trong các văn bản báo chí (do phải gắnliền với ngữ cảnh) Đôi khi kiểu câu này chỉ dùng ở các tiêu dé như là một ngữ trực thuộc(trong mối quan hệ với phần còn lại của văn bản) nhằm lôi cuốn sự quan tâm của độc giả

(xem 1.4.2.2).

1.4.1.2 Câu xét theo mục đích nói

Câu xét theo mục đích nói thường được chia thành các kiểu loại: câu tường thuật (câu kể), câu nghỉ vấn, câu cảm than, câu cầu khiến Để phân biệt được từng kiểu câu

thường có các yếu tố ngữ điệu, yếu tố tình thái.v.v và các dấu câu: hỏi (?), chấm (.).chấm than (!) đi kèm

Khảo sát của chúng tôi cho thấy hầu hết câu được dùng trong các văn bản báo chí

là cầu tường thuật Tỷ lệ có thể chiếm đến trên 98%, dù rằng mức độ ở từng thể loại là

Trang 27

có khác Trong thể loại tin, câu tường thuật chiếm số lượng tuyệt đối và trở thành một

kiểu câu đặc trưng của ngôn ngữ báo chí: câu sự kiện (xem 1.4.2.2).

Câu hỏi chiếm một tỷ lệ rất ít nhưng lại có giá trị thông tin rất cao (với nhiều mục

đích khác nhau) Phan lớn các câu hỏi chúng tôi thống kê được đều nằm ở tiêu dé và là

những câu hỏi nêu vấn dé, ví dụ:

(14) “Ai gáy ra chuyện dạy thêm - học thêm?” (LB-04/01/2004)

có khi câu hỏi là dấu hiệu sở để hoá cho toàn văn bản — nghĩa là câu trả lời đã được thể

hiện trong nội dung văn bản Nhưng nhiều trường hợp câu hỏi có giá trị tu từ, người đọcphải tự tìm câu trả lời:

(15) “Á¡ mộ nghệ sĩ làm sao cho đẹp?" (BD-17/02/2004)

hoặc câu trả lời dành cho một cơ quan chức năng:

(16) “Sink viên cao đẳng tin học Đại học Bách Khoa Hà Nội sẽ đi về đâu?”

(SGGP-23/02/2001)

hoặc chi đơn thuần là những câu hỏi nghiệp vu trong một bai phỏng vấn, trong phan hỏi

đáp trao đổi cùng bạn đọc:

(17) "Vì sao gọi người Hà Nội là người Tràng An?” (LB-18/01/2004)

Câu cảm, câu cầu khiến rất ít khi xuất hiện trong các văn bản báo chí Sự xuất hiệncủa kiểu câu này thường ở phần tiêu để hoặc ở câu kết trong các bài phóng sự với mục

đích mỉa mai, chê trách, than phiển,v.v trong các tiểu phẩm, bài trao đổi cùng bạn đọc

với mục đích kêu gọi, nhắc nhở, động vién,v.v Ví dụ:

(18) “ Miững dong kênh rác?” (SGGP-28/02/2001)

(19) “Bóng bàn Trung Quốc cém yéu!” (LĐ-07/01/2004)

(20) "Hãy giữ gìn ngọn lita, hãy giữ gìn gia đình Chúc các bạn trẻ thành công”

(BD-11/3/2004)

(21) “Các thầy giáo đại học không còn thời gian nghiên cứu khoa học?"

(LB-03/01/2001)

Việc lựa chọn kiểu loại câu để phan ảnh thông tin là một tất yếu: “Mỗi cá nhân

khi phát tin hay nhận tin, tự giác hay không tự giác đều phải làm công việc lựa chon các

biến thể cùng nghĩa ”(Cù Đình Té,1983.tr.28], nhưng đây cũng là vấn để khá phức tạp tuỳ

thuộc nhiều vào các nhân tố giao tiếp mà phạm vi luận văn này không thể trình bày hết

được.

Trang 28

1.4.2 Vấn dé phân đoạn và liên kết câu trong văn bản

Gillian Brown và George Yule trong tác phẩm Phân tích diễn ngôn có viết: “Việc phân đoạn là

nhằm tổ chức điều muốn nói theo một góc độ nào đó: xoay quanh một thành tố đặc biệt, nhấn mạnh một

yếu tố nổi trội”[2001,tr.214] Như vậy, việc phân chia ngữ đoạn có liên quan đến cú pháp-ngừữ nghĩa

của câu và các thành phan trong câu (ở văn bản nói còn liên quan đến ca ngữ điệu và trọng âm légic).

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy câu trong các văn bản báo chí có 4 hình thức phân đoạn sau đây:

-Kiểu thông đạt chung “1/6 dân số thế giới sống ở

-Thông tin thường trùng với thông tin sự kiện va mien

câu phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh (BD-22/10/2003}

-Kiểu thông đạt bộ phận "Thủ được trên 1.322 tỳ đẳng

+2 N

“Thông tin là một phan của thông tin sự kiện và | ““” thuế

câu phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh (BD-5/1 1/2003)

Cấu trúc

“Thông tin thường trùng với thông tin sự kiện va {BD-28/12/2003)

đảo USE | sâu phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh

Bang 3: Các kiểu phân đoạn câu trong ngôn ngữ báo chí

Thực chất của việc phân đoạn câu chính là tuyến tính hoá trình tự nhận thức các sự kiện bằng

phương tiện ngôn ngữ Cho nên, chọn lựa kiểu phân đoạn nào là tuỳ vào ý chủ quan của người viết, trong khi thông tin báo chí lại hoàn toàn khách quan đối với người đọc Đây là vấn để chi phối rất lớn

đến việc chọn lựa của người viết Trong 4 hình thức trên, cấu trúc chủ để-thuật để chiếm tỷ lệ lớn hơn

cả bởi đây là kiểu đặc trưng có cấu trúc phân đoạn trùng với phân đoạn thông báo và “xu thế hướng tới

một trật tự khách quan “chủ để-thuật để” là một xu thế phổ quát cho nhiều ngôn ngữ” [Lý Toàn

Thắng.2002.tr.3§8] Cấu trúc này được hiện thực hoá trong câu báo chí bằng nhiều hình thức khác nhau.

Ví dụ:

Trang 29

(22) “Người dân thiếu nước sinh hoạt trầm trọng” (LĐ-9/3/2004)

(23) “TPHCM: Tiêu huỷ thêm 366 con gà chết” (LĐ-§!/01/2004)

phân đoạn sai tạo ra những thông tin mờ mà chúng tôi sẽ trình bày ở 2.4.)

Kiểu cấu trúc tổn tại hau như chỉ thấy xuất hiện ở các câu tiêu để nhằm nêu lên nhận định về

một sự tình hoặc thông báo một sự kiện sẽ được trình bày trong văn bản Ví dụ:

(26) “Có một một Việt Anh trên sàn diễn” (BD-26/12/2003)

(27) “Có nhiều vi phạm, thiếu sót trong dén bù, giải toa” (SGGP-16/1/2001)

Trong việc tổ chức văn ban, câu tổn tại có một tim quan trọng đặc biệt: “Chúng dùng để đưa các

đối tượng mới vào văn bản”[Trần Ngọc Thém,2000,tr.55] Cho nên, câu tổn tại thường nằm ở đầu văn

bản Ngữ cảnh để xuất hiện kiểu cấu trúc này chính là phan còn lại của văn ban, còn khi đứng trong văn

bản như ví dụ sau:

(28) “Khi khách đến thăm trang trại, chủ trang trại cử người có kinh nghiệm tiếp khách, có

chuyên môn về nghệ vườn giới thiệu trái cây do mình sẵn xuất Có hệ thống xe chuyên chờ khách

tham quan trang trai Trong trang trại có mô hình sau riêng, măng cut ” (TT-11/3/2003)

thì điểu kiện ngữ cảnh bắt buộc là những câu trước nó hoặc sau nó phải làm thành một không gian để

nó hiện hữu.

Tinh lược thường được sử dụng nhằm tránh sự lặp lại không can thiết để đưa thêm cái mới vào ngữ đoạn và “giảm thiểu tối da độ dài thông báo để đạt hiệu quả cao trong việc tổ chức thông

Trang 30

báo "(Phạm Văn Tình.2002.tr.25] Cho nên, cấu trúc tinh lược rất phù hựp với mục tiêu ngắn gon, nhanh

nhạy của thông tin báo chí Ví dụ:

(20) "Những tiến bộ trong diéu trị bệnh mắt” (TN-25/1/2003)

(30) “Bat tam giam giám đốc Nguyễn Gia Thiéu" (TT-8/1/2003)

(31) "CA Q.Tân Binh đã đồng thời bắt được 3 đối tượng tiêu thu xe của tên

Duy Bước đầu đã thu lại được 3 xe gắn máy" (TN-25/1/2003)

Trong các kiểu tỉnh lược thì tỉnh lược chủ ngữ được dùng nhiều hơn cả Chủ ngữ là phan nêu,

phan để thường chứa thông tin cũ, cái đã biết nên khi được tinh lược chủ ngữ, câu vẫn đảm bảo được

thông tin (phan đứng sau chủ ngữ thường chứa nội dung thông báo) Thống kê của tac giả Trần Ngọc

Thêm cho thấy tỉnh lược chủ ngữ chiếm 62%, tỉnh lược vị ngữ chiếm 3%, các kiểu tỉnh lược khác chiếm

35% [2000.tr.187].

Ngữ tỉnh lược là một ngữ trực thuộc, cho nên điều kiện tổn tại là trước nó phải có một phát ngôn

hoàn chỉnh (câu tự nghĩa) để người đọc có thể quy chiếu khôi phục lại lược tố: hoặc nó phải nằm trong

một ngữ cảnh hội thoại Đây là diéu kiện ngữ cảnh bắt buộc, nếu không ngữ tỉnh lược sẽ trở thành câu

sai ngữ pháp.

Sự thay đổi trật tự cú pháp là một cách tạo cho câu có nhiều ý nghĩa khác nhau Trật tự xuôi của câu tiếng Việt là trật tự chủ để - thuật để nhưng khi được tổ chức ngược, câu mang một giá trị thông tin khác, thường là để nhấn mạnh vào tiêu điểm thông tin Ví dụ:

(33) "Xuất hiện hàng gid tại các khu công nghiệp TPHCM (BD-6/3/2004)

(33) “Vòng 8 giải hạng nhất quốc gia 2004

Vat vả chủ nha” (BD-8/3/2004)

Kiểu cấu trúc này cũng it được dùng trong các văn bản báo chí.

Trang 31

Như vậy, phân đoạn câu theo cấu trúc chủ để-thuật để là hình thức phân đoạn đặc trưng của câu báo chí, được sử dụng rộng rãi trong các văn bản báo chí Các hình thức phân đoạn câu theo cấu trúc tổn

tại, cấu trúc tỉnh lược, cấu trúc đảo trật tự ít xuất hiện hơn vì phải tuỳ thuộc ngữ cảnh.

Liên kết là vấn để đặc thù của cấp độ trên câu (mà chúng tôi sẽ trình bày trong phần 1.5.?) Ở

đây chỉ để cập đến trường hợp câu đài cẩn phải dùng đến phương tiện liên kết bên trong Trong thực tế,

câu có nhiều mệnh dé sẽ khiến nội dung thông tin trở nên phức tạp khó tiếp thu Ví dụ:

(34) “Niém hạnh phúc bất chợt vỡ oà trên khuôn mat mọi người họ đón nhận sinh khí đó một

cách hãnh điện và bất cứ ai cũng nhận ra rằng, hạnh phúc hôm nay có được từ công cuộc đổi mới, cuộc kiến tạo lớn do Dang khởi xướng và lãnh đạo trong suốt 17 năm qua; niềm tự hào đêm

nay bắt đầu từ những thành tựu quan trọng mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tình Bình

Dương đã đạt được trong năm 2003" (BD-12/01/2004)

Phải dùng đến kiểu câu trường cú là vì tính phức tạp của su kiện được phan ảnh Trường cú còn

có tác dụng "làm tăng khả năng minh hoa, làm sáng tỏ chủ dé tư tưởng, làm cho cấu trúc trở nên hài

hoà, cân đối, tạo được ấn tượng mạnh mé trong giao tiếp” [Dinh Trọng Lạc, NN-6/2000] Nhưng cũng

phải thấy rằng, trong trường cú có những quan hệ ngữ nghĩa rất phức tạp mà bản thân cấu trúc cú pháp

khó thiết lập được, cẩn phải mượn đến các phương tiện bên ngoài cấu trúc, mà trước hết là các phương

tiện liên kết Kết quả của việc này thường đem đến một sự vất vã cho người đọc vì phải lưu trữ, liên

tưởng, vận dụng khá nhiều thao tác tư duy mới biểu được thông điệp Về điểm này, Leech va Short

(1981) cũng đã giải thích: “Chúng ta cẩn phải giữ lại trong ký ức tất cả những yếu tố đã nghe được cho

tdi khi chúng ta nghe đến điểm cuối cùng, khi mà chúng ta có thể lắp ráp những yếu tố phụ vào điểm chính” [dẫn theo Dinh Trọng Lac, NN-6/2000) Cho nên những câu như ví dụ (34) can được tổ chức thành nhiều câu đơn độc lập, không làm tăng thêm số chữ mà van dim bảo được nội dung.

1.4.3 Việc tổ chức cầu theo khuôn mẫu biểu cảm

Định Trọng Lạc khi khảo sát đặc điểm của phong cách báo chí công luận (BCCL) đã chỉ ra rằng:

“Đặc điểm nổi bật của cú pháp trong phong cách BCCL là sử dụng kết hợp những yếu tố khuôn mẫu và

Trang 32

những yếu tố diễn cam” (2000;tr.104] Theo chúng tôi tính chất khuôn mẫu này trước hết thể hiện ở ba kiểu câu đặc trưng: câu Để - Thuyết, câu sự kiện, câu “sd để hoa”.

1.4.3.1 Câu Để - Thuyết là câu có cấu trúc cú pháp gồm hai phan: Dé và Thuyết Day là kiểu

câu được sử dụng rất phổ biến với nhiều hình thức phân đoạn khác nhau, đặc biệt là ở tiêu để của các

văn bản báo chí:

(35) “Hà Nội: Phát động phong trào sáng tao trẻ” (GD&TĐ-9/3/2004)

(36) “TP Hồ Chí Minh:

Cháy lớn thiệt hại hơn 6 tỷ đẳng" (LB-10/3/2004)

(37) “Công nhân may

Thừa mà thiếu?” (BD-18/2/2004) Khảo sát kiểu câu này trong ngôn ngữ báo chí, chúng tôi nhận thấy:

-Thông tin trong báo chí, về bản chất mà nói, luôn là thông tin mới Phan Đề phan Thuyết có

kha năng đều là mới (chứ không chỉ ở phẩn Thuyết Cũng một sự kiện nhưng ở mỗi thông điệp trong

cùng một số báo luôn có những nội dung khác nhau Ngoài ra, thông tin trên báo chí có thể cũ với người

này nhưng lại mới với người khác (bởi vai người nghe trong giao tiếp báo chí là đông đảo công chúng độc giả).

-Câu có cấu trúc Dé - Thuyết chiếm tỷ lệ cao trong các kiểu loại câu báo chí Bởi lẽ báo chí dem thông tin đến cho người đọc bằng những thông điệp mà cấu trúc Dé - Thuyết phù hợp với cấu trúc của

thông diệp.

1.4.3.2 Câu sự kiện, theo tác giả Dinh Trọng Lạc [2000,tr.233], thường có kết cấu quen thuộc

như sau:

Ví dụ:

Trang 33

(38) Vào lúc 15 giờ ngày 9-12 tại Maxcova, một vu Hổ do bom xe gần Quảng trường Đỏ lam Š

người chết” (BD-I0/12/2003}

(39) “Sáng qua 17-2, tai Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo về Lệnh của Chủ

tịch nước Công bố Pháp lệnh thi hành án dân sự (sửa đổi)"

(BD-18/2/2004)

Trong thực tế, tuỳ vào nội dung thông tin, tuỳ vào thể loại mà kết cấu này có nhiễu biến thể rất

da dang: thay đổi vị trí các thành phan, mở rộng các thành phan, tỉnh lược (thời gian, không gian),v.v.Ví

dụ:

(40) “Hồi 15 giờ 40 chiều 11.3, vụ hod hạn đã xảy ra tại hiệu buôn Hải Van, số SB đường Phan

Chu Trinh, Khánh Hod” (LB-12/3/2004)

(41) “Gaza lại bị không kích làm chết 10 người Palestine vào dém 20-10"

(42) “Theo kết quả bốc thăm chia cặp đấu play - off vòng loại EURO 2004 vào chiêu 13-10,

Scotland phải do sức với đội bóng xứ sở hoa tulip” (BD-22/10/2003)

Những biến thể này tạo thêm nhiều khuôn mẫu ngày càng phổ biến, nhất là đối với thể loại tin:

Thee , ngày tại đã xảy ra

-Hãng tin ngày cho biết

-Từ ngày tại sẽ diễn ra

Tin là thể loại tiêu biểu của phong cách báo chí, thể hiện nhiều đặc trưng của ngôn ngữ báo chí.

Cho nên kiểu cầu su kiên chiếm một vị ti đắng kể trong các văn bản báo chí.

1.4.3.3 Câu “sé để hoa” văn bản Đây chính là các tiêu dé (TD) văn bản Chỉ riêng thể loại tin

van là không có TD, còn hau hết các bài báo đều phải có TD như một điều kiện bắt buộc để dam bảo

tính mạch lac, để gây hấp dẫn người đọc Vì tính chất đại diện được tách riêng ra, đứng ở dau văn ban,

có giá trị thông báo nên TD được mang tư cách của một đơn vị, nó dim nhận chức năng sở để hoá (xem

1.5.2.1).

Thống kê của chúng tôi trong 3440 văn ban có 2339 TD, trong đó phan lớn được tổ chức theo kiểu câu Để - Thuyết và câu gọi tên, Câu “sở để hoá” văn bản tuy có thể gặp ở một số văn bản khác với tin suất rất thấp nhưng có thể coi là một đặc trưng của ngôn ngữ báo chí, làm khu biệt nó với các

Trang 34

phong cách ngôn ngữ khác bởi cách tổ chức hình thức lẫn nội dung Tác giả Trịnh Sâm cũng đã khẳng định: “Câu để - thuyết và câu gọi tên làm TD, là đặc điểm nổi bật nhất trong kết cấu của bản tin Nói

rõ rang hơn TD có thể do nhiều cấu trúc ngữ pháp dam nhiệm, nhưng hai loại câu vừa nhắc xuất hiện

với tin xuất cao "Trinh Sâm, 1999 ,tr.70].

Câu “sé để hoá” bộ phận gắn lién với tiêu để bộ phận cũng có một giá trị rất lớn về mặt tổ

chức văn bản và tạo nên một điện mạo riêng cho phong cách báo chí nhưng trên thực tế nó chưa

được quan tâm đứng mức (vé phía nhà báo cũng như đối với nhà nghiên cứu) Thống kê của chúng

tôi cho thấy chỉ có 250/3440 văn bản có chứa TD bộ phan.

1.4.3.4 Một đặc điểm khác là câu báo chí sử dụng nhiều yếu tố biểu cảm đan xen trong khuôn mẫu tạo nên sức hấp dẫn độc đáo thể hiện phong cách riêng của tác giả Theo Hữu Dat [2000.tr.245].

khuôn biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí có khả năng rất cơ động, người viết có thể thay đối vị trí các

thành phẩn trong kết cấu, lấp đây những khoảng trống bằng những từ ngữ với nhiều sắc thái khác nhau

tuỳ theo sự kiện thông tin, điều này khác han với phong cách ngôn ngữ hành chính Ví dụ:

(43) “Hôm qua, Ai Cập tuyên bố tìm thấy xác ướp lâu đời nhất”

(44) — "Hôm qua, M¥ cho biết sẽ cắt giảm viện trợ cho Đông Timor để chuyển tién này qua Iraq”

(TT-26/4/2003)

Trong nhiễu trường hợp, khuôn biểu cảm như một mô thức tiện lợi cho người viết tổ chức thông

tin, đồng thời giúp người đọc dé tìm ra tiêu điểm thông tin trong các khuôn mẫu này.

1.5 ĐẶC ĐIỂM VỀ TỔ CHỨC VĂN BẢN

Nhìn chung, văn bản có cấu tạo là một hoặc nhiều chuỗi phát ngôn được nối tiếp

nhau theo một cấu trúc nhất định (về nội dung và hình thức) Cấu trúc này chịu sự chỉ

phối rất lớn của cơ chế tạo văn bản, của quy luật giao tiếp, của những đặc trưng về thể loại Trong phần này, chúng tôi sẽ tìm hiểu đặc điểm tổ chức văn bản báo chí ở hai vấn

dé: kết cấu của văn bản và cách thức tổ chức nội dung văn bản Nhưng trước hết cần có

cái nhìn tổng quan về hệ thống thể loại văn bản báo chí hiện nay.

Trang 35

1.5.1 Về các thể loại văn bản báo chí

Có thể hình dung hệ thống thể loại văn ban báo chí trong bang sau:

TIN TỨC BÌNH LUẬN KÝ TRAO DOL | QUẢNG CÁO

BÁO CHÍ BÁO CHÍ BÁO CHÍ CÔNG LUẬN BÁO CHÍ

-Tin (tin vấn, — -Bài bình luận -Ghi nhanh -Tiểu phẩm -Nhắn tin

tin ngắn) ica xe

-Bài chuyên -Ký chân dung _ -Y kiến ban -Thông báo

“Tin tường luận đọc

-Rao vặt

-Phóng sự điều -Hỗ sơ tư liệu

tra

Đặc điểm chung của từng nhóm thể loại này là:

-Thể loại tin tức báo chí: lấy chức năng thông báo làm chính; ngôn ngữ mang tính khách quan, ít màu sắc biểu cảm.

-Thể loại bình luận báo chí: lấy chức năng tác động là chính; ngôn ngữ giàu tínhchiến đấu, vừa khúc chiết, rõ ràng, vừa biểu cảm, sinh động

- Thể loại ký báo chí: loại văn bản tái hiện, phản ánh sự kiện theo chủ quan của

tác giả; ngôn ngữ biểu cảm, sinh động, có tính văn học.

-Thể loại trao đổi công luận: các tiểu phẩm, bài hỏi dap, trao đổi về những vấn débạn doc quan tâm; ngôn ngữ giản dị dễ hiểu, vừa mang đặc điểm của phong cách hành

chính, vừa mang đặc điểm của văn bình luận.

-Thể loại quảng cáo báo chí: lấy chức năng tác động là chính; ngôn ngữ ngắn gọn,

sinh động, gắn liền với ngữ cảnh để gây ấn tượng mạnh mẽ, tạo sức hấp dẫn người đọc.

Trong các thể loại vừa hình dung, phải thừa nhận rằng, thể loại tin tức là tiêu biểu

nhất cho ngôn ngữ báo chí.

Cần lưu ý, việc nhận diện và phân loại các thể loại báo chí hiện nay, có thể nói là

vấn để còn đang bồ ngỏ Bởi vì mỗi tác giả đều có ý kiến khác nhau, hầu như không cóđược tiếng nói chung Do vậy, những gì miêu tả bên trên chỉ có ý kiến tham khảo, chủ

yếu là để tiện cho việc đi tìm đặc điểm của đối tượng đang khảo sát.

Trang 36

Các kiểu thể loại trong từng nhóm cũng có nhiều đặc trưng khác nhau về phương

thức phản ảnh, về cách tổ chức ngôn từ Chẳng han, tin vin thường không có tiêu dé, là

một thông báo ngắn gọn nhất, có khi chỉ là một câu trả lời cho các câu hỏi cái gì? ở đâu?

khi nào? Tin ngắn có dung lượng dài hơn, được diễn tả cô động, có nhiều hình thức linhhoạt trong việc tổ chức thông tin Còn tin tường thuật có nhiệm vụ làm cho độc giả nắm

được đầy đủ, chỉ tiết diễn biến của một sự kiện cụ thể Bình luận là giải thích, lý giải các

sự kiện quan trọng của đời sống xã hội, đồng thời khẳng định một quan điểm chính trị.

Bình luận thường ngắn hơn chuyên luận,v.v

Trong các nhóm thể loại, tin tức xuất hiện nhiều nhất Thống kê dưới đây cho thấy

nhóm tin tức chiếm tỷ lệ 85,37%(không tính quảng cáo):

Bang 5: Bang thống kê các thé loại văn ban báo chí

Hầu hết các thể loại báo chí đều xoay quanh phan ánh sự kiện, cái cốt lõi của bài

báo là sự kiện (có tính vấn đề) Tất nhiên là mức độ, dung lượng của vấn để và cách tổ

chức ngôn ngữ trong từng kiểu bài là có khác, nhưng cái khung kết cấu và cách thức triển

khai chủ để vẫn phải theo những quy luật chung mà chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày ởphần dưới đây

1.5.2 Kết cấu của văn bản

Kết cấu thông thường của một văn bản bao gồm: tiêu dé (BD), phần mở (M), phan

thân (A) và phần kết (K)

1.5.2.1 Tiêu đề

Trang 37

Ý nghĩa của TD từ lâu đã được khẳng định: “Tiêu để xuất hiện như những tên gọi

khác nhau, hàm chứa những thông tin ngắn gọn, nhằm giới thiệu các vấn đề của đời sống

đến đông đảo công chúng [Trinh Sâm,1999,t.5] Trong cấu trúc nội tai, TD được xem làmột thông điệp hoàn chỉnh Nhưng chính mối quan hệ giữa TD với văn bản đã làm nên

giá trị của TD: “Một cái đầu dé xét về chức năng thông báo của nó cũng là một hướng

chủ dé mà phần thuyết là cả bài văn ”(Cao Xuân Hạo.1991.,tr.209] “Tiêu để như là một biểu

thức khả di của chủ để ”G.Brown-G.Yule,2000,tr.221] Từ ý nghĩa đó, có khá nhiều cách tổ

chức TD khác nhau Có kiểu TD thể hiện rõ chủ để của toàn văn bản, ví dụ:

(45) "Mái ấm gia đình không thể thiếu nu cười” (BD-10/12/2003)

có kiểu TD khái quát nội dung văn ban:

(46) "Anh muốn Việt Nam tham gia WTO” (BD-18/3/2004)

hoặc có TB chỉ nêu một chi tiết nào đó:

(47) “Quá tái?” (BD-10/12/2003)

Nhiéu TD dé được tổ chức như một thông báo hoàn chỉnh để qua đó người đọc có thể nắm

được thông tin (khi không muốn doc cả bài) Ví dụ:

(48) “Việt Nam có thể được gia nhập WTO vào năm 2005” (LĐ-19/3/2004)

TD có thể được lập ngôn mới hoặc mô phỏng từ một văn bản có sẵn:

(40) “Ai ăn xôi, ai chịu đấm” (PL-42/1998)

(50) “Những nàng Tô Thị” (BD- 23/7/1999)

TD có thể là một ngữ (ví dụ 49,51), có thể là một câu hỏi (vi du 49), câu trần thuật

T.Số | Trong đó chia ra

Tiêu Câu Câu Câu Câu

để - chủ -vị để - thuyết gọi tên hỏi

Trang 38

Trong nhận thức của chúng tôi, cấu trúc câu tiếng Việt vừa có kết cấu chủ - vị, vừa có kết cấu để

- thuyết Việc phân biệt này trên bình diện lý thuyết có thể chưa triệt để nhưng rõ ràng lại có ý

nghĩa về mặt thực tiễn Quả nhiên, vé mặt phân bố tiêu điểm thông tin ở hai dang kết cấu này là

hoàn toàn khác nhau.

Ngôn ngữ TD cũng rất đa dạng với nhiều hình thức trình bày (màu sắc kích cỡ cách phân

đoạn,v.v ) để tạo sức hấp dẫn người doc.

Nhiều trường hợp sự có mặt của TD là bắt buộc để định hướng cho việc tiếp nhận văn bản.

Có thể nói mối liên kết giữa TD và văn bắn chính là khả năng sở để hoá của TD.

1.5.2.2 Phần mở

Phần mở đầu văn bản có một tầm quan trọng đặc biệt Nhà báo Đức Dũng chorằng: “Nếu như chỉ được phép nói một câu để thông báo về sự kiện, thì đó chính là câu

mở đầu của tin”{2000,tr.11§) Trong bài báo, phần mở đầu thường đảm nhận những nhiệm

vụ sau: đưa đối tượng mới vào văn bản, giới thiệu nguồn của thông tin, nêu chủ dé của

toàn văn bản, nêu khung cảnh chung của sự kiện (thời gian, không gian,v.v.) Ví dụ:

(51) "Sáng 17-3, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVOH) thai mạc phiên họp thứ 17, dưới sựchủ trì của Chủ tịch QH Nguyễn Văn An Buổi sáng, các thành viên của uy ban nghe đại điện

Chính phi báo cáo tình hình triển khai công tác bau cử đại biểuHĐND các cap ”

(BD-18/3/2004)

Ngay câu mở đầu bản tin sự kiện UBTVQH hop là đối tượng thông tin đã được

đưa vào (và cả cảnh huống thời gian) Các câu, các phần còn lại là thông báo về diễn

biến, về nội dung cụ thể của sự kiện này.

(53) "Theo công văn số 3633 TCT/NVI ngày 10.10.2003 của Tổng cục Thuế, doanh nghiệp phải

lập hoá đơn giao cho khách hang ” (LĐ-13/10/2093)

Nguồn tin được nều cụ thể, chính xác ngay ở phần mở đầu đã làm tăng sức thuyết

phục của thông tin.

Một số văn bản có phan mở đầu trùng với tiêu dé, thường là ở các tin ngắn có TDmang tính chất thông báo nội dung của thông tin Ví dụ:

(53) Tân Bình: Phát động phong trào

thi đua XHCN năm 2001

Trang 39

“UBND quận Tân Bình vừa phát động phong trào thi dua xã hội chủ nghĩa năm 2001.

Trong năm 2001 toàn quận phấn đất (SGGP-16/1/2001)

Cách mở đầu này ít được ưa chuộng Trong thực tế người viết thường thêm vào những thông tin về thời gian, không gian, nguồn dẫn hoặc chỉ tiết sự kiện để tránh sự

trùng lắp hoàn toàn với TD Ví dụ:

(54) Họp mặt cộng tác viên

Báo Sài Gòn Giải Phóng

“Ngày 5-1-2001], tại Hà Nội, Ban biên tập báo Sài gòn Giải phóng đã tổ chức gặp mặt

thân mật đầu năm mới với hơn 150 dai biểu là công tác viên thân thiết ở Hà Nội và các tỉnh phía

Bắc " (SGGP-6/1/2001)

Đối với tin van, tin ngắn không có TD, phần mở có giá trị như một TD và thường

có dấu hiệu phân biệt với phần còn lại của văn bản (in đậm, in nghiêng, gạch dưới,v.v.)

và thường chứa day đủ những thông số nội dung, hoặc ít nhất cũng trả lời cho những câu

hỏi ai?cai gi? ở đâu? Ví dụ:

(55) “Trung Quốc thông báo một trường hợp nhiễm SARS mới hôm 31.1 Đây là ca nhiễm

SARS thứ tư được khẳng định trong mùa đông năm nay tại nước này Bệnh nhân là bác sĩ 40 tuổi,hoLiu, bị sốt từ ngày 7.1 và nhập viện ngày 16.1 tại tỉnh Quảng Đông Liu đã phục hồi sau đó và

được xuất viện "(LĐ-01/02/2004)

Sa-pô(chapeau) cũng có thể được xem là một phần mở đầu được đánh dấu, phan đứng giữa TD và đầu bài báo, thường có kiểu chữ đậm, nghiêng hoặc đóng khung để

phân biệt Đây là một đặc trưng mà chỉ văn bản báo chí mới có Nó mang đầy đủ chức

năng của một phần mở đầu với nhiều cách thức thực hiện khác nhau: tóm tắt nội dung,

nêu chủ đề của bài, trích nguyên một phần thông tin, dẫn lời một nhân vật,v.v Ví dụ:

(56) * CAN THỊ

trong học đừơng

Hiện nay, cận thị đã và đang là một hiện trạng phổ biến trong học đường Nó phát triển không giới han từ học sinh cấp I đến giới sinh viên và có ảnh hưởng đến việc học tập cũng nhu

vui choi giải trí.

Bỏ qua nguyên nhân khách quan do di truyền, cận thị là căn bệnh của môi trường và cách

sinh hoạt Đối với học sinh, bị cận là do nhiều tác nhân ảnh hưởng trong đó có 2 nguyên nhân

chính ” — (BD-28/12/2003)

Trong kiểu bài phỏng vấn, sa-pô là phần mở đầu bắt buộc, là phan để dẫn giới

thiệu nội dung và nhân vật được phỏng vấn.

Trang 40

Như vậy, phần mở đầu ở tin ngắn thường là một câu mang những thông số quan

trong, ở các thể loại khác thường là một đoạn mang chủ dé hoặc một phan của nội dung

văn bản với nhiều cách tổ chức khác nhau nhằm gây sự chú ý cho người đọc.

-Quan hệ ngữ nghĩa bậc | (có tính khái quát): quan hệ thứ tự, quan hệ bao hàm,

quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu thuẫn,v.v

-Quan hệ ngữ nghĩa bậc 2 (cụ thể hoá các quan hệ bậc 1): trình tự thời gian, khônggian, trình tự diễn đạt, quan hệ riêng chung, quan hệ sở hữu, quan hệ tương phản, quan

hệ đồng nhất, quan hệ đối lập, v.v

-Quan hệ ngữ nghĩa bậc 3, v.v.

Một số kiểu kết cấu theo các quan hệ ngữ nghĩa tương ứng như sau:

QUANHỆ KIỂU KẾTCẤU KẾT TỐ

, a , „ 2 F

„ 1/ Định vị thời gian sau đó, tiếp đó, trước khi, sau khi, đồng thời,

QUAN HỆ trong đó, đột nhiên, vẫn, còn.,

ĐỊNH VI 2/Định vị không gian — | cạnh đó, gdn đó, trong dé, tại đây

3/ Trình tư diễn dat trước hết, đầu tiên, thứ nhất, sau đây, trên

đây, tám lai, cuối cùng

nữa, va lại, thậm chi

SỰ VẬT 7/ Tương phản - đối lập | tuy vậy, mặt khác, lẽ ra, trái lại, song le,

Bảng 6: Các kiểu kết cấu văn bản theo quan hệ ngữ nghĩa

Trong thực tế, phần thân có thể được tổ chức thành một hoặc nhiều đoạn với một

hoặc nhiều kiểu quan hệ ngữ nghĩa nêu trên Ví dụ:

(57) My dé nghi NATO san sẻ gánh nặng ử Iraq

Ngày đăng: 23/03/2025, 03:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Hữu Chỉnh, Quan hệ ngữ pháp trong văn bản,Ngôn ngữ 6-2002 10. Nguyễn Đức Dân, 1999, Lé gích và tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lé gích và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Dinh Văn Đức, Nguyễn Việt Hà, Diện mạo chung của cấu trúc cú pháp tiếng Việt qua một số vănbản chữ Quốc ngit thé kỷ XVII, Ngôn ngữ 1 1-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo chung của cấu trúc cú pháp tiếng Việt qua một số vănbản chữ Quốc ngit thé kỷ XVII
Tác giả: Dinh Văn Đức, Nguyễn Việt Hà
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 2002
19. Hà Minh Đức,2000, Co sở lý luận báo chí- Đặc tính chung và phong cách, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Co sở lý luận báo chí- Đặc tính chung và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
22. Vũ Quang Hào. 2001, Ngôn ngit báo chí, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngit báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
23. Cao Xuân Hao, 1998, Tiéng Việt mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa, Nxb Giáo duc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiéng Việt mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hao
Nhà XB: Nxb Giáo duc
Năm: 1998
24. Cao Xuân Hao, 1991, Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chitc năng, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chitc năng
Tác giả: Cao Xuân Hao
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
25. Cao Xuân Hạo (chủ biên), 2002, f.đỉ ngữ pháp và cách khắc phục, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: f.đỉ ngữ pháp và cách khắc phục
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002
28. Nguyễn Thái Hòa, 1998, Dẫn ludn phong cách học, Nxb Giáo duc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn ludn phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo duc
Năm: 1998
30. Mai Xuân Huy. Về khái niệm tắt tế và các kiểu định dank tất trong tiếng Việt, NN-10/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm tắt tế và các kiểu định dank tất trong tiếng Việt
Tác giả: Mai Xuân Huy
Nhà XB: NN
Năm: 2003
31. Dinh Hường, Luận bàn về thể loại báo chí, Người làm báo 2/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn về thể loại báo chí
Tác giả: Dinh Hường
Nhà XB: Người làm báo
Năm: 2004
33. Dinh Trọng Lạc. 2000. Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Dinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
35, Dinh Trọng Lạc, Về phone cách báo, Ngôn ngữ 1-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phone cách báo
Tác giả: Dinh Trọng Lạc
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1995
39. Hỗ Lé, Lê Trung Hoa, 2003, Sửa Idi ngi? pháp, Nxb KHXH.werwea Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa Idi ngi? pháp
Tác giả: Hỗ Lé, Lê Trung Hoa
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2003
7. Nguyễn Trọng Báu,2002, Biên tập ngôn ngữ sách va báo chi, Nxb KHXH Khác
8. Đỗ Hữu Chau, 2001, Dai cương ngôn ngữ học. tập! & tập 2, Giáo duc Khác
11. Nguyễn Đức Dân, 2000, Ngi? dung học. Nxb Giáo dục Khác
12. Nguyễn Đức Dân, Nhưng thông tin chìm trong ngôn ngữ báo chi, Hội thảo khoa học. tháng 12-2002 Khác
13. Nguyễn Đức Dân, Ý rai ngôn ngoại- Nhiềng thông tin chim trong báo chí, Ngôn ngữ 2-2004 Khác
14. Dức Dũng, 2000, Viết báo như thế nào? Nxb VH-TT Khác
15. Nguyễn Văn Dững (chủ biên), 2001, Sở tay phóng viên-Báo chi với trẻ em, Nxb Lao Động Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  4: Các kiểu câu tiêu để - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)
ng 4: Các kiểu câu tiêu để (Trang 37)
Bảng  6: Các kiểu kết cấu văn bản theo quan hệ ngữ nghĩa - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)
ng 6: Các kiểu kết cấu văn bản theo quan hệ ngữ nghĩa (Trang 40)
Bảng 7: Các kiểu cấu trúc nội dung văn ban - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)
Bảng 7 Các kiểu cấu trúc nội dung văn ban (Trang 45)
Bảng 8: Thống kê các kiểu lỗi chính tâ tiếng Việt - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)
Bảng 8 Thống kê các kiểu lỗi chính tâ tiếng Việt (Trang 57)
Hình thức như sau: - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)
Hình th ức như sau: (Trang 59)
Bảng 12: Thống kê các loại lỗi từ vung trên các văn bản báo chí - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)
Bảng 12 Thống kê các loại lỗi từ vung trên các văn bản báo chí (Trang 64)
Bảng 13: Thống kê các lỗi ngữ pháp thường gặp trên các văn bản báo chí - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí (trên cứ liệu báo Bình Dương)
Bảng 13 Thống kê các lỗi ngữ pháp thường gặp trên các văn bản báo chí (Trang 71)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm