Hiểu cho sâu sắc giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là các tác phẩm được tuyển chọn trong nhà trường, học sinh HS cũng sẽ hiểu được sâu sắc hơn giá trị các tácphẩm văn chương tp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM TP HỒ CHÍ MINH.
Lê Thị Thanh Hồng
Chuyên ngành: Lý luận va phương pháp dạy hoc môn Văn
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THAC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS DOAN THI THU VAN
Thành phố Hồ Chi Minh — Nam 2006
Trang 2“Đời cam oa.
> Tôi xin bày tổ lòng biết ơn sâu sắc PGS TS Doan Thị Thu Vân,
người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận
văn.
> Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Các giáo sư đã giảng dạy,
- Ban Giám hiệu Phòng Đào tạo Sau Đại học Ban Chủ nhiệm khoaNgữ Văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
- Ban Giám hiệu trường THPT Bắc Bình,
- Gia đình, đồng nghiệp và bạn bè,
đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
LÊ THỊ THANH HỒNG
Trang 3MỤC LỤC
6 Trang 1
JiEidö chon AS pasaeaaaaanniiniinteitiiiiiiiiiii1it011111163011016151168552535535856855556685558838E |
II lcbg0inghiBn‹€fH'VNRIHỆ koagnanganoiiiiitiiitpoatoiiiiibiogoooiopontoaoiiaio 4
II Mục 6h, nhiệm vụ đổ lãi ceneiiiiiiniiiioiiaiiieoiitiioititioitiitiii420102ã010ãaã3 §
IV Phạm ví và đối tượng nghiên cỨu :cccccicecocicecocicooocooooocooooooioooooie 9
V Các phương pháp nghiên cứu - (Ăn HH HH thu 10
VỊ Đóng góp của luận VAN SH HH HH ưu ll
WE: CG a tre RiỆN/VẴB cnnninsnnroeinioiinioiiaioiiioiintoiiintiiiiiiiiiii4010120101.86581ãa8516 12
DRED ass s casas soncsxessnnccszssssncesssseszcesssssnzcesssuonasssssasnccassssappavsesasessssseecessssennces 14
Chương 1: Cơ sở lí luận định hướng cho phương pháp day hoc 14
1.1 Những thành tựu của Tâm lí học là cơ sở lí luận - << «<<<<< «+ 14 1.1.1 Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm 25-52552552 14 1.1.2 Tam lí ñqc(ROgÚđÔNE sicccssssessssessssssncsssscssssseesssssessscvessooesssvensesvsessssscsesiscosss 16 1.2 Những quan điểm mới về Giáo dục là cơ sở lí luận - 20
ea Rote điểm øiáo: đục mỖI oaaaaaiaaoaodoiniodiietioisttegittiasiiossi 21 1.2.2 Phương pháp giáo dục mới -.- SH ZO 1.3 Những thành tựu của lí thuyết Tiếp nhận văn học tạo cơ sở 25
1.3.1 Trong số các luận điểm mà Hans Rober Jauss và Wolfgan Ter 26
1.3.2 Với tư cách là người tổ chức hoạt động tiếp nhận cho HS 27
Chương 2: Vài nét về tình hình tiếp nhận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu 31
2.1 Ý nghĩa sư phạm của công việc này đối với giáo viên 31
2.1.1 Ý nghĩa chung của công việc này đối với giáo viên Văn học 31
2.1.2 Ý nghĩa cụ thể đối với giáo viên khi nghiên cứu -. - 31
2.1.3 Ý nghĩa cụ thể đối với giáo viên khi nghiên cứu 33
2.2 Vài nét về tình hình tiếp nhận Đồ Chiểu va thơ văn của Cụ 33
Trang 42.2.1 Đồ Chiểu va thơ văn của Cụ đưới sự tiếp nhận 34
2.2.2 Tình hình tiếp nhận Đồ Chiểu và thơ văn của Cụ trong nhà trường 45
2.3 Từ thực tế tiếp nhận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu 69
Chương 3: Phương pháp Dạy - Học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu 7I 3.1 Những vấn để cần chú ý khi Dạy - Học thơ văn Đồ Chiểu 7I 3.1.1 Những kiến thức cơ bản hình thành nên đặc điểm con người và thơ văn 71
3.1.2 Dạy - Hoc thơ văn Nguyễn Dinh Chiểu, phải chú ý đến thể loại 74
3.1.3 Dạy Đồ Chiểu và thơ văn của Cụ, phải chú ý đến đặc điểm ngôn ngữ 80
3.2 Phương pháp tổ chức của giáo viên khi giẳng dạy thơ văn 85
5530) Giäi apn CHAM en RR TARA isos csscesccsccasescescessesczsssostscsoasssosceassososessseaseusees 85 3.2.2 Giai đoạn tổ chức hướng dẫn HS tiếp nhận bai học tại lớp 98
3.2.3 Giai đoạn kiểm tra, đánh giá kết quả hoc tập của HS 101
3.3 Một số gợi ý về phương pháp tiếp nhận của học sinh - 101
3.3.1 Nấm được mục đích, yêu cầu cụ thé của từng bài học 101
3.3.2 Xác định được phương pháp hoc tập cu thể cho từng bài hoc 102
3.3.3 Vận dụng nhiều thao tác để khám phá bài học - - I02 3.3.4 Các thao tác đó phải được HS nhận thức và chuẩn bị chu đáo 103
Be TAIN esa cecenectsseceeutaseetececsesctascsneecpetedasctteectevevteacinsstees an 105
TẠTLIEUTHAM KHẢO caro jÏ.Ÿ-Ÿ-ci¿ýsssss 108
ANH TT LTD que nneesooibsetiieoteoiooobiilieooototoiitissstioi 114
Trang 5WMở Pau
1 Đề tài được chọn lựa từ nhận thite về vị trí, vai trờ vô cùng quan trong của thơ văn
Nguyễn Đình Chiểu trong tiến trình van học và trong lòng đời sống tỉnh than của người
Việt Nam.
Được xếp vào trong số chín tắc gia của văn học Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu trở thành
ngôi sao sáng trên bau trời văn nghệ dan tộc trong thời kỳ cận đại
Hơn một trim năm đã di qua nhưng cuộc đời và sự nghiệp thd văn của nhà thơ mù
đất Gia Định - Đẳng Nai vẫn còn hết sức mới mẻ, luôn thu hút và làm say mê hàng triệu trai tim, không chỉ riêng người dân đất Việt.
Dù viết ở giai đoạn nào, thể loại và để tài nào, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu cũng có ảnh
hưởng lớn đối với dân tộc Việt Nam Thơ văn Cụ góp phan giáo dục vé nhân cach, vẻ lẽ
sống; kêu gọi tinh thần yêu nước, tinh than tự hào dân tộc; rèn luyện ý chí, nghị lực vươn lên
trong cuộc sống Không chỉ dừng lại ở các tác phẩm, chính bản thân cuộc đời DS Chiểu đã
trở thành tấm gương sáng ngời để người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ soi vào đó mà tự
mình phấn đấu
Hiểu cho sâu sắc giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là các tác phẩm được
tuyển chọn trong nhà trường, học sinh (HS) cũng sẽ hiểu được sâu sắc hơn giá trị các tácphẩm văn chương (tpve) khác trong tiến trình văn học Trung đại - một thời kỳ văn học
mà HS thường cho là khó tiếp nhận mặc dù đã cố gắng hết sức mình Hiểu được sâu sắcgiá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, HS cũng sẽ tự rút ra cho mình những phẩm chất,những giá trị cẩn thiết nhằm góp phẩn tạo nên tính cách, phẩm chất con người Việt
Nam hiện đại.
2 Xuất phát từ mâu thuẫn giữa thực tiễn giảng dạy bộ môn Văn học trong nhà trường
phổ thông, đặc biệt là phan gidng dạy thơ văn Nguyễn Đình Chiểu hiện nay với yêu cau
của nén giáo đục trong thời ki mái
Trang 6Trong nhà trường phổ thông, môn Văn được đặt ở vị trí hàng dau, vì trước hết, đó là
“công cu tl duy, công cu diễn dat, công cụ học tập” ( Lê Trí Viễn) cho tất cả các môn
Hơn nữa, học Văn là học làm người học cách nói cách viết, cách suy nghĩ và hành
đông cho xứng ding với con người, với từng dân tộc Học Văn cũng là học cách cảm
nhận những cảm xúc, những rung động tuy mơ hồ, vô hình nhưng có thật đang diễn ra
trong thế giới và trong lòng người Học Văn là học cái hay cái đẹp để nhạy cằm và sâu
sắc trước con người và thế giới.
Thế nhưng, bên cạnh những điểm tích cực cẩn khẳng định như HS có hứng thú hơn
trong giờ học Văn, lớp học sôi động hơn bài học có “chất văn” hơn thì hiện tượng HS
viết văn không ra văn, hiện tượng HS thờ ơ, vô cảm với những gì đang diễn ra ngoài cuộc sống cũng không phải là hiện tượng hiếm
Tình hình chung là thế Đi sâu vào việc đạy học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, chúng
ta thấy có những vấn dé không thể không quan tâm HS không phát hiện được chất *văn “ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, không đồng cảm với những gì mà nhà thơ gởi
gắm vào trong tác phẩm, không học được những bài học gì từ thơ văn Đỗ Chiểu không
phải là ít.
Với tư cách là giáo viên ( GV) giảng dạy môn Văn ở nhà trường phổ thông ngườiviết tự nhận thấy mình vẫn còn vướng mắc cả trong thực tiễn lẫn lí luận Làm thế nào đểmôn Văn không còn trở thành môn học nhàm chán đối với HS ? Làm thế nào để môn
Văn không còn xem là môn học lạc hậu, đi ngược chiều so với sự phát triển của xã hội?
Và làm thế nào để HS thấy được cái hay cái đẹp đích thực của văn chương Dé Chiểu?
Hàng loạt câu hồi đặt ra khiến bản thân tự nhận thấy phải thay đổi cách dạy cho phù
hợp với tình hình mới.
3 Các thành tựu của một số chuyên ngành khác nhu Tam lí học, Giáo dục học, Lí
luận văn học đã đáp ứng được nhiềng nhu cẩu của việc đổi mới phương pháp giảng day
văn? học trong tình hình hiện nay,
LS)
Trang 7Thời đại mới với sự phát triển mạnh như vũ bão của khoa học ki thuật và công nghệđòi hồi ngành Giáo duc cũng phải vận dụng những thành tựu khoa học mới vào việc
“dao tạo nhân tài”.
Thế giới đổi thay cách đạy học ở nhà trường, Việt Nam không thể dừng lại ở những
phương pháp cũ! Phương pháp mới hiện nay * phải phát huy tink tícÍt cực, tự giác, chủ
động, tu duy sáng tae của người học: bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý
chí vươn lên” (23, 5) Muốn vậy, Giáo dục Việt Nam cũng không thé đứng bên ngoài
cuộc cách mạng về khoa học, kĩ thuật và các ngành khoa học kế cận
Khi xã hôi cần những con người năng động sáng tao, những con người có tiếng nói
riêng cho thời đại mình thì lối day học nhỏi nhét, thụ động theo kiểu Thấy giảng- Trò
nghe tỏ ra phản tác dụng Trong giảng day Văn học, người ta chú ý đến “ năng lực cảm
thu văn học” của HS, đến kha năng đồng sáng tao giữa người học và tác giả Có thể
nói, “Day học sáng tạo, phát huy tiểm năng của thế hệ trẻ học đường là một vấn đề chiến
lược của giáo duc và là một đời hóúi bức bách đẩt với mọi nha trường ngày nay "443,161.
Đổi mới phương pháp day học đã trở thành dé tài nghiên cứu khoa học của các nhà
phương pháp giáo dục Việt Nam, trong đó có chuyên ngành phương phấp giảng dạy Văn
học.
Thực hiện để tài * Phương pháp dạy - học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ở trường
Trung học phổ thông theo hướng hoạt động tiếp nhận của học sinh” , chúng tôi hi
vọng góp thêm một phẩn nhỏ vào công việc đổi mới đó
1/ Lich sử nghiên cứu vấn dé,
1 Nhóm tác gid đề cô
Có ý kiến cho rằng đến ngày nay, ở nước ta, bộ môn “Phương pháp day học Văn” vẫn
là một môn khoa học còn non trẻ Gọi là non trẻ bởi vì bộ môn này chỉ được hình thành và
phát trién trong khoảng thời gian 40 năm trở lại đây Gọi là non trẻ bởi các sách tham khảo
về kĩ năng dạy học, về kinh nghiệm giảng day cũng như các giáo trình có tính chất chuyên
môn cho đến nay vẫn là những con số rất ít ôi
Trang 8Tuy nhiên, không vì thế mà ở nước ta, bộ môn này trở nên lạc hậu, nghèo nàn Kể từ
năm 1963, khi cuốn giáo trình “ Phương pháp giảng dạy Văn học” của nhóm tác giả Bùi
Hoàng Phổ, Quách Hy Dong, Hoàng Lan ra đời cho đến bây giờ, phương pháp day họcVăn đã có bước phát triển rõ nét Sự phát triển đó được thể hiện qua các giáo tình mới
như “Phuong pháp dạy học Văn” của Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh
Hùng Tran Thế Phiệt [41], “Phương pháp day học Văn” ( 2 tập ) của Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh [43], bằng các chuyên luận có tính phương pháp như “Vdn để giảng day
tác phẩm văn học theo loại thể” do Tran Thanh Dam chủ biên [L4], “ Vấn chương, bạnđọc = sáng tạo ” [44] của Phan Trọng Luận, “ May vấn để phương pháp day thơ văn cổ
Việt Nam” của Nguyễn Si Cẩn [3] “ Rèn luyện tứ duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm
văn chương” của Nguyễn Trọng Hoàn [23], “ Đọc và tiếp nhận văn chương” của Nguyễn Thanh Hùng” [27] hoặc bằng các bài viết được đăng tải trên các phương tiện truyền
thông báo chí như * Dey văn là một quả trình rèn luyện toàn diện” của Pham Văn Đồng,
tt Day văn: khai trí, Khai tam” của Lê Ngọc Trà, “ Coi trọng sự cảm thụ của học sinh
trong giảng dạy văn học” của Nguyễn Duy Bình, * Dạy vấn theo hướng phát triển ne
duy” của Dang Hiểu, “ Tink huống có vấn dé và các loại tình huống có vấn dé trong day
~ học tác phẩm văn chương” của Lê Trung Thành [59], hoặc cũng có thể được thể hiện
qua các công trình nghiên cứu khoa học ở cấp tiến sĩ, thạc sĩ như “ Mhững hình thức hoạt
động của học sinh trong giờ dạy học tác phẩm văn học ở phổ thông trung học” của Đỗ
Huy Quang [58], "Mường biện pháp tích cực hoá hoạt động của học sinh trong giờ học
tác phẩm văn chương è nhà trường phổ thông trung học” của Trịnh Xuân Vũ [§§] ~ Câu hải nêu vấn dé trong giờ gidng văn ở trường trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Ngân
[52].
Có thể nói những năm gin đây, cũng giống như các chuyên ngành khác phương phápgiảng dạy văn không đứng bên ngoài của sự phát triển Nó đã biết tổng hợp biết vận dụng
những thành tựu của các lĩnh vực khác để phát triển chuyên ngành của mình nhằm tìm kiếm
phương pháp tối ưu hơn cho công việc giảng đạy
Trang 9ngành ph › giản » Văn học.
Không chỉ đừng lại ở chuyên ngành của mình, một số nhà nghiên cứu đã vận dụng
thành tựu của chuyên ngành khác như Tâm lí học Lí luận day học, Lí luận — phê bình
văn học để để xuất phương pháp giảng day mới Vận dụng thành tựu của lí luận dạy
học Phạm Toàn viết * Công nghé day văn” “Thị pháp học” là vấn để thuộc về lí luận
phê bình văn học, Nguyễn Thị Dư Khánh cũng vận dụng nó vào việc phân tích tác phẩm
khi viết cuốn “ Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp” Tiếp nhận văn hee là
một mảng lớn của nghiên cứu văn học nói chung và của lí luận văn học nói riêng.
Nguyễn Thanh Hùng đã vận dụng vào việc giảng dạy khi dé cập đến “ sự sáng tae trong
tiếp nhận văn học ở bạn đọc học sinh” Hai cuốn sách “ Hiểu văn, dạy văn” ( 2000), và * Dec và tiếp nhận văn chương” (2002) của Nguyễn Thanh Hùng tuy mới chỉ là những gợi hướng giảng day ban dau song điều đó cũng cho thấy việc van dụng lí thuyết này vào
công tác giảng dạy văn học là một việc có thể thực hiện được
3 Nhóm nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu là một trong số ít những tác gia văn học Trung đại Việt Nam,
ngay từ khi tác phẩm mới ra đời không lâu, được đông đảo mọi người đón nhận, và thể
hiện trực tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng
Đứng ở góc độ nghiên cứu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu không chỉ thu hút các nhà
nghiên cứu Việt Nam mà ngay từ những năm 60 của thế ki XIX, người Pháp cũng đã đặc biệt chú ý Tất nhiên, đúng như lí thuyết * tiếp nhận văn học” chỉ ra, tuỳ tam đón nhận, va
động cơ tiếp nhận của độc giả mà nội dung thơ văn Nguyễn Đình Chiểu có thể được hiểu ởnhiều góc độ khác nhau Đối với người Pháp lúc bấy giờ, với tư cách là kẻ khai phá, cai trị "
An Nam”, ( tên mà thực dan Pháp vẫn dùng để chỉ nước Việt Nam), truyện “Luc Vân Tiên”
có day đủ những “ tinh căn bản của một dân tộc” Đọc “Luc Vân Tiên”, “ người ta có thểphát họa một cách dé dàng một cuốn sử kí về sinh hoạt xã hội ở Nam Kì như ngày nay ta dang
thấy”[73, 624]
Trang 10Đối với các học giả Việt Nam, giá trị truyện Nôm “Lye Vân Tiên” được nhìn nhậndưới nhiều góc độ khác nhau Càng về sau, “Luc Van Tiên” và thơ văn chống Pháp củaNguyễn Đình Chiểu càng được khai thác, nhìn nhận với nhiều giá trị mới Chúng tôi sẽ
trở lại vấn để này ở chương 2
Trong nhà trường phổ thông, ngay từ thời Pháp thuộc, Nguyễn Đình Chiểu được giáo
sư Dương Quảng Ham đánh giá như một tắc gia văn học đáng chú ý của thể loại truyện
Nôm.
Từ sau 1945, ở miền Bắc, một giai đoạn mới được mở ra trong việc học tập và giảng
day thơ văn Nguyễn Đình Chiểu HS không chỉ biết đến “Luc Van Tiên” mà còn đượchọc mang tha van vêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu Bài thơ “ Ngóng gióđông” ( có sách ghi là “ Xức cảđnh” ) trích trong tập “ New Tiểu y thuật vấn đáp” được
đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông như một bài thơ thất ngôn bát cú độc lập.
Ở bài “ Van tế nghĩa sĩ Can Giuộc" tất cả các nhà sư phạm đều thống nhất, tác phẩm
đã xây dựng một bức tượng đài nghệ thuật về người anh hùng nông dân - nghĩa sĩ, là "
khúc ca những người anh hàng thất thế nhưng vẫn hiên ngang” (Phạm Văn Đồng).
Đáng chú ý đối với những người thuộc lĩnh vực giảng dạy là bài viết “ Từ thực tế giảng dạy trong nhà trường nghĩ thêm về nghệ thuật thơ văn Nguyễn Dinh Chiểu “ của Nguyễn Dinh Chú
và bài “ Giảng day thơ văn Nguyễn Đình Chiếu trên đất Long An” của Tran Thi Thìn Xuất
phát từ thực tế giằng dạy thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ở trường phổ thông, và ca ở trường đại
học, Nguyễn Đình Chú đã nhìn nhận vấn dé từ cả hai đối tượng: người day, người học Về phía
người dạy, " ofuing tôi vẫn luôn rự trách mình còn bất lực trong việc khám phá và tron đạt cáihay, cái dep của văn chương Dé Chiểu cho học sinh của mình”, Về phía người học, theo tác giả,
* những người chưa yêu thích văn chương Đã Chiểu là những người chưa dec ki văn thơ ĐãChiểu Thường là he đọc thoáng qua, gặp phải những câu không hợp khấu vị của minh thế là
bả không đạc với một ẩn name không phải tốt đẹp gì đổi với văn chung Đồ Chiểu Mat khác,
năng lực cảm thy của họ nói chung còn nghèo nàn, đơn digu "(73, 578) Từ trên mảnh đất
Long An, Trần Thị Thìn đã đưa ra một số phương pháp nhằm “ giúp giáo sinh nhận thức được
Trang 11đúng đắn trách nhiệm đối với quê lương, đất nước, đối với các thế hệ tiền nhân, trong đó có
những người đáng khâm phục, trân trọng như Nguyễn Đình Chiểu" (34, 358].
Nhìn chung các bài viết, các công trình nghiên cứu có liên quan đến phương phápgiảng day Văn học theo nhiều hướng, nhiều cách tiếp cận khác nhau tương đối phongphú và đa dạng Nó đã mở ra cho các nhà sư phạm nhiều con đường, nhiều cách thức đểtiến hành khai thác, giẳng day tác phẩm nói chung và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu nói
riêng Tuy nhiên, để tìm ra con đường, cách thức, phương pháp giảng đạy cụ thể về thơvăn Nguyễn Đình Chiểu ở trường Trung học phổ thông (THPT) theo hướng tiếp nhậncủa HS trong tình hình xã hội hiện nay thì chưa có bài nghiên cứu nào để cập một cáchtrực tiếp Đã đến lúc các nhà sư phạm phải cụ thể hoá phương pháp bằng các giáo án,bài học cụ thể, bởi vì, mỗi tác giả, mỗi tác phẩm sẽ có một phương pháp tiếp cận khácnhau Thực hiện dé tài * Phương pháp dạy — học thơ van Nguyễn Đình Chiểu ở trường
Trung học phố thông theo hướng hoạt động tiếp nhận của học sinh”, bi vọng rằng luận
văn sẽ đáp ứng được phan nào yêu cầu đó, giúp người dạy và cả người học có thêm tư
liệu tham khảo hữu ích trong quá trình dạy - học của mình.
HI/ Mục đích, nhiệm vụ dé tài
1 Bằng việc van dụng thành tựu của một số chuyên ngành khác có liên quan đến công
việc giảng day Văn học như Tâm lí hoc, Giáo dục học, Nghiên cứu phê bình văn luận văn
mong muốn đi tim những giải pháp, con đường tích cực trong việc hướng dẫn HS tiếp cận với
tpvc Vì day là những thé nghiệm bước đầu, luận văn chỉ mới dừng lại ở việc vận dụng nó vào
một số bài giảng ở tác gia Nguyễn Đình Chiểu
2 Để đạt được mục đích đó, luận văn để ra một số nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Luận văn phải xác định được những cơ sở lí luận của việc dạy - học thơ văn Nguyễn Đình
Chiểu theo hướng hoạt động tiếp nhận của HS Luận văn phải dành một phan thích đáng để lí
giải vấn để này vì đây là tiền để cho việc để xuất phương pháp dạy — học thơ văn NguyễnĐình Chiểu theo hướng hoạt động tiếp nhận của HS
Trang 12- Luận văn phải xác định được những cơ sở thực tiễn thông qua công việc khảo sáttình hình tiếp nhận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu từ nhiều đối tượng khác nhau từ xưa
đến nay để có cơ sở để xuất phương pháp dạy — học thích hợp
- Nhiệm vụ cuối cùng là từ những lí thuyết của Tâm lí học, Giáo dục học, của
Nghiên cứu tiếp nhận Văn học, từ những yêu cẩu của thực tiễn day học, luận văn đểxuất phương pháp tiếp cận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường phổ thông mộtcách cu thể nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học tpve trong nhà trường hiện nay
IV/ Phạm yi và đối tượng nghiên cứu,
1 Đối tượng nghiên cứu của để tài chính là quá trình tiếp nhận thơ văn Nguyễn
Đình Chiểu của GV và HS ở nhà trường phổ thông hiện nay
Tiếp nhận văn học là một hoạt động mang tính cá nhân sâu sắc, gắn lién với tìnhcắm thị hiếu, thẩm mĩ của mỗi người trong từng thời đại Tiếp nhận văn học trong nhàtrường cũng đòi hỏi ở HS sự tự giác tự nguyện Học sinh nếu không trở thành chủ thểcủa quá trình tiếp nhận, và tác phẩm văn học nếu không trở thành đối tượng để HS
khám phá, thể nghiệm thì vấn để tiếp nhận tpvc trong nhà trường phổ thông không thể
coi là thực hiện thành công trong quá trình đạy học,
Nguyễn Đình Chiểu được xem là một hiện tượng văn hoá Bởi vậy thơ văn Cụ đượcđón nhận néng nhiệt cũng không phải là chuyện khó hiểu Tuy nhiên, đón nhận thơ vănNguyễn Đình Chiểu ở mức độ nào, theo những giá trị nào, đặc biệt, trong nhà trường,
GY tổ chức cho HS tiếp nhận như thế nào đối với từng thể loại, từng tác phẩm củaNguyễn Đình Chiếu , đó là những gì mà luận văn này hướng tới trong quá trình thực
hiện.
2 Trước các trường phái, các giai đoạn phát triển của Tâm lí học, Giáo duc học,
Nghiên cứu phê bình văn học, chứng tôi chỉ đi vào những vấn để có liên quan trực tiếp
đến công việc giảng dạy, những nội dung khác không hoặc ít liên quan, chúng tôi xin
được phép không dé cập đến.
Trang 13- Đối với công việc khảo sát thực tiễn, các kết quả mà chúng tôi ghi nhận được, chủyếu đựa vào các phiếu tham khảo ý kiến, vào các giáo án và một số bài giảng tại lớp
của 32 GV: vở ghi chép bài soạn, phiếu đánh trắc nghiệm khách quan phiếu tham khảo
ý kiến vé môn học bài học cụ thể của 554 HS từ 5 trường: Trường THPT Bắc Bình
trường THPT Hoà Đa, trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai { Tỉnh Bình Thuận), trường
THPT chuyên ban Tân Phú ( Tinh Đồng Nai) và trường THPT Trần Khai Nguyên { Thành phố Hỗ Chi Minh) năm học 2004 — 2005, 2005 - 2006.
V/ Các ph bên:nøbdênicé
Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục dich của luận van, trong quá
trình thực hiên dé tài, chúng tôi sử dụng môt số phương pháp chính sau đây:
1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài việc nghiên cứu những kiến thức chuyên
ngành, chúng tôi cũng đi vào tầm hiểu những vấn để của các chuyên ngành khác có liênquan đến công việc giảng day nhằm rút ra những vấn để cẩn thiết phục vu cho để tài
đang thực hiện như: Nghiên cứu —phé bình văn học, Tâm lí học, Lí luận dạy học
2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
Phương pháp này được vận dụng bằng nhiều cách khác nhau:
- Phát phiếu phỏng vấn, thăm dd ý kiến GV và HS để nắm được tình hình dạy học
thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong nhà trường phổ thông hiện nay, đặc biệt, trong quátrình khảo sat, chúng tôi chú ý đến khâu tiếp nhận của HS
- Dự giờ trực tiếp GV đứng lớp dé có căn cứ xác thực về thực trạng này
- Khảo sắt giáo án của GV và vở ghi chép của HS đối với môn giảng văn, nhất là
các bài học về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Trang 14Đây cũng là một trong những phương pháp quan trọng nhằm đánh giá các kết quả và
tư liệu tham khảo từ thực tế giảng day, so sánh đối chiếu giừa thực tế và lí thuyết nhằm
nêu bật những vấn dé còn tổn tại; tổng hợp so sánh, đối chiếu để đi tim nguyên nhân và
để ra những giải pháp thích hợp.
5 Phương pháp nghiên cửu văn bản cụ thể.
Phương pháp này nhằm đối chiếu, kiểm chứng lại những ý kiến đã có trước đây so
với nội dung trong văn bản, đồng thời nhằm tạo điều kiện để phát hiện thêm những nét
đặc sắc mới trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
VỤ Đóng góp của luận văn.
Mặc dù còn mang tính chất học tập và thể nghiệm, nhưng với những cố gắng trong
quá trình thực hiện để tài “ Phương pháp dạy - học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ởtrường Trung học phổ thông theo hướng hoạt động tiếp nhận của học sinh” trone
luận văn này cũng có một số đóng góp nhất định đối với việc dạy tpvc trong nhà trường
hiện nay:
1.VỀ lí thuyết: Luận văn giới thuyết một cách cơ bản, ngắn gọn nhưng cũng khá đẩy
đủ vé Tâm lí học hoạt động vẻ phương pháp day học mới, vé * Mi học tiếp nhận *
nhằm giúp GV có điều kiện tham khảo thêm một số thành tựu của những chuyên ngành
khác nhưng lại rất gắn bó chặt chẽ đối với những người trực tiếp giảng dạy Văn học
2.Vé thực tiễn: Thông qua thực tế giảng day thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ở phổ thông
hiện nay, kết hợp với việc vận dụng lí thuyết đã nêu, luận văn để xuất một số phương
pháp giảng day có thể áp dụng vào việc giảng day thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trongnhà trường phổ thông hiện nay
Với phương pháp tiếp cận mới này, hi vọng rằng HS sẽ không quay lưng với môn
Văn học Một khi HS tự giác đi vào khám phá tác phẩm bằng chính khả năng hoạt đông
của mình, một khi môn Văn trở thành môn học được đông đảo HS yêu thích, chắc chấn rằng, thế hệ thanh niên - học sinh sẽ có khát vọng vươn đến Chân - Thiện — Mi, đồng
10
Trang 15thời các em cũng sẽ tự trang bị cho mình những phương phấp thích hợp để tự minh bước
vào đời.
VI Cấu trúc luận văn,
Ngoài hai phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương như sau:
Chương]: Cơ sở lí luận định hướng cho phương pháp day - học tác phẩm văn chươngtrong nhà trường phổ thông theo hướng hoạt động tiếp nhận của học sinh
1.1 Những thành tựu của Tâm lí học là cơ sở xác định đúng về chủ thể HS trong
quá trình dạy học Văn.
1.2 Những quan điểm mới về Giáo dục học là cơ sở lí luận giúp cho việc xác định
đúng bản chất của quá trình dạy học Văn
1.3 Những thành tựu của lí thuyết Tiếp nhận văn học tạo cơ sở lí luận để xây dựngnên phương pháp dạy học Văn trong nhà trường phổ thông theo hướng tiếp nhận của HS
Chương 2: Vài nét về tình hình tiếp nhận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong giới
nghiên cứu và trong nhà trường THPT.
2.1 Ý nghĩa sư phạm của công việc này đối với GV trong việc để ra phương pháp
day học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
2.2 Vài nét về tình hình tiếp nhận Đỗ Chiểu và thơ văn của Cụ từ trước đến nay
2.3.Từ thực tế tiếp nhân thơ văn Dé Chiểu nghĩ về phương pháp day học Văn cho HS
trong nhà trường phổ thông hiện nay
Chương3:Phương pháp dạy — học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ở trường trung học
phổ thông theo hướng hoạt động tiếp nhận của học sinh
3.1 Những vấn để cẩn chú ý khi dạy — học thơ văn Đỗ Chiểu trong nhà trường phổ
Trang 16Chieseg 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN ĐỊNH HƯỚNG CHO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TPVC
TRONG NHÀ TRƯỜNG PHO THONG
THEO HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TIẾP NHẬN CỦA HỌC SINH
Một trong những điểm mới của chuyên ngành phương pháp dạy học Văn hiện nay là
biết gắn lién, biết vận dụng những thành tựu khoa học liên ngành để tạo cơ sở, tiền để
cho sự thay đổi triệt để về cách dạy học Văn trong nhà trường Phương pháp dạy họctpve trong nhà trường phổ thông theo hướng hoạt động tiếp nhận của HS đã đựa vào một
số thành tựu của Tâm lí hoc, Lí luận day học và cả Lí luận phê bình văn học làm cơ sở.
1.1 Những thành tựu của Tâm lí học là cơ sở xác định đúng về chủ thể HS trong
quá trình dạy học Văn.
1.1.1 Tâm lí hoe lửa tuổi và Tâm lí học sư phạm
Ngay từ thế ki XVIII, nhà giáo dục học lỗi lạc J.J Rutxô ( 1712 — 1778) đã nhận xét
rất tỉnh tế về đặc điểm tâm lí của trẻ con Theo Ông, trẻ con không phải là người lớn thu
nhỏ và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyện vọng và tình
cảm độc đáo của trẻ thơ vì “ rẻ em có nhưững cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng
cửa nó” (26, 9 ] Đây là một đặc điểm rất quan trọng buộc các nhà sư phạm phai thayđổi phương pháp day học thích hợp nhằm phát huy trí tuệ, khơi dậy những nhu cẩu và
tình cảm độc đáo tốt dep của HS
Theo các nhà tâm lí học, mỗi một giai đoạn phát triển có một đặc điểm riêng về sựphát triển năng lực và nhân cách Lita tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong
việc phát triển các năng lực ui tuệ Vẻ wi giác thì “ quan sát trở nên có mục đích, có hệ
thống và toàn điện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệuthứ hai nhiều hơn và không tách rời khải tư duy ngôn ngữ” (26, 60 ] Có thể nói, đây là
đặc điểm thuận lợi cho việc đạy học Văn bởi văn học đòi hỏi HS năng lực quan sát rất
cao ( tất nhiên là quan sát thông qua khả năng liên tưởng, tưởng tượng) Hơn thế nữa.
Trang 17văn học là nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ không chỉ là phương tiện mà còn là đối tượng
phản ánh.
Tâm lí học lứa tuổi cũng chỉ ra rằng, sự tập trung chú ý của lứa tuổi học sinh THPT có
sự thay đối Khi tiếp thu tài liệu học, một mặt các em thích học môn nào mà các em cho là
có ý nghĩa thực tiễn, có ích, quan trọng Mặt khác, các em cũng học theo hứng thú của bảnthân Đặc điểm này, một mặt tạo ra khó khăn đối với GV khi phẩi buộc các em học đều
hết các môn (đặc biệt là những môn mà ban thân HS rất “ ngán” ), nhưng mặt khác, nó
cũng mở những khoảng trống để cho những GV nào biết khơi dậy những nhu cầu hứng thú
của HS Thực tế cho thấy ring, cũng một môn học đó một bài học đó nhưng sẽ có GV tao
được sự hứng thú say mê cho HS sau khi hoc, từ đó làm thay đổi quan niệm của HS về
môn học.
Do cấu trúc não phức tạp và chức năng của não phát triển, hoạt động tư duy của học
sinh THPT một mặt tích cực hơn, độc lập hơn sáng tạo hơn, mặt khác tư duy cũng chat
chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn, tính phê phán của HS cũng phát triển Tuy nhiên,
hiện nay, học sinh THPT chưa đạt đến mức độ tư duy đặc trưng này Các em còn dựa
dim, lặp lại người lớn, tư duy có sáng tạo nhưng đôi lúc còn cảm tính Đó là lí do để cácnhà sư phạm day học theo lối cung cấp kiến thức có sẵn, và yêu cầu HS lặp lại một cách
là những yếu tố quan trong quyết định chất lượng học tập đặc biệt là đối với Văn hoc, một
môn học đánh sâu vào những yếu tố bên trong của từng đối tượng HS Dạy Văn nói chung.
thơ văn Nguyễn Đình Chiểu nói riêng, theo hướng hoạt động tiếp nhận của HS là một
cách đánh sâu vào yếu tế bên trong, nhằm thu được hiệu quả cao trong quá trình đạy học.
1.1.2 Tâm lí học hoạt động.
13
Trang 18Tâm lí học hoạt động là một trong những học thuyết tâm lí phát triển mạnh mẽ vào thế kỉ
XX Học thuyết này được xem là “ cuộc cách mạng thực sự trong tâm lí học nói chung, trong
nghiên cứu set hình thành và phát triển trí tué cá nhân nói riêng” ($4, 31].
Xuất phát từ phạm trù hoạt động thực tiễn trong triết học Maexit, nhà tâm lí học vĩ đại
L.X.Vưgôtxki và các nhà tâm lí học kiệt xuất khác như A.N Lêonchiev, X.L Rubinstéin,
Pla Galperin tiếp tục đặt ra và giải quyết các vấn để có liên quan đến hoạt động củacon người Mặc đù mỗi người trong số họ đã đặt ra và giải quyết những vấn để không
giống nhau nhưng tập trung lại họ đã tạo ra một công trình thống nhất cho toàn bộ quá
trình phát triển của tâm lí học hoạt động
Nhìn tổng thể, thế mạnh của học thuyết này là các nguyên lí phương pháp luậnnghiên cứu đo nó vạch ra trên mọi bình điện có liên quan tới việc nghiên cứu và tổ chức
hình thành trí tuệ cá nhân Học thuyết này đã đặt ra nhiều vấn để quan trong rất có ý
nghĩa đối với những người làm công tác giảng dạy.
Dạy học di trước sự phát triển và kéo thea sự phát triển, kết luận này của
L.X.VưgôtxKi ngảy nay có một ý nghĩa võ cùng quan trọng.
Tâm lí học quan niệm, day — học là một chức năng xã hội, nhằm truyền dat và lĩnh
hội kinh nghiệm mà xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kinh nghiệm xã hội thành phẩmchất và năng lực của cá nhân
Nhưng kinh ngiém xã hội ngày nay lại gắn lién với sự phát triển của trí thức khoa
học Dạy học ngày nay không chỉ dừng lại ở sự nhận biết về những gì đã diễn ra trong
quá khứ mà còn phải cung cấp cho HS bức tranh về quy mô và chiéu hướng phát triển của nhân loại, của thế giới trong hiện tại và tương lai Vì thế, phương pháp dạy học hiện
nay không chỉ dừng lại ở việc cung cấp những kiến thức cẩn biết, đã qua cho HS mà còn
đồi hồi HS khả năng trừu tượng và khái quát, phải đủ sức phát hiện ra những nguyên lí,
những cơ chế hình thành của sự vật - hiện tượng Trước sự tiến bộ của khoa học Kĩ thuật
như hiện nay nhà trường buộc phải lựa chọn nội dung và tim phương pháp day học thích
hợp, đạt hiệu quả Nhà trường hiện nay và trong tương lai phải hướng tới dạy cách học,
14
Trang 19cách tiếp thu kiến thức theo một hệ thống hiện đại mới có thể thể hiện được khả năng *
đi trước” của minh so với sự phát triển của xã hội
Văn học là lĩnh vực dé khiến cho người ta nghĩ rằng nó đi sau sự phát triển, thậm chi
đi ngược lại so với sự phát triển của thời đại
Văn học thường đưa người ta tim về quá khứ { đa số các tác phẩm được học trong nhàtrường hiện nay là các tác phẩm được sáng tác trong quá khứ ) trong khi xã hội ngày
nay đang từng phút từng giờ hướng tới tương lai Vậy phải dạy những nội dung gì, khai
thác những yếu tố gì, vấn để gì từ những tác phẩm trong văn học quá khứ ấy, phải dạy
học HS như thế nào để cho phù hợp với yêu cầu của thời đại, và yêu cầu của thế hệ trẻ
ngày nay? Đó là công việc đặt ra đối với những người trực tiếp liên quan đến việc giảng
day Văn học.
Để dạy học đi trước sự phát triển, kéo theo sự phát triển, cách đạy tối ưu nhất trong
nhà trường hiện nay là đạy cách học, dạy phương pháp học Trong số phương pháp định
hướng việc hình thành hoạt động trí tuệ của trẻ em, P.Ia.Galperin đặc biệt chú ý và đưa
ra loại định hướng “ khái quát đẩy di, học sinh thực hiện” Đây là loại định hướng huấn
luyén phương pháp cách thức việc làm Yêu cẩu cơ bản của loại định hướng này là trẻ
em trước hết phải nắm được phương pháp chung nhất, sau đó biết cách cụ thể hoá vào
từng tinh huống riêng.
Trong môn Văn học, đường như trước đây người ta chỉ chú ý đến việc dạy kiến thức
vé Văn học mà chưa chú ý đến việc dạy cách tiếp cân, cách khai thác tác phẩm Diéu
này đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là HS buộc phải học rất nhiều tác phẩm nhưng khihọc xong tác phẩm nào thì HS chỉ biết phân tích được mỗi một tác phẩm ấy đứng trướcmột tác phẩm khác cùng thể loại, các em tỏ ra hing túng, bất lực Đó là do HS chưa có
phương phấp dé tiếp cận tác phẩm Các em chưa được học cách khái quát, chưa được
thực hiện công việc tự mình vận dụng kiến thức đã học vào những tình huống, tác phẩm
cụ thể, Thấy rõ được hạn chế đó, SGK Ngữ Văn mới hiện nay đang tiến hành xây dựng
lai cách học, cách day học cho phù hợp với thời đại.
15
Trang 20Các nhà tâm lí học cho rằng “ of tưệ của trẻ em được hình thành bằng chính hoạt động
của nó” Hoạt động đó là hoạt động có ý thức, có tính độc lập và chủ động Piagie để nghị
trong dạy học phải coi rẻ em là các nhà khoa học tứ hon, mỗi hành động học tập của các
em phải coi là hành động phát sinh Nhưng độc lập và chủ động không có nghĩa là HS có
thé tự mình làm việc để tim ra tri thức Theo L.X Vưgôtxki, để làm được việc này, trẻ em
phải gián tiếp thông qua người lớn, thông qua hoạt động hợp tác giữa trẻ em và người lớn.
Thuyết “ day học hợp rác” của L.X.Vưgôtxki đã đóng góp rất lớn vào hệ thống lí luận day
học hiện đại Vai trò của GV trong việc day tri thức, không phải ở sự truyền đạt kiến thức,
mà GV phải là người tổ chức, người hướng din, người cố vấn cho HS trong việc học tập;giúp đỡ, định hướng điểu khiển và điều chỉnh hoạt động học tập của HS Các hoạt động
day và học của GV và HS chỉ được thực hiện thông qua sự (ng tác.
Theo các nhà tâm lí học hoạt động, quá trình phat triển trí tuệ của trẻ em là * gud
trình lĩnh hội kinh nghiệm của loài người” Với quan điểm này, nền văn hóa vật chất vàvăn hóa tinh thần do các thế hệ nhân loại sáng tạo ra là nguồn gốc vô tận cho sự phát
triển của mọi cá nhân hiện tai và tương lai Dạy học, có thể xem là quá trình tổ chức
hoạt động giao lưu giữa thế hệ trẻ với các thế hệ người trong quá khứ Trong các môn
học ở nhà trường hiện nay, có lẽ, sự giao lưu ấy được thể hiện rõ nét nhất trong mônVăn học Dạy học tpve thực chất là quá trình tổ chức hoạt động giao tiếp, giao lưu đối
thoại giữa Thay và Trò với các nhà văn và các thế hệ mà nhà văn đang sống Không chỉ
có thế, tiếng nói của truyền thống văn học, của văn hóa dan gian, của nhiều nhà văn,của nhiều ting lớp người khác nhau đều được nhà văn tiếp thu và phan ánh lại trongtác phẩm Nói cách khác, day học tpve, thực chất là tổ chức hoạt động giao tiếp giữa HS
với cộng đồng, với nhân loại, từ quá khứ đến hiên tại và thậm chí còn hướng đến cả
tương lai.
Trong khi nghiên cứu về các yếu tố tạo nên sự phát triển trí tuệ cá nhân, thông qua hoạt
động của nó, các nhà tâm lí học hoạt động cũng đặc biệt chú ý đến yếu tố cảm xtc
L.X.Vưgôtxki cho rằng, trong tư duy ngôn ngữ, ý không phải là điểm tận cùng
của toàn bộ quá trình Đăng sau ý là cảm xúc, xu hướng, nhu cầu, ý chi Dạy học tpve
16
Trang 21không phải chỉ dừng lại ở việc cho HS phát hiện ra “ ý” từ ngôn ngữ của tác phẩm, bởi
đằng sau những chi tiết, nhừng sư kiện, sự việc, những biện pháp tu từ, đăng sau những
lời nói của nhân vật déu ẩn chứa trong đó những cảm xúc, những tư tưởng, những ước
mơ, những khát vọng thẩm kín của nhà van, và rộng hơn, của cả một ting lớp người
trong xã hội.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Hơn bao gid hết, ngôn từ trong văn học là ngôn từ
đẩy cảm xúc đẩy tình cảm trong quá trình sáng tác và tiếp nhận Cho nên khi day họctpve, GV không chỉ tổ chức hướng dẫn HS khơi tim cảm xúc của người sáng tác, củanhân vật trong tác phẩm mà còn phải khơi dậy được cảm xúc của chính người tiếp nhận
(HS) Tất nhiên, cảm xúc ở đây không phải chi dùng theo nghĩa thông thường ( yêu, ghét, ham hở, nhiệt tình ) mà còn đi đến những phẩm chất cao hơn như tự ý thức, sự tự
tin, lạc quan, khả năng đồng cam Yêu cầu này không chi đặt ra đối với HS mà cả GV
cũng phải chú ý rèn luyện bởi vì cảm xúc khơi gợi niém say mê hứng thú cho GV trongviệc tổ chức hướng din HS giao lưu đối thoại với nhà văn và tác phẩm
Dạy - học Văn theo hướng hoạt động tiếp nhận của HS trong nhà trường phổ thông làphương pháp day - học phù hợp với sự phát triển tâm lí, nhân cách, trí thức của HS
1.2 Những quan điểm mới về Giáo dục là cơ sở lí luận giúp cho việc xác định
đúng bản chất của quá trình dạy học Văn.
Vài thập kỷ gắn đây, thế giới dién ra một sự thay đổi ngày càng rõ nét trong cáchhiểu vé Day và Học, trước hết là ở nhà trường Sự thay đổi này cũng đang dién ra ởnước ta trong những năm gin đây, khi mà Đảng, Nhà nước, ban ngành các cấp đều ra
sức tập trung vào sự phát triển nên giáo dục
Cùng với sự đổi mới của xã hội, nội dung đạy học theo hướng hiện đại hóa đáp ứngngày càng cao của nền kinh tế tri thức và sự phát triển như vũ bão của khoa học côngnghệ, giáo dục — đào tạo cũng phai thay đổi theo cho phù hợp với nhu cẩu của xã hôi
Và nội dung day học đã kéo theo một cuộc cách mạng vé phương pháp dạy học Phương
pháp truyền tin đã tỏ ra phản tác dụng, thầy giáo không còn là vị trí trung tâm trong quá
17
Trang 22trình day học “ Nhà giáo trước hết không phải là người cung cấp thông tin mà là người
hướng dẫn đắc lực cho học sinh tự mình học tập tich cực ( ) Họ phải nhường quyền cung
cấp trì thức cho sách vd, tài liệu và cuộc sống” Thay vào đó, ~ giáo viên phải là người
cố vấn, là trong tài khoa học” | T Makiguchi, 59, 139]
Nhìn chung, trong thập kỉ cuối cùng của thế kỉ XX, giáo dục học của thế giới và Việt
Nam đã có sự thay đổi đáng kể về tư tưởng, vé phương pháp Có thể điểm qua một số
đổi mới đó như sau:
1.2.1 Quan điểm giáo dục mới: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Quan điểm giáo dục mới này còn được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau như: Dey học
tập trung vào người học: Dạy học căn cứ vào người học Các thuật ng này mới chỉ được sử
dụng gần đây, nhưng cơ sở của tư tưởng này là công trình của các nhà giáo dục tiên tiến của
thế ki XX trong đó có J Deway C Roges thì đã được hình thành từ trước Các tác gia này
đã để cập đến nhu cầu lợi ích của người hoc, để xuất tăng cường tính tích cực vai trò tự lực
nghiên cứu học tập của người học.
Nhìn một cách tổng thể, các thuật ngữ này đều có chung nội hàm là nhấn mạnh hoạtđộng HOC và vai trò của HS trong quá trình day học Quan điểm day học này khác sovới quan điểm dạy học truyền thống lâu nay là nhấn mạnh vào hoạt đông DẠY và vai
trò của GV trong quá trình dạy học
Day học theo quan điểm mới * lấy học sinh làm trưng tâm” là một quan điểm tích cực,
phù hợp với quy luật tâm lí học, bởi chỉ khi day học hướng vào HS, khơi đây sự tích cực
chủ động của HS thì việc dạy học mới có thể đạt kết quả Quan điểm dạy học mới này
đánh vào đúng điều kiện hoạt động bên trong của HS tức là nó dựa trên cơ sở nhu cẩu,
hứng thú, thói quen, năng lực của HS ở các trình độ khác nhau, nhằm giúp HS lĩnh hội
được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, từ đó hình thành được thái độ các giá trị cẩn thiết, phát
huy đựợc đầy đủ nhất năng lực của các em
18
Trang 23Theo quan điểm nay, trong quá trình day học, người học, vừa là đối tượng của hoạt
động DẠY, vừa là chủ thể của hoạt động HỌC Thông qua hoạt động HỌC, đưới sự chỉđạo của Thay, người học phải tích cực chủ đông, cải biến chính mình vẻ kiến thức, kỹ
năng thái độ hoàn hiện nhân cách Nếu người học không tự giác không hoạt động.
không có phương pháp học tập tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất thấp Theo Vũ Văn
Tảo thì * sự thay đổi cơ bản trong quan hệ giữa Dạy và Học ngày nay là việc học và
người học được xem là lí do tốn tại của việc day và người dạy Việc dạy phải thực sự đốt với việc học, người dạy phải gắn bó vái người học; việc “day có hiệu qua” nhất thiết phải
được đánh giá từ việc “hoc cá hiệu quả ”[ 78 , 43] Cũng theo tác giả này, “ cẩn phải bắtđẫu từ quan niệm học mà xác định quan niệm về day” [78 , 43] Giáo duc theo quan điểmnày thì mục đích, nội dung, phương pháp phương tiện việc tổ chức đánh giá cũngbuộc phải thay đổi theo Nếu như dạy học hướng tập trung vào GV coi trọng sự có mặt
của HS ở trường, coi trọng khả nang ghi nhớ và tái hiện các sự kiện, thông tin thì day
học theo quan điểm hướng tập trưng vào HS chú ý hình thành và phát triển ở HS năng
lực “hoe cácí: học”, tức là những kỹ năng khiến HS tự học, đáp ứng những nhu cẩu vàthách thức của nguồn thông tin kiến thức ngày càng phong phú
Trước đây, người ta quan niệm rằng, nội dung dạy học là những đơn vị kiến thức cụ
thể được quy định sẵn trong chương trình qua từng môn học cụ thể Dạy học là truyềnmột phan kiến thức đó vào cho HS, và HS có nhiệm vụ lĩnh hội những nội dung đó
Quan điểm giáo dục mới không quan niệm như thế, mặc dù chương trình môn học vẫn là
cơ sở để tiến hành hoạt động Dạy - Học
Hiện nay, người ta chia kiến thức thành 3 cấp độ:
Cấp độ 1: Kiến thức tư liệu ( kiến thức cụ thể)
Cấp độ 2: Kiến thức khái niệm ( kiến thức khái quát).
Cấp độ 3: Kiến thức siêu kiến thức ( kiến thức phương pháp).
Trong ba cấp độ kiến thức nói trên, ngày nay người ta đặt biệt chú ý đến loại kiến
thức vé phương pháp bởi đây là dạng "kiến thức nhân kiến thức” Loại kiến thức nay,
19
Trang 24một mặt phát huy được khả năng sáng tạo, tích cực của HS trong việc vận dụng, mặt
khác nó giải quyết được mâu thuẫn giữa số lượng kiến thức ngày càng tăng lên khổng 16
và quỹ thời gian eo hẹp trong nhà trường hiện nay.
1.2.2 Phương pháp giáo dục mới: Phuong pháp tích cực
Đổi mới mục tiéu và nội dung day học không thể không thay đổi phương pháp giảngdạy “ Phương pháp tích cực” là một thuật ngữ rút gon, được dùng ở nhiều nước, để chì
những phương pháp day học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của
người học Đó là sự đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo duc Nét mới của phương
pháp này là chuyển từ việc truyền đạt kiến thức thy động, thẩy giảng, trò ghi sang
hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức Phương pháp nàyday cho người học phương pháp tự hoc tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư
duy phân tích, tổng hợp: phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ đông,
tính tự chủ của HS.
Theo Trin Bá Hoành, có 4 đấu hiệu đặc trưng để phân biệt phương pháp tích cực và
phương pháp thụ động:
1 Day học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
2 Day học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
4 Kết hợp đánh giá của Thấy với tu đánh giá của Trò
Để phương pháp tích cực phất huy được vai trò, tác dụng, trong quá trình đạy - học,
GV thường thực hiện một số phương pháp cụ thể sau đây:
1 Phương pháp vấn đáp, tim tòi: Đây là phương pháp trong đó GV dùng một hệ
thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng din HS từng bước phát hiện ra bản chất của
sự vật, tính quy luật của hiện tượng nhằm kích thích sự ham muốn, tìm tòi phat hiện trithức của HS HS có thể trả lời hoặc có thể tranh luận với bạn bè, với GV những vấn để
đặt ra.
Trang 252 Phương pháp day học đặt và giải quyết vấn dé; Day là cách mà GV (và cả HS)phát hiện, nhận dang những vấn để nảy sinh từ bài học (những vướng mắc, những mâu
thuẫn, hoặc những vấn để cốt lõi của bài học } và HS, dưới sự hướng dẫn của GV hoặc
tự mình tìm ra cách giải quyết vấn để: khẳng định hay phủ định bác bỏ; để xuất hướng
giải quyết mới
Hiện nay, người ta dang cố gắng hướng tới việc tập đượt cho HS biết phát hiện, đặt vấn
để và giải quyết vấn để trong bài học trong tình huống giữa bài học và thực tẾ cuộc sống xãhội nhằm tạo điều kiện cho HS vừa nim được ci thức mới vừa nắm được phương phápchiếm lĩnh trí thức đó phát triỂn tư duy tích cực sáng tạo cho HS
3 Dạy học hợp tác trong nhóm nhỉ: Bằng cách chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗinhóm từ 5 - 7 HS, các thành viên có thể trao đổi, trình bay và tranh luận những gì mìnhhiểu biết vé vấn để mà GV đặt ra Phương pháp này, một mặt giúp HS mạnh dạn hơntrong giao tiếp học được nhiều bài học bổ ích từ bạn bè đồng thời cũng rèn luyện cho
HS năng lực hợp tác giữa các thành viên trong quá trình tổ chức học tập và lao động
Có thể thâu tóm sự khác biệt giữa phương pháp tích cực và phương pháp thụ đông
bằng bảng so sánh của Nguyễn Kì sau đây [ 33.79].
5 Thầy độc quyền đánh giá 5 Tự đánh giá, tự sửa sai, diéu chỉnh,
làm cơ sở để Thầy cho điểm cơ động
Có thể khẳng định rằng, Dạy và Học là hai hoạt động tương tác thường xuyên, gắn bó
một cách mật thiết Dạy như thế nào? Điều này còn tuỳ thuộc vào giả thuyết của GV về cái
Trang 26và cách mà người học sẽ học Do vậy, " day 161 đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu Kĩ về cách
học của người hoc, phải cố gắng liên tục học về cách hiểu của người học và về nhing tác động của cách dạy đối với cách hiểu đó" (78,45).
Dạy học Văn theo hướng hoạt động tiếp nhận của HS trong nhà trường phổ thông hiện
nay là hướng day — hoc phù hợp với phương pháp giáo dục mới hiện nay.
1.3 Những thành tựu của lí thuyết tiếp nhận văn học tạo cơ sở lí luận để xâydựng nên phương pháp day học Văn trong nhà trường phổ thông theo hướng tiếp
nhận của HS.
Tiếp nhận văn học không phải là vấn để mới trong nghiên cứu văn học Nó được khai
sinh cùng lúc với sáng tác văn học là một khâu tất yếu trong hoạt động văn học Lí luận văn
học truyền thống ghi nhận quá trình tiếp nhận văn học ở cấp độ cá thể, do đặc điểm của cá
tính, các trang thái tư tưởng tình cam của người đọc quy định Tri âm và kí thác là hai lối tiếp
nhận truyền thống thường gặp trong văn học.
Lí thuyết tiếp nhân văn học tuy manh nha xuất hiện đã lâu nhưng mãi đến những năm 70 của thế ki XX, khi có sự ra đời của trường phái * Mĩ học tiếp nhận” & Konstanz ( Đức), lí
thuyết này thật sự đi vào quy đạo chung của quá trình nghiên cứu và nó trở thành một trong những vấn để trọng điểm của môn lí luận văn học.
Được khởi nguồn ngay trong chủ nghĩa cấu trúc và các hệ thống lí thuyết khác ra đời
vào những thập kỉ đầu của thế kỉ XX như Mi học hiện tượng học, giải thích hoc, trường
phái Mi học tiếp nhận do hai giáo sư đại hoc Konstanz ( Đức) là Hans Robert Jauss và
Wolfgan Iser đứng đầu ra đời.
Mặc dù không phải mọi quan niêm của Mi học tiếp nhận đều đúng, nhưng cắn phải thấy
rằng nhiều vấn dé mà hai nhà nghiên cứu này dé ra có ý nghĩa vô cùng quan trong, không chỉ
đối với chuyên ngành nghiên cứu van học mà còn tỏ ra có tác dụng đối với những người có liên
quan trực tiếp đến công việc giảng dạy Văn học.
1.3.1 Trong số các luận điểm ma Hans Rober Jauss và Wolfgan ler đê cập đến, vấn
đề “người doc” được xem là vấn dé nối bật và quan trọng nhất
tệ t2
Trang 27Không phải đến Jauss và Iser, vấn để người đọc mới được chú ý để cập Từ rất lâu,
dù trực tiếp hay gián tiếp, người ta đã có ý thức về người đọc như một đối tượng tiếpnhận Tuy nhiên, trong lí luận tiếp nhân truyền thống vai trò của người đọc chưa đượcnhìn nhân đúng mức, nó còn được xem như một đối tượng độc lập tách rời với tác phẩm
và với quá trình sáng tạo.
Đến Jauss và Iser, vấn để ngs doc đã trở thành đối tương trung tâm để nghiên cứu Với
ho, người đọc có một vai trò quan trọng, như một yếu tố nội tai của hoạt động sáng tạo, đồng
thời nó cũng là nhân tố sống còn của tpvc Nói cách khác người đọc trở thành yết tế quyết định đối với sự tổn tại cũng nlut vận mệnh của tác phẩm văn học.
Jauss trong bài viết “ Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đấi với khoa học van
chương” đã viết: “ trong cái tam giác tác giả, tác phẩm và người thưởng thức, thì người
thưởng thức không phải là phần sáng tao thụ động hay chỉ là mất xích đơn giản của quá
trình tiếp nhận, mà chính là năng lượng tạo thành lịch sử Sự tổn tại lịch sử của tác phẩm
văn học không thể cá được nếu thiếu sự tham gia tích cực của người đọc” [31.84].
Liên quan đến vấn để người đọc, Iser đã để cập đến khái niệm “ kết cấu vẫy gọi” vàkhái niệm này đã trở thành công trình nghiên cứu nổi tiếng của ông Theo Iser trong sự
tương tác giữa văn bản và người đọc thì văn bản là một kết cấu vẫy gọi tức là văn bản
có những * điểm trống” “ điểm chưa xác định” Với kết cấu ấy văn bản luôn nằm trong
trang thái “ tiém tai” chờ đợi người đọc cụ thể hoá, phát huy tính sáng tạo trong quá
trình khai phá, tiếp nhận tác phẩm Tiếp nhận văn học là hoạt động mà trong đó người
đọc tham gia vào việc giải mã văn bản, bù lấp những “điểm trống” ấy, làm sống dậynhững ý nghĩa ẩn tàng trong tác phẩm Kết quả là, ý nghĩa của tác phẩm được nảy sinh.Nhưng ý nghĩa ấy, tuỳ thuộc vào “tẩm đón nhận” của người đọc Tuỳ mỗi đọc giả vớitẩm hiểu biết của mình vé văn học vốn văn hoá kinh nghiệm sống đặc biệt là kinhnghiệm thẩm mi mà có cách tiếp nhận giải mã khác nhau Vì vậy mà sẽ không có một
tác phẩm duy nhất trong những người đọc khác nhau, và cũng sẽ không có cái gọi là ýnghĩa cuối cùng trong việc tiếp nhận, giải mã tác phẩm Nói một cách khác, ý nghĩa củatác phẩm không phải là cố định, bất biến Nó là một quá trình, theo thời gian, ý nghĩa đó
Trang 28được bổ sung, được bồi đắp, hoặc được mở rộng nâng cao, hoặc bị tàn lụi thu hep dẫn.
Chính Jauss cũng đã nói: “Tác phẩm văn học không phải là vật tốn tại trong chính nó,
luôn trao càng một cảnh tượng cho tất cả nhữềng ai nhìn ngẫm nó, cling không phải là tượng đài kỉ mệm công bố tính chất phi thời gian trong hình thức độc thoại của né”
1.3.2 Với tư cách là người tổ chức hoạt động tiếp nhận cho HS, người GV Văn học
tiếp thu được những gì từ lí thuyết tiếp nhận văn học?
Trước những chuyển biến của giáo dục, trước những thuật ngữ mới trong chuyên ngành
phương pháp như * Day học lấy học sinh làm trưng tâm”, * Dạy học phát lu chà thể học sinh
*, môn Văn học trong nhà trường cũng đã có một thuật ngữ riêng cho đối tượng HS của mình,
đó chính là thuật ngữ Hoc sinh = ban doe sáng tae”.
Tác phẩm văn chương, sản phẩm do nhà văn tạo ra, là kết quả lao động nghệ thuậtvới sự khám phá độc đáo Nó thể hiện sự sáng tạo mang giá trị thẩm mĩ cùng với thái độ
của nghệ sĩ trước cuộc sống Nhưng nếu như chỉ dừng lại ở đó, tác phẩm vẫn chưa bộc lộđược ý nghĩa, vẫn chưa có cuộc sống thực, hoàn chỉnh Để đi hết vòng đời của nó, để tácphẩm bộc 16 được giá trị của mình, những trang văn đó phải chịu su phản ứng của chủthể tiếp nhân Nhờ tác động của chủ thể tiếp nhận mà chúng ta mới có cơ sở để lí giảiđúng đắn tính ban thể của hình tượng văn học Nếu chưa trao văn bắn đến tay người đọc,tác phẩm vẫn chưa thể hiện được diéu mà nhà văn và những người cùng thế hệ nhà vănmuốn nói Điều đó cũng không ngoại lệ đối với việc tiếp nhận tpve trong nhà trường phổ
Trang 29thông Nếu tpve vẫn còn xa lạ với HS, HS không làm việc trực tiếp với tác phẩm, không
đọc tác phẩm, không tiến hành các “hoat động bên trong” để tự mình phát hiện ra giá trịtác phẩm thì tác phẩm van tổn tai đó nhưng lại vô nghĩa đối với HS
Trong nhà trường, tam đón nhận của người đọc — học sinh lại có những điểm khác
biệt so với người đọc ngoài đời.
Một mặt các em có những nét riêng vẻ tính tinh, sở thích thị hiếu, trình độ hiểu biết
về văn học, nguồn gốc xuất thân Nói cách khác, các em trước khi tiếp nhận tác phẩm,
đã mang trong mình một thế giới quan, một nhân sinh quan khác nhau Nhưng mặt khác,
hoạt động tiếp nhận của HS trong nhà trường lại vừa mang tính tập thể - xã hội Ý kiến
tiếp nhận của từng HS trong lớp học sẽ phải góp phẩn hình thành những quan điểmchung cho tập thể lớp học Chấp nhận tính tích cực của từng chủ thể HS không có nghĩa
là không có một quan điểm chung trong quá trình tiếp nhân tác phẩm Từ những
“khodng trống” trong tác phẩm văn học mỗi HS có thể bổ sung vào đó những giá tri
mới cho phù hợp với yêu cầu của sở thích, lứa tuổi, kinh nghiệm sống của bản thân
mình Đồng thời, những ý kiến đó phải phù hợp với yêu cầu của thời đại, của xã hội,
mục tiêu giáo dục Trong từng tác phẩm, có những giá trị chỉ có tính nhất thời, nhưng
cũng có những giá trị vững bén, phù hợp với mọi thời đại Do vậy, nhiệm vụ chủ yếucủa HS trong quá trình tiếp nhận tác phẩm là bên cạnh việc phát triển thêm những giátrị mới, các em còn phải phát hiện ra cho được những giá trị về tác phẩm mà các thế hệ
trước đã khám phá phát hiện bởi hấu hết các tác phẩm được đưa vào nhà trường là
những tác phẩm không chỉ trải qua sự kiểm định của những người biên soạn chương trình
mà nó cũng đã được hàng triệu đọc giả ở những thời kì lịch sử khác nhau phát hiện,
khẳng định Nói cách khác, đó có thể xem là những tác phẩm ưu tú nhất, có giá trị nhất
trong kho tang Văn học dan tộc và nhân loại.
Nói đến tắm đón nhận nói đến tính tích cực chủ động sáng tao của HS điều đó không có
nghĩa là tuyệt đối hóa vai trò của HS trong quá trình dạy học, đặc biệt là dạy học Văn học.
HS là lứa tuổi hiếu động, thích khám phá, tìm tòi cái mới, thích khẳng định bản thân mìnhtrước đám đông Lứa tuổi HS là lứa tuổi đẩy hoài bão, đẩy nhiệt huyết Nhưng mặt khác, do
Trang 30thiếu kinh nghiệm sống, đo vốn hiểu biết vé văn hoá, văn học chưa sâu, lại đo tính nhất thờinông nỗi của lứa tuổi mới lớn mà những phát hiện của HS vẻ ý nghĩa, giá trị của tác phẩmnhiều lúc tổ ra vô căn cứ, xa lạ với tác phẩm thậm chí có những phát hiện là xuyên tạc giátrị vốn có của tác phẩm Thực tế này đòi hỏi GV phải có hướng dẫn dit, định hướng điềuchỉnh kịp thời trong quá trình tổ chức tiếp nhận tác phẩm văn học cho HS Nói theo các nhàtâm lí học hoạt động, phải có sự "øp rác” trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học Văn
học.
Để thực hiện được vai trò hợp tác một cách có hiệu qua, người GV Văn học phải là
một người có day đủ tác phong một nhà sư phạm mẫu mực, phải coi trọng giáo dục tư tưởng, “kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp bản sắc văn hoá của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hoá nhân loại: phà hợp với sự phát triển về tâm sinh ly lứa tuổi của người
hoc”, “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học: bồi
dưỡng che người học năng lực tự học khả năng thực hành, lòng say mê hec tập và ¥ chi
vươn lên” (16, 9| Mặt khác, họ cũng phải là người có năng lực cảm thụ tỉnh tế đối với
tpvc, họ là một độc giả đặc biệt của nhà văn —- nhà phê bình miệng — đóng vai trò là
chiếc cẩu nối là người đại diện cho cả nhà văn và công chúng tiếp nhân ( học sinh) họ
phải là người đại diện xứng đáng cho sự tiếp nhận tpve một cách lành mạnh, công minh.
Tóm lại, lí thuyết tiếp nhận chỉ ra rằng hoạt động tiếp nhận văn học là một biện tượng
vừa mang tính cá nhân vừa mang tinh xã hội Người đọc phải kết hợp cả những kiến thức,
những hiểu biết về chính ban thân tác phẩm văn học đó quy định, vừa phẩi có sự kết hợp bởikinh nghiệm tiếp nhận do truyền thống văn học và sự tiếp nhận các tác phẩm đã có trước đó,
đồng thời người đọc phải kết hợp với nhu cầu đời sống những vấn dé, những hiện thực mà
họ quan tâm Vì thế mà, lí thuyết tiếp nhận văn học chấp nhận các xu hướng tiếp nhận khác
nhau trong cùng một tác phẩm
Nhạy cắm nhận ra giá trị tác phẩm từ trong kết cấu, từ ngữ hình tượng nhân vat
trau déi vốn sống, vốn hiểu biết về văn hoá, về kiến thức văn học vận dụng nhữngkinh nghiệm, những yêu cầu của thời đại mới để bổ sung, phát hiện thêm những giá trị
Trang 31mới cho tác phẩm văn học , đó là những yêu cầu cẩn thiết đối với bản thân từng HS,đồng thời đó cùng là nhiệm vụ, là mục đích đặt ra cho các nhà sư phạm Văn học.
Trang 32Outong 2
VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH TIẾP NHẬN THƠ VĂN NGUYÊN ĐÌNH CHIỂU
TRONG GIỚI NGHIÊN CỨU VÀ TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT.
2.1 Ý nghĩa sư phạm của công việc này đối với giáo viên trong việc để ra phương
pháp dạy học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
2.1.1 Ý nghĩa chung của công việc này đối với GV Văn hoe.
Tiếp nhận văn học là kết quả nghiên cứu của chuyên ngành lí luận, phê bình văn
học Đó là sản phẩm của những người không bằng lòng với những quan niệm đã có sấn
trong lĩnh vực nghiên cứu Thế nhưng, cho đến bây gid, giá trị ứng dụng của nó đã được
đào sâu, phạm vi ứng dụng đã được mở rộng Tiếp nhận văn học giờ đây đã trở thànhvấn để của rất nhiều chuyên ngành, trong đó đặc biệt quan trọng đối với chuyên ngành
phương pháp giảng dạy Văn học.
Nghiên cứu sự tiếp nhận của tất cả người đọc qua từng thời điểm khác nhau trong
từng tác phẩm giờ đây không còn là để tài xa lạ đối với những người nghiên cứu và
giảng day Văn hoc Nghiên cứu quá trình tiếp nhận của đọc giả sẽ giúp cho người
nghiên cứu, giảng đạy có một cách nhìn, cách đánh giá đẩy đủ hơn, khách quan hơn nó
giúp cho sự hiểu biết của người tiếp nhận về giá trị của tác phẩm trở nên sâu sắc hơn,
toàn điện hơn.
2.1.2 Ý nghĩa cụ thể đấi với GV khi nghiên cứu quá trình tiếp nhận thơ văn Dé
Chiểu trong giới nghiên cứu.
Mỗi đọc giả, với tầm đón nhận riêng của cá nhân mình, thời đại mình mà có những
hướng tiếp nhân thơ văn Nguyễn Đình Chiểu khác nhau Điểm lại những hướng tiếpnhận khác nhau đó để làm phong phú thêm cho kho tàng kiến thức của bản thân mình,đồng thời đó cũng là cơ sở thực tiễn để GV để ra phương pháp dạy học thơ văn NguyễnĐình Chiểu một cách thích hợp
Nghiên cứu, tìm hiểu quá trình tiếp nhận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu qua các nhà nghiêncứu sẽ giúp cho người GV có kiến thức sâu rộng hơn về tác gia, tác phẩm mà minh đang giảngdạy Đó là một cách để thực hiện yêu cau : “Biét mười để dạy một”
Trang 33Con người là một sinh vật có ý thức, có hiểu biết, có sáng tạo, nhưng khả năng hiểu
biết và sáng tao của con người là hữu han Vì thế, con người cẩn phải học hỏi, kế thừa
những thành quả, những giá trị của những người đi trước và những người cùng thời với
mình sáng tạo ra Tích cực, chủ động sáng tạo trong quá trình tiếp nhận thơ văn Nguyễn
Đình Chiểu không có nghĩa là chỉ giữ lấy một ý kiến của cá nhân mình Tiếp thu, mởrộng, học tập và rút ra những bài học bổ ích cho bản thân mình, đó là những yêu cầu cẩn
thiết đối với mỗi người, đặc biệt quan trong và cẩn thiết đối với những người làm công
việc giảng day.
Nam được nhiều ý kiến khác nhau vé Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm, một mặt,
GV sẽ không bị gò bó trong khuôn khổ chặt hẹp của sự hiểu biết, GV sẽ vững vàng hơn,
tự tin hơn về kiến thức của mình Nói cách khác, GV sẽ làm chủ được vấn dé cần trình
bày đối với HS, có điểu kiện và khả năng chọn lọc những kiến thức cơ bản nhất, cinthiết nhất, tạo cơ sở vững chắc trong việc hướng dẫn, tổ chức HS tiếp nhận giá trị thơ
văn Nguyễn Đình Chiểu Nếu bản thân người dạy hiểu về tác phẩm không sâu rộng,
không khách quan chắc chắn rằng công việc định hướng sẽ không đạt hiệu quả.
Mặt khác, trên cơ sở nắm được nhiều ý kiến khác nhau về Nguyễn Đình Chiểu vàtác phẩm, GV sẽ có diéu kiện phat huy sự suy nghĩ của riêng mình, từ đó hướng dan HSkhám phá ra nhiều yếu tố mới cho phù hợp với nhu cầu của thời đại, và đó cũng là cách
khơi gợi sự sáng tạo của HS trong giờ day học.
2.1.3 Ý nghĩa cụ thể đối vái GV khi nghiên cứu quá trình tiếp nhận tho văn Nguyễn
Đình Chiểu trong nhà trường phổ thông
Giữa nghiên cứu và giảng dạy, dù giữa chúng có mối tương quan với nhau nhưng vẫn
là hai công việc khác nhau Nghiên cứu văn học là công việc ở cấp độ cao, cấp độ
chuyên sâu, trong khi đó nhà trường phổ thông là nơi cung cấp, phát hiện những đơn vịkiến thức phổ thông cơ bản, kiến thức đó không quá khó khăn, phức tạp đối với ngườitiếp nhận Vì vậy song song với việc tim hiểu vấn để töiếp nhận Đồ Chiểu và thơ văn
của Cu trong giới nghiên cứu, người GV cẩn phải chú ý đến việc tiếp nhận của GV và
Trang 34HS trong nhà trường phổ thông hiện nay Đây là những đối tượng khảo sắt quan trọng và
thiết thực nhất đối với những người trực tiếp tham gia giảng đạy
Tìm hiểu quá trình tổ chức hoạt động tiếp nhận của GV để có những số liệu, nhữngthông tin đáng tin cậy về việc dạy và học thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Cụ thể là, nắm
bắt được phương pháp, cách thức, những nội dung tiếp nhận, những bài học bổ ích mà
GV sẽ tổ chức cho HS tiếp nhận
Tìm hiểu quá trình tiếp nhận của HS đối với Đỗ Chiểu và thơ văn của Cụ để nắm
được sở thích, tâm tư nguyện vọng, những vấn để mà HS quan tâm cũng như phương
pháp và nội dung tiếp nhận được từ tác giả, tác phẩm Công việc này tạo cơ sở vữngchắc cho việc để ra phương pháp day — học theo hướng tiếp nhận của HS một cách thích
hợp, đạt hiệu quả.
2.2 Vài nét về tình hình tiếp nhận Đồ Chiểu và thơ văn của Cụ từ trước đến nay
So với các nhà văn khác, con người và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, kể từ khi ra đờicho đến nay, được giới nghiên cứu tiếp nhận một cách tương đối thống nhất Gọi làthống nhất bởi vì, mặc dd mỗi thời kì, mỗi đọc giả có những xu hướng, cách thức tiếp
nhận khác nhau, nhưng tất cả déu nhằm bổ sung thêm cho tác giả, tác phẩm những giá
trị mới, ngày một day đủ hơn, hoàn chỉnh hơn Người ta không thấy, hoặc ít thấy ở đócác ý kiến trái ngược nhau, đối lập nhau một cách gay gắt để có thể dẫn đến cuộc bút
chiến Đối với người giảng dạy mà nói, đây là điểm rất thuận lợi để tổ chức hoạt động
tiếp nhận cho học sinh THPT.
2.2.1 Đồ Chiểu và the văn của Cụ dưới sự tiếp nhận của các nhà nghiên cứu
Trên mảnh đất phương Nam của Tổ quốc, trước Đồ Chiểu đã có không ít
những nhà văn, nha thơ góp phẩn làm phong phú cho kho tang văn học Nam Bộ bằng
những trang văn, trang thơ đặc sắc Nhưng vượt ra khỏi giới hạn miền Nam, ngay từ tácphẩm đầu tiên, trước 1859, có lẽ chỉ có một mình Nguyễn Đình Chiểu Với thể loại
truyện Nôm, tác phẩm “Lực Van Tiên” được đánh giá là xứng đáng đứng hàng thứ hai
sau “Truyén Kiéu” của Nguyễn Du Với thể loại văn tế, * lan dau tiên lịch sử văn học
30
Trang 35của dan tộc mới có được sự tương xứng giữa phẩm chất người nông dân trong văn học với
phẩm chất người nông dan ngoài đời” Nguyễn Đình Chú , 73 , 219].
Từ trước đến nay, giới nghiên cứu tiếp nhận những giá trị gì từ Đổ Chiểu va thơ văn
của Cụ?
2.2.1.1 Có một điều hết sức thú vị là, đối với truyện “Luc Vân Tiên”, vào những năm
60 của thế kỷ XIX, trong khi người đân miễn Bắc chưa được tiếp cận với tác phẩm nàybằng chính ngôn ngữ và thể thơ mẹ đẻ của mình thì tác phẩm đã được người Pháp ( G.Auberet) chuyển ngữ sang văn xuôi tiếng Pháp năm 1864, và đã được người Pháp tại
Việt Nam đặc biệt quan tâm chú ý.
Với tư cách là người khai phá, cai trị “ An Nam”, người Pháp tiếp cận tác phẩm nay
chủ yếu nhằm vào mục đích “ có tợi che thực dân về phương diện đồng hoá"( ,626].Theo họ, tác phẩm “Luc Van Tiên” có day đủ những bản tính của một din tộc Đối với
người Pháp đọc “Luc Vân Tiên”, “ người ta có thể phát hoa dé dàng một cuốn sử ký về
sinh hoạt xa hội ở Nam Kỳ” | Obarê, 73, 624].
Với mục đích tiếp nhận đó, người Pháp lúc bấy giờ chỉ tập trung chú ý vào tác phẩm
“Luc Vân Tiên” và lờ đi toàn bộ phan thơ văn chống Pháp của DS Chiểu viết sau 1859
Ngay cả khi tiếp nhận “Lực Van Tiền", ho cũng chỉ tập trung vào những gì có lợi cho
bản than của những người di xâm lược.
Trước hết, đến với “Luc Vân Tiên”, ho cho rằng “ quyển “Luc Vân Tiên" gom cả Tứ
thư, Ngũ kinh, hay là một quyển " phong hóa tập giải" rất lính hoạt” (73, 631] Mỗi nhân
vật trong tác phẩm đều là tấm gương thuyết minh cho vấn để đạo đức Nho giáo của dântộc: Trung, Hiếu Tiết, Nghia Theo họ tập truyện thd này đã làm nổi bật lên ba đức tính
của xã hội An Nam, đó là hiếu với cha mẹ, tôn trọng thầy, trung với vua
Đồng thời với cách hiểu đó, Obarê cũng có một su liên tưởng rất thú vị, đẩy tính chấttôn giáo giữa các nhân vật trong tác phẩm Họ thấy “truyện “Luc Vân Tiên" cá phần nào
tính chất của the An Độ ( ) chúng tôi muốn bảo rằng câu chuyên này có tính chất Trung
Hoa về nhân vật nam, và tính chất An Độ về các nhân vật nữ"[T3 , 624]
31
Trang 36Nghiên cứu về “Lục Vân Tiên”, người Pháp cũng nhận thấy sức hấp dẫn của tác
phẩm này đối với ting lớp dan chúng Nam Bộ Theo ghi nhận của họ thì truyện thơ “Lực
Vân Tiên” phổ biến trong đân gian đến mức là ở Nam Kỳ không có một người đánh cá
hay một người lái dd nào không hát một vài câu thơ ấy khi họ chèo thuyền đánh cá
Nhìn một cách tổng thể, những giá trị mà người Pháp tiếp nhận, lí giải không phải là
không đúng với giá trị nội tại của tác phẩm Tuy nhiên, như đã nói, vì mục đích chính trị,
người Pháp chỉ khai thác những giá trị mà nó có thể giúp cho họ hiểu được rõ hơn về con
người An Nam; đồng thời họ khuyến khích thanh niên Việt Nam bấy giờ học theo những
đức tính của những nhân vật trong tác phẩm Họ dé cao tác gid, họ xuất bản tác phẩm,dịch tác phẩm sang tiếng Pháp nhằm kêu gọi thanh niên * nên dùng quyển “Luc Van
Tiên" làm kinh nhật tụng, mỗi ngày đem ra thực hành, biết ao ước tiếng liêm sĩ, thèm
thung danh trung hiếu, yêu chuộng sương trưng liệt, đem tink thén như thể mà phụng sự
gia đình, xã hội và quốc gia” [T3, 622].
Về mặt nghệ thuật họ cũng cho rằng truyện thơ này được sáng tác bằng "ểiếng nói
bình din”, “lời văn sáng súa., tao nha”.
Đứng về mặt chính trị, hướng tiếp nhân này đã bộc lộ rõ âm mưu đồng hoá của người Pháp
khi khai thác tác phẩm Nhưng đứng ở góc độ văn học mà nói, chính từ những hướng tiếp nhận
này, chính từ việc tuyên truyền in ấn “Luc Ván Tiên”, chính từ việc dé cao, ca ngợi Nguyễn
Đình Chiểu và “Lue Van Tiến” của người Pháp, Đỗ Chiểu và truyện thơ “Luc Vấn Tiến” có
được một giai đoạn tiếp nhận đáng chú ý Có thể xem đó là cột mốc dau tiên trong lịch sử tiếp
nhận “Luc Vân Tiên”,
2.2.1.2 Đối với học giả Việt Nam, từ dau thế ky XX, việc khai thác, tiếp nhận Dé Chiểu
và thơ văn của Cụ được chú ý và ngày càng có nhiều giá trị tiếp nhận mới.
Tuy nhiên liên quan đến công việc gidng day, chúng tôi chỉ chú ý những cột mốc quan
trọng, bởi vì có một thực tế mà ai cũng dé nhận ra là người Việt Nam chúng ta chỉ tập trung
nghiên cứu đến Đồ Chiều và thơ văn của Cụ trong những ngày lễ lớn, những ngày có liên
quan đến năm sinh, năm mất của Đồ Chiều Cứ nhìn vào công trình * Nguyén Đình Chiểu, vé
Trang 37tác gia và tác phẩm” của Nguyễn Ngọc Thiện sẽ rõ Đây là cuốn tài liệu tập hợp những bàiviết, bài nghiên cứu có giá trị về tác gia và tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu từ trước năm 1945
đến 1998, ta thấy trong số 74 bài viết của các nhà nghiên cứu trong nước thì có 5 bài viết vào
tháng 7 năm 1963 ( kỷ niệm 75 năm ngày mab, 13 bài viết vào năm 1972 ( kỷ niệm 150
năm ngày sinh), 28 bài viết vào năm 1982 ( kỷ niệm 160 năm ngày sinh), 7 bài viết năm
1998 ( nhân 110 năm ngày mất Như vậy có khoảng 53/74 bài viết nhân những ngày lễ
tưởng niệm Nếu thống kê từng năm thì chỉ trong năm 1982, hội nghị khoa học tổ chức tạiBến Tre đã cho ra đời kỳ yếu tập trung hơn 90 bài nghiên cứu,
Nhìn một cách tổng thé, những cột mốc này không chỉ có ý nghĩa đối với Nguyễn
Đình Chiểu mà còn cho ca đối với độc giả Các cột mốc này gắn liễn với tình hình mới,
thời kỳ mới đối với đất nước, đối với dân tộc, hoặc ít ra là có ý nghĩa đối với công việcnghiên cứu, tiếp nhận văn học, trong đó có thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Năm /938, 50 năm sau ngày mất Nguyễn Đình Chiểu Phan Văn Him là người Việt
Nam đầu tiên đứng ở góc độ khoa học văn hoc, đã lí giải mối quan hệ giữa sáng tác của
Nguyễn Đình Chiểu với cuộc đời ông Trong quá trình nghiên cứu, Phan Văn Him “đã
biết trân trọng di sản của ông cha, nhìn thấy tác phẩm của Dé Chiều là sự ki thác của một
nhân cach nhà nho lớn, vượt lên cát hoàn cảnh không thuận của hoàn cảnh riêng tư, chú
mục thao thức, trăn trở về những vấn dé trọng đại của đất nước” (73,15) Đến năm 1952,trong quá trình hiệu đính tác phẩm “ New Tiểu y thuật vấn đáp”, Phan Văn Him cũng giántiếp dé cập đến “Luc Van Tiến” Ong cho rằng “Luc Vân Tiên” là tiểu thuyết luân lý Về
nghệ thuật, ông cho rằng “Luc Vân Tiên” vẫn chưa được trau chuốt, điêu luyện phù hợp
với tư cách của một tác phẩm văn học Có thể nói, Phan Văn Him đã mở ra nhiều hướng
tiếp nhận, khai thác tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu chính tác phẩm của Cụ
Năm /963, nhân kỷ niên 75 năm ngày mất Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng với
bài viết “ Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” đã đánh dấu
một bước quan trọng trong quá trình tiếp nhận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Từ trước đến
giờ, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chỉ được khai thác ở giá trị luân lí, giá trị đạo đức, đếnPham Văn Đồng, lin dau tiên, Đổ Chiểu được người tiếp nhận đánh giá là * mộr nhà thơ
33
Trang 38yêu nước, tác phẩm là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân
ta chống ben xám lược phương Tay ngay buốt đầu lúc chúng đặt chân lên đất nước chúng
tứ” [73 69] Gắn lién với các cuộc chiến đấu oanh liệt của dân tộc ta thời kỳ này, Pham
Văn Đồng tập trung khai thác tính chiến đấu trong tác phẩm, kể cả “Lực Ván Tiên”
Trong bài viết này, Phạm Văn Đồng đánh giá cao mảng thơ văn chống Pháp của Đỗ
Chiểu, đặc biệt là tác phẩm * Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” khi so sánh tác phẩm này với
® Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi: “Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi, nhưng một dan tộc Hịch của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công oanh
liệt chita từng thấy, biểu dương làm rang rỡ nước nhà Bài * Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc "
là khuúc ca của những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiện ngang” [73.73] Vì những
giá tri đó mà Phạm Văn Đồng cho rằng cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình
Chiểu là tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao
sứ mạng của người chiến sĩ trên mật trận văn hoá và tư tưởng Đây là một bài viết cho
đến nay vẫn được đánh giá là mẫu mực trong cách tiếp nhận, thẩm định văn chương
Nguyễn Đình Chiếu
Cùng trong thời điểm này, các nhà nghiên cứu khác như Hoài Thanh Dang Thai Mai.Tran Thanh Dam, cũng tiếp nhận Đồ Chiểu và thơ văn của Cụ dưới góc độ của * nhà thơ
yéu nước” Hàng loạt cụm từ ” hà thơ yêu nước”, * nhà the trừ tình”, " giá trị hiện thực”,
* tính dan tộc”, * tính nhân dan”, "chất thép trong thơ Nguyễn Đình Chiểu” được để cập và
khai thác Điểm chung của các bài viết vào thời điểm này là tập trung vào để cao, ca ngợitác giả, tác phẩm, dm hiểu và lý giải ý dé sáng tạo cũng như tư tưởng của nhà văn trongquá trình sáng tác Họ tập tung nhiều vào mảng thơ văn sáng tác sau 1859 của Đồ Chiểu,phân tích giá trị lịch sử cũng như giá trị văn học của các tác phẩm nhằm một mặt đánh giá
đúng tẩm quan trọng của Nguyễn Đình Chiểu trong toàn bộ sự nghiệp cứu nước của dân
tộc và vị trí của Đồ Chiểu trong lịch sử văn học Trung đại, mặt khác, nhấn mạnh vào giá
trị yêu nước, tinh than bất khuất, kiên định thuỷ chung trong thơ văn Cụ nhằm lấy đó làm
tấm gương tiêu biểu cho các nhà văn và các thế hệ thanh niên thời bấy giờ noi theo để học
tập, phấn đấu nhằm phục vụ công cuộc thống nhất nước nhà
34
Trang 39Cũng trong thời điểm này, bài viết “ Qua New Tiểu vấn đáp”, tìm hiểu thé giới quanNguyễn Đình Chiểu” của Bùi Thanh Ba và bài * Thử bàn về nguồn gốc “Luc Vân Tiên”của Trần Nghĩa đã hướng su chú ý vào từng từ ngữ, hình ảnh của tác phẩm, đồng thời hocũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu đẩy đủ hơn quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu vé con
người và thế giới Nói cách khác, hướng tiếp nhận này đã mở đấu cho việc đi sâu vào
văn bản cũng như vận dụng một số thành tựu của thi pháp học để lí giải, phan tích tác
giả, tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu
Năm 2972, Đảng và Nhà nước tiến hành lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh Nguyễn Dinh
Chiểu tại Hà Nội Một lần nữa công cuộc nghiên cứu Dé Chiểu và thơ văn của Cụ được
đẩy mạnh Có điều, những bài viết này còn lặp lại những vấn để mà giai đoạn trước đã
để cập Điều này cho thấy, một mặt, những giá trị này vốn là những giá trị vĩnh hằng
trong tác phẩm Đổ Chiểu, mặt khác, động cơ tiếp nhận, tim đón nhận thơ văn thời kỳnay vẫn chưa thay đổi so với những năm 60 Hiện tượng này cũng không ngoại trừ
trường hợp là khi nghiên cứu, những người đi sau chịu ảnh hưởng từ những cây bút đi
trước.
Tuy nhiên, thời kỳ này vẫn có những điểm mới mà trước đó chưa được để cập, hoặc đã
để cập nhưng bay giờ được chú ý một cách mãnh mẽ hơn Cùng để cập đến tư tưởng nhânnghĩa, nhưng Hà Huy Giáp cho rằng “ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu là thứ
chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu ( ), chủ nghĩa nhân đạo thực tiễn, edn gũi với nhân đạocộng sản và xa lạ với tình thương trừu tượng khước từ đấu tranh [T3, 128] Đánh giá vềNguyễn Đình Chiểu, Cao Huy Dinh cho Nguyễn Đình Chiểu là chiến sĩ văn hoá của thế
kỷ XIX, là "ý thức đân tộc chuyển minh”, là "lương tâm đân tộc trỗi dậy” đã đấu tranh
kiên cường, chống moi kẻ thù chính trị và văn hóa đương thời của dan tộc, và giữ gìn cho
tính cách Việt Nam khỏc khoắn trong lành Vũ Đình Liên thì khẳng định Nguyễn ĐìnhChiểu là một trong những người dau tiên “dem tiếng nói thông thường của dân, nhất là của
người dan lao động vào trong thơ" Các nhân vat trong “Lue Van Tiên”, đến thời kì này
nhìn nhận với một giá trị mới Kiểu Nguyệt Nga được xem là “ một người phụ nữ đâm
dang bất khuất, biết làm chủ lấy cuộc sống của minh, xứng đáng là dòng dối của Bà Trung,
35
Trang 40Bà Triệt” [Hà Huy Giáp, 73 ,127], hình ảnh nàng mang theo bức tượng Van Tiên bên
mình “ có gì gan gũi với người phụ nữ yêu nước miễn Nam hàng chục năm nay” Hình ảnh
Lục Van Tiên đầu đôi kim khôi một mình lướt trận là hình ảnh “ iêw biểu cho đông đảo
thanh niên Việt Nam, dang "lướt trận” như vũ bão để đánh sâp những căn cứ cuét cùng của
Mỹ — Neụy”[ Nguyễn Huệ Chi, 73 , 530]
Dé cập đến tác dụng của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, các nhà nghiên cứu đều gắn
lién với tình hình đất nước lúc bấy giờ " Nghe lời kêu gọi của Nguyễn Đình Chiếu, nhân
dân ta luôn đấu tranh để chấm đt tình trạng bên Hồ bên Han” [ Hà Huy Giáp] Cũng từ
con đường văn chương của Để Chiểu, theo Nguyễn Đình Chú, các nhà văn thời bấy giờhọc được không biết bao nhiêu điều quý báu về đạo lý làm người, vé trách nhiệm, về
nghề nghiệp của người cẩm bút vé bản chất và chức năng của văn học Ca Văn Thinh
cho rằng bài “ Văn té nghĩa sĩ Cẩn Giuộc” có tác dụng tuyên truyền đối với người còn
sống, kích thích lòng yêu nước, yêu đồng bào, chí căm thù giặc gây long tin vững chắc rằng người nông dân bình thường vì nghĩa cả vẫn giết được giặc.
Các bài viết thời kỳ này cũng để cập đến những hạn chế của Nguyễn Đình Chiểu cả
về tư tưởng lẫn nội dung và nghệ thuật tác phẩm như ảnh hưởng của đạo Nho tư tưởng
trung quân: ngôn ngữ tác phẩm đôi chỗ còn vụng về thiếu trau chuốt: có đoạn nhiều
điển cố, điển tích
Năm /982, Viện khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chi Minh và tỉnh Bến Tre phối hợp
tổ chức cuộc nghiên cứu nhân kỷ niệm lin thứ 160 ngày sinh của nhà thơ Nguyễn ĐìnhChiểu Đất nước thống nhất, các nhà nghiền cứu có thời gian và điều kiên để đầu tư cho ngòibút của mình Viết về Đồ Chiểu và thơ văn của Cụ, các bài viết tỏ ra sâu sắc hơn đa dạng
hơn, với nhiều góc độ, nhiều khía cạnh hơn so với trước
Có thể điểm lại một số nhà nghiên cứu tiêu biểu trong thời kỳ này như sau:
+Nhóm để cập đến vị trí, vai trò của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học Việt
Nam gồm Nguyễn Lộc, Lê Ngọc Trà, Hồng Dân, Lê Dinh Ky
36