Từ năm 1995, nơi đây được Ủy ban nhân dânThành phố quyết định đổi tên thành Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thànhphố Hồ Chí Minh cho đến ngày nay.Nơi đây mang một ý nghĩa lịch sử vô cùng
GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH
Bến Nhà Rồng, hay còn gọi là Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, là một cụm di tích kiến trúc và bảo tàng nổi bật nằm bên sông Sài Gòn, thuộc quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bến cảng Nhà Rồng là một di tích lịch sử quan trọng, gắn liền với hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh Được xây dựng vào ngày 4 tháng 3 năm 1863 bởi hãng vận tải Messageries Maritimes của Pháp, bến Nhà Rồng là biểu tượng của thời kỳ Pháp thuộc ở Sài Gòn Công trình có thiết kế phương Tây nhưng mang đậm nét Á Đông với hai con rồng trên mái, tạo nên tên gọi “Nhà Rồng” Ngày 5/6/1911, Bác Hồ đã rời Việt Nam từ bến cảng này để sang Pháp, khởi đầu cho những chiến thắng vĩ đại của dân tộc Từ năm 1995, nơi đây được đổi tên thành Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
Bến cảng này có ý nghĩa lịch sử quan trọng và là biểu tượng của thành phố Hồ Chí Minh Sau khi chiến tranh miền Nam kết thúc, bến cảng được quản lý bởi chính quyền miền Nam Việt Nam, và đã được tu sửa với bốn khu vực chính: bảo tàng Hồ Chí Minh, tượng đài Bác, khuôn viên bến cảng và đài phun nước Người dân địa phương thường gọi bảo tàng là “Nhà Rồng” và bến cảng gần đó là “bến Nhà”.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, Bến Nhà Rồng vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử và lý tưởng yêu nước của thanh niên Việt Nam Nơi đây ghi dấu một sự kiện quan trọng, đánh dấu khởi đầu cho lịch sử cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.
Bảo tàng hiện có 07 phòng trưng bày, bao gồm 4 phòng tập trung vào cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngoài ra, có 03 phòng trưng bày chuyên đề đặc biệt, nổi bật về sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, tình cảm của Bác đối với nhân dân miền Nam, cũng như tình cảm kính yêu của nhân dân miền Nam dành cho Bác và hệ thống đền thờ Bác Hồ ở Nam Bộ.
TẦNG 1 CỦA BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH
Phòng tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
Không gian tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm ở lối sảnh chính, với án thờ có tượng Bác Hồ bằng đồng cầm tờ báo nhân dân Hai bên án thờ được trang trí bằng câu đối nổi bật: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.
Trước khi khám phá Bảo tàng, du khách nên dừng lại tại phòng tưởng niệm để thắp nén hương tri ân Bác Hình ảnh người cha già vĩ đại của dân tộc hiện lên đầy trìu mến và thân thương, nhưng cũng sáng ngời và anh dũng, là tấm gương vĩ đại mà các thế hệ sau cần noi theo.
Hồ Chí Minh-Cuộc hành trình thời đại
Vào ngày 5-6-1911, tại bến Nhà Rồng, Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành, một người thanh niên yêu nước, đã rời Tổ quốc trên tàu Đô đốc Latouche-Tréville với mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ thực dân và đế quốc.
Hành trình yêu nước của Nguyễn Tất Thành đã mở ra con đường dẫn tới độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam Đây là hành trình thể hiện lòng yêu nước và tình thương đối với nhân dân Nhân dịp kỷ niệm 113 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911), chúng ta hãy cùng nhau tưởng nhớ và tri ân những đóng góp vĩ đại của Người cho đất nước.
Ngày 5 tháng 6 năm 2024, kỷ niệm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, là dịp để Đảng, Nhà nước và nhân dân khẳng định quyết tâm theo con đường mà Chủ tịch đã vạch ra.
Hồ Chí Minh đã xác định rằng độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhằm mang lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc cho tất cả mọi người và các dân tộc.
Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp để tham gia trực tiếp vào phong trào công nhân, trong bối cảnh cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10 Nga bùng nổ, tạo ra một bước ngoặt lớn cho nhân loại Cuộc cách mạng này không chỉ đánh dấu sự tan rã của chủ nghĩa tư bản mà còn mở ra kỷ nguyên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội toàn cầu Với niềm phấn khởi và tin tưởng vào tương lai của cách mạng Việt Nam và thế giới, Nguyễn Tất Thành quyết tâm theo con đường của Cách mạng tháng 10 Nga, con đường của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Bác Hồ với miền Nam
Vào ngày 20/10/1962, trong chuyến thăm miền Bắc của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: “Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi”.
Trong lòng Hồ Chí Minh, miền Nam luôn thể hiện tinh thần kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Pháp Trước khi cả nước đứng lên, đồng bào miền Nam đã dũng cảm kháng chiến, mặc dù phải đối mặt với khó khăn, mất mát và hy sinh Tình yêu nước của người dân Nam Bộ vẫn kiên định, vững chãi như đá, thể hiện lòng quyết tâm mạnh mẽ Hồ Chí Minh tin tưởng rằng với sự quyết tâm của nhân dân miền Nam và cả nước, miền Nam sẽ trở lại trong lòng Tổ quốc.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Hồ Chí Minh đã gửi thư đến đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, khẳng định họ là đội quân xung phong của dân tộc Trong bức thư, Người nhấn mạnh tinh thần yêu nước mãnh liệt, sự quả cảm và lòng dũng cảm của đồng bào Nam Bộ, mặc dù phải trải qua nhiều hy sinh và gian nan Chí quyết thắng của họ ngày càng vững chắc, thể hiện tinh thần kiên cường trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
Mặc dù miền Nam xa cách, nhưng Bác Hồ luôn hướng về đồng bào miền Nam với tấm lòng yêu thương và sự quan tâm đặc biệt Người theo dõi từng công việc lớn nhỏ và dành tình cảm sâu sắc cho cán bộ, chiến sĩ miền Nam, cũng như học sinh miền Nam đang sinh sống và học tập tại miền Bắc Đặc biệt, tình cảm của Bác dành cho những người đang chiến đấu trên tuyến đầu chống Mỹ thể hiện sự gắn bó và trách nhiệm của Người đối với miền Nam.
Đáp lại tình cảm và niềm tin của Bác Hồ, đồng bào miền Nam đã kiên trì thực hiện lời Bác, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc Tình cảm sâu sắc giữa Bác Hồ và nhân dân miền Nam không chỉ là nỗi nhớ mong mà còn là động lực mạnh mẽ, thúc đẩy họ hướng tới chiến thắng Sự gắn bó này đã trở thành yếu tố quyết định trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975, hoàn thành Di chúc thiêng liêng của Bác.
Triển lãm Đi qua cuộc chiến:
Triển lãm được chia làm 3 chủ đề: Ký ức chiến trường; Khi cuộc chiến đi qua; Ước mơ.
Nhiều hiện vật và hình ảnh trưng bày phản ánh quá trình chiến đấu chống ngoại xâm của Đảng, quân đội và nhân dân ta, trong đó nổi bật là Thư của Bác.
Hồ gửi anh em chiến trường liên khu III; Thư gửi Ban thường trực của Ban tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc”.
Hình 2.8: Sách "Bản án chế độ thực dân Pháp"
Sách "Bản án chế độ thực dân Pháp" của Nguyễn Ái Quốc, được viết bằng tiếng Pháp trong giai đoạn 1921 - 1925, đã lần đầu tiên được đăng tải tại Paris trên Báo Imprékor của Quốc tế Cộng sản.
Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã trở về Quảng Châu, Trung Quốc, và thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào tháng 6 năm 1925 Ông mở lớp Huấn luyện chính trị và phát hành Báo Thanh niên, nhằm truyền đạt những nguyên lý cơ bản của học thuyết Marx - Lenin cho đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên của Việt Nam Những hoạt động này nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của một chính Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam Cuốn sách “Đường Kách mệnh” tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tại lớp Huấn luyện chính trị cho thanh niên yêu nước Việt Nam trong giai đoạn 1925-1927.
Hình 2.9: Cuốn “Đường Kách mệnh”
TẦNG 2 CỦA BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH
Chủ đề thứ nhất - “Thời thơ ấu và thanh niên của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bước đầu hoạt động yêu nước và cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định con đường cách mạng Việt Nam ( 1890-1920)”
Hình 3.2 : Phòng trưng bày chủ đề 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh ngày 19-5-1890 tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, xuất thân từ một gia đình nho giáo yêu nước và có nguồn gốc nông dân Cha của Người, cụ Nguyễn Sinh Sắc, đã đỗ Phó bảng, thể hiện truyền thống hiếu học và yêu nước trong gia đình.
Năm 1901, dù là quan chức, cụ vẫn giữ lối sống thanh bạch, khiêm tốn và luôn thương người nghèo Tư tưởng yêu nước tiến bộ cùng nhân cách cao thượng của cụ đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã được cha giáo dục lòng yêu nước và thường xuyên nghe cha cùng bạn bè thảo luận về việc nước Mặc dù rất kính trọng các nhà yêu nước như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, nhưng ông đã không chọn con đường cứu nước của họ Thay vào đó, ông quyết định sang các nước phương Tây để tiếp cận tư tưởng tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật hiện đại.
Ngày 5-6-1911 với tên Văn Ba, Người làm phụ bếp trên tàu AmiralLatouche Tréville, Nguyễn Tất Thành rời thương cảng Sài Gòn bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều nơi, từChâu Á sang Châu Âu, qua Châu Phi rồi đến Châu Mỹ, đi đến đâu NguyễnTất Thành cũng để ý xem xét tình hình và suy nghĩ những điều mắt thấy, tai nghe, mong sao thực hiện được hoài bão cao cả của mình
Hình 3.3 : Tàu Amiral Latouche Tréville
Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở về Pháp để tham gia tích cực vào phong trào công nhân, trong bối cảnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng 10 Nga bùng nổ, tạo ra chấn động toàn cầu Cuộc cách mạng này đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới, với sự suy tàn của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Tràn đầy hy vọng về tương lai của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, Nguyễn Tất Thành quyết tâm theo con đường của Cách mạng tháng 10 Nga, con đường của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Năm 1919, tại hội nghị Versailles, các nước đế quốc thắng trận đã thảo luận về việc chia lại thị trường thế giới Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp đã gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” đến hội nghị, yêu cầu chính phủ Pháp thực hiện các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng cho nhân dân Việt Nam.
Tháng 7-1920, qua báo Nhân đạo của Pháp, “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin đến với Nguyễn Ái Quốc, từ đây Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy phương hướng và đường lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự với tư cách đại diện duy nhất cho các nước thuộc địa Đông Dương, bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời là người Cộng sản Việt Nam đầu tiên Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, khi từ một người yêu nước, Người đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam, kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, và tư tưởng yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Chủ đề thứ hai - “Chủ tịch Hồ Chí Minh bảo vệ và vận dụng sáng tạo đường lối của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam (1920-1930)”
Hình 3.4 : Phòng trưng bày chủ đề 2
Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy sự cần thiết trong việc thúc đẩy các hoạt động tuyên truyền và tổ chức để phát triển phong trào cách mạng tại các nước thuộc địa, bao gồm Việt Nam Vào tháng 7 năm 1921, ông cùng với một số nhà hoạt động cách mạng từ các dân tộc thuộc địa của Pháp đã thành lập "Hội liên hiệp thuộc địa" và cho ra mắt tờ báo "Người cùng khổ" với mục đích tuyên truyền và vận động cho cách mạng ở các nước thuộc địa.
Từ năm 1923 đến 1924, Nguyễn Ái Quốc tham gia nhiều đại hội quốc tế tại Liên Xô, trong đó có Đại hội V Quốc tế Cộng sản, nơi ông trình bày quan điểm về cách mạng thuộc địa Ngày 11/11/1924, ông sang Quảng Châu, Trung Quốc để mở lớp huấn luyện cán bộ và tuyên truyền lý luận cách mạng Học viên chủ yếu là thanh niên, học sinh và trí thức yêu nước Việt Nam, nhiều người sau khi học xong đã bí mật trở về nước để truyền bá lý luận giải phóng dân tộc Tại Quảng Châu, dưới sự hỗ trợ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vào tháng 6/1925, ông thành lập “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” Đến tháng 4/1927, Nguyễn Ái Quốc trở về Liên Xô và hoạt động ở nhiều quốc gia, trước khi trở lại Hồng Kông vào cuối năm 1929.
Từ ngày 3 đến 7 tháng 2 năm 1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản tại Cửu Long, Hồng Kông, do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử, phản ánh điều kiện khách quan trong và ngoài nước, cùng với những nỗ lực đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc trong các phong trào công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc Đây cũng là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tư tưởng chính trị, đường lối và tổ chức, đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho Việt Nam trên con đường cách mạng vô sản.
Chủ đề thứ 3 - “Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người tổ chức và lánh đạo cách mạng tháng tám thắng lợi , thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đấu tranh giữ vững chính quyền cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1930-1954)”
Cách mạng tháng Tám 1945 đã dẫn đến thắng lợi vĩ đại, khẳng định sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong giai đoạn 1930-1954, nhân dân Việt Nam đã kiên cường đấu tranh để giữ vững chính quyền cách mạng, đồng thời tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập và tự do cho dân tộc.
Hình 3.5 : Phòng trưng bày chủ đề 3
Sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, vào cuối tháng 4/1930, Nguyễn Ái Quốc đã đến Xiêm (Thái Lan) và Malaysia theo sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản Đến tháng 5/1930, Người tiếp tục qua Singapore trước khi trở lại Hồng Kông Vào tháng 10/1930, tại Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vào tháng 6 năm 1931, đế quốc Anh đã bắt giam Tống Văn Sơ một cách trái phép tại Hồng Kông Đến mùa xuân năm 1933, Người đã được thả khỏi nhà lao và trở về Liên Xô.
Từ năm đầu 1934 - cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Liên
Xô, một sinh viên trường Quốc tế Lênin, đã làm việc tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa Đồng thời, ông tiếp tục theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước, đặc biệt trong bối cảnh chủ nghĩa phát xít đang gia tăng đàn áp các phong trào dân chủ và hòa bình.
Tháng 10/1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Trung Quốc Cuối năm
Năm 1940, Người trở về gần biên giới Việt - Trung và bắt liên lạc với tổ chức Đảng Vào ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước, chọn Cao Bằng làm căn cứ để xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng và chủ trì Hội nghị lần VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 5/1941.
Vào tháng 8/1942, Hồ Chí Minh đã sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam nhưng bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam Sau khi ra tù vào tháng 9/1943, Người tiếp tục tham gia các hoạt động chống Nhật và Pháp tại Liễu Châu, đồng thời nối lại liên lạc với Đảng để tổ chức về nước Tháng 9/1944, Người trở lại Cao Bằng và vào tháng 12 cùng năm, Người đã ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân Đến tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Pắc Bó về Tân Trào để chỉ đạo phong trào cách mạng Tháng 8/1945, cùng với Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Người quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hình 3.6 : Bảng tuyên ngôn độc lập
Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vào ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đã diễn ra thành công Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I bầu Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh đạo Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn dắt nhân dân xây dựng và củng cố chính quyền non trẻ Trước sự phản bội của thực dân Pháp, Người cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn Từ ngày 11 đến 19/2/1951, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng diễn ra tại chiến khu Việt Bắc, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng.
Vào tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị và Trung ương Đảng đã phê duyệt kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh, quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ Đến tháng 5 năm 1954, chiến dịch này đã kết thúc với thắng lợi vang dội, đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa Pháp và khởi đầu cho kỷ nguyên giành độc lập trên toàn cầu.
Chủ đề thứ 4 “Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc (1954-1969)”
Hình 3.7 : Phòng trưng bày chủ đề 4
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thành công đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với miền Bắc được giải phóng hoàn toàn Trong bối cảnh miền Nam đang bị đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ đã lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm đánh đuổi Mỹ và thống nhất đất nước.
Vào tháng 01 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở lại thủ đô Hà Nội, cùng toàn dân thực hiện Hiệp định Genève về Đông Dương, nhằm củng cố hòa bình và đấu tranh cho thống nhất đất nước thông qua Tổng tuyển cử tự do Ông đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng Đảng và phát triển miền Bắc trên mọi mặt Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thực hiện các chuyến thăm các nước láng giềng và các quốc gia xã hội chủ nghĩa để thắt chặt mối quan hệ quốc tế và nhận được sự ủng hộ từ bạn bè toàn cầu.
Sau năm 1954, Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam, thiết lập chính quyền Ngô Đình Diệm và triển khai các chiến lược quân sự Vào tháng 9/1954, tại hội nghị Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Đế quốc Mỹ và tay sai đang phá hoại Hiệp định Genève, chia cắt lâu dài đất nước ta." Ông đề ra đường lối cho cách mạng miền Nam là khởi nghĩa vũ trang nhằm giành chính quyền Từ đó, cách mạng miền Nam đã đạt được nhiều thắng lợi, tiêu biểu là phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre.
Vào tháng 9 năm 1960, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội, tại đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được bầu lại làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Năm 1961, sự kiện này đánh dấu một bước quan trọng trong lịch sử Đảng.
1965, miền Bắc thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất, miền Nam tiếp tục sự nghiệp đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Vào ngày 20 tháng 10 năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong chuyến thăm miền Bắc lần đầu tiên Đến tháng 11 năm 1964, Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam được tổ chức, thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ đối với cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam.
Hà Nội là sự cổ vũ lớn lao cho cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam
Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời để lại niềm tiếc thương vô hạn cho dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế
MỘT SỐ HÌNH ẢNH NHÓM ĐI THAM QUAN
CẢM NHẬN VỀ BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH
Bến Nhà Rồng là nơi Bác Hồ, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, đã ra đi tìm đường cứu nước, trở thành biểu tượng thiêng liêng đối với người dân Sài Gòn và Việt Nam Trong chuyến tham quan Bảo Tàng Hồ Chí Minh, chúng em đã cảm nhận được không khí trong lành và yên tĩnh nơi đây, giúp xua tan mệt mỏi và gợi nhớ về sự hy sinh to lớn của Bác cho đất nước Những hiện vật giản dị như áo nâu, bộ đồ kaki và chiếc gậy tre đã thể hiện sự mộc mạc của Bác, một lãnh tụ sống vì dân vì nước Dù chuyến đi chỉ kéo dài vài giờ, nhưng đã để lại trong chúng em những cảm xúc sâu sắc và thêm tự hào về lịch sử dân tộc Qua hoạt động ngoại khóa này, chúng em nhận ra tầm quan trọng của việc học tập và rèn luyện đạo đức để góp phần xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới Những tâm tư mà Bác gửi gắm cũng là lời nhắc nhở chúng em phải luôn nỗ lực và sống hết mình với cuộc đời, tin rằng thế hệ trẻ sẽ tiếp nối những giá trị ấy.