1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của erik erikson trong trị liệu tâm lý bằng liệu pháp kể chuyện một trường hợp nghiên cứu

15 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Lý Thuyết Phát Triển Tâm Lý Xã Hội Của Erik Erikson Trong Trị Liệu Tâm Lý Bằng Liệu Pháp Kể Chuyện: Một Trường Hợp Nghiên Cứu
Tác giả Trần Quế Anh, Bùi Trịnh Nam Bình, Trần Trúc Linh
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Lượt
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Tâm lý học CLC
Thể loại học phần
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 637,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liệu pháp kể chuyện thừa nhận các cá nhân là những người tạo nên ý nghĩa, là tác giả về khía cạnh ngôn từ trong cuộc sống của chính họ và đồng thời là những người có thể viết lại câu chu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN TÂM LÝ XÃ HỘI CỦA ERIK ERIKSON TRONG TRỊ LIỆU TÂM LÝ BẰNG LIỆU PHÁP KỂ CHUYỆN:

MỘT TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU HỌC PHẦN: TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH

NHÓM 3

Sinh viên thực hiện: Trần Quế Anh - 22031133

Trần Trúc Linh - 22031168

Hà Nội, tháng 2 năm 2024

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu 2

CHƯƠNG 1: LIỆU PHÁP KỂ CHUYỆN (NARRATIVE THERAPY) 3

1.1 Định nghĩa “Liệu pháp kể chuyện” (Narrative Therapy): 3

1.2 Các giai đoạn trị liệu và các phương pháp được sử dụng: 3

1.2.1 Các giai đoạn trị liệu: 3

1.2.2 Các phương pháp trị liệu và can thiệp: 3

1.3 Một số nhóm đối tượng phù hợp với việc trị liệu bằng liệu pháp kể chuyện: 6

1.3.1 Trẻ em 6

1.3.2 Thiếu niên 6

1.3.3 Người cao tuổi 6

1.3.4 Người bị bệnh nan y 7

1.4 Mối liên hệ giữa liệu pháp kể chuyện với lý thuyết phát triển tâm lý-xã hội của Erik Erikson: 7

CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN TÂM LÝ - XÃ HỘI CỦA ERIK ERIKSON TRONG TRỊ LIỆU TÂM LÝ CHO NGƯỜI CAO TUỔI BẰNG LIỆU PHÁP KỂ CHUYỆN: MỘT TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU 9

2.1 Thông tin cơ bản: 9

2.2 Các giai đoạn của quá trình trị liệu: 9

2.2.1 Giai đoạn đầu: 9

2.2.2 Giai đoạn hai 10

2.2.3 Giai đoạn cuối: 11

2.3 Bàn luận 12

2.3.1 Kết luận: 12

2.3.2 Hạn chế: 12

Lời kết 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

Lời mở đầu

Erik Erikson - với những trải nghiệm từ thuở ấu thơ tới khi trưởng thành của mình - đã đưa ra lý thuyết về sự phát triển tâm lý xã hội của con người Lý thuyết của Erikson được ứng dụng kết hợp cùng nhiều liệu pháp trị liệu tâm lý như trị liệu cá nhân, trị liệu nhóm, trị liệu hôn nhân và gia đình… với nhiều giai đoạn độ tuổi Đặc biệt, giai đoạn mâu thuẫn giữa sự toàn vẹn của cái tôi - sự tuyệt vọng trong

lý thuyết của ông đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc trị liệu cho người cao tuổi trong nhiều thập kỷ (dẫn theo Goodcase & Love, 2016), song lý thuyết lại chưa được kết hợp một cách phổ biến cùng với các liệu pháp trị liệu hiện đại, ví dụ như liệu pháp kể chuyện (Narrative Therapy) Điều này mở ra một hướng đi mới cho các liệu pháp hiện đại trong việc ứng dụng lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erik Erikson kết hợp cùng liệu pháp kể chuyện trong trị liệu tâm lý, đặc biệt là trị liệu cho người cao tuổi và người sắp qua đời Đồng thời, bài viết cũng sẽ nêu ra một trường hợp nghiên cứu thực tế chứng minh cho khả năng ứng dụng thực tế của lý thuyết của Erikson vào liệu pháp kể chuyện trong trị liệu tâm lý cho người cao tuổi Bên cạnh đó, việc ứng dụng lý thuyết này lên việc trị liệu cho một số nhóm đối tượng khác, cũng như mở rộng ra một số khía cạnh thực tế để thấy sự hiện hữu của lý thuyết trong các mặt của cuộc sống sẽ được đề cập đến

Trang 4

CHƯƠNG 1: LIỆU PHÁP KỂ CHUYỆN (NARRATIVE THERAPY)

1.1 Định nghĩa “Liệu pháp kể chuyện” (Narrative Therapy):

Liệu pháp kể chuyện (hay còn được gọi là “liệu pháp trần thuật”) được Hiệp hội Tâm lý học Hoa

Kỳ (American Psychological Association [APA], n.d.) định nghĩa là một phương pháp trị liệu dành cho các cá nhân, cặp đôi hoặc cho gia đình, nó giúp họ diễn giải lại và viết lại các sự kiện trong cuộc đời họ thành những câu chuyện chân thực nhưng mang tính cải thiện cuộc sống hơn Liệu pháp kể chuyện thừa nhận các cá nhân là những người tạo nên ý nghĩa, là tác giả về khía cạnh ngôn từ trong cuộc sống của chính họ và đồng thời là những người có thể viết lại câu chuyện cuộc đời họ bằng cách tái cấu trúc nó, nhận ra những khuôn mẫu trong cách mà họ tiếp cận những sự kiện hay vấn đề trong cuộc đời của họ và bằng cách tái cấu trúc các vấn đề hay sự kiện đó dưới góc nhìn hữu ích hơn

Theo White & Morgan (2006), liệu pháp kể chuyện hướng tới một cách tiếp cận mang tính tôn trọng, không đổ lỗi hay buộc tội trong công tác tư vấn và làm công việc cộng đồng, liệu pháp này đặt con người trở thành chuyên gia trong cuộc sống của chính bản thân họ Liệu pháp kể chuyện nhìn nhận những vấn đề tách biệt khỏi con người và giả định rằng con người có nhiều kỹ năng, năng lực, niềm tin, giá trị, sự cam kết và khả năng để có thể giúp họ giảm thiểu tác động của các vấn đề đối với cuộc sống của chính họ Để tóm lược cách thức vận hành và tư tưởng xuyên suốt của liệu pháp kể chuyện, Morgan (2000) đã trích dẫn nhận định nổi tiếng của Michael White và David Epston như sau:

“Bản thân con người không phải là vấn đề, vấn đề tự thân nó chính là vấn đề” (The person is not the problem, the problem is the problem)

1.2 Các giai đoạn trị liệu và các phương pháp được sử dụng:

1.2.1 Các giai đoạn trị liệu:

White (2007) - cha đẻ của liệu pháp kể chuyện - đã đưa ra lưu ý trong cuốn sách Bản đồ thực hành chuyện kể (Maps of narrative practice) như sau: “Với tư cách là tác giả của những tấm bản đồ này, cần phải nhấn mạnh rằng tôi không sử dụng chúng để kiểm soát các cuộc trò chuyện giữa tôi với thân chủ Các cuộc trò chuyện trị liệu không hề được sắp xếp theo một trật tự cố định nào cả và tôi cũng không hề

cố gắng gượng ép bản thân phải phản hồi theo một cách cố định nào đó trước những điều mà thân chủ biểu hiện ra Tuy nhiên, những bản đồ như những thứ được trình bày trong cuốn sách này có thể giúp tôi phản hồi thân chủ theo cách có thể giúp gợi mở cho họ những cơ hội để họ khám phá ra những khía cạnh đã bị chối bỏ trong cuộc sống của chính mình Điều này cung cấp cho họ một lượng lớn những cơ hội để có thể giải quyết được những khó khăn và vấn đề trong cuộc sống của họ theo những cách mà họ chưa từng tưởng tượng ra”

Như vậy, có thể thấy rằng việc trị liệu bằng liệu pháp kể chuyện không thực sự đi theo một lộ trình

cố định nào Tuy vậy, những nhà trị liệu bằng liệu pháp kể chuyện vẫn có thể sử dụng một số những biện pháp can thiệp và kỹ thuật trị liệu để hỗ trợ họ trong quá trình trò chuyện cùng với thân chủ nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giúp đỡ thân chủ khám phá ra những yếu tố đã từng bị “ẩn” đi đối với

họ và từ đó, những yếu tố được mở ra trong quá trình trò chuyện có thể giúp thân chủ giải quyết được những khó khăn và vấn đề mà họ gặp phải

1.2.2 Các phương pháp trị liệu và can thiệp:

Trong liệu pháp kể chuyện, những câu chuyện chi phối (dominant stories) chiếm ưu thế và kiểm soát khiến cho cá nhân không thể sống và trải nghiệm những câu chuyện bị chi phối (subjugated stories)

Khi thân chủ tìm đến nhà trị liệu để trình bày ra vấn đề của họ, những nhà trị liệu theo liệu pháp kể

Trang 5

chuyện tin rằng vấn đề của thân thực chất chính là câu chuyện chi phối đã khiến cho nhận thức của thân

chủ trở nên cứng nhắc, thiếu linh hoạt khi họ chỉ tập trung vào những sự kiện phù hợp với câu chuyện

đó và tạo ra vòng luẩn quẩn trong chính những lời tiên tri tự nghiệm (White & Epston, 1990)

Dựa trên nội dung cuốn sách Maps of narratives practice (White, 2007) và cách phân chia của Kim

et al (2012), chúng tôi xin được nêu ra một số phương pháp trị liệu và can thiệp chính (main therapeutic interventions) của liệu pháp kể chuyện bao gồm (1) Hội thoại ngoại hoá (Externalising conversations), (2) Hội thoại tái sáng tác (Re-authoring conversations) và (3) Hội thoại tái lập thành viên (Re-membering conversations) Cần phải lưu ý rằng cách phân chia này chỉ mang tính chất tương đối và bên cạnh đó, những kỹ thuật khác cũng được sử dụng kết hợp xuyên suốt quá trình can thiệp và trị liệu

(1) Hội thoại ngoại hoá (Externalising conversations)

Morgan (2000) đã giải thích ngắn gọn rằng “hội thoại ngoại hoá là thứ diễn ra xuyên suốt trong

liệu pháp kể chuyện, nó là cách thức giao tiếp giúp ta tách biệt bản thân vấn đề ra khỏi con người” Kỹ

thuật ngoại hoá (Externalization) bao gồm việc trò chuyện về vấn đề đang tồn tại theo cách như thể vấn

đề đó không phải là một phần thuộc về bản sắc (identity) của thân chủ White (2007) cũng mô tả việc ngoại hoá có thể được thực hiện bằng cách vật thể hoá (objectifying) vấn đề đó thành một nhân vật, một thực thể tồn tại trong câu chuyện của cá nhân và nằm bên ngoài, tách biệt khỏi bản thân họ

Các cuộc hội thoại ngoại hoá được thực hiện thông qua việc nhà trị liệu cẩn thận đặt ra những câu

hỏi hay nhận định dựa trên những thông tin mà thân chủ cung cấp Ví dụ, khi một cặp đôi đến trị liệu và nói rằng “Chúng tôi lúc nào cũng cãi nhau”, nhà trị liệu có thể hỏi rằng “Điều gì diễn ra khi Sự xung đột chiếm lấy quyền kiểm soát mối quan hệ của hai bạn?” (Kim, et al., 2012) Hoặc theo Morgan (2000), khi thân chủ nói rằng “Tôi không có động lực, tôi không thể làm gì cả”, nhà trị liệu có thể diễn đạt lại cho họ rằng “'Vậy vấn đề đã ảnh hưởng đến năng lượng của bạn” Thay vì nói “'Tôi là loại người trầm cảm” nhà trị liệu có thể nói “Vậy là Trầm cảm đã khiến việc đi ra ngoài trở nên thực sự khó khăn đối với bạn”

Mục đích của các hội thoại ngoại hoá là tách biệt vấn đề ra khỏi bản sắc của thân chủ và trao

quyền cho thân chủ giải quyết vấn đề của họ một cách hiệu quả hơn bằng cách giảm thiểu ảnh hưởng

của những câu chuyện chi phối (dominant stories) đến họ Khi họ bắt đầu khám phá ra một cách nói, cách suy nghĩ và hành động khác về vấn đề và cuộc sống của mình, những câu chuyện bị chi phối (subjugated stories) - mà trước đây họ không nhận ra - sẽ trở nên phù hợp hơn và từ đó, thân chủ có ý thức xây dựng một câu chuyện mới thú vị hơn so với câu chuyện chi phối ban đầu (dẫn theo Kim, et al.,

2012)

Sau khi đã ngoại hoá được vấn đề, nhà trị liệu và thân chủ có thể thực hiện kỹ thuật bản đồ hoá

những sự ảnh hưởng mà vấn đề tạo ra (mapping the influences of the problem) bằng cách đặt ra

những câu hỏi để hiểu được vấn đề này đã ảnh hưởng như thế nào đến chính thân chủ và những người xung quanh (dẫn theo Goodcase & Love, 2016)

Cần phải lưu ý rằng, ngoại hoá không nên được nhìn nhận đơn thuần như là một kỹ thuật riêng biệt được sử dụng trong liệu pháp kể chuyện Thay vào đó, ngoại hoá tồn tại xuyên suốt trong quá trình

trị liệu và nó nên được coi là thái độ cần thiết phải có cũng như là là nền tảng định hướng cho mọi cuộc trò chuyện giữa nhà trị liệu và thân chủ (Morgan, 2000)

(2) Hội thoại tái sáng tác (Re-authoring conversations)

Sau khi vấn đề đã được ngoại hoá, tách biệt khỏi thân chủ và ta đã dần xác định được ảnh hưởng của vấn đề đó tới thân chủ và những người xung quanh, việc khai thác những câu chuyện bị chi phối

Trang 6

trước đây sẽ mở ra cho họ những thông tin mà họ đã quên hoặc bỏ qua Theo White (2007), các cuộc

hội thoại tái sáng tác thúc đẩy thân chủ tiếp tục phát triển và kể những câu chuyện về cuộc sống của họ,

đồng thời, chúng cũng giúp họ nhớ lại một số sự kiện và trải nghiệm đã bị bỏ quên nhưng lại có khả năng đóng vai trò rất quan trọng, dù cho những sự kiện này có thể không đồng nhất và không mang tính

ủng hộ cho câu chuyện chi phối mà họ có Những sự kiện và trải nghiệm này được gọi là những “kết quả độc đáo” hoặc “ngoại lệ”

Các Kết quả độc đáo (Unique outcomes) hoặc các Ngoại lệ (Exceptions) này chính là điểm khởi

đầu để có được các cốt truyện thay thế (alternative storylines) (White, 2007) Các kết quả độc đáo có

thể được định nghĩa là các trải nghiệm hoặc sự kiện không phù hợp và không thể được dự đoán bởi

những câu chuyện chi phối (còn được nhìn nhận là những câu chuyện không khách quan, bị bão hoà bởi

màu sắc của vấn đề tồn đọng - problem-saturated narratives), bởi những câu chuyện này đã thực sự chi

phối cuộc sống và bản sắc của thân chủ Các kết quả độc đáo, thay vào đó, bao gồm các ngoại lệ nằm

ngoài những khuôn mẫu, vòng lặp mà một số khía cạnh của vấn đề thường xảy ra (dẫn theo Carr, 2000)

Khi đã xác định được các kết quả độc đáo, nhà trị liệu cần làm nổi bật những kết quả này qua việc đặt

câu hỏi về các sự kiện có thể đã bị bỏ qua trước đó, nó có thể được lồng ghép vào trong một câu chuyện

và cốt truyện này sẽ được củng cố bằng cách bản đồ hoá (mapping) chúng với các câu hỏi về bối cảnh hành động và bối cảnh bản sắc (dẫn theo Carr, 2000)

Bối cảnh của hành động (Landscape of Action) là thuật ngữ mà Michael White sử dụng để chỉ

các sự kiện đã xảy ra trong câu chuyện của một người Sau khi đặt các câu hỏi liên quan đến bối cảnh hành động, nhà trị liệu sẽ đặt câu hỏi về bối cảnh của bản sắc, nhằm làm sáng tỏ “chủ đề” (theme) của

câu chuyện Bối cảnh của bản sắc (Landscape of Identity) đề cập đến quá trình giải nghĩa mà con người

sử dụng để có thể hiểu rõ hơn về các sự kiện xảy ra với họ Đồng thời, các câu hỏi về "bối cảnh của bản sắc" cho phép mọi người tạo dựng mối liên hệ giữa một sự kiện và kết luận của họ về bản sắc của chính

mình Các nhà trị liệu kể chuyện đặt ra các câu hỏi về bối cảnh của bản sắc để giúp thân chủ nhận ra những đặc điểm, động cơ và niềm tin tích cực mà họ đã sở hữu, cả về mặt cá nhân lẫn trong bối cảnh các mối quan hệ của họ (dẫn theo Kim, et al., 2012) Ví dụ, nhà trị liệu có thể hỏi một sự kiện cụ thể nào

đó “đã xảy ra như thế nào?” (bối cảnh hành động) và nó mang ý nghĩa gì hoặc sự kiện này có thể “cho

ta biết điều gì về những người liên quan tới nó?” (bối cảnh bản sắc) Qua thời gian, những câu hỏi này

có thể tiếp tục gợi ra những câu chuyện bị chi phối (dẫn theo Goodcase & Love, 2016)

(3) Hội thoại tái lập thành viên (Re-membering conversations):

Tuy vậy, bản sắc của cá nhân là thứ chịu sự ảnh hưởng và tác động từ nhiều yếu tố, đặc biệt là các

yếu tố môi trường - xã hội chứ không chỉ được tạo nên bởi duy nhất cách nhìn nhận của cá nhân đó về

bản thân họ Theo White (2007), Hội thoại tái lập thành viên được tạo nên dựa trên quan niệm đó, ông cho rằng bản sắc của cá nhân được hình thành dựa vào “Sự liên kết trong cuộc sống” (còn được tác giả

so sánh với một Hiệp hội của cuộc sống - association of life) thay vì chỉ dựa trên độc nhất cốt lõi của

một cá nhân (on a core self) “Hiệp hội cuộc sống” này gắn liền với một khái niệm khác được tác giả

đưa ra là “Tư cách thành viên” (hay “thành viên” - membership), bao gồm những nhân vật (figures)

quan trọng và những bản sắc (identities) nổi bật xuất hiện trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai dự kiến của một người Đây là những “thành viên” có tiếng nói nhất và có ảnh hưởng nhất đến việc xây dựng bản sắc của thân chủ Thêm vào đó, “membership” còn tiếp tục được mô tả là bao gồm các yếu tố khác

từ môi trường (environmental factors), ví dụ như bối cảnh văn hoá xã hội, những cá nhân khác và cả

yếu tố truyền thông đại chúng, từ đó hình thành nên các điểm quy chiếu (reference points) cho sự phát

triển bản sắc của cá nhân (dẫn theo Goodcase & Love, 2016)

Trang 7

Việc thực hiện hội thoại tái lập thành viên tạo cơ hội cho thân chủ xem xét lại tư cách của các

“thành viên” này trong “Hiệp hội cuộc sống” của họ, cụ thể: thân chủ có thể nâng cao địa vị của một số

thành viên trong khi lại hạ thấp địa vị của một số khác; tôn trọng một số thành viên và coi nhẹ một số

khác; đặc biệt là khi xét đến những ý kiến ảnh hưởng đến bản sắc cá nhân của chính thân chủ, họ có thể

lựa chọn giữ lại và đề cao hay loại bỏ ý kiến nào (White, 2007)

Nói cách khác, những cuộc hội thoại tái lập thành viên này giúp thân chủ khám phá các mức độ ảnh hưởng khác nhau của những yếu tố ngoại cảnh đối với bản sắc của thân chủ Sau đó, quá trình tái lập thành viên (re-membering) cho phép thân chủ đạt được sự chuyển biến trong bản sắc của họ xuyên suốt quá trình chỉnh sửa, đề cao hoặc loại bỏ một số “thành viên”, hay là những yếu tố ngoại cảnh này

(dẫn theo Goodcase & Love, 2016)

Sau khi đã giành lại thế chủ động trong cuộc sống, lựa chọn ra được những yếu tố có thể tiếp tục

ảnh hưởng đến bản sắc của bản thân và tìm ra được câu chuyện ưa thích (Preferred stories), chính là

cách nhìn nhận đánh giá mới tích cực hơn của thân chủ về cuộc đời và bản sắc của mình sau khi đã cố

gắng để thay đổi câu chuyện chi phối, nhà trị liệu có nhiệm vụ hỗ thân chủ có thể sống và củng cố thêm

cho câu chuyện cuộc đời mới mà thân chủ đã lựa chọn này (White, 2007; Goodcase & Love, 2016)

1.3 Một số nhóm đối tượng phù hợp với việc trị liệu bằng liệu pháp kể chuyện:

1.3.1 Trẻ em

Liệu pháp kể chuyện được cho là có hiệu quả đối với trẻ em do nó khiến cho các cuộc đối thoại với nhà trị liệu trở nên hấp dẫn hơn với trẻ Đồng thời, nó cũng khuyến khích các em kể về những lo âu

và những điều quan trọng với các em một cách không áp lực, giúp trẻ nhìn nhận cuộc sống của mình và những vấn đề mình gặp phải theo một góc nhìn khác Tuy vậy, một số tác giả cũng lưu ý rằng liệu pháp này không nên được áp dụng cho trẻ một cách quá cứng nhắc (Jørgensen, et al., 2023) Điều này là do trẻ em ở độ tuổi 4 đến 5 thường có xu hướng thổi phồng sự thật và tới 6 tuổi trẻ vẫn giữ sự tự đánh giá quá cao về chính bản thân mình (Truong, 2020) nên có thể làm hạn chế tính hiệu quả của quá trình trị liệu

1.3.2 Thiếu niên

Theo lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson, mâu thuẫn chủ đạo của độ tuổi thiếu niên (từ

12 cho đến 18 tuổi) là đồng nhất bản sắc (Identity) và lẫn lộn vai trò (Role confusion) Mục tiêu quan trọng nhất trong độ tuổi này, theo Erikson, là sự phát triển của bản sắc cá nhân (Truong, 2020) Liệu pháp kể chuyện trong trường hợp này có thể đóng vai trò hỗ trợ thiếu niên tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi: Tôi là ai, tôi là người như thế nào, tôi sẽ trở thành người như thế nào; hoặc giải quyết các vấn

đề xoay quanh cuộc sống học đường (Nguyen & Nguyen, 2018)

1.3.3 Người cao tuổi

Người cao tuổi thường có xu hướng hồi tưởng lại những gì đã xảy ra, những điều mình đã và chưa đạt được, những mối quan hệ và những mục tiêu khi họ còn trẻ Do đó, theo Erikson, mâu thuẫn nổi bật của giai đoạn này là giữa sự toàn vẹn cái tôi và sự tuyệt vọng Trong trường hợp này, liệu pháp kể chuyện được mong đợi là sẽ giúp cho những thân chủ lớn tuổi đang trải qua sự tuyệt vọng trong giai đoạn này

có thể nhìn nhận và đánh giá lại cuộc đời mình, từ đó có thể chuyển hóa từ trạng thái buồn bã, trầm cảm, tội lỗi, hối hận và phẫn nộ sang một cái nhìn toàn vẹn về bản thân (Goodcase & Love, 2016) Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng liệu pháp kể chuyện có tác động tích cực, cải thiện tình trạng lo lắng

Trang 8

sợ hãi cái chết và gia tăng sự hạnh phúc cho người cao tuổi (Heidari, et al., 2016; Ahn, 2017) Bởi lẽ, việc thông qua liệu pháp kể chuyện để truyền đạt lại cho người khác sự “khôn ngoan” của mình, cũng

có thể mang tới cho người cao tuổi cảm giác thỏa mãn và tự hào vì bản thân đã để lại được cho đời những di sản có giá trị (Goodcase & Love, 2016)

1.3.4 Người bị bệnh nan y

Với những cá nhân mắc bệnh nan y, bất kể ở độ tuổi nào, mục đích cuối cùng vẫn là hướng sự tuyệt vọng sang sự toàn vẹn cái tôi và chấp nhận, thêm vào đó là việc giúp cá nhân đó ra đi trong sự hạnh phúc về mặt tâm lý (Richman, 1995) Có thể nhận thấy ở đây việc áp dụng liệu pháp kể chuyện đối với người mắc bệnh nan y có cùng một mong đợi như với người cao tuổi, song mục đích cuối cùng của việc áp dụng liệu pháp kể chuyện lên những người mắc bệnh nan y là giúp cho họ dễ dàng đón nhận cái chết đang tới, cũng như giúp họ trải qua ngày tháng cuối đời nhẹ nhàng và thanh thản hơn Nhà trị liệu trong trường hợp này cũng sử dụng liệu pháp kể chuyện khi làm việc với gia đình của các bệnh nhân để giúp họ dần thích nghi và chấp nhận sự thật rằng người thân của mình sẽ sớm phải ra đi (Noble & Jones, 2005)

Bên cạnh những đối tượng tiêu biểu kể trên, liệu pháp kể chuyện cũng được áp dụng thành công đối với đa dạng các nhóm đối tượng và vấn đề khác: trị liệu cặp đôi, giải quyết mâu thuẫn hôn nhân và gia đình (Kim, et al., 2012), trị liệu cho các trường hợp trầm cảm (Lopes, et al., 2014; Lynette, et al., 2010)

1.4 Mối liên hệ giữa liệu pháp kể chuyện với lý thuyết phát triển tâm lý - xã hội của

Erik Erikson:

(1) Mối liên hệ về vấn đề bản sắc và khủng hoảng bản sắc

Liệu pháp kể chuyện sở hữu một trong những yếu tố góp vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách là ngôn ngữ và suy rộng ra là mối quan hệ giao tiếp giữa người với người Michel Foucault, trên quan điểm của chủ nghĩa hậu cấu trúc trong triết học cho rằng ngôn ngữ không chỉ ảnh hưởng đến cách chúng ta hình thành khái niệm về “cái tôi” và “bản sắc”, mà còn cả cách cá nhân đối xử với mọi người và hình thành ý nghĩa trong cuộc sống của họ (dẫn theo Besley, 2002) Trong khi đó, theo lý thuyết của Erikson, ngôn ngữ giao tiếp và mối quan hệ với người khác cùng môi trường xung quanh cũng ảnh hưởng tới quá trình phát triển bản sắc xuyên suốt cuộc đời con người (Truong, 2020) Do đó,

có thể nói, ngôn ngữ trong giao tiếp và xây dựng các mối quan hệ là cây cầu bắc giữa liệu pháp kể chuyện và lý thuyết của Erikson

Về vấn đề khủng hoảng bản sắc, Erik Erikson khẳng định rằng việc trải qua khủng hoảng bản sắc

là một quá trình tự nhiên và đáng mong muốn, đồng thời trải nghiệm này sẽ đem lại sự trưởng thành to lớn cho cá nhân Khái niệm này đã được mở rộng để đề cập đến những khủng hoảng của tuổi thiếu niên, trung niên và có thể ở cả những thời kỳ khác, được đánh dấu bởi sự thay đổi hoặc không chắc chắn về bản thân (APA, n.d.) Cá nhân gặp phải khủng hoảng bản sắc thường sẽ có thắc mắc về việc bản thân mình là ai, mình là người như thế nào, mình thuộc về nơi nào, mình có mong muốn, mục tiêu gì… và việc kể lại những gì họ đã trải qua có thể đem lại câu trả lời cho các câu hỏi này Liệu pháp kể chuyện giúp cá nhân nhìn nhận lại câu chuyện của chính bản thân mình theo một góc nhìn khác, qua đó cá nhân

có thêm thông tin để xây đắp và củng cố thêm cho câu trả lời về bản sắc của mình Bản thân việc trần thuật lại cuộc đời mình cũng đã thể hiện cách họ nhìn nhận về bản thân cũng như những vấn đề trong

Trang 9

cuộc sống, bởi cá nhân định hình và thay đổi bản sắc của họ thông qua ngôn ngữ và những câu chuyện xây nên hình ảnh của họ cũng như người khác (Karimian, et al., 2015)

(2) Mối liên hệ về vai trò của yếu tố xã hội

Bên cạnh vấn đề về việc xây dựng và phát triển bản sắc, Lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson cũng cho biết ở mỗi giai đoạn phát triển sẽ có một cuộc khủng hoảng phát triển cần được giải

quyết và những cuộc khủng hoảng này có bản chất xã hội, ông gọi nó là những xung đột tâm lý xã hội

Erikson cho rằng trong những giai đoạn đầu tiên, những khủng hoảng về sự phát triển tâm lý xã hội của trẻ có mối liên hệ chặt chẽ với người lớn (cha mẹ, gia đình và thầy cô) Ở những giai đoạn tiếp sau đó, con người mới có sự kiểm soát nhất định đối với môi trường của chúng ta và những người mà ta tiếp xúc, tuy vậy, những lựa chọn này ít nhiều đều chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm nhân cách phát triển trong suốt thời thơ ấu (dẫn theo Nguyen, 2020)

Trong liệu pháp kể chuyện, những câu chuyện chi phối chúng ta mang đậm màu sắc của các yếu

tố xã hội, cụ thể là những thông điệp và nội dung cá tiếp thu trong suốt cuộc đời họ từ gia đình, các nhóm cộng đồng hay tại trường học Nhiệm vụ của một nhà trị liệu tâm lý theo liệu pháp kể chuyện là giúp thân chủ nhận ra những khía cạnh, trải nghiệm từng bị bỏ quên trong cuộc sống của họ do không đồng nhất với câu chuyện chi phối, từ đó tìm ra các hướng giải quyết vấn đề và khuyến khích họ dám thách thức, đương đầu với những yếu tố đến từ ngoại cảnh đã ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc đời họ suốt bao lâu nay (dẫn theo Kim, et al., 2012)

Như vậy, liệu pháp kể chuyện cũng đề cao vai trò của các yếu tố xã hội tới sự phát triển tâm lý của

cá nhân, đặc biệt là đối với bản sắc của người đó, điều này được thể hiện rõ nét trong quá trình thực hiện các cuộc hội thoại tái lập thành viên, khi mà thân chủ phải dần đánh giá xem liệu yếu tố xã hội nào còn được phép tiếp tục ảnh hưởng đến bản sắc của họ, đến cách mà thân chủ nhìn nhận về chính họ và yếu

tố nào cần phải được buông bỏ Do vậy mà việc hiểu rõ và vận dụng lý thuyết của Erik Erikson, đặc biệt

là về các xung đột tâm lý xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển là vô cùng cần thiết trong quá trình trị liệu bằng liệu pháp kể chuyện

(3) Liên hệ với việc trị liệu cho người cao tuổi

Hiện nay, đã xuất hiện một số nghiên cứu sử dụng liệu pháp kể chuyện nhằm trị liệu tâm lý cho những người cao tuổi hoặc mắc bệnh nan y sắp qua đời (Noble & Jones, 2005; Heidari, et al., 2016; Ahn, 2017) Đặc điểm chung của những người này, như đã nêu ở trên, là họ không còn có quá nhiều thời gian để sống và do vậy, họ có xu hướng hoặc là hài lòng với những gì mình đã đạt được, hoặc là trở nên thất vọng, tuyệt vọng Họ thuộc vào nhóm giai đoạn phát triển cuối cùng theo Erik Erikson và phải đối mặt với sự xung đột giữa Cái tôi toàn vẹn và Sự tuyệt vọng, và để có thể đạt được Cái tôi toàn vẹn, họ cần phải chấp nhận vị trí hiện tại lẫn quá khứ của chính mình (dẫn theo Nguyen, 2020) Liệu pháp kể chuyện lúc này có thể trở thành một liệu pháp điều trị thích hợp dành cho họ và ở chương tiếp theo, chúng tôi sẽ đi vào mô tả một trường hợp nghiên cứu cụ thể về một người cao tuổi được trị liệu tâm lý bằng liệu pháp này

Trang 10

CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN TÂM LÝ - XÃ HỘI CỦA ERIK ERIKSON TRONG TRỊ LIỆU TÂM LÝ CHO NGƯỜI CAO TUỔI BẰNG

LIỆU PHÁP KỂ CHUYỆN: MỘT TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU

2.1 Thông tin cơ bản:

Thông tin cơ bản: Một người phụ nữ tên Rose (tên đã được thay đổi), 79 tuổi, tìm tới trị liệu vì

luôn cảm thấy chán nản và tức giận Bà đã ly hôn và có ba người con trưởng thành Bà cho biết mình thường chỉ dành cả ngày ở nhà vì bà không có phương tiện đi lại Trong suốt thời gian đó, bà sẽ suy ngẫm về những nuối tiếc và những biến cố, khó khăn đã xảy ra trong cuộc đời mình Việc liên tục nghĩ

về những điều tiêu cực ấy khiến bà luôn cảm thấy tức giận đối với mọi người xung quanh và tự hạ thấp giá trị bản thân Nhiều cuộc tranh cãi với con cái đã diễn ra và chúng càng làm trầm trọng thêm những cảm giác tiêu cực trong bà Thêm vào đó, bà lo sợ rằng bản thân sẽ sớm qua đời nếu như không thể khắc phục được tất cả những vấn đề này (Goodcase & Love, 2016)

Đánh giá ban đầu: Những dấu hiệu trên của Rose là những dấu hiệu tiêu biểu cho tình trạng mâu

thuẫn giữa trạng thái tuyệt vọng và sự vẹn toàn của cái tôi trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời theo

lý thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson (Goodcase & Love, 2016)

Liệu pháp sử dụng: Do những triệu chứng trầm cảm và rối loạn khác của Rose bắt nguồn từ việc

bà thường xuyên suy ngẫm một cách tiêu cực và hối tiếc về quá khứ nên liệu pháp kể chuyện được sử dụng nhằm thay đổi cách bà nhìn nhận, đánh giá về các sự kiện trong cuộc đời mình Từ đó, bà có thể vượt qua nỗi sợ hãi về cái chết cũng như sự tuyệt vọng trước sự sai lệch giữa kỳ vọng và hiện thực cuộc sống, tiến tới sự hài lòng về tính toàn vẹn của cái tôi (Goodcase & Love, 2016)

2.2 Các giai đoạn của quá trình trị liệu:

2.2.1 Giai đoạn đầu:

(1) Thân chủ kể chuyện:

Rose kể rằng bà là nạn nhân của bạo lực gia đình trong suốt thời thơ ấu bởi bố mẹ bà Sau khi kết hôn, bà lại tiếp tục phải chịu bạo hành về cả thể chất lẫn tinh thần từ chồng Tuy bà cảm thấy rất căm hận những người đã đối xử tệ với mình nhưng đồng thời bà cũng luôn tự trách bản thân vì đã quá yếu đuối và ngu ngốc khi chịu đựng cuộc hôn nhân đó lâu đến vậy Trong mối quan hệ với con cái, Rose luôn cảm thấy hoài nghi về vai trò làm mẹ của mình Bà liên tục tự đổ lỗi, cho rằng bản thân là nguyên nhân chủ yếu tạo nên những căng thẳng hiện tại trong mối qua hệ giữa mình và các con Rose cũng tự nhận rằng mình chỉ là một người mẹ yếu đuối, nghèo khổ và kém cỏi, Ngoài ra, những kỳ vọng mà Rose đặt ra cho những người ở độ tuổi của mình cũng rất khác nhau Bà thường kể về những người bạn

có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, gia đình hòa thuận Tuy nhiên, bà cũng sẽ dễ dàng nổi giận nếu như bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ thông thái, đáng kính, mạnh mẽ hay có tiếng nói trong gia đình của

họ trên TV Các giá trị mà bà cho là quan trọng còn có thể được bộc lộ trong việc bà thường xuyên nhắc tới những kiểu nhân vật phụ nữ lớn tuổi nào được khắc họa qua phim ảnh với những cảm xúc ấn tượng mạnh mẽ (Goodcase & Love, 2016)

(2) Bản đồ hoá những ảnh hưởng của vấn đề thông qua ngoại hoá:

Nhà trị liệu xác định cảm giác “hối tiếc” là một trong những vấn đề nổi bật nhất trong câu chuyện chi phối của Rose và tập trung phân tích xem nó có ảnh hưởng như thế nào tới bà thông qua việc đặt câu

Ngày đăng: 19/03/2025, 11:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3) Truong, T. K. H (2020). Giáo trình tâm lý học phát triển (3rd ed.). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học phát triển
Tác giả: Truong, T. K. H
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2020
1) Ahn, Y. (2017). The impact of narrative therapy on fear of death anxiety and ego-integrity in elderly. International Information Institute (Tokyo). Information, 20(4B), 2945-2954 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of narrative therapy on fear of death anxiety and ego-integrity in elderly
Tác giả: Y. Ahn
Nhà XB: International Information Institute (Tokyo)
Năm: 2017
2) American Psychological Association. (n.d.). identity crisis. In APA dictionary of psychology. Retrieved February 21, 2024, from https://dictionary.apa.org/identity-crisis Sách, tạp chí
Tiêu đề: identity crisis
Tác giả: American Psychological Association
Nhà XB: APA dictionary of psychology
Năm: n.d.
3) American Psychological Association. (n.d.). narrative therapy. In APA dictionary of psychology. Retrieved February 20, 2024, from https://dictionary.apa.org/narrative-therapy Sách, tạp chí
Tiêu đề: narrative therapy
Tác giả: American Psychological Association
Nhà XB: APA dictionary of psychology
Năm: n.d.
4) Besley, A. C. (2002). Foucault and the turn to narrative therapy. British Journal of Guidance and Counselling, 30(2), 125-143.doi:10.1080/03069880220128010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: British Journal of Guidance and Counselling, 30
Tác giả: Besley, A. C
Năm: 2002
5) Carr, A. (2000). Chapter 2. Michael White's narrative therapy. In A. Carr (Ed.), Clinical Psychology in Ireland, Volume 4. Family Therapy Theory, Practice and Research (pp. 15-38).Wales: Edwin Mellen Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Psychology in Ireland, Volume 4. Family Therapy Theory, Practice and Research
Tác giả: Carr, A
Năm: 2000
6) Goodcase, Eric T.; Love, Heather A. (2016). From Despair to Integrity: Using Narrative Therapy for Older Individuals in Erikson’s Last Stage of Identity Development. Clinical Social Work Journal, (), –. doi:10.1007/s10615-016-0601-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Social Work Journal, ()
Tác giả: Goodcase, Eric T.; Love, Heather A
Năm: 2016
7) Heidari, F., Amiri, A., & Amiri, Z. (2016). The effect of person-centered narrative therapy on happiness and death anxiety of elderly people. Asian Social Science, 12(10), 117-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asian Social Science, 12
Tác giả: Heidari, F., Amiri, A., & Amiri, Z
Năm: 2016
10) Kim, Hyejin; Prouty, Anne M.; Roberson, Patricia N. E. (2012). Narrative Therapy with Intercultural Couples: A Case Study. Journal of Family Psychotherapy, 23(4), 273–286.doi:10.1080/08975353.2012.735591 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Narrative Therapy with Intercultural Couples: A Case Study. Journal of Family Psychotherapy, 23(4), 273–286
Tác giả: Kim, Hyejin; Prouty, Anne M.; Roberson, Patricia N. E
Năm: 2012
11) Lopes, R. T., Gonỗalves, M. M., Machado, P. P., Sinai, D., Bento, T., & Salgado, J. (2014). Narrative Therapy vs. Cognitive-Behavioral Therapy for moderate depression: Empirical evidence from a controlled clinical trial. Psychotherapy Research, 24(6), 662-674 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Narrative Therapy vs. Cognitive-Behavioral Therapy for moderate depression: Empirical evidence from a controlled clinical trial
Tác giả: R. T. Lopes, M. M. Gonỗalves, P. P. Machado, D. Sinai, T. Bento, J. Salgado
Nhà XB: Psychotherapy Research
Năm: 2014
13) Noble, A., & Jones, C. (2005). Benefits of narrative therapy: holistic interventions at the end of life. British Journal of Nursing, 14(6), 330–333. doi:10.12968/bjon.2005.14.6.1780214)Richman, J. (1995). From despair to integrity: An Eriksonian approach to psychotherapy for theterminally ill. Psychotherapy: Theory, Research, Practice, Training, 32(2), 317 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Benefits of narrative therapy: holistic interventions at the end of life
Tác giả: A. Noble, C. Jones
Nhà XB: British Journal of Nursing
Năm: 2005
15) Vromans, L. P., & Schweitzer, R. D. (2011). Narrative therapy for adults with major depressive disorder: Improved symptom and interpersonal outcomes. Psychotherapy research, 21(1), 4-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychotherapy research, 21
Tác giả: Vromans, L. P., & Schweitzer, R. D
Năm: 2011
17) White, M. K., & Morgan, A. (2006). Narrative therapy with children and their families (pp. 1- 56). Adelaide: Dulwich Centre Publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: Narrative therapy with children and their families
Tác giả: M. K. White, A. Morgan
Nhà XB: Dulwich Centre Publications
Năm: 2006
18) White, M., & Epston, D. (1990). Narrative means to therapeutic ends. WW Norton & Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: Narrative means to therapeutic ends
Tác giả: White, M., & Epston, D
Năm: 1990
8) Jứrgensen, C. B., Behrmann, J. T., Blaabjerg, J., Pettersen, K. A., & Jensen de Lúpez, K. M Khác
9) Karimian, N., Askari, M., Karimi, Y., & Zarei, E. (2015). The effectiveness of group narrative therapy on reducing identity crisis and mental health improvement of Divandarre students Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w