tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học: rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động tinh cảm tâm lý dem lại niềm vui, hứng tha học tập.[26
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH
DUONG DAO TUNG
MOT SO BIEN PHAP NANG CAO CHAT LUQNG HOAT Ƒ
4 DONG TU HỌC CUA SINH VIÊN KHOA LY TRƯỜNG ĐẠIƑ
HOC SU PHAM TPHCM TRONG QUA TRINH GIANG
LUAN VAN THAC Si GIAO DUC HOC
TP HO CHÍ MINH - NAM 2003
Trang 2HA xẽớợếớớẽxớớớéoốé.ằéằ =ẽvẽeẽxnnằnecvrhc.rrằ.r r.ẽ rể xrxẽềcể.ể.ẻ.ẻẽẽ.ẽốẽốếẽẽẻẽ.ẽ ar iS eh tn iit an At Ha Mim
H
j ị
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO _
_ TRUONG ĐẠI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HỒ CHÍ MINH
te)Ocs
|
DUONG BAO TUNG |
LUẬN VĂN THAC SĨ
CHUYÊN NGÀNH PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VẬT LÝ ————— .—.rrvcvveysse
Ci lat mR
Người hướng dẫn khoa học : |
TS PHAM THE DAN
TP HO CHi MINH - NAM 2003
Me idles Pilea mah kex(2 S44 ĐA) E Set LW đo, Shlad aa noel aA aid 1 Te Pha de bh Sa Ea oa elena Me rieuk dls WA dled Banik) A Liha 7.”—=—._ ua! a Dà»gÌà,»44Í «Xa vất
Trang 3LOI CAM ON
La học viên cao học khoá 11- ngành phương pháp giảng day vật ly.
Ching tôi bày tỏ lòng cảm ơn chan thành nhất đến:
% Ban Giám hiệu, phòng khoa học công nghệ- sau đại học, ban chủ nhiệm khoa Ly
trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình
làm luận văn.
É Các thay cô đã tận tình giảng dạy, các giảng viên đông nghiệp và các em sinh viên
đã góp nhiều ý kiến chân thực, bồ ích.
% Đặc biệt chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tiến sĩ Phạm Thế Dân đã tận
tâm hướng dẫn, chi bảo những kiến thức qui báu dé hoàn thành luận văn.
É Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong được sự góp ý của cá
thây, cô và các bạn.
É Sau cùng chúng tôi cám ơn hội dong cham luận văn cao học ngành vật lý của
trường đại học sư phạm thành pho Hô Chí Minh.
Một lần nữa kính chúc sức khoẻ đến quý thay cô.
Trang 43-Khách thé nghién CUS sessecsesssessecsscssessessesssessecssessessscssessssssessessssssessessscssessessscssesseessesses 11
4-Đối tượng NNN CÍPH: 5° 5° 5< Sẻ Set Set SteEEEEEeEeeEeEEeterrerreereererrerrerrerrerreree Il
5-Giả thuyẾt KNOG HỌC: vessecsvessessvessecssesvessesssessessecssessesssessessssssessesasessessessscsscssecaseesesseesseenss 11
6- Nhiệm vụ của đỀ tis ccecsecssecsesseessecsesssessesssessessecssessesasessecsesascssecsscsvesscsascsneeacsssceaeeaesseess 11 7-Một số quan điểm phương pháp LUGE recsecsecsessecverserservecsessersessessessesssssessessessessesseseeses Il
ổ- Phương pháp NQhieM CÍỨPH- << << << 4 lọ c1 T0 06 12
a)Phương pháp nghiên cre ÏÍ ÏUẬY- cv vn rưy 12
b)Phương pháp điỄM tr > sceccecscecsessessessessessessessessessessessessessessessessessessecsessessesseesesseeseeseeses 12 c)Phương pháp quan sát phỏng VẤN: +55 ©ESE£EE‡EE‡EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEErkerkerkerkee 12
d) Phương pháp thực HghiỆTH- cv kh TH HH HH gi 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CUA SINH VIÊN.14
1.1 Lịch sử nghiên cứu vẫn dé tự: hỌc -e- se ©ce<©se©xe£xeerxeExeerserxerreereerrerrerree 14
1.1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề tự học thời kỳ cận đQi - cà knsiissirssrses 14
1.1.2 Vấn đề tự học trong giai đoạn Wien đẪQ|., chiết 15
1.2 Cơ sở lí luận về hoạt động tự học của sinh viÊH -sccsccsccsccscsscsscssrs 16
1.2.1 Khái niệm va đặc điểm tự hoc của sinh ViÊN -:©c+ceSt+EcEzteEeEt+tereresrerees 16 1.2.2 Moi quan hé thay - tro trong quá trình tự hoc của sinh VIÊN - -.- 18
1.2.3 Vai trò cua động cơ trong qua trinh te NOC cccccccccccccscccesccesseeesecesseeseeeeseeeseeesseeeas 21 1.2.4 Ki NGNg tu NOC ceccccccsccccsccesscesesessesseeesscesseesesecsseeseseesseeseseseseeseaeeesecseeseseceseeenaeenes 22
Trang 5Chương 2: THUC TRANG VE HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CUA SINH VIÊN ĐẠI
HỌC SƯ PHAM TPHCM . 2 -° 222 £©EEEEV2222£EEE222vvzdzeerrrrvcrvrez 26
2.1 Khảo sát và phân tích kêt quả nhận thức của giáo viên và sinh viên về vấn đề tự NOC PP 26
2.1.1 Mục đích KhảO SỐ[- -cc 3030303030111 1kg 5à 26 2.1.2 NOi Aung 7 0 nan ốố.ốẦ 26
2.1.3 Phương pháp khảo sát và tiến hành - 5+ ©5<25+cSEcSESEeEECEEEEEerkrrkerrerrkee 26 2.2 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự học của sinh viên 35
2.2.1 Khái niệm về chất /.0/1818/19 2 0000n0nẺ88 Ả 35
2.2.2 Nguyen nhGn CHU Quane 0nnố ốốốỐốỐốố5 36
2.2.3 Nguyên nhân khác Quane - c1 1991119 1111111111111 vn ru 36
2.3 Một số nhận xét qua thực trạng điều tra hoạt động tự học của sinh viên ĐHSP TP
FCM nh 38
Chương 3: MOT SO BIEN PHAP NÂNG CAO CHAT LƯỢNG TU HOC CUA
SINH VIEN NAM I KHOA LY DHSP TPHCM TRONG QUA TRINH GIANG
DẠY BO MON CƠ HỌC ĐẠI CƯƠNG -2 s-cse©cssvsserssersserssorssee 40
3.1 Đặc điểm của bộ môn cơ học đại cương trong khoá trình đào tạo sinh viên khoa
Lý trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2-2-2 s©s©ss©ssess=se 40
3.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên năm
I khoa Vật lý trường DHSP Tp.HCÌM 2°-©ee2+EEEE+eesEEEEEEesrrErrkesrrrrrkee 4I
3.2.1 Sứ dụng phối hợp các biện pháp giáo dục động cơ tự học, tự rèn luyện cho sinh
viên năm I khoa Ly, tạo điều kiện dé họ trở thành người thay giáo tương lai 42
3.2.2 Hình thành những kĩ năng tự học Cho Simh VIÊN - ccSSc se ssiExseeereeexee 47
3.2.4 Moi quan hệ giữa các biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên khoa
LY DHSPTPHCM 0 0 ẺẺee - 60
Chương 4: THUC NGHIEM SU PHAM cscssssssecssssessssssesesscscesscacscacscacecacecees 61
4.1 Mục dich thre 1ghi@m .ccscccsccsccsecsscsssscsscsssssscscssccssssscscssscsscssscssssssessecssesscsssessseseess 61
Trang 64.2 Đối twong thực Hịg hẲỆNH - 2-5 5< ©e< Se< St St SteEeEeEereerererrerreererrerrerrerrerrereeree 61
S0 2.0810 4,., 586 ố ố.ốố.ố.ố.ốố.ố.ố.Ố.Ố.Ố 61
4.4 Kết quả thực nghiệm và phân tich veccecssessesssecsessessvessesssessessssssessessssssessesssessessesssesses 64
Kết luận và kiến nghị cscescessessessesssssssscsessesceseesossscsscsscsucsussesseesessesscsscenceneaneseeoes 70
PHU LUC 22177 “*-—Œä H,H)H H,|L, , 74
Trang 7MO DAU
1- Lý do chọn đề tài
Trong những năm gan day, van đề đôi mới phướng pháp dạy học ở đại học đã được
nhiều nhà khoa học nghiền cứu cả vẻ lí luận lẫn thực tiễn Tuy ý kiến còn khác nhau ở một
số van dé, nhưng các nhà khoa học đều thống nhất: trong các hình thức t6 chức day học ở
đại học thì hình thức tự học có vai trò quan trọng nhất
Nhiều kết quả nghiên cứu gan đây cho thấy, chất lượng sinh viên ra trường của đại họcnói chung và của đại học sư phạm nói riêng, đều có nhiều vấn đề phải bàn đến Sinh viêncác nước tiên tiền trên thé giới, sau khi ra trường là thích ứng nhanh với thị trường lao độngphát triển hết sức sôi động và da dạng về nhu cau Trong khi đó sinh viên của chúng ta khi nhận công việc mới thường bị các nhà tuyển dụng phan nàn là mất nhiều thời gian và côngsức dé đào tạo lại Nguyên nhân là chất lượng đào tạo còn thấp, cụ thê: đo chương trình đàotạo chưa thích ứng kịp với thị trường, sinh viên không đủ kiến thức và kĩ năng can thiết déđáp ứng công việc Chúng ta dang trong quá trình không ngừng nỗ lực phan dau nâng uy tincủa Việt Nam khi tham gia nhiều lĩnh vực trên diễn đàn Quốc tế, thì không chỉ hàng hóa
luôn chuẩn mà sức lao động cũng phải chuẩn Vi vậy giáo dục đại học đòi hỏi phải đôi mới
rat nhanh, néu không chúng ta sẽ rất thua thiệt: khi nguồn nhân lực có trình độ, ki năng vảkiến thức không đáp ứng yêu câu thì làm sao cạnh tranh nôi với các nước - trước mắt là các
nước trong khu vực ASEAN.
Đặc thù của qua trình học ở đại học là sinh viên phải biết tự học, đây là một đặc điểm khác cơ bản với cách học ở pho thông Ty hoc la hoạt động nhận thức của người học dudi
sự chi dao của giáo viên, đó cũng chính là quá trình tự đảo tao trong nha trường Sinh viên
tiếp nhận tri thức khoa học với đầu óc phê phán, có thể khăng định, có thể phủ định, hoài nghi khoa học, có thẻ đào sâu hoặc mở rộng Quá trình học đại học là quá trình xây dựng
một tác phong làm việc khoa học cho suốt cả thời gian công tác sau này khi sinh viên ra
trưởng.
Trong xu hướng đổi mới giáo dục số lượng trường, số lượng sinh viên phát triển
không phải là chính yếu, mà chất lượng giáo dục mới là mục tiêu hàng dau, là dau son trên
từng chặng đường, đặt "dau an" cho cá một thé hệ mai sau Điều nay là đặc biệt quan trọng
Trang 8nhất là trong hoàn cảnh hiện nay khi chất lượng giáo dục đang cần được quan tâm đến nhiều
hơn.
O nước ta việc đôi mới và cập nhật chương trình giảng dạy còn là công việc chậmchạp Các nước xung quanh ta như Thái Lan, Malaysia, Singapo đã có nên giáo dục đượcđánh giá là có chất lượng tốt hơn Việt Nam! Nếu chúng ta không mạnh mẽ, nhanh chóng trong việc nâng cao chất lượng của toàn ngảnh giáo dục, mà trước mắt 1a chất lượng sinh
viên khi ra trường thì sẽ ảnh hưởng lâu đải và quyết định tới toàn bộ sự phát triên xã hội nói
chung.
Ví dụ, trường Đại học Califonia trong một năm đã loại ra khỏi chương trình đào tạo
của trường này 5000 môn học, tất nhiên phải có số lượng môn học mới tương đương đưavào thay thé Dé làm được việc nảy, họ đã sử dụng rất nhiều kết qua các dé tài nghiên cứu khoa học, ở nhiều lĩnh vực khác nhau: khoa học cơ bản, khoa học xã hội Ngoài nội dung đào tạo luôn đôi mới tập nhật, sinh viên của họ được rẻn luyện những kĩ năng đảm bảo khi
ra trường không phải học thêm (hoặc rất ít) bất cứ cái gì mà van thích ứng được với thịtrường lao động phát triển ngày càng nhiều và đa đạng.[Báo Tudi Trẻ 07/08/03].
Với cơ chế thị trường, chắc chăn sinh viên của chúng ta sẽ có những chuyền biến về
mục đích, động cơ học tập và tự bản thân sinh viên phải có ý thức tự giác, tích cực học hỏi
trong nhà trường dé thành đạt trong cuộc sông Phan đấu trong học tập là con đường tốt nhất
dé mỗi sinh viên đạt tới vị trí xã hội xứng đáng với năng lực của họ Trước những đòi hoi
như vậy, nhà trường phải thay đổi nhiều về nội dung, phương pháp đào tạo dé có những sản
pham ngảy càng tốt hơn cung cấp cho thị trường lao động, đáp ứng sự phát trién xã hội Van
dé này không chỉ riêng đối với các trường đại học nói chung, mà đặc biệt có tầm quan trọngđối với đại học sư phạm nói riêng vì sản phẩm cua trường là những thầy giáo tương lai - anh
hưởng dén cả một thê hệ giáo dục của dat nước.
Trong thời đại ngày nay, thời đại phát triển siêu tốc của khoa học - công nghệ va cạnhtranh quyết liệt trong môi trường toàn cầu hóa, chất lượng sản phẩm trở thành yêu cầu sốngcòn của bat kì lĩnh vực nào Khoa học quản lí nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sảnphẩm ngày cảng trở nên có ý nghĩa, trở thành môi quan tâm hàng đầu của các quốc gia.Hiện nay việc áp dụng quản lý chất lượng trong giáo dục va dao tao đang là xu thế mới củanên giáo đục tiên tiền.
Trang 9Nghị quyết TW2 (khóa VIHI) đã chỉ rõ: "Giáo dục đào tạo nước ta còn nhiều yếu kém,
bất cập cả về qui mô, cơ cau, chất lượng và hiệu qua; chưa đáp ứng được những đòi hỏi lớn
và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đôi mới kinh tế, xã hội, xây dựng và báo vệ Tô
quốc, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa".
Một trong những nguyên nhân đã được chỉ ra là: “Công tác quản lí giáo dục đào tạo có
những mặt yeu kém" (26, 27]
Nhiều ý kiến đánh giá công tác quản lí chất lượng giáo dục đảo tạo ở nước ta chưathực sự được quan lâm đúng mức Van dé quản lí như thé nào dé nâng cao chất lượng giáodục đảo tạo nói chung và chất lượng đảo tạo của sinh viên ngành sư phạm nói riêng đang trở thành một đòi hỏi bức thiết Vì thế việc đôi mới phương pháp dạy ở đại học theo hướng pháthuy vai trò của người học là một nhu cầu cấp bách hơn bao giờ hết
Theo số liệu bộ kế hoạch và đầu tư, chỉ số chất lượng giáo dục nước ta ở mức thấp là3,79 So với Han Quốc là 6,91; Trung Quốc là 5,73 và Thái Lan là 4,04 Đứng thứ 11 trongtông số 12 nước, đứng sau cả một số nước trong khu vực như: Mahiysia, Philippin, ThaiLan Một chuyên gia giáo dục quốc tế nói: " Việt Nam muốn phát triển nhanh thì phải học
lai cách học, cách day theo hướng tích cực, chủ động và sang tạo từ người học va người day [Báo SGGP 06/10/2003]
Luật giáo dục đã xác định 4 định hướng đổi mới phương pháp day học là: phát huytính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học: rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động tinh cảm tâm lý dem lại niềm vui,
hứng tha học tập.[26]
Nghị quyết TW2 (khoa VIII) cũng đã chỉ rõ: "Đôi mới mạnh mẽ phương pháp giáodục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, ròn luyện thanh nếp tư duy sáng tạo củangười hoc, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiễn và phương tiện hiện đại vào quátrình day học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là
sinh viên đại học "[26]
Ngày 20/04/1999 Bộ trưởng Bộ giáo dục - đào tạo đã ra chỉ thị số 15 về việc day mạnh hoạt động đôi mới phương pháp giảng day va học tập trong các trường sư phạm Trong đó
nhân mạnh:
Trang 10« Giáo viên các trường sư phạm cần đưa hoạt động đổi mới nội dung, phương phápgiảng dạy, học tập trở thành công việc thường xuyên và coi đó là một tiêu chuân đánh giá
cán bộ.
* Đối với sinh viên: có ý thức xây dựng thói quen tự hoc, tự nghiên cứu giáo trình, tàiliệu, gắn lí thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, biến quá trình
dao tạo thanh quá trình tự đào tao.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Rabubin, Makiguchi, Nguyễn Cảnh Toàn,
Nguyễn Kỳ, Hà Thế Ngữ đã khẳng định : tự học là một yêu cầu tat yếu khách quan đối với
quá trình đảo tạo - học tập ở trường đại học nhất là các trường sư phạm [12,17, 23, 25]
Trên thực tế, vấn dé tự học của sinh viên ở các trường đại học nói chung và sinh viên
sư phạm nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Đa số sinh viên hiện nay không tích cực đọc sách, tìm kiếm tri thức mới mà thụ động trông chờ vào bài giảng trên lớp, điều này không pha hợp với bản chat dạy - học ở đại học Có nhiều nguyên nhân để lí giải thực trạngnày, trong đó lí do cơ bản là sinh viên chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của tự học, chưa
được trang bị kĩ năng tự học Vì vậy, trong quá trình dạy học ở trường đại học sư phạm,
muốn nâng cao chất lượng vả hiệu quả tự học cho sinh viên, ngoài việc chú trọng cải thiệncác điều kiện học tập (tài liệu, trang thiết bị, hệ thong phòng lab ) thì quyết định hơn cả làphải nâng cao năng lực tự học, đặc biệt là hệ thông các kĩ năng tự học Việc tìm những biệnpháp nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên sư phạm có ¥ nghĩa lớn về mặt lí luận va
thực tiễn, không những nâng cao hiệu quá dạy học và đào tạo ở trường mà còn rèn luyện
cho sinh viên có đủ năng lực học tập lâu dai, suốt đời.
Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi tạo ra được năng lựcsáng tạo của người học, khi biển được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Luậtgiáo dục ghi rõ: "Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng
thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm ứng dung "[26] Như vậy, phương pháp day
và học ở các trường đại học, cũng như 6 trường sư phạm cần thực hiện theo ba định hướng
trong đó quan trọng nhất là bồi dưỡng năng lực tự học, tự đảo tạo
Từ những phân tích trên, chúng tôi chọn đẻ tài: "MỘT SÓ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHAT LƯỢNG HOAT ĐỘNG TỰ HỌC CUA SINH VIÊN KHOA LÝ TRUONG DAIHỌC SU PHAM TPHCM TRONG QUÁ TRÌNH GIANG DẠY MÔN CƠ ĐẠI CƯƠNG",
Trang 11với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng được những
yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2-Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học của sinh viên năm thứ I
khoa Lý trường Đại học sư phạm TP HCM trong quá trình giảng dạy môn cơ đại cương.
3-Khách thé nghiên cứu:
Quá trình dạy học môn cơ học đại cương cho sinh viên năm thứ | khoa Lý trường Đại
học sư phạm TPHCM.
4-Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động tự học của sinh viên năm thứ I khoa Lý trong quá trình học tập môn cơ học đại cương.
5-Gia thuyết khoa học:
Chất lượng tự học của sinh viên năm thứ I khoa Lý được nâng cao nếu thực hiện đồng
bộ, khoa học việc giáo dục động cơ học tập với việc bôi dưỡng kĩ năng tự học tô chức cho
sinh viên thực hiện độc lập các bài tập lý thuyết và thực hành đa dang, cải tiền quá trình dạy
học theo hướng day - tự học.
6-Nhiệm vụ của đề tài:
\›Tìm hiểu cơ sở lí luận của hoạt động tự học vả khảo sát thực trạng hoạt động tự học
của sinh viên năm thứ I khoa Lý trường Đại học sư phạm TPHCM.
% Dé xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên năm thứ i khoa
Lý trường Dại học sư phạm TPHCM.
T-Một số quan điểm phương pháp luận:
Ÿ Hoạt động tự học là một bộ phận không thé tách rời quá trình dạy học ở đại học Nó
có tam quan trọng đặc biệt, trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu qua của quá trình đảo tạo.
%Hoat động tự học của sinh viên đại học sư phạm phan ánh sự nỗ lực, tự vận động
của cá nhân nhưng không tách khỏi hoạt động dạy vả vai trò chỉ đạo của giáo viên Ngoài
học tri thức, sinh viên sư phạm phải học nhân cách làm người thay tương lai.
Trang 12\ Trong quá trình tự học, sinh viên phải có động cơ học tập đúng đắn và nắm vững các
kĩ năng tự học dé hình thành và phát trién năng lực tự học.
8- Phương pháp nghiên cứu:
a)Phwong pháp nghiên cứu lí luận:
Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích tông hợp phân loại, hệ thông hóa, kháiquát hóa trong các tai liệu liên quan gồm :
- Các văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam vẻ lĩnh vực giáo dục.
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lénin và tư tưởng Hồ Chí Minh liênquan tới đề tải
- Các công trình nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học và khoa học íiiáo dục của các
lac gia trong và ngoài nước.
b)Phương pháp điều tra :
- Đổi tượng điều tra: sinh viên khoa Lý, Hóa, Toán đại học sư phạm TPHCM va một
SỐ giáo viên trong trường.
- Noi dung điều tra:
Xây dựng và sử dụng 02 mẫu phiếu trưng cau ý kiến trên sinh viên và giáo viên nhằmtìm hiểu nhận thức về :
+Ý nghĩa, tầm quan trọng của tự học
+ Các yêu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học
+ Động cơ tự học của sinh viên sư phạm.
+ Mức độ thực hiện các hành động tự học.
+ Mức độ cần thiết của các kĩ năng tự học.
c)Phwong pháp quan sát phòng van:
- Tiền hành quan sát giờ tự học trong qui định và ngoài giờ qui định của sinh viên.
- Trao đôi tọa dam với sinh viên và giáo viên về kinh nghiệm ty học
- Dùng các phương pháp thông kê toán học đề xử lí số liệu
Trang 13d) Phương pháp thực nghiệm:
- Mục đích thực nghiệm: kiểm tra giả thuyết của lí luận.
- Nội dung thực nghiệm: tô chức một số hình thức tự học cho sinh viên Lý I theo
hướng day - tự học.
- Quy trình thực nghiệm:
+ Chọn lớp đối chứng và thực nghiệm
+ Xác định thực trạng ban đầu của sinh viên trước khi tác động
+ Soạn các tai liệu thực nghiệm.
+ Tiền hành tác động sư phạm ở lớp thực nghiệm.
+ Kiểm tra, đánh giá.
+ Xử lí số liệu và phân tích kết quả.
Câu trúc luận án bao gôm phan mở đâu, 4 chương, kết luận của luận án, phân danh
mục tải liệu tham khảo va các phụ lục Bốn chương của luận án là:
Chương 1 : Cơ sở li luận về hoạt động tự học.
Chương 2 : Thực trạng tự học của sinh viên Đại học sự phạm TPHCM.
Chương 3 :Một sé biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên nam I khoa Lý
Đại học sư phạm TPHCM trong quá trình giảng dạy môn cơ đại cương.
Chương 4 : Thực nghiệm sư phạm.
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CUA SINH
VIÊN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học.
1.1.1 Vài nét về lich sử vấn đề tự học thời kỳ cận đại
Ngay từ thời kì cô đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc cũng đã nhận thấy vai trò quan trọng
của tự học.
+ Không Tử (551 -479 TCN) đã quan tâm tới việc kĩch thích sự suy nghĩ của học trò khi dạy học Ông nói "Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vikhông rõ thì không bày vẽ cho Vật có bốn gốc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba
góc kia thì không dạy cho nữa "[Luan ngữ]
+ Socrate (469 - 391 TCN) đã dé ra phương pháp tìm tòi phát hiện ra chân lý bằng
cách đặt câu hỏi cho người học trò tự tìm ra kết luận
Sang thời kì cận đại van dé tự học được quan tâm nhiều hơn nhưng do nhiều yếu tổkinh tế, chính trị, xã hội và khoa học kĩ thuật mà một thời gian dai, việc tự học chủ yeu vangiới han trong sự ghi nhớ lời thay, lay đó làm mục tiêu cuối cùng của việc học.
+ Nhà sư phạm vi đại Tiệp Khắc J.A.Comexki (1592 -1670) ông tỏ của nền sư phạmcận đại người đặt nên móng cho sự ra đời và phát trién của giáo dục đã khang dinh:"Khéng
có khát vọng học tập thì không thẻ trở thành tài năng" [9] Nhiều tac gia đã nghiên cứu tựhọc dưới nhiều góc độ khác nhau, đã có nhiều tư tưởng, nhiều công trình nghiên cứu khoa
học vẻ van dé tự học [4, 13]
+ Vào thé kỷ thứ VIII - XIX, các nhà giáo dục lỗi lạc như Rutxo (1712 -1778),
Pestalôgi (1746- 1827), Dixtecvec (1790- 1866), Usimxki (1824-1890), trong khi quan tâm
tới sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của học sinh đã nhân mạnh cáchlàm cho người học giành lay tri thức bằng con đường tự khám phá tìm tòi Điều đó bat buộcngười học độc lập suy nghĩ, tìm kiếm tri thức [6]
+ Dixtecvec (1790 - 1866) nhắn mạnh: "Người thầy giáo tôi truyền đại chân lý, người
thay giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý Giáo viên không chỉ truyền thụ tri thức có sẵn, màcòn định hướng tô chức cho học sinh tự mình khám phá ra tri thức mới”.[4]
Trang 15Các nước Tây Âu và Mỹ sau chiến tranh thế giới lần 2 đã quan tâm tìm kiếm phươngpháp giáo dục mới J.Deway (1859 - 1925) nha sư phạm Mỹ nỗi tiếng dau the ky XX yêucau bé sung vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảngcủa giáo viên, dé cao hoạt động của học sinh đặc biệt 1a hoạt động thực tiền J.Deway đề
xướng: “Hoc sinh là mặt trời, xung quanh nó qui tụ mọi phương tiện giáo dục”.[26]
+ Dựa trên nên tảng của chủ nghĩa duy vật biến chứng, nhiều nhà giáo dục ở các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ), không những khang định vai trò to lon của hoạt động tự học như
Barunup, Retzke, Ilina, Rubakin, Smilman, Lubixưna mà còn quan tâm tới nhiều khía
cạnh tô chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học Các tác giả nhắn mạnh: Giáo dụcđộng cơ hoạt động đúng đắn là điều kiện cơ ban dé học sinh tích cực, chủ động trong tự học
[8, 21, 22, 26]
1.1.2 Vấn đề tự học trong giai đoạn hiện đại
Các nhà giáo dục hiện đại đã di sâu vào nghiên cứu khoa học giáo duc va đã khăng
định vai trò to lớn của hoạt động tự học.
+ Makiguchi - nhà sư phạm nỗi tiếng của Nhật trong những năm 30 của thé kỷ XX chorằng: Giáo dục la qua trình hướng dan tự học mà động lực của nó là kich thích người họcsáng tạo ra giá trị dé đạt tới hạnh phúc cho bản thân và cho cộng đồng [ 16]
+ Năm 1986, hai nhà giáo dục Án Độ là S.D.Sharman và Shakti Ahmed đã có tác phâm "Phương pháp đạy học ở đại học" Trong đó trình bày hoạt động tự học là một hình
thức day - học có hiệu qua cao Thông qua thực hiện các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế,
đề hoàn thành mục đích nhiệm vụ đã xác định Đó là quá trình điều khiên hoạt động tự học
R oA a ’ fh
của sinh viên một cach gián tiếp [16]
+ Gần đây, tiên sĩ R.R.Singh (Ân Ðộ) đưa ra quan niệm về "Quá trình nhận biết học dạy" Tác gia cho rằng người học phải là những người tham gia tích cực vào quá trình nhậnbiết - học - dạy Ông nhắn mạnh: người học là lực lượng tích cực, là lực lượng chủ đạo
-trong quá trình học kiến thức và việc họ tự khai thắc được các tiêm nang của bản than -trong
quá trình học là điểm chủ yếu cho định hướng giáo dục Tuy nhiên tác giả vẫn khang định :giáo viên giữ vai trỏ quyết định trong quá trình nhận biết - học - dạy.{ 18]
+ Các nhà giáo dục học Việt Nam như Nguyễn Cảnh Toàn [23, 24], Phan Trọng Luận
[26], Nguyễn Kỳ [12], Hà Thế Ngữ [17], Đặng Vũ Hoạt [9], khi nghiên cứu hoạt động
Trang 16đôi mới dạy học theo hướng "Lấy người học làm trung tam", đã coi tự học như một chiakhóa vàng của Giáo dục Việt Nam trong thời đại bùng nô thông tin Các tác giả cho rằng: trả lại vị trí vốn có của người học là phát huy nội lực của người học đưới sự điều khiển định hướng của giáo viên Các tác giả khang định : "Tự hoc lả tự minh động não, suy nghĩ, sử
dụng năng lực trí tuệ và các phẩm chất đạo đức dé chiếm lĩnh một lãnh vực tri thức nào đó
của nhân loại, biến những tri thức của nhân loại thành những trí thức của chính minh."[9]
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những tác phẩm va những bài nói chuyện của Người, nhất
là trong lĩnh vực giáo dục đã đẻ cập rat sâu sắc vẻ van dé học tập và tự học của học sinh, củangười cán bộ cách mạng Chính cuộc đời và sự nghiệp của Người là tam gương sáng ngời của ý chí, quyết tâm trong học tập và rèn luyện trong gian lao dé đạt tới đỉnh cao của tàinăng và đạo đức Bác Hồ đã động viên toàn dân: "Phải tự nguyện, tự giác xem công việchọc tập là nhiệm vụ của người cách mang, phải cỗ gắng hoàn thành cho được, do đó mà tíchcực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập."{7]
Như vay, vấn đề tự học của người học trong lịch sử nghiên cứu đã được các nhà giáodục trong và ngoài nước đè cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau Các tác giả nhắn mạnh vaitrò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong hoạt động học tập của người học Đề nâng cao chất lượng, hiệu quả tự học của sinh viên, các tác giả cũng đã xác định: sinh viên có động
cơ học tập vả tự học mạnh mẽ, có kĩ năng tự học hợp lý là điều kiện cơ bản đảm báo hoạtđộng tự học có hiệu quả Đặc biệt, các tác giả quan tâm tới việc thiết kế và tô chức thực hiện
hệ thông bài lập nhận thức, bài tập tự nghiên cứu, thông qua đó đề hoàn thành nhiệm vụ học
tập của sinh viên Tự học là hình thức dạy học ở đại học, là hoạt động nhận thức của người
học dưới sự chỉ đạo của giáo viên, là quá trình tự đào tạo ngoài quá trình dạy học ở nha
trường Dé là những cơ sở quý báu dé chúng ta tiếp thu chọn lọc và vận dựng vao thực tiễn
dạy học hiện nay.
1.2 Cơ sở lí luận về hoạt động tự học của sinh viên
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm tự học của sinh viên.
Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩxảo của chính bản thân người học, nhằm hướng tới những mục đích nhất định Trong quá
trình đó, người học thực sự làm chủ thé của nhận thức, nd lực huy động các chức năng tâm
lý tiền hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu
Trang 17Tự học là một hình thức tô chức day học ở đại học Đây là dang tô chức nhận thức của
cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo do bản thân người học tiến hành ở
trên lớp hoặc ở ngoai lớp theo hay không theo chương trình mà sách giáo khoa qui định Khi
người học tích cực, tự giác phát huy hết những phẩm chất va năng lực của mình vào quátrình chiếm lĩnh tri thức thì khi đó họ tiền hành tự học.
Các nhà tâm lý học cho rang: tự học là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội về hoạt động lí luận và thực tiến của cá nhân, bằng cách thiết lập các quan hệ mới, cải tiễn kinhnghiệm ban dau, đối chiếu các mô hình phán ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loàingười thành vốn tri thức, kĩ nang, kĩ xảo của ban thân chủ thẻ.
Việc tự học của sinh viên đòi hỏi tính độc lập, tự chủ rất cao, sinh viên phải biết vậndụng các quá trình tâm lý vào điều khiến một cách có ý thức, có lí trí trong công việc học
Hoạt động tự học của sinh viên có phạm vi rat rộng, được dién ra đưới nhiều hình thức
và mức độ khác nhau như sau:
Mức 1: Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra dưới sự điều khién trực tiếp của giáo
viên và những phương tiện kĩ thuật ở trên lớp Trong hoàn cảnh này, sinh viên phải tự phát
huy những pham chất và những năng lực của mình như khả nang chú ý, óc phân tích, năng
lực khái quát hóa, tông hợp hóa dé tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà giáo viên
định hướng cho.
Mức 2: Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra khi không cỏ sự điều khién trực tiếpcủa giáo viên Sinh viên phải tự sắp xếp quỳ thời gian và điều kiện vật chất dé tự lĩnh hội,
ôn tập tự củng có, đảo sâu những tri thức hoặc tự rén luyện những ki năng, kĩ xảo ở một
lĩnh vực nào đó theo những yêu cầu trong chương trình đào tạo của nhà trường.
Mức 3 : Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra khi không có sự diéu khiên trực tiếpcủa giáo viên, không nằm trong chương trình đào tạo của nhà trường Sinh viên tự tìm hiểutri thức đỗ tự thoả man những nhu cầu hiểu biết của mình Ở đây sinh viên phải tự tim tài
Trang 18liệu, tự đọc lấy mà hiểu kiến thức trong sách, qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư
duy, tự phê bình vẻ tính cách (thiểu kiên tri, dé thỏa mãn, ) Đó là tự học ở mức cao nhất
Như vậy, mức độ khó khăn đỗi với người học tăng dần từ mức độ 1 đến mức độ 3 Song về bản chất, hoạt động tự học là hoạt động nhận thức độc lập tích cực, tự giác củasinh viên Hoạt động tự học của sinh viên có tầm quan trọng đặc biệt Nó trực tiếp quyếtđịnh chất lượng, hiệu qua học tập, góp phần quyết định chat lượng, hiệu quả đảo tạo của nha trường đại học Mọi sự tác động của giáo viên về nội dung, phương pháp, hình thức tô chức day học cũng phải thông qua sự nỗ lực hoạt động của mỗi sinh viên mới có hiệu qua.Nghia là sinh viên phải biến yêu cầu khách quan thành nhu cau phát trién chủ quan của bản
thân mình.
Sinh viên không chi là đối tượng tác động của giáo viên ma còn là chủ thé tích cực sáng tạo trong quá trình đạy học, thê hiện quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu ở đại học Họ không chấp nhận chân lý một cách thụ động, áp đặt, có ý thức tự mình giải quyết
các mâu thuẫn bên trong giữa một bên là nhu cầu hiểu biết ngày càng cao, khối lượng
nhiệm vụ học tập ngày càng lớn và một bên là điều kiện, năng lực học lập, thời gian tựhọc con hạn chế Day là điều khác vé bản chat so với hoạt động học tập ở phô thông
Mau thuẫn liên tục nay sinh, liên tục được giải quyết bởi chính bản thân sự nỗ lực của
sinh viên, làm cho tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và toàn bộ nhân cách của họ vận động và phát
trién từ thấp đến cao Nhờ vậy, sinh viên thích ứng nhanh với thực tiễn đời sông xã hội với
nghé nghiệp, phát triển mọi nhu cầu hing thú, đồng thời phát triển hệ thong phương pháp tự
hoc, tự nang cao của minh.
Do mục đích và phạm vi của đề lài, chúng tôi chỉ xem xét hoạt động tự học của sinh
viên 6 mức độ 1 và 2, tức là hoạt động tự học cúa sinh viên dưới sự điều khiển trực tiếp
hoặc gián tiếp của giáo viên Sự tô chức, điều khién của giáo viên được tiền hành thông qua việc giao cho sinh viên thực hiện các nhiệm vụ học tập và giải quyết các bai tập nhận thức.
Như vậy hoạt động tự học mà chúng tôi xét ở đây không tách rời vai trò chủ đạo của giáo
viên.
1.2.2 Modi quan hệ thay - trò trong quá trình tự học của sinh viên
Quá trình dạy học ở đại học luôn vận động, phát triển và tuân thủ những qui luật nhất
định Trong hệ thống qui luật đó thì hoạt động dạy và hoạt động học phải thông nhất biện
chứng với nhau, là qui luật cơ bản của quá trình dạy học Vì vậy cũng như hoạt động học
Trang 19nói chung, hoạt động tự học của sinh viên có môi quan hệ biện chứng và thống nhất với hoạtđộng của giáo viên tức là không tách khỏi vai trò chỉ đạo của người thay.
Sự tác động qua lại, gắn bó chặt chẽ với nhau giữa hoạt động học của sinh viên và hoạtđộng dạy của giáo viên sẽ quyết định sự tổn tại va vận hành của qua trình day học Mặc dùhoạt động tự học chủ yếu thuộc về vai trò tự giác, tích cực, độc lập của sinh viên, nhưng vaitrò định hướng, tô chức điều khiên va quan lý, kiểm tra, đánh giá của giáo viên cũng trựctiếp quyết định đến kết quả tự học của người học
Giáo viên có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi dé sinh viên hoàn thành nhiệm vụ tự họcđồng thời thường xuyên theo déi kiêm tra, đánh giá kết quả tự học, từ đỏ điều chỉnh quátrình nhận thức của họ và điều chỉnh quá trình giảng dạy của chính giáo viên Vai trò chỉđạo của giáo viên đôi với hoạt động tự học của sinh viên không giống như khi trực tiếp tiền
hành các hình thức dạy học khác (diễn giảng, xêmina, thực hành thực tập ) mà là sự chỉ
đạo gián tiếp thông qua các nhiệm vụ tự học giao cho sinh viên,
Giáo viên không hoản toàn phó mặc cho sinh viên, cũng không làm thay cho sinh viên
trong hoạt động tự học của họ, mà là tổ chức và điều khiến gián tiếp Vì vậy giáo viên phảibiết đặt ra cho sinh viên những mục tiêu vừa sức, bảo đảm cho sự trưởng thành và tự nhậnbiết về mức độ tiễn bộ của họ Làm như vậy là giáo viên đã kĩch thích cho sinh viên nảy
sinh hứng thú tự học, phát triển mọi năng lực làm chủ hoàn toàn hoạt động nhận thức của
mình Giáo viên không còn là "ông dẫn thông tin" ma trở thành chất xúc tác của quá trìnhdẫn thông tin.
Đồng thời với vai trò điều khién của minh, giáo viên còn có nhiệm vụ giúp sinh viên
có được những kĩ năng tự học cần thiết để thực biện thành công các hoạt động tự học của
mình Đây không phải là công việc đơn gián trong tô chức hoạt động tự học của sinh viên.
về van dé này, Makiguchi đã gợi ý: "Muôn nắm được cách dạy người khác, bản thân ngườithầy phải tìm ra cách học của chính minh Một khi giáo viên đã tim được cách học hữu hiệu nhất họ sẽ hiểu rằng, đó chính là phương pháp phải dùng dé hướng dẫn người học".[ 16]
Thông qua những hình thức dạy - học cơ bản ở đại học như: diễn giảng, xêmina, thực
hành vả tự học thì vai trò tích cực, chủ động của sinh viên được tăng dần còn vai trò trực
tiếp của giáo viên thì giảm dan đến gián tiếp ở hình thức hoạt đông tự học của sinh viên
Chúng tôii có thé phân tích rõ điều này như sau :
Trang 20+ Khi tiễn hành dién giảng (thuyết trình), giáo viên hoàn toàn chủ động vẻ nội dung,
phương pháp tiền độ va nặng về độc thoại Sinh viên ít có cơ hội tham gia vào tiến trìnhkhám pha tri thức, các tri thức được giáo viên truyền tới sinh viên một cách tuân tự, sinhviên chi cần ghi nhớ, hiểu đúng tư tưởng của giáo viên Giáo viên là chủ thé của budi học.Phương pháp dién giảng ở đại học tiện lợi cho số đông sinh viên đẻ tiết kiệm thời gian, taođược cảm hứng và rất kinh tế, nhưng dưới góc độ lưu trừ thông tin thì phương pháp này cókết qua rất thấp, người học chi giữ được 5% lượng thông tin.[16, 25]
+ Khi tiến hành budi học xemina, vấn đề học tập đã được sinh viên chuẩn bị trước vàđược đưa ra trao đôi, tranh luận trước nhỏm, trước tập thé lớp dưới sự điều khién trực tiếpcủa giáo viên Sinh viên có điều kiện dé phát huy sáng kiến, tự trình bay quan điểm củaminh, tức là họ đã chủ động trong nhận thức Nhưng các van dé tranh luận có giới hạn, theo
kế hoạch và tiến độ của giáo viên, và thường giáo viên sẽ là người đưa ra kết luận cuốicùng Ở đây, sinh viên không có điều kiện lĩnh hội tri thức theo cách riêng của mình Tri
thức khoa học trong xemina được sinh viên cing nhau khám phá nhưng vẫn phải hướng vào làm rõ nội dung bài giảng của giáo viên Như vậy, ở hình thức này, sinh viên đã hoạt động
tích cực hơn, giáo viên không còn độc thoại, áp đặt như trong bài giảng.
Theo thông kê thì khi áp dụng phương pháp này người học lưu trữ được 50% lượng
thông trn.[16, 25]
+ Ở mức độ thực hành, sinh viên vận dung tri thức dưới sự chỉ đạo trực liếp của giáoviên, làm chủ và tự điều khiển hoạt động học tập của mình Ở đây, nội dung bài học van do giáo viên xác định và điều khién Giáo viên không phải dan dắt sinh viên từng bước, nhưng
vẫn có nhiệm vụ hướng dẫn sinh viên đi theo trình tự, nội dung và cách thức đã chuẩn bị
trước Tri thức khoa học trong buôi học chứa đựng ở đối tượng nhưng là đối tượng được
giáo viên lựa chọn và chuan bị Khi sử dụng phương pháp thực hành, người học luôn lưu trữ
được 75% lượng thông tín.[16, 25]
+ Đối với hình thức tự học: sinh viên hoản toàn chú động cá về nội dung, phươngpháp, kế hoạch và tiến độ thực hiện các hành động Giáo viên giao nhiệm vụ nhận thức chosinh viên thực hiện Tri thức khoa học của sinh viên cần lĩnh hội trong tự học không chỉ năm
ở nhiệm vụ tự học được giao mả còn có nhiều đạng phong phú khác, gắn liên với hoạt động
tương lai của sinh viên Ở hoạt động tự học, vai trò giáo viên cảng mờ nhạt, vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên càng rõ rệt hơn, đối tượng nhận thức độc lap, ngày cảng gắn liền
Trang 21với thực tiễn Sinh viên có kha năng diễn đạt, trình bày lại những tri thức đã lĩnh hội được.
Độ lưu trữ thông tin ở người học khi áp dụng hình thức nay đạt 90% [16, 25]
1.2.3 Vai trò của động cơ trong quá trình tự học.
Hoạt động nào của con người cũng đều có mục đích, và được thúc đây bởi động cơ củahoạt động Động cơ hoạt động chính là nguyên nhân trực tiếp, duy trì hứng thú, khát vọng,giúp chủ thẻ vượt qua mọi khó khăn dé đạt tới mục đích đã định Do vậy, động cơ hoạt động
sẽ quyết định kết quả của hoạt động.
Hoạt động học tập nói chung và hoạt động tự học nói riêng của sinh viên có hệ thông
động cơ phong phủ, đa dạng Trong tự học, động cơ hoạt động có nhiều cấp độ khác nhau, bắt dau tir sự thỏa mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khang định mình, giànhkết quả cao trong học tập, khát vọng nắm vững tri thức, không bằng lòng với kiến thức đã
có
Giáo sư Phạm Minh Hạc viết: "Động cơ tâm lý không phải là cái thuần tuy tỉnh thần ởbên trong cá thê Nó phải được vật thê hóa (hiện than, bám vào) ở đối tượng của hoạt động.Điều đó có nghĩa là động cơ phải có một hình thức tn tại vật chất, hiện thực ở bên ngoài Với ý nghĩa đó, đối tượng của hoạt động chính là nơi hiện thân của động cơ hoạt độngấy."(17]
Động cơ tự học của sinh viên được hình thành dân trong quá trình họ đi sâu vào chiếmlĩnh đối tượng học tập Trong quá trình tự học, chính nội dung tri thức khoa học làm nảy
sinh trong sinh viên lòng khao khát hiếu biết, ham muốn và say mê nghiên cứu, thỏa mãn
nhu câu hiệu biết của mình.
Rõ ràng, động cơ hoạt động tự học không có sẵn, không thé áp đặt từ bên ngoài ma
phải được hình thành dan chính trong quá trình chiếm lĩnh đối tượng học của sinh viên
Trước hết, động cơ tự học phải được cụ thê hóa thành những nhiệm vụ tự học Thông qua các hành động tự học dé hoàn thành những nhiệm vụ đó Dan dan làm nay sinh ở sinh viên lòng khao khát hiéu biết sâu sắc, ham muốn và say mê tự nghiên cứu, càng đi sâu vào khám phá chiếm lĩnh đối tượng học tập và tri thức khoa học Động cơ tự học cũng nâng dần
từ cấp độ thấp lên cấp độ cao hơn, điều này sẽ thúc day ngày cảng mạnh mẽ tính tích cực
nhận thức của sinh viên trong tự học.
Trang 22Tóm lại, động cơ tự học của sinh viên quyết định kết quả tự học của họ trong quá trình
dao tạo Mục đích có nghề nghiệp bền vững khi ra trường chính là cơ sở phát trién động cơ
tự học của sinh viên Kết qua hoạt động tự học sẽ tác động cụ thé vào kết quả học tập của
sinh viên Đặc biệt đối với sinh viên sư phạm, động cơ hoạt động tự học của sinh viên cònảnh hưởng tới sự hình thành phẩm chất nhân cách của người thay giáo tương lai
1.2.4 Ki năng tự học.
© Về khái niệm kĩ năng: các nhà giáo dục học đã coi kĩ năng học tập của sinh viên là một loại kĩ năng chuyên biệt của hệ thống các kĩ năng sư phạm và được sử dụng đề lĩnh hộitri thức, phát triển trí tuệ trong quá trình học lập Khái niệm kĩ năng còn lả van dé có nhiều ý
kiến khác nhau, nhưng tựu chung chia làm hai nhóm :
+ Nhóm I: xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kĩ thuật hành động, coi kĩ năng là mộtphương tiện thực hiện hành động Người có kĩ măng là người nắm được tri thức về hànhđộng va thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không tính đến kết quả của hành
động.
+ Nhém 2: xem xét kĩ năng nghiêng vé năng lực con người, coi kĩ năng là năng lực
thực hiện một công việc, tạo ra kết quả trong điều kiện cụ thể Quan niệm này chú ý tới kết
quả của hành động.
Các ý kiến trên không mâu thuẫn với nhau Đó chỉ là các quan niệm khác nhau về kĩnăng: các tác giả đưa ra khái niệm: "Kĩ nang là khả năng thực hiện có kết quả một hanh
động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động với
những điều kiện cho phép Kĩ năng thé hiện trình độ các thao tác tư duy, năng lực hành
động và kĩ thuật của hành động".[22, 25]
Thực hiện hành động tự học, sinh viên không sao chép máy móc mà họ luôn có hành
động tự khám phá, vận dụng một cách linh hoạt, sang tạo những cách học vào từng trường
hợp cụ the- Nguyễn Kỳ đã viết : "Một cấu trúc trí khôn tốt hơn là khối lượng tri thức tíchlũy được" [12] Trong đó "Cấu trúc trí khôn" với nghĩa là phương pháp học hay cách học
mà kĩ năng tự học là thành phần cơ bản.[11, 14]
* Đặc (trưng của ki nang tự học:
Trang 23Kĩ năng tự học là tô hợp cách thức hành động tự học được người học nắm vững
-biéu hiện ở mặt kĩ thuật của hành động tự học và mặt năng lực tự học của mỗi cá nhân Có
ởi năng tự học là có năng lực tự học ở mức độ nào đó.
Ki năng tự học la yếu t6 mang tính mục đích, luôn hướng tới mục dich của hành động
tự học và có ý nghĩa quyết định đến kết quả tự học
Hệ thông các kĩ năng tự học:
Trong quá trình tự học, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương
pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết Song điều quan trọng là sinh viên phải có hệthông kĩ năng tự học, tương ứng với các hành động tự học như: kĩ năng ghi chép, ki năng
đọc sách, kĩ năng nghiên cứu tài liệu, kĩ năng lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, hệ thống
hóa và khái quát hóa
Hệ thông các kĩ năng tự học có thé chia làm 3 nhóm chính :
Nhóm 1: Nhóm kĩ năng kế hoạch hóa, bao gồm các kĩ năng: xác định mục tiêu, nộidung và trình tự các công việc can làm, lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch kĩ năng phân
phối thời gian hợp lý cho từng công việc.
Nhóm 2: Nhóm kĩ năng thực hiện kế hoạch, bao gồm các kĩ năng đọc sách, đọc tài
liệu, ghi chép, kĩ năng giải bài tập nhận thức Trong đó đặc biệt quan trọng là kĩ năng hệ
thông hóa và khái quát hóa.
Nhóm 3: Nhóm các kĩ năng kiêm tra đánh giá Bao gồm các kĩ năng xác định nội dungkiểm tra, đánh giá, xây dựng chuẩn mực kiểm tra, đánh giá, chọn cách thức thực hiện, sosánh đối chiếu
*Vai trò của kĩ nẵng tự học :
Trong quá trình học tập, kĩ năng bao giờ cũng mang tính khái quát và được sinh viên
sử dụng một cách linh hoạt sáng tạo trong các tình huéng khác nhau Hệ thông kĩ năng tự học hình thảnh trên cơ sở tri thức vả những thói quen đã được luyện tập một cách nhuần nhuyễn, có mục đích Nói khác đi ki nang chỉ được hình thành trên cơ sở hệ thống các tri thức tương ứng với nó, trong điều kiện được rèn luyện thường xuyên.
Hoạt động tự học của sinh viên không chỉ hướng vao việc tiếp thụ những tri thức, kĩnăng, kĩ xảo mới tương ứng mà còn hướng vào việc tiếp thu những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác tiếp thu được cá phương pháp giành trí thức đó Hoạt động tự
Trang 24học của sinh viên được tiễn hành bởi các hành động tự học nhằm giải quyết một nhiệm vụ
cụ thé trong những điều kiện cụ thé Hành động tự học của sinh viên được thực hiện bằng hệ
thông các thao tác trí tuệ (so sánh, phân tích, trừu tượng hóa, khái quát hóa ), tuy thuộc vào
những mục đích, điều kiện tri thức, kĩ năng ma sinh viên đã có Những thao tác trí tuệ tham
gia thực hiện những hành động này chính là những hành động được tô chức lại và trở thành
phương thức chiếm lĩnh, hoàn thành các nhiệm vụ tự học khác Nhờ những kĩ năng nảy màsinh viên không thụ động, tư duy theo dẫn dắt trực tiếp của giáo viên, không sao chép nhữngkết luận, những khái niệm, những định luật, định lí mà họ chiếm lĩnh chúng bằng các hoạt
động tự khám phá theo phương thức riêng của mình Như vậy, trong quá trình tự học, sinh
viên luôn tìm được những cách học phù hợp với điều kiện riêng của mỗi người, vận dụngchúng một cách linh hoạt, sáng tạo trong những trường hợp, điều kiện cụ thẻ.
Thực chất của việc hình thành các kĩ năng trong tự học là hướng dẫn cho sinh viênnắm ving một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm lam biến đổi, sáng tỏ những thông tinchứa đựng trong bai tập trong nhiệm vụ học tập cụ thé Do đó trong hoạt động tự hoc, luôn
đòi hỏi sinh viên tính chủ động, sang tao trong cách học hơn là những trí thức thu lượm
được Các nhà tâm lí học đã khăng định: mục đích của làm chu trí tuệ không phải là biết
nhắc lại hay bảo tồn chân lý đã có, mà phải là học chiếm lĩnh bằng chính bản thân
mình.[ 17,25]
Như vậy, dé tự học đạt chất lượn ø va hiệu qua, sinh viên phải có tri thức và kĩ năng tự học, là điều kiện vật chất bên trong để sinh viên biển động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm cho sinh viên tự tin vào bản thân minh, boi dưỡng và phát triển hứng thi, duy trì tỉnh
tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của họ.
Kết luận của chương 1:
+ Nghiên cứu những đặc điểm về hoạt dong, tự học trong lịch sử giáo dục ở nhatrưởng, cho thấy rằng hoạt động nảy từ lâu đã được quan tâm đến và nghiên cứu theo nhiềuhướng khác nhau Tự học là quá trình tự giác tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình
thành kĩ năng, kĩ xảo của chính bản thân người học Trong quá trình đó, người học thực sự
là chủ thê của nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý, tiền hành hoạt động nhận
thức nhằm đạt mục tiêu đã định Hoạt động tự học của sinh viên được thực hiện ngoài giờ
lên lớp, trong qua trình day học và phải đặt dưới sự chỉ đạo của giáo viên.
Trang 25+ Đặc điểm cơ bản của dạy và học ở trường đại học là tính giao lưu suy nghĩ, giao lưu
nhận thức và trí tuệ sinh động là một cuộc đối thoại đa chiều giữa thầy và trò, giữa trò với
trò, giữa nhận thức cũ và nhận thức mới, giữa cái đã biết và chưa biết, giữa cái khăng định
và hoài nghỉ mà ở đó ai cũng trình bày ý kiến riêng của mình về cùng một van đề trên cơ sở
tự học, tự nghiên cứu trước đó.
+ Dong cơ tự học va kĩ năng tự học la hai yếu to quan trong nhất quyết định chất lượng học tập và chất lượng tự đào tạo của sinh viên, quyết định chất lượng “sản phẩm “khi
ra trường Việc nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên là vấn đề có ýnghĩa lớn trong công cuộc đôi mới phương pháp day -học ở trường đại học hiện nay.
+ Đặc biệt đối với sinh viên sư phạm, vì "sản phẩm" khi ra trường đóng vai trò cực kìquan trọng, là nhân t6 chính tác động đến nên giáo dục của cả một xã hội, có ảnh hưởng tới
cả một thế hệ cho nên việc nâng cao chất lượng dao tao của sinh viên đại học sư phạm làyêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết, mang ý nghĩ sống con Chất lượng của sinh viên đại học
sư phạm khi ra trường là bộ mặt giáo duc, là nền tảng của xã hội trong tương lai Muốn
được vậy thì trường sư phạm phai thực sự là "máy cai", là công nghiệp nặng của ngành giáo
dục.
Trang 26Chương 2: THỰC TRẠNG VE HOAT DONG TỰ HỌC CUA SINH
VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM.
2.1 Khảo sát và phân tích kết quả nhận thức của giáo viên và sinh viên về vấn đề tự
học.
2.1.1 Mục đích khảo sát:
Tìm hiểu về thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Đại học Sư phạm TPHCM đẻ
trên cơ sở đó dé xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh
viên, góp phần nâng cao chất lượng đảo tạo của nhà trường.
2.1.2 Nội dung khảo sát:
Đề biết được thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Dai học Sư phạm TPHCM,chúng tôi tìm hiểu một số nội dung sau:
- Nhận thức của giáo viên, sinh viên về vai trò của hoạt động tự học
- Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tự học.
2.1.3 Phương pháp khảo sát và tiền hành.
Chúng tôi đã tiền hành điều tra trên 300 sinh viên các khoa Toán, Lý, Hóa và 45 giáoviên trường đại học sư phạm bằng cách dùng các phiếu điều tra kết hợp với quan sát và traođỗi trực tiếp Trước khi khảo sát, chúng tôi trực tiếp nap sinh viên, giáo viên để có nhận xét
sơ bộ Từ đó chúng tôi thiết kế 02 mẫu trưng cầu ý kiến: (phan phụ luc.)
- Mẫu khảo sát 01 dành cho giáo viên (KS 01)
- Mẫu khảo sát 02 dành cho sinh viên (KS 02)
Trang 27Sau khi xử lý: 45 phiếu KS 01 và 300 phiéu KS 02, kết hợp với quan sát, chúng tôi thuđược những kết quả sau :
Bang 1: Nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa của tự học.
Ýöshấa câu 6o độ Ý kiến đánh giá
nghĩa của hoạt động tự học.
BC Giúp sinh viên = cố, ghi nhớ kiến thức | 97,2 | 100 |
KHI
Giúp sinh viên rèn luyện thói quen và kĩ năng vận dụng trí
thức vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới.
Giúp sinh viên hình thành tính tích cực, tự giác, độc lập.
vào bản thân mình.
Số liệu bảng 1 cho thay:
- Trên 90% sinh viên nhận thức day đủ về ý nghĩa của tự học đối với kết quả học tậpcủa họ Đặc biệt 93% sinh viên nhận thấy tự học sẽ giúp sinh viên đạt kết quả cao trong các
kì thi hay kiểm tra
- 81,2% sinh viên cho rằng tự học giúp họ có khả năng đánh giá bản thân và tự tin vàominh 79,4%⁄ sinh viên cho rằng tự học giúp họ hình thành né nép lam viéc khoa hoc 61,4%sinh vién nhan thay tự học giúp ho hình thành ki năng tự học
- Các giáo viên và cán bộ quản lý đều đánh giá rat cao vai trỏ của hoạt động tự học:100% giáo viên cho rằng tự học giúp cho sinh viên làm chủ tri thức đã lĩnh hội, rèn luyện kĩnăng vận dụng tri thức vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập, đạt kết quá cao trong kìthi Trên 92% giáo viên khang định tự học giúp sinh viên hình thành nề nếp làm việc khoa
Trang 28học, kĩ năng tự học, thói quen tích cực, tự giác, độc lập, giúp sinh viên tự tín vào bản thân
mình.
- Như vậy, cả sinh viên và giáo viên ở ĐHSP TP HCM đều nhận thấy được vị trí, vaitrỏ, tác dụng to lớn của hoạt động tự học Điều đó không những có ý nghĩa đến việc nângcao chất lượng và hiệu quả của dạy học mà còn có ý nghĩa déi với sự phát triên toàn diện
nhân cách của người giáo sinh khi ra trường trong tương lai.
Bang 2 : Các yếu tố anh hưởng đến hoạt động tự học.
Tài liệu và phương tiện học tập 95,6
Quỹ thời gian tự học 83,2
Giáo viên nghiêm khắc, kiểm tra thường xuyên 77,5Giáo viên giao nhiều nhiệm vụ học tập khả thi 90,8 98,0
Lúóp có phong trào tự học.
Phương pháp và kĩ năng tự học của sinh viên 96,8
92,6
95,7
Chính sách khen thưởng, xử phat nghiêm minh 80,5
Số liệu bảng 2 cho thấy:
- 83,5% giáo viên và 94,8% sinh viên cho rằng hứng thú học tập bộ môn ảnh hưởng
tích cực tới hoạt động tự học Họ coi đó lả yếu tô bên trong thúc đây hoạt động tự học của
sinh viên.
- 98% giáo viên và 90,8% sinh viên nhận thay: trong quá trình day học, giáo viên phải
giao sinh viên nhiều bài tập đa dạng, vừa sức với người học
- 100% giáo viên và 86,5% sinh viên thấy rằng động cơ học tập không đúng đắn ảnh
hưởng tới hoạt động tự học cưa sinh viên.
Trang 29- 91,3% giáo viên và 95,6% sinh viên cho rang điều kiện vat chat, tài liệu và phương
tiện thiêu thôn ảnh hưởng xâu đền tự học của sinh viên.
- 95,7% giáo viên va 96,8% sinh viên cho răng phương pháp va kĩ ning tự học của
sinh viên ảnh hưởng lớn đên hoạt động tự học.
60,3
Nhận thức động cơ ty học
Trang 301- Mong muốn đạt kết quả cao trong kì thi, kiểm tra.
2- Do tò mò khoa học, không bằng lòng với kiến thức đã có.
3- Do yêu thích nghề nghiệp.
4- Do ham học lập, khát vọng chiếm lĩnh kiến thức.
Số liệu bảng 3, 4 cho thấy thực trạng về động cơ tự học của sinh viên :
- Động cơ học tập và tự học của sinh viên có cấu trúc phức tạp, đa dạng phong phú Kết qủa khảo sát cho thấy động cơ tự học của sinh viên phát triển không đồng đều, mạnh
mẽ Có 96,4% sinh viên cho rằng vào thời điểm thi, kiểm tra mới thôi thúc mình tự học, ôn
tập mong đạt kết quả cao Đây là động cơ mang tính hình thức, động cơ "gần" không mang
tính tích cực chiếm lĩnh tri thức.
- 39,7% sinh viên cho rằng hoạt động tự học xuất phát từ sự ham mê học tập, khát
vọng chiếm lĩnh tri thức.
- 35% sinh viên cho rang hoạt động tự học xuất phát từ lòng yêu thích nghề nghiệp.
Thực tế cho thấy nhiều sinh viên khi mới vào năm thứ nhất, đã suy nghĩ theo hướng không có kiểm tra hàng tháng như ở phô thông thì không việc gì phải vội, cứ ghi chép xong
là hoàn thành nhiệm vụ đi học Đến khi thi chờ câu hỏi ôn tập rồi mới bắt đầu học Như vậy
việc học của sinh viên nhằm mục đích đối phó, trả nợ, chỉ cần điểm số tức là bằng cấp không cần tri thức thực tế "thâm" vào người như thế nao.
-Vì việc học chỉ đồn vào kì thi, nên chất lượng thấp, thời gian không đủ để học hết những câu hỏi ôn tập, làm nảy sinh những tiêu cực khi thi Hệ qua là chất lượng tự học kém,
sinh viên ra trường không đủ tri thức đảm đương công việc trong môi trường mới, lâu dài
làm ảnh hưởng đến cả một "thế hệ".
Trang 31Mức độ thực hiện
Bẳng5 : Các hình thức tự học của sinh viên.
Có thực | Không thực |
Các hình thức tự học
Thường xuyên học theo bài giảng trên lớp, thỉnh thoảng
có tham khảo tài liệu.
Trang 323- Thường xuyên kết hợp học theo bài giảng và tài liệu tham khảo.
4- Lập sơ đồ hệ thống hóa, tóm tắt phân loại bài học, bài tập.
5- Đọc giáo trình trước khi học bài mới.
6- Đề xuất thắc mắc, suy nghĩ với giáo viên và bạn.
7- Chỉ thực hiện nhiệm vụ các bài tập theo yêu cầu giáo viên.
8- Tự đề ra và thực hiện các bài tập nhận thức theo yêu cầu cá nhân.
Số liệu bảng 5, 6 cho thấy mức độ thực hiện các hành động tự học của sinh viên.
- Kĩ năng tự học là cách thức, con đường mà sinh viên lựa chọn cho riêng mình trong
quá trình độc lập học lập nhăm hoàn thành nhiệm vụ học tập đề ra Lựa chọn kĩ năng tự họcnhư thé nào dé đạt chất lượng và hiệu qua cao trong tự học phụ thuộc vao tính linh hoạt, sựsáng tạo của mỗi sinh viên.
- 74,4% sinh viên thường xuyên chọn cách học nguyên văn bài giảng 69,6% sinh viên
chỉ làm đầy đủ nhiệm vụ, bài tập do giáo viên yêu cầu Theo chúng tôi đây là cách học truyền thống, phổ biến ở nhiều nhà trường và nhiều môn học khác nhau ở cá học sinh và sinh viên Ưu điểm của cách học này là sinh viên thu được những kiến thức cơ bản, trọng tâm, đã được giáo viên lựa chọn định hướng Tuy nhiên, nhược điểm của cách học này là, làm mắt đi tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên Chất lượng và kết quả trong quá
trình học tập sẽ không cao.
Trang 33Ki năng
Lập kế hoạch tự học.
Tự ghi chép bài trên lớp.
Đọc sách, tài liệu tham khảo.
Ghi chép tài liệu đã đọc (lập dàn ý, trích
Số liệu bảng 7 cho thấy đánh giá mức độ cần thiết cua kĩ năng tự học Có khá nhiều
sinh viên cho rằng mình chưa thé thực hiện được các kĩ năng tự học Phần lớn sinh viên tự đánh giá kĩ năng tự học của mình ở mức thấp:
- 56,8% sinh viên cho rằng không cần thiết phải lập kế hoạch tự học, chỉ có 15,2% cho rằng cần thiết phải lập kế hoạch 34,7% sinh viên cho rằng không cần ghi chép tài liệu đã
đọc.
- 37,6% sinh viên cho răng không cần khái quát hoa, không cần hệ thống hóa.
- Đặc biệt 53,2% sinh viên cho rằng không nhất thiết phải đọc sách, tài liệu tham khảo 58,3% sinh viên cho rằng không nhất thiết phải giải quyết các nhiệm vụ nhận thức học tập
trong quá trình tự học.
Những phương pháp tự học mà sinh viên ít sử dụng như: chỉ có 32,4% sinh viên hệ
thống hóa, tóm tắt phân loại; 33,4% đề xuất thắc mắc; 33,9% kết hợp bài giảng và tài liệu
Trang 34tham khảo; 46,6% đọc giáo trình trước khi học bai mới; 69,6% chỉ thực hiện theo yêu cầu giáo viên; 25,4% tự đề ra và thực hiện bài tập nhận thức.
Như vậy, động cơ tự hoc của sinh viên DHSP TP HCM còn thiếu và yếu, không đều.
Do vậy cần phải được quan tâm xây dựng, thường xuyên giáo dục động cơ hoạt động tự học đúng dan, gop phan nang cao chat lượng, hiệu qua cua tự học - tự dao tạo Điều đó trước hết
là trách nhiệm chung ở cả sinh viên, giáo viên cũng như toàn bộ máy đảo tạo của nhà
trường.
Những phương pháp trên nếu được sử dụng thường xuyên và hợp lý sẽ mang lại chất
lượng, hiệu quả cao trong học tập và tự học Các phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải laođộng trí óc căng thăng, có sự động não, phát huy tính tích cực, tự lực và tự giác, giúp sinh
viên hiểu sâu kiến thức, nam vững chuyên môn, đạt chất lượng và kết quả cao trong học tập Tuy nhiên, thực tế khảo sát cho thấy số sinh viên sử dụng các biện pháp tự học trên còn rất
ít, không thường xuyên Đa số sinh viên vẫn theo phương pháp học cô điền, ảnh hưởng từ trường phô thông, thụ động, không đào sâu, năm chắc van dé Tình hình đó làm cho kết qua
tự học của sinh viên thấp, không đạt mục đích dạy học đề ra Như vậy, người học chưa có kĩ
năng tự học hợp lý dé thực hiện các nhiệm vụ cụ thé của hoạt động học tập.
Kết quả điều tra cho thay phan lớn giáo viên và sinh viên đều cho răng: trong điều kiện thực tế hiện nay ở trường ĐHSP, có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên Từ tình hình cụ thể này chúng ta sẽ tìm ra những biện pháp
khắc phục, hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng tự học, tự đào tạo của sinh viên ĐHSP.
Tóm lại, phần lớn sinh viên chưa nhận thức được rằng cần phải có kĩ năng dé đạt được kết quả trong hoạt động tự học Có khá nhiều sinh viên cho răng các kĩ năng tự học là không cần thiết Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng học tập, đào tạo của sinh viên sư phạm Sinh viên mới chỉ học lại các bài giảng của giáo viên, có gang hoàn thành các bài tập
mà các thầy cô giao cho, các hành động tự học mang tính dập khuôn, qua loa, chiếu lệ Vì vậy nhiệm vụ của giáo viên không chỉ giáo dục động cơ học tập đúng đắn, mà phải hướng
dân, rèn luyện kĩ năng tự học cho sinh viên.
Trang 352.2 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự học của sinh viên.
2.2.1 Khái niệm về chất lượng tự học.
Chất lượng giáo dục là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và có không ít những ý kiến giống và khác nhau khi trao đổi trong lĩnh vực này Nhìn chung, chất lượng
thường được quan niệm là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, một sựviệc.
Chất lượng giáo dục biểu hiện tập trung nhất ở nhân cách người học - người được đào
tạo, giáo dục Ở trường đại học, chất lượng giáo dục có hai bộ phận cơ bản: chất lượng dạy
học và chất lượng tự học.
- Chất lượng dạy học: được quan niệm như là kết quả giảng dạy và học tập, xét cả về mặt định tính và định lượng so với các mục tiêu bộ môn cũng như góp phần vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Chất lượng dạy học thể hiện tập trung nhất
ở chất lượng học tập của sinh viên.
- Chất lượng tự học: chỉ xuất hiện khi có những biến đổi tích cực trong nhận thức,
trong hành vi và trong thái độ của người học.
Thông thường, chất lượng tự học của sinh viên được đánh giá theo các tiêu chí:
+ Tri thức: khối lượng tri thức ma sinh viên thu lượm, tích lũy được qua quá trình tự
học và độ bên vững của nó.
+ Ki năng: những năng lực mới được hình thành.
+ Thái độ: biêu hiện ở phản ứng của cá nhân trước những sự việc, hiện tượng.
Tóm lại, chất lượng tự học được xem như một sự chuyền biến tích cực ở người đọc, thé hiện tập trung nhất ở mặt nhận thức, thái độ, hành vi khi họ tích cực, tự giác chiếm lĩnh
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà loài người tích lũy được Việc tìm ra những nguyên nhân làm
ảnh hưởng đến chất lượng tự học của sinh viên là nhằm tạo ra sự chuyền biến bên trong của
cá nhân người học.
Chất lượng hoạt động tự học của sinh viên đại học sư phạm còn thấp do nhiều nguyên
nhân khác nhau tác động đến Qua khảo sát, chúng tôi chia ra làm hai nhóm nguyên nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động tự học của sinh viên trong quá trình học tập,
là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan.
Trang 362.2.2 Nguyên nhân chủ quan:
Chất lượng học tập nói chung va chất lượng hoạt động tự học nói riêng phụ thuộc phầnlớn vào bản thân của mỗi sinh viên, cũng chính là phụ thuộc vào sự tự giác, tích cực hoạt động của mỗi người trong suốt quá trình đào tạo.
- Nguyên nhân chủ quan trước hết là bản thân sinh viên thiếu nỗ lực, khắc phục khó khăn, chưa xác định được mục đích, động cơ học tập đúng đắn, chưa tìm thấy hứng thú trong học tập và rèn luyện Theo kết quả khảo sát, đây là nguyên nhân có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng và hiệu quả tự học (94,8%).
- 61,4% sinh viên chưa đánh giá được ý nghĩa tác động to lớn của hoạt động tự học với
việc phát triển toàn diện nhân cách của người giáo viên tương lai Chính vì vậy, sinh viên chưa kết hợp được tự học với việc tự rèn luyện bản thân.
- Đa số sinh viên còn sử dụng những hình thức tự học có tính hiệu quả thấp Trong khi
đó, những hình thức tự học phát huy cao tính tích cực nhận thức, tính sáng tạo, và có hiệu quả thì sinh viên ngại khó, ít sử dụng.
- Đa số sinh viên chưa lập được kế hoạch tự học, đo đó chưa định hướng được toàn bộ hoạt động tự học của mình và dẫn đến sự lãng phí thời gian Những trường hợp có lập kế hoạch thì lại thiếu tính khả thị, mang nặng hình thức, đơn giản, kém hiệu quả Việc đầu tư
cho tự học, chỉ là sự đầu tư "đối phó", phục vụ cho thi hoặc kiểm tra là chủ yếu Nguyên
nhân này càng thé hiện rõ nét đối với sinh viên năm thứ nhất, mới rời khỏi nhà trường phổ thông, bước chân vào đại học, còn rất nhiều bỡ ngỡ và đặc biệt chưa thích nghi được với
phương pháp dạy học ở đại học.
Tom lại: Hoạt động tự học cua sinh viên hiện nay còn mang tính tự phát, không có né nếp, thiếu hệ thống kĩ năng tự học Do đó hoạt động tự học kém hiệu quả, không thực hiện được các nhiệm vụ tự học cụ thể.
2.2.3 Nguyên nhân khách quan:
Ngoài những nguyên nhân chủ quan kế trên, chat lượng hoạt động tự học của sinh viên đại học sư phạm thấp còn do một số nguyên nhân khách quan khác nhau ảnh hưởng đến Cụ thé:
- Sinh viên cho rang, việc tô chức giáo dục động cơ học tập của nha trường và giáo
viên chưa được thường xuyên, cụ thé Công tác giáo dục chỉ chung chung, thường được
Trang 37quan niệm cho răng đó là việc của bên công tác chính trị, bên Đoàn và Đảng Giáo viên chỉ
là người dạy chuyên môn Chính vì vậy sinh viên hiểu biết và xây dựng động cơ học tập
chưa đúng dan, do đó động cơ tự học cũng chỉ mang tâm nhìn "gan", không phải tâm "xa",
mang nặng tính "ăn xôi, ở thì", phục vụ qua kỳ thi là xong, không bền vững liên tục.
- Một nguyên nhân khách quan nữa phải kể đến là có tình trạng giáo viên dé dai, nhân nhượng, không thường xuyên kiểm tra đánh giá và có yêu cầu cao về chất lượng tự học của
sinh viên Vì thế sinh viên ít quan tâm đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập Sốliệu khảo sát cho thấy 77,5% sinh viên có cùng quan điểm này Việc chưa có chính sách
khen thưởng động viên kịp thời, xử phạt nghiêm minh cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng
tự học của sinh viên (80,5%).
- 88,4% sinh viên cho rằng phong trào hoạt động tự học của lớp ảnh hưởng đến chất
lượng tự học Tập thé lớp chưa tac động, lôi cuốn các thành viên tham gia tích cực trong học tập, tự học Các hình thức học tập thể ít được sinh viên quan tâm sử dụng Tập thể lớp ít tổ chức trao đổi kinh nghiệm tự học, rút ra những bài học quý báu, nêu gương điển hình về học tập, tự học Phần lớn sinh viên hiện nay vẫn tự học theo kinh nghiệm cá nhân, tự tích lũy, tự thể nghiệm trong quá trình tự học Họ chưa có kĩ năng tự đánh giá, tự kiểm tra.
- Phương pháp dạy của giáo viên chưa đổi mới, chưa kích thích tính hứng thú, lòng say
mê tìm hiểu trong nhận thức Điều này thé hiện rõ trong những môn "khó hiểu", nặng về lí
luận, ít bài tập.
- Ngoài ra, chất lượng giáo trình, tài liệu, phương tiện dạy học nhất là những trang bị
kĩ thuật phục vụ cho thực tập, thực hành của nhà trường còn thiếu, nhiều thiết bị đã hư hỏng, lạc hậu Nhiều môn hục chưa kip cập nhật những thông tin mới đã được khoa học xác
nhận Điêu này làm hạn chê đên chât lượng tự học, hiệu quả học tập và tự học của sinh viên.
Tóm lại: Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng tự học của sinh viên sư phạm còn yếu
và có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan cùng ảnh hưởng tới Điều này liên quan
mật thiết tới chất lượng học cũng như chất lượng đào tạo sinh viên khi ra trường của Đạihọc sư phạm TPHCM Vì vậy, việc tìm hiểu các nguyên nhân dé tìm ra biện pháp khắc phục
là nhiệm vụ bức thiết của giáo viên và sinh viên Đại học sư phạm TPHCM trong giai đoạn
đôi mới giáo dục hiện nay.
Trang 382.3 Một số nhận xét qua thực trạng điều tra hoạt động tự học của sinh viên ĐHSP TP
HCM.
+ Đa số sinh viên chưa xác định rõ mục đích, động cơ, hứng thú say mê trong học tập.
Phần lớn hành động tự học được xuất phát bởi động cơ muốn đạt kết quả cao trong ki thi,
kiém tra.
+ Nhận thức của sinh viên về tự học còn han chế Sinh viên chi mới nhìn thay tác dungtrước mắt của hoạt động tự học đối với kết quả học tập mả chưa thấy tác dụng lâu đải của
hoạt động này đối với sự hình thành phẩm chất nhân cách của người giáo viên trong tương
lai Sinh viên cũng đã nhận thức được ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quanđến hoạt động tự học, trong đó những yếu tố quan trọng nhất là thiếu động cơ học tập đúngđắn và thiếu kĩ năng tự học sẽ ảnh hưởng rất xâu đến kết quả học tập
+ Phần lớn sinh viên thiếu nỗ lực, khắc phục khó khăn trong học tập chưa kết hợpđược việc tự học và tự rẻn luyện, chưa nỗ lực cô gắng thực hiện các nhiệm vụ của mình
trong quá trình học tập Việc tự học còn thụ động, chưa phát huy được vai trò tích cực chủ
động sáng tạo trong học tập.
+ Sinh viên thực hiện kém hiệu quả hoặc không thực hiện được các nhiệm vụ tự học vỉ
còn thiếu hệ thông kĩ năng tự học, đặc biệt là những kĩ năng đòi hỏi phải phát huy cao tínhnăng động, tích cực va tính hiệu qua Vì vậy chất lượng tự học còn rất hạn chế
+ Ngoài các yếu t6 chủ quan thuộc vẻ sinh viên, còn phải kế đến yếu to khách quan
thuộc về giáo viên và các cấp quản lí Các giáo viên còn ít quan tâm đến hoạt động tự học
của sinh viên Cụ thé, chưa có nhiều giáo viên quan tâm hướng dẫn cho sinh viên áp dụng
Trang 39® Tự học là hình thức tô chức day học, có quan hệ mật thiết với các hình thức day học
khác Nhưng tự học là hình thức học tập cơ bản nhất ở đại học Đã từ lâu, các nhà giáo dụchọc luôn nghiên cứu tìm ra vai trò, đặc điểm, bản chất của hoạt động tự học trong nhàtrường đại hoc, tim ra những phương pháp đôi mới tích cực trong giáo dục, nhằm khôngngừng nâng cao hơn nữa chất lượng dao tạo Đó là van dé sống còn, mang ý nghĩa then chốttrong tình hình giáo đục hiện nay, Nếu chúng ta chậm trễ trong việc tìm những biện pháp dénang cao chất lượng của toàn ngành giáo dục thì hệ quả dé lại sẽ rất nghiêm trong, anh
hưởng đến cả một thé hệ, ảnh hưởng đến việc hội nhập quốc tế của Việt Nam
¢ Tự học là quá trình tự giác tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, ki năng, kĩ xảo của chính bản thân sinh viên Hai yếu tô đóng vai trò quan trọng nhất ảnh hướng đến chất lượng
tự học là động cơ tự học va kĩ năng tự học.
Tóm lại, chất lượng học tập cũng chính là chất lượng tue học, tự đào tạo cua sinh viênchỉ có thể được nâng cao nếu sinh viên được giáo dục động cơ học lập đúng đắn và đượctrang bị những kĩ năng tự học can thiết Việc nghiên cứu và đề ra những biện pháp nhằmkhông ngừng nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên mang ý nghĩa quyết định trong việccai thiện chất lượng dạy và học của các trường đại học nói chung và DHSP TP.HCM nói
riêng.
Trang 40Chương 3: MỘT SÓ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHÁT LƯỢNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NĂM I KHOA LÝ ĐHSP TPHCM TRONG
QUA TRÌNH GIANG DẠY BỘ MÔN CƠ HỌC ĐẠI CUONG.
3.1 Đặc điểm của bộ môn cơ học đại cương trong khoá trình đào tạo sinh viên khoa Lýtrường Dai học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
- Trong phân bố khóa trình uiảng day của khoa Lý, môn cơ học đại cương thuộc vẻ các
môn Vật lý đại cương bao giờ cũng được dạy cho sinh viên mới nhập học, tức là sinh viên
năm |.
- Môn nay có một vị trí đặc biệt quan trong, nó là nén tảng của Vật lý cô điển Có họctốt môn cơ học đại cương thì sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc học các môn Vật lý đại cươngtiếp theo ở đại học như: nhiệt, điện, quang, vật lý nguyên tử Sau này khi học năm thứ ba,sinh viên cũng thuận lợi hơn rất nhiều khi học môn ai học lí thuyết - có liên quan mật thiết
đến ai học đại cương và cơ học lượng tử
- Ngoài ra việc học tốt môn cơ học đại cương của sinh viên năm thứ I khoa Vật ly, còntạo thuận lợi căn bản cho sinh viên tốt nghiệp ra trường Khí về các trường Trung học phothông nhận công tác, phần lớn sinh viên khoa Lý được phân công dạy lớp 10, tức là dạy môn cơ học đại cương Hoàn thành tốt công tác này sẽ tạo tính say mê, hứng thú, lòng yêunghé cho người thay giáo mới vào đời Day là động lực ban dau, nhưng bên vig cho toàn
bộ quá trình công tác dạy học của người giáo viên ở trường phô thông đặc biệt nâng cao uy
tín, tự tin khi giáo viên tham gia giảng dạy các lớp cuối cấp.
- Môn cơ học đại cương là môn học đầu tiên trong khóa trình đảo tạo sinh viên khoa
Lý trường ĐHSP TPHCM Nội dung môn học mới tiếp cận thì tưởng dé vì các hiện tượng,qui luật xảy ra ngay xung quanh cuộc sống, chúng ta cảm nhận "sờ mó" được Nhưng đi sâuvào bản chất thì càng thay phức tạp Hiện nay vẫn còn nhiều van dé trong bộ môn cơ học
ma các nhà chuyên môn vẫn chưa thông nhất được với nhau
- Trong nội dung môn cơ học đại cương có sử dụng nhiều kiến thức toán học cao cấp
mà sinh viên đã được học một phân ở trường phô thông Điều này rất hữu ích cho hoạt độnghọc tập của sinh viên Dựa vao vốn kiến thức về cơ học ở phỏ thông, sinh viên sẽ có cơ sỏ
phát huy vai trò chủ động, thuận lợi cho việc áp dụng cho các hình thức tự học khác do giáo