MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ
TÀI SẢN VỐN
Capital Asset Pricing Model
(CAPM)
Trang 2Capital Asset Pricing Model (CAPM)
CAPM được xem là cốt lõi của lý thuyết kinh tế tài chính hiện đại
Markowitz, Sharpe, Lintner và Mossin là những nhà nghiên cứu gắn liền
với sự phát triển của mô hình.
Harry Markowitz William Sharpe John Lintner Jan Mossin
Trang 3Capital Asset Pricing Model (CAPM)
Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là mô hình
mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ
vọng, dùng để định giá các chứng khoán có mức
độ rủi ro cao
Cung cấp một lãi suất chuẩn dùng để đánh giá và
lựa chọn phương án đầu tư
Phán đoán được tỷ suất sinh lợi kỳ vọng đối với
những tài sản chưa giao dịch trên thị trường
Trang 4Những giả định của mô hình
Trong mô hình CAPM, những giả định được chia làm 2 loại:
Giả thuyết về tâm lý của các nhà đầu tư:
1 Các nhà đầu tư là nhà đầu tư lý trí và luôn cố gắng tối ưu hóa mối quan hệ giữa lợi
nhuận và rủi ro.
2 Các nhà đầu tư sẽ thiết lập một danh mục từ các tài sản tài chính hiện đang được
giao dịch công khai trên thị trường như cổ phiếu và trái phiếu.
3 Các nhà đầu tư có khoảng thời gian đầu tư giống nhau
4 Các nhà đầu tư có kỳ vọng đồng nhất -> Họ là những nhà đầu tư hiệu quả
Markowizt
Giả thuyết của thị trường vốn:
5 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
6 Không có chi phí giao dịch trên thị trường
7 Trên thị trường tồn tại loại chứng khoán không có rủi ro mà nhà đầu tư có thể đầu
tư Lãi suất vay và lãi suất cho vay bằng nhau và bằng lãi suất phi rủi ro-> các nhà đầu
tư có thể tiếp cận với các cơ hội vay và cho vay với lãi suất phi rủi ro.
=> các giả định này đã đơn giản hóa rất nhiều so với thực tế phức tạp của thị trường tài chính
Trang 5MÔ HÌNH CAPM
Lý thuyết thị trường vốn: thị trường tồn tại 2 loại tài
sản: tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro
Tài sản rủi ro: là một tài sản có tỷ suất sinh lợi không
chắc chắn trong tương lai Rủi ro tài sản được đo
lường trên cơ sở phương sai/độ lệch chuẩn
Tài sản phi rủi ro: là tài sản có tỷ suất sinh lợi chắc
chắn Vì thế có độ lệch chuẩn bằng 0
Hiệp phương sai của tài sản phi rủi ro với bất kỳ tài
sản khác bằng 0
Trang 6MÔ HÌNH CAPM
Kết hợp tài sản phi rủi ro vào danh mục:
Tỷ suất sinh lợi mong đợi:
Phương sai danh mục
) R ( E ).
w 1
( r.
w )
R (
E p f f f i
i f fi f
f
2 i
2 f
2 f
2 f
2
p w (1 w ) 2w (1 w )
Trang 7MÔ HÌNH CAPM
Do phương sai của TSSL phi rủi ro bằng 0.
Đồng thời hệ số tương quan của tài sản phi rủi ro và
danh mục cũng bằng 0
Độ lệch chuẩn danh mục:
Như vậy, đô lệch chuẩn của danh mục kết hợp giữa
một tài sản phi rủi ro với các tài sản rủi ro là tỷ lệ
tuyến tính của độ lệch chuẩn danh mục các tài sản rủi ro
i f
i f
1( )2 2 1( )
Trang 8MÔ HÌNH CAPM
Đường hiệu quả của thị trường không còn là đường
biên hiệu quả Markowitz
Đường hiệu quả mới là đường thẳng xuất phát từ rf
và tiếp xúc đường biên hiệu quả Markowitz tại M
Nhà đầu tư có thể mở rộng đường hiệu quả trên bằng
cách vay nợ với lãi suất phi rủi ro để đầu tư toàn bộ vào danh mục M
Đường hiệu quả mới gọi là đường CML (đường thị
trường vốn)
Trang 9Đường thị trường vốn (CML)
Þ Thể hiện phần bù đắp rủi ro của việc nắm giữ chứng khoán rủi
ro thay cho chứng khoán phi rủi ro
Þ Mẫu số thể hiện mức độ rủi ro của danh mục đầu tư thị trường
Þ Độ dốc của đường CML thể hiện mức chênh lệch giữa lợi
nhuận thị trường kỳ vọng so với mức lợi nhuận phi rủi ro và chia cho rủi ro của thị trường, vì vậy nó được coi là giá trị thị trường của rủi ro (Market price of risk)
Trang 10Đường thị trường vốn (CML)
Trang 12CML và nguyên lý phân cách
Nguyên lý phân cách:
Tobin gọi sự tách biệt
quyết định đầu tư ra quyết
định tài trợ là nguyên lý
phân cách.
CML dẫn tất cả các nhà
đầu tư đầu tư vào một danh
mục các tài sản rủi ro như
nhau, đó là danh mục thị
trường M
Các nhà đầu tư chỉ khác
nhau ở các vị trí trên
đường CML, vị trí này tùy
thuộc vào sở thích rủi ro
của nhà đầu tư.
Trang 13Danh mục thị trường (The Market Portfolio)
Danh mục thị trường, M là tổng hợp các danh mục đầu tư
hiệu quả của tất cả nhà đầu tư cá nhân (một danh mục các
tài sản rủi ro nằm ở tiếp điểm giữa đường phân bổ vốn với
đường giới hạn các cơ hội đầu tư hiệu quả)
Danh mục thị trường bao gồm tất cả các loại tài sản có
nguy cơ rủi ro trên thị trường và trọng số của mỗi loại tài
sản trong danh mục bằng đúng tỷ lệ giữa tổng giá trị tài
sản và tổng giá trị thị trường.
VD: Cổ phiếu của HSG chiếm 2% tổng số tài sản có nguy
cơ rủi ro trên thị trường thì trong danh mục thị trường, giá
trị cổ phiếu của HSG cũng chiếm 2% và nhà đầu tư nắm
giữ danh mục thị trường cũng sẽ dùng 2% nguồn vốn đầu
tư của mình cho tài sản có nguy cơ rủi ro vào việc đầu tư
cổ phiểu HSG
Trang 14MÔ HÌNH CAPM
Thước đo rủi ro mới:
Sự xuất hiện của danh mục thị trường cho biết trong
danh mục đa dạng hóa tốt, rủi ro phi hệ thống bị loại trừ, chỉ có rủi ro hệ thống là đáng quan tâm đối với nhà đầu tư
Thước đo rủi ro hệ thống đáng tin cậy của các tài sản
rủi ro là hiệp phương sai của chúng với danh mục thị trường
Trang 15PHẦN BÙ RỦI RO THỊ TRƯỜNG (Market Risk Premium)
Trang 16 Phần bù rủi ro của một tài sản được xác định dựa trên phần
rủi ro mà tài sản đó đóng góp vào rủi ro của toàn danh
mục.
LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CHO CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ
Trang 17LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CHO CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ
Trang 18LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CHO CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ
Sự đóng góp của GE vào phần bù rủi ro của danh mục thị trường là
Vì vậy tỉ lệ phần thưởng - rủi ro (the reward-to-risk ratio) cho
những khoản đầu tư vào GE được thể hiện là:
The reward-to-risk ratio cho những khoản đầu tư vào danh mục
Trang 19Reward-to-risk ratios of GE and the market portfolio should be equal:
trường Tỷ lệ này là được gọi là beta và được kí hiệu là Sử dụng thước đo
này, chúng ta có thể viết lại phương trình 9.7:
E((9.8)
LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CHO CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ
Trang 20E(ri) = rf + x (E(rm) - rf)
Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng = TSSL phi rủi ro + phần bù
rủi ro của chứng khoán
Phần bù rủi ro chứng khoán = rủi ro hệ thống chứng
khoán () x phần bù rủi ro thị trường
Trang 21Nếu mối quan hệ giữa tỷ lệ lợi tức kỳ vọng và beta có
thể áp dụng cho các tài sản riêng lẻ, mối quan hệ này
có thể áp dụng cho bất kỳ tổ hợp tài sản nào
=
Trang 22danh mục thị trường
Trang 23Giả sử cổ phiếu A và Z có hệ số beta lần lượt là 1,5 và
0,7 Lợi nhuận không rủi ro là 7% trong khi lợi nhuận thị trường 13,4%
Áp dụng CAPM, ta có lợi nhuận kì vọng:
CP A:
= 7 + (13.4 – 7) x 1.5=16.69%
CP Z : = 7 + (13.4 – 7) x 0.7=11.487%
VÍ DỤ
Trang 24Giả sử nhà đầu tư kết hợp hai loại cổ phiếu này
theo tỉ trọng bằng nhau trong danh mục đầu tư
Lợi nhuận kì vọng của danh mục đầu tư sẽ là:
(0.5 x 16,6)+(0.5 x 11,48)=14,04%
Trang 25Áp dụng CAPM cho danh mục đầu tư, ta có:
Trang 26ĐƯỜNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (SML)
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lợi tức kỳ vọng và beta được minh họa bằng đường thị trường chứng khoán (SML)
Độ dốc của SML là phần bù rủi ro của danh mục thị trường
Trang 27SO SÁNH CML VÀ SML
Trang 28SML VÀ CHỨNG KHOÁN CÓ DƯƠNG
Sự khác nhau giữa tỷ lệ lợi tức kỳ vọng thực tế và tỷ lệ lợi tức đo lường
bởi CAPM trên một cổ phiếu gọi là alpha của cổ phiếu đó, ký hiệu là α
Tỷ lệ lợi tức của một cổ phiếu đang được định giá sai trên thị trường:
Trang 29Ví dụ: Nếu tỷ lệ lợi tức của thị trường được dự tính là 14%, một cổ
phiếu có beta bằng 1.2, và lãi suất trái phiếu Chính phủ bằng 6% Đường SML sẽ dự đoán tỷ lệ lợi tức kỳ vọng trên cổ phiếu đó là 6% + 1.2(14% – 6%) = 15.6%
Nếu một nhà đầu tư cho rằng cổ phiếu đó sẽ mang lại tỷ lệ lợi tức
kỳ vọng 17%, giá trị alpha sẽ là 1.4%.
SML VÀ CHỨNG KHOÁN CÓ DƯƠNG
Trang 30KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA CAPM
CAPM có thể được sử dụng trong lĩnh vực quản trị đầu tư Giả sử
SML được sử dụng làm tiêu chuẩn để đánh giá tỷ lệ lợi tức kỳ vọng
“tối thiểu” hay tỷ lệ lợi tức yêu cầu của một tài sản rủi ro Một nhà phân tích tính toán tỷ lệ lợi tức kỳ vọng thực tế Chú ý rằng, mỗi nhà phân tích là có một quan điểm khác nhau trong tính toán tỷ lệ lợi tức
kỳ vọng thực tế và đưa ra một con số khác nhau Nếu cổ phiếu hoặc tài sản được đang được định giá thấp, tức là có alpha dương, chúng
ta nên đầu tư vào tài sản hoặc cổ phiếu.
Mô hình CAPM cũng hữu ích trong việc quyết định đầu tư vốn Đối
với một doanh nghiệp đang cân nhắc một dự án mới, dựa trên hệ số beta của dự án, mô hình CAPM có thể cung cấp tỷ lệ lợi tức yêu cầu
mà dự án đó cần mang lại mà nhà đầu tư có thể chấp nhận Các nhà quản lý có thể sử dụng mô hình CAPM để có được tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)
Trang 31 CAPM dựa trên tiêu dùng (CCAPM)
Trang 32MÔ HÌNH ZERO-BETA
- Giá trị của danh mục zero-beta là không bị tác
động bởi biến động của thị trường Hay nói cách
khác, danh mục đầu tư zero-beta đã loại bỏ được
rủi ro hệ thống (β=0).
- Mức lợi nhuận kì vọng của danh mục này sẽ bằng với tỉ lệ phi rủi ro hoặc tương đối nhỏ hơn so với các danh mục có beta cao
Trang 33Từ công thức SML của CAPM, ta có công thức của zero-beta CAPM như sau:
MÔ HÌNH ZERO-BETA
Trang 34THU NHẬP LAO ĐỘNG VÀ TÀI SẢN KHÔNG ĐƯỢC GIAO DỊCH
NONTRADED ASSET:
Là tài sản không được giao dịch trên thị trường Bao gồm:
- Các doanh nghiệp tư nhân:
+ Có sai lệch ít hơn từ CAPM
+ Nếu có rủi ro bằng với rủi ro của tài sản giao dịch => phòng ngừa rủi
ro bằng cách giảm nhu cầu của tài sản này trên danh mục đầu tư
+ Nếu không => hình thành một danh mục đầu tư phòng ngừa để bảo đảm rủi ro của các doanh nghiệp tư nhân.
- Vốn nguồn nhân lực:
+ Là loại tài sản liên quan tới kiến thức, kĩ năng, xã hội và cá nhân.
+ Đo lường bằng mức thu nhập lao động
+ Bảo đảm bằng cách sử dụng tài sản giao dịch: vay mượn thu nhập lao động và đảm bảo thu nhập lao đông trong tương lai bằng bảo hiểm nhân thọ => ảnh hưởng đến giá của chứng khoán.
Trang 35: tỷ suất lợi nhuận vượt trội của tài sản thứ j (Ri = ri-rf)
: tỷ suất lợi nhuận vượt trội trên thị trường
: tỷ suất lợi nhuận kì vọng của vốn nhân lực tổng hợp
: giá trị của vốn nhân lực tổng hợp (thu nhập lao động)
: giá trị thị trường của tài sản giao dịch (danh mục thị trường)
Trang 36MÔ HÌNH ĐA THỜI KÌ
VÀ DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÒNG NGỪA
- Merton đã cách mạng hóa nền kinh tế tài chính bằng cách sử dụng các mô hình thời gian liên tiếp để mở
rộng mô hình định giá tài sản
- Mô hình này được gọi là Mô hình định giá tài sản vốn liên thời gian (ICAPM)
- Mở rộng giả thiết phi thực tế của CAPM: "Giai đoạn
đầu tư là một thời kì"
Trang 37- Hầu hết các nhà đầu tư thường tham gia
trong khoảng thời gian dài và nhiều thời kì
- Trong thời gian đó, cơ hội đầu tư có thể thay
đổi: rủi ro và lợi nhuận kì vọng có thể thay đổi.
- Thay đổi không đoán trước và nhà đầu tư
muốn đề phòng những rủi ro đó
=> Mô hình ICAPM ra đời
Vì sao phải xây dựng mô hình ICAPM?
Trang 38ĐẶC ĐIỂM ICAPM
- Mô hình kết hợp các danh mục đầu tư phòng ngừa và chứng khoán trong danh mục chỉ số thị trường
- Điểm đặc biệt của ICAPM là phòng ngừa những vấn
đề không chắc chắn có thể xảy ra ở tương lai: giải quyết vấn đề không dự đoán được liên quan tới kế hoạch chi tiêu suốt đời và sự thay đổi của các cơ hội đầu tư
- Nguồn rủi ro bổ sung khác: thay đổi trong tham số cơ hội đầu tư và giá của hàng hóa tiêu thụ.
- Mô hình có thể có một hoặc nhiều danh mục đầu tư
phòng ngừa nên sẽ có nhiều hệ số beta được sử dụng
Trang 39CÔNG THỨC CỦA ICAPM
Trang 40CCAPM được sử dụng như một mở rộng
của mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)
CCAPM lần đầu tiên được đề xuất bởi Mark
Rubinstein, Robert Lucas và Douglas Breeden
CCAPM đo lường rủi ro tiêu dùng cho các tài
sản rủi ro Trong CCAPM, lợi nhuận của cổ phiếu sẽ liên quan đến tiêu dùng tổng hợp,
được đo bằng beta tiêu dùng
CCAPM
Mô hình định giá tài sản vốn dựa trên tiêu dùng
Trang 41Một tài sản sẽ được xem là rủi ro hơn về mặt tiêu
dùng nếu nó có hiệp phương sai dương với tăng trưởng tiêu dùng
Yêu cầu phần bù rủi ro cân bằng cao hơn cho các tài sản thể hiện hiệp phương sai cao hơn với tăng trưởng tiêu dùng
CCAPM
Mô hình định giá tài sản vốn dựa trên tiêu dùng
Trang 42 Lập mô hình CCAPM
(1)
Trong đó:
Danh mục C được hiểu là danh mục theo dõi tiêu dùng
β iC là sự biến động của lợi nhuận vượt trội của tài sản i so với sự thay đổi trong phần bù rủi ro liên quan đến sự không chắc chắn về tiêu dùng
RPC là phần bù rủi ro liên quan đến sự không chắc chắn về tiêu dùng, được đo bằng tỷ lệ hoàn vốn dự kiến trên danh mục theo dõi mức tiêu dùng
(2) (3)
Trang 43 Beta tiêu dùng thể hiện mức độ tác
động của mức tăng trưởng tiêu dùng tới tài sản rủi ro
Ví dụ: beta tiêu dùng = 2 sẽ làm tăng
lợi nhuận của tài sản thêm 2% nếu thị trường tăng 1% và sẽ giảm 2% nếu thị trường giảm 1%
CCAPM
Mô hình định giá tài sản vốn dựa trên tiêu dùng
Trang 44Lợi nhuận kỳ vọng so với beta tiêu dùng.
CCAPM
Mô hình định giá tài sản vốn dựa trên tiêu dùng
Trang 45 Tính thanh khoản được xem là việc chuyển đổi một tài sản
thành tiền mặt một cách dễ dàng mà không bị sụt giảm giá
cả và không phát sinh chi phí kèm theo
Những yếu tố tác động đến thanh khoản:
Chi phí tham gia vào một giao dịch, đặc biệt là chênh lệch
giá chào mua – chào bán
Tác động về giá - những chuyển động bất lợi trong giá cả sẽ
gặp phải khi cố gắng thực hiện một giao dịch lớn hơn
Khả năng bán tài sản một cách nhanh chóng mà không cần
giảm giá
THANH KHOẢN VÀ CAPM
Trang 46 Xuất phát từ nhu cầu thanh khoản, các nhà đầu tư thanh
khoản sẽ tiến hành giao dịch mà không cần thông tin.
Các nhà tạo lập thị trường sẽ kiếm được lợi nhuận từ chênh
lệch giá thầu khi giao dịch với các nhà giao dịch thanh
khoản
Các nhà đầu tư thông tin chỉ thực hiện giao dịch khi họ nắm
được thông tin chứng khoán bị định giá sai.
Các nhà tạo lập thị trường sẽ hấp thụ các khoản lỗ từ các
nhà giao dịch thông tin.
Các nhà giao dịch thanh khoản hấp thụ phần lớn chi phí của
các giao dịch thông tin
THANH KHOẢN VÀ CAPM
Trang 47 Khi chi phí giao dịch cao hơn, giảm giá thanh khoản sẽ lớn
hơn
Chứng khoán ít thanh khoản hơn cung cấp tỷ suất hoàn vốn
trung bình cao hơn
Trong trạng thái cân bằng, các nhà đầu tư có thời gian nắm
giữ dài sẽ giữ được nhiều chứng khoán không thanh khoản, trong khi các nhà đầu tư ngắn hạn sẽ thích chứng khoán
thanh khoản cao hơn "Hiệu ứng của khách hàng" giảm thiểu tác động của chênh lệch giá chào mua- chào bán cho các chứng khoán không thanh khoản.
Chênh lệch bid – ask càng lớn phần bù thanh khoản càng
cao
THANH KHOẢN VÀ CAPM
Trang 48Mối quan hệ giữa phần bù thanh khoản và chi phí giao dịch :
THANH KHOẢN VÀ CAPM
Trang 49Mức độ thanh khoản dự kiến có thể ảnh hưởng đến giá và
Nhà đầu tư yêu cầu bồi thường cho rủi ro thanh khoản
Lợi nhuận kỳ vọng tăng thêm cho rủi ro thanh khoản làm thay đổi quan hệ beta lợi nhuận kỳ vọng của CAPM
nghiệp đối với những thay đổi về tính thanh khoản của thị trường (trong khi các biện pháp beta truyền thống đo độ nhạy của lợi nhuận với lợi nhuận thị trường)
THANH KHOẢN VÀ CAPM
Trang 50Ưu và nhược điểm của mô hình CAPM
-Đơn giản, dễ tính và có thể ứng dụng được trên thực tế.
-Tập trung vào mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro so với các
phương pháp khác có thể đưa ra quyết định đầu tư tốt hơn.
-Một số giả định không phù hợp với thực tế
-Cho rằng lợi nhuận kì vọng chỉ phụ thuộc vào một yếu tố duy
nhất là beta Nhưng thực tế nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác như quy mô, tỷ số PE, tỷ số MB Nghiên cứu của
Fama-French đã chỉ ra điều đó với mô hình ba nhân tố.