1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoa kỳ thuế chống bán phá giá và Đối kháng Đối với một số sản phẩm từ trung quốc (ds379)

13 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoa kỳ thuế chống bán phá giá và đối kháng đối với một số sản phẩm từ trung quốc (ds379)
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp Luật Về Thương Mại Hàng Hóa Quốc Tế
Thể loại Bài Tập Nhóm
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 368,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung Quốc chỉ ra rằng khoản trợ cấp bị cáo buộc không những không giới hạn một cách rõ ràng những doanh nghiệp xác định mà nó còn không giới hạn trên thực tế vì mọi người vay vay tiền t

Trang 1

01 Nhóm :

N01.TL1

p : ớ L

NH SCM Ị

P Đ Ệ

U 2.1 HI Ề

N ĐI Ế

A WTO LIÊN QUAN Đ

C

P Ấ TRANH CH Ụ

T V Ộ

N M Ậ PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LU

BÀI:

Ề Đ

C T Ố HÓA QU Ậ T V Ề THƯƠNG M Ạ I HÀNG

PHÁP LU MÔN:

P NHÓM Ậ

BÀI T

I Ộ

T HÀ N Ậ

C LU Ọ

I H Ạ

NG Đ Ờ

TRƯ

TƯ PHÁP Ộ

B

Trang 2

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU

1 II TÓM TẮT ÁN 2

1 Các bên tham gia và giải quyết tranh chấp 2

2 Sự kiện pháp lý 2

3 Vấn đề pháp lý 2

4 Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp 3

III TÓM TẮT LẬP LUẬN CỦA NGUYÊN ĐƠN, BỊ ĐƠN, CQGQTC 3

1 Tóm tắt lập luận của Trung Quốc 3

a Điều 2.1(a) của Hiệp định SCM: “Trợ cấp” và “Rõ ràng”

3 b Điều 2.1(a) của Hiệp định SCM: “Các doanh nghiệp nhất định” 4

2 Tóm tắt lập luận của Hoa Kỳ 5

a Điều 2.1(a) của Hiệp định SCM: “Trợ cấp” và “Rõ ràng”

5 b Điều 2.1(a) của Hiệp định SCM: “Các doanh nghiệp nhất định” 6

3 Tóm tắt lập luận của CQGQTC 7

IV ĐÁNH GIÁ, BÌNH LUẬN CỦA NHÓM

8 V KẾT LUẬN

10 VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

mại Hoa Kỳ )

nhà nước)

thuộc sở hữu của nhà nước)

tires) SCM Agreement Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

GOC Catalogue Guiding Catalogue of the Industrial Restructuring

(2005)

MỞ ĐẦU

Những quy tắc GATT về trợ cấp quy định trong điều XVI được làm rõ và nêu chi tiết tại Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) và Hiệp định nông nghiệp Trong đó, Hiệp định SCM và cụ thể là Điều 2.1 đã quy định về

“tính riêng biệt” của trợ cấp Để hiểu kỹ hơn về Điều 2.1 của Hiệp định SCM bài

làm sẽ đi vào phân tích chi tiết và bình luận về vụ tranh chấp Hoa Kỳ - thuế

chống bán phá giá và đối kháng đối với một số sản phẩm từ Trung Quốc (DS379)

NỘI DUNG

Trang 4

I TÓM TẮT ÁN

1 Các bên tham gia và giải quyết tranh chấp

Nguyên đơn: Trung Quốc Bị đơn: Hoa Kỳ Bên thứ 3 liên quan: Argentina, Australia, Bahrain, Brazil, Canada, Liên minh Châu Âu, Ấn Độ,

Nhật Bản, Kuwait, Mexico, Na Uy, Ả Rập Xê Út, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ Cơ quan giải quyết tranh chấp: Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO (DBS)

2 Sự kiện pháp lý

Từ năm 2007, USDOC áp dụng chính sách đồng thời cả thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá lên hàng nhập khẩu từ các nước NME Theo đó, Hoa Kỳ

đã 4 lần áp thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng lên các chương trình của Trung Quốc, cụ thể:

(SOE),

nhà nước (SOCB) và

Việc áp đặt cùng lúc 02 loại thuế này khiến các mặt hàng của Trung Quốc (lốp

xe, ống thép carbon tròn hàn chất lượng cao, ) chịu sự ảnh hưởng mạnh

Ngày 19/9/2008, Trung Quốc đã yêu cầu tham vấn liên quan đến thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp do Hoa Kỳ áp đặt

Ngày 9/12/2008, Trung Quốc yêu cầu thành lập Ban hội thẩm (BHT)

Ngày 20/1/2009, DSB thành lập BHT

Ngày 22/10/2010, báo cáo của BHT đã được gửi đến các thành viên

Ngày 1/12/2010, Trung Quốc quyết định kháng cáo lên CQPT Ngày 25/3/2011, DSB đã thông qua báo cáo của CQPT và báo cáo của BHT, được sửa đổi bởi báo cáo của CQPT

Trang 5

3 Vấn đề pháp lý

Liệu việc Hoa Kỳ áp dụng đồng thời thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đối với cùng một sản phẩm có vi phạm các nghĩa vụ của Hoa Kỳ theo Hiệp định SCM và Hiệp định chống bán phá giá không?

Liệu việc SOCB trợ cấp thông qua việc cho vay có được xem là “riêng biệt” hay không? Các tiêu chuẩn mà USDOC áp dụng để xác định tính riêng biệt có phù hợp với Điều 1.1 và Điều 2 của Hiệp định SCM không?

Việc USDOC sử dụng lãi suất trung bình hàng năm có phù hợp với Điều 14 của Hiệp định SCM không?

4 Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp

Điều I, VI của GATT 1994; Điều 1, 2, 6, 9, 10, 12, 13, 14, 19 và 32 của Hiệp định SCM; Điều 1, 2, 6, 9, 18 và phụ lục II Hiệp định chống bán phá giá

1 Tóm tắt lập luận của Trung Quốc

Trung Quốc kháng cáo, yêu cầu CQPT bác bỏ phán quyết của BHT với lý do Hoa Kỳ đã không hành động tuân thủ với Điều 2.1(a) Hiệp định SCM Cụ thể, Trung Quốc cho rằng BHT đã sai lầm trong việc diễn giải các thuật ngữ "trợ cấp" (“subsidy”) và "rõ ràng" (“explicitly”), cũng như trong việc áp dụng thuật ngữ

"các doanh nghiệp nhất định" (“certain enterprises”)

a Điều 2.1(a) của Hiệp định SCM: “Trợ cấp” và “Rõ ràng”

Trung Quốc cũng yêu cầu CQPT xác định rằng cách xác định về “tính riêng biệt” của USDOC là không phù hợp với Điều 2.1(a) SCM và do đó, cũng không

1 Để phù hợp với yêu cầu đề bài cũng như đảm bảo dung lượng bài làm, nhóm chỉ trình bày lập luận liên quan đến Điều 2.1 Hiệp định SCM

Trang 6

phù hợp với các Điều 10 và 32.1 của Hiệp định SCM.2 Trung Quốc đã đưa ra 02 luận điểm chính để bác bỏ lập luận của BHT:

định SCM, khi coi một trợ cấp là "riêng biệt" ngay cả khi nó có sẵn và có thể tiếp cận một cách rộng rãi trong nền kinh tế là không phù hợp với mục tiêu của Hiệp định

Trung Quốc chỉ ra rằng khoản trợ cấp bị cáo buộc không những không giới hạn một cách rõ ràng những doanh nghiệp xác định mà nó còn không giới hạn trên thực tế vì mọi người vay vay tiền từ SOCB tại Trung Quốc đều nhận được lãi suất RMB và đều nhận được đóng góp tài chính và lợi ích do đó, Trung Quốc cho rằng giải thích của BHT đã tước đi khả năng của Điều 2.1(a) trong việc chỉ

cấp” và “rõ ràng” của BHT tại Điều 2.1(a), Trung Quốc cho rằng không có bất

kỳ sự giới hạn tiếp cận rõ ràng nào được gây ra bởi các khoản cho vay của SOCBs Theo Trung Quốc, tài liệu hoạch định tài chính không yêu cầu SOCBs phải cung cấp độc quyền các khoản vay cho các ngành công nghiệp “được

khuyến khích” Và đúng hơn, những công ty mà SOCBs có thể cung cấp khoản

vay có thể bao gồm các ngành nghề “được khuyến khích” cũng như các ngành nghề “được cho phép” Do đó, theo Trung Quốc, vì BHT đã không xác định được sự tồn tại của một sự giới hạn một cách rõ ràng tiếp cận vào các khoản vay của SOCBs với các ngành công nghiệp được khuyến khích, nên lập luận của BHT là không rõ ràng và không đủ để khẳng định việc xác định “tính cụ thể” của USDOC và BHT cũng đã giải thích sai Điều 2.1(a) và do đó phán quyết của BHT phải bị hủy bỏ

2 WT/DS379/AB/R, Para 46

3 WT/DS379/AB/R, Para 50

Trang 7

b Điều 2.1(a) của Hiệp định SCM: “Các doanh nghiệp nhất định”

Trung Quốc đề nghị CQPT hủy bỏ kết luận của BHT rằng các doanh nghiệp thuộc danh mục "khuyến khích" được coi là "các doanh nghiệp nhất định", vì điều này sẽ làm mất hiệu lực các yêu cầu về tính riêng biệt theo Điều 2 của Hiệp định SCM Trung Quốc lập luận rằng cách giải thích của BHT về thuật ngữ "các doanh nghiệp nhất định" là sai lầm, vì Danh mục GOC xác định 539 ngành được

"khuyến khích", trải rộng trên 26 lĩnh vực kinh tế.4

Trung Quốc nhấn mạnh rằng trong các vụ kiện trước đây như US – Upland

Cotton và EC and certain member States – Large Civil Aircraft, các BHT đã xác

định rằng trợ cấp chỉ dành cho "các doanh nghiệp nhất định" khi nó nhắm vào một nhóm nhà sản xuất nhất định sản xuất những sản phẩm nhất định, không phải khi nó được phân bổ rộng rãi Với 539 ngành được "khuyến khích" trải rộng trên nhiều lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc cho rằng chúng không thể được coi là

"các doanh nghiệp nhất định" Trung Quốc cũng so sánh với các trường hợp trước đây, nơi các trợ cấp phân bổ cho một số lượng ngành nhỏ hơn nhiều cũng không bị coi là "nhất định" Mặc dù thừa nhận rằng khái niệm "các doanh nghiệp nhất định" có một mức độ không rõ ràng, Trung Quốc khẳng định rằng 539 ngành công nghiệp trải rộng trên 26 lĩnh vực không thể được coi là một "phân khúc riêng biệt"

2 Tóm tắt lập luận của Hoa Kỳ

4 WT/DS379/AB/R, Para 55

5 WT/DS379/AB/R, Para 56

Trang 8

a Điều 2.1(a) của Hiệp định SCM: “Trợ cấp” và “Rõ ràng”

Hoa Kỳ yêu cầu CQPT giữa nguyên phán quyết của BHT rằng: kết luận điều tra của USDOC về chính sách cho vay trong vụ OTR là một trợ cấp de jure, không vi phạm Điều 2.1(a) Hiệp định SCM

(i) Hoa Kỳ khẳng định rằng, BHT đã giải thích đúng quy định tại Điều 2.1(a), phù hợp với các quy tắc giải thích thông thường Đối với quan điểm của

Trung Quốc rằng BHT đã áp dụng cách giải thích mang tính chức năng đối với Điều 2.1(a), Hoa Kỳ cho rằng Trung Quốc đã nhầm lẫn trong vấn đề này khi trên thực tế, việc giải thích dựa vào cách tiếp cận chức năng chỉ là một phương pháp

để phân tích nội dung quy định của pháp luật, cụ thể là cụm từ “giới hạn một cách rõ ràng một khoản ưu đãi” và đồng thời cũng phản đối quan điểm của Trung

(ii)Hoa Kỳ cho rằng Trung Quốc đã lập luận một cách thiếu chính xác khi

Trung Quốc cho rằng chính sách cho vay của SOCBs đối với ngành công nghiệp lốp xe không được xem là riêng biệt bởi vì khoản vay này không chỉ dành cho những ngành nghề “được khuyến khích” mà còn dành cho những ngành nghề

“được cho phép” Nhưng Trung Quốc đã không đưa ra được bằng chứng chứng minh rằng SOCBs cũng cung cấp những khoản vay này cho các ngành công nghiệp “được cho phép” Bên cạnh đó, sau khi cân nhắc đoạn 12 và 13 của Quy định áp dụng (the Implrementing Regulation), các ngành nghề “được cho phép”

b Điều 2.1(a) của Hiệp định SCM: “Các doanh nghiệp nhất định”

Hoa Kỳ yêu cầu CQPT bác bỏ kháng cáo của Trung Quốc rằng BHT đã sai sót trong việc giải thích và áp dụng thuật ngữ “các doanh nghiệp nhất định”

6 WT/DS379/AB/R, Para 152

7 WT/DS379/AB/R, Para 158

Trang 9

Hoa Kỳ chỉ ra rằng BHT đã đồng ý trong vụ US - Upland Cotton rằng một trợ cấp được cung cấp cho “những doanh nghiệp nhất định” nếu người nhận trợ cấp cấu thành một phân khúc riêng biệt của nền kinh tế của thành viên thực hiện phát trợ cấp Và Hoa Kỳ thách thức Trung Quốc trong việc khẳng định rằng BHT đã sai lầm trong việc khẳng định trợ cấp bị giới hạn cho một số doanh nghiệp nhất định bởi vì việc phân loại 539 ngành nghề thuộc 26 lĩnh vực kinh tế khác nhau là bất khả thi vì những lý do sau:

Thứ nhất, Hoa Kỳ cho rằng việc phân loại của Trung Quốc trong GOC Catalogue là không chính xác và BHT cũng khẳng đỉnh rằng, “việc phân loại này giống như liệt kê ra một số dự án lốp xe cụ thể chứ không phải sự phân loại mang tính phổ quát”8

Thứ hai, Hoa Kỳ không đồng tình với sự giải thích của Trung Quốc về thuật ngữ “doanh nghiệp nhất định” để bao gồm phạm vi các lĩnh vực kinh tế trong

danh mục khuyến khích sẽ không nhất quán với kết luận của BHT trong vụ EC

-Large

không bị giới hạn cho các doanh nghiệp nhất định vì các tình tiết trong vụ đó

khác với các tình tiết trong tranh chấp này, và chú ý rằng báo cáo của BHT trong vụ đó vẫn chưa được DSB thông qua

3 Tóm tắt lập luận của CQGQTC

Thứ nhất, theo lập luận của CQPT, Điều 2.1(a) không tập trung vào liệu một

trợ cấp có được trao cho những doanh nghiệp nhất định không mà tập trung vào

việc xem xét liệu việc tiếp cận trợ cấp đấy có được giới hạn một cách rõ ràng

không Điều này chỉ ra rằng, việc điều tra phải tập trung vào việc xác định liệu có

8 United States appellee’s submission, para 215 (quoting Panel Report, para 9.68)

9 United States – Measures Affecting Trade in Large Civil Aircraft (Second Complaint), WT/DS353 (panel proceedings in progress)

Trang 10

tồn tại những doanh nghiệp nhất định đủ điều kiện cho trợ cấp chứ không phải dựa trên liệu các doanh nghiệp đó có nhận được trợ cấp trên thực tế hay không Theo CQPT, một trợ cấp được xem là rõ ràng theo Điều 2.1(a) nếu sự giới hạn tiếp cận trợ cấp với các doanh nghiệp nhất định được thể hiện một cách không

mơ hồ và cụ thể, dựa trên những bằng chứng, sự thật liên quan chứ không phải hiểu một cách “ngầm định”(implied) hay một “sự gợi ý” (“suggested”)

Thứ hai, khi xem xét thuật ngữ “các doanh nghiệp nhất định”, CQPT cho

rằng nó đề cập tới một doanh nghiệp hoặc ngành nghề riêng lẻ hoặc một nhóm các doanh nghiệp hoặc ngành nghề được biết đến và cụ thể hóa Và CQPT đồng

ý với Trung Quốc rằng thuật ngữ này có thể biến đổi tùy vào khía cạnh được xét đến và

do đó phải được xem xét trong từng trường hợp cụ thể

Theo CQPT, Trung Quốc không kháng cáo về việc giải thích thuật ngữ “các doanh nghiệp xác định” mà đồng ý với phán quyết của BHT trong vụ US -Upland Cotton rằng thuật ngữ này đề cập tới “một nhóm các nhà sản xuất các sản phẩm nhất định” và “một trợ cấp được cấp cho những doanh nghiệp xác định nếu người nhận trợ cấp không cấu thành một phân khúc riêng biệt của nền kinh tế của nước cấp trợ cấp” Thay vào đó, CQPT cho rằng Trung Quốc muốn kháng cáo về việc áp dụng thuật ngữ “doanh nghiệp xác định” vào việc giải quyết vụ

2.1(a) chỉ được xem là tính riêng biệt khi cơ quan trao trợ cấp hoặc cơ quan lập pháp của cơ quan trao trợ cấp giới hạn một cách rõ ràng cả những khoản đóng góp tài chính và những lợi ích tương ứng như lập luận của Trung Quốc hay chỉ cần có sự giới hạn một cách rõ ràng ít nhất một trong hai yếu tố (khoản đóng góp tài chính hoặc lợi ích tương ứng) là đã đủ để chứng minh tồn tại một trợ cấp riêng biệt theo Điều 2.1(a)

10 WT/DS379/AB/R, Para 386

Trang 11

CQPT cho rằng, nếu một quy định pháp luật giới hạn tiếp cận một khoản đóng góp tài chính một cách rõ ràng với những doanh nghiệp nhất định nhưng không đề cập đến việc giới hạn tiếp cận các lợi ích hay không thì cũng đủ cấu thành một sự giới hạn tiếp cận trợ cấp Vì CQPT cho rằng, một sự giới hạn tiếp cận khoản đóng góp tài chính sẽ dẫn đến sự giới hạn tiếp cận các lợi ích tương ứng bởi chỉ những doanh nghiệp được hưởng khoản đóng góp tài chính đó mới

có thể được hưởng những lợi ích từ nó Do đó, CQPT đồng ý với kết luận của BHT rằng “có nhiều cách để đánh giả liệu việc tiếp cận một trợ cấp có bị giới hạn một cách rõ ràng không” và “việc đánh giá tiêu chí trên dựa vào việc cả khoản đóng góp tài chính và lợi ích đều phải bị giới hạn một cách rõ ràng là không hợp lý.”11

Do đó, CQPT đồng ý với kết luận của BHT rằng USDOC đã không có hành động không tuân thủ với Điều 2.1(a) SCM trong việc xác định rằng việc cho vay

III ĐÁNH GIÁ, BÌNH LUẬN CỦA NHÓM

Thứ nhất, nhóm đồng ý với CQPT trong việc áp dụng Điều 2.1(a) để giải

quyết vấn đề pháp lý rằng liệu “việc SOCB trợ cấp thông qua việc cho vay có được xem là “riêng biệt” hay không?” Trong vụ việc, CQPT đã bác bỏ quan điểm cứng nhắc của Trung Quốc rằng phải áp dụng lần lượt cả 3 điểm tại Điều

trình tự thông thường, việc áp dụng luật để được xem xét áp dụng theo tuần tự, từ điểm (a) đến điểm (c) của Điều 2.1 Tuy nhiên trong trường hợp này, việc xem xét điểm (c) là không cần thiết bởi cơ quan điều tra có thể xác định được trợ cấp

11 WT/DS379/AB/R, Para 377

12 WT/DS379/AB/R, Para 401

13 Appellate Body Report, US – Countervailing Measures (China), para 4.130

Trang 12

trên có tính riêng biệt không dựa vào yếu tố de jure trong điểm (a) và (b) chứ

Thứ hai, nhóm đồng ý với quan điểm của CQPT khi lập luận rằng, để một trợ

cấp được xem là “rõ ràng” theo Điều 2.1(a) thì nó phải được quy định cụ thể trong luật, nghị định hay các văn bản chính thức khác bằng cách chỉ ra rõ ràng diện doanh nghiệp nhất định được hưởng trợ cấp và đây sẽ là căn cứ để cơ quan điều tra có thể kết luận đã có một khoản trợ cấp de jure theo Điều 2.1(a) Hiệp định SCM

Thứ ba, nhóm cũng đồng ý với CQPT khi để ngỏ khả năng rằng, tùy vào từng

trường hợp cụ thể mà thuật ngữ “các doanh nghiệp nhất định” có thể được hiểu theo những cách khác nhau Ví dụ, thông thường, thuật ngữ này có thể để chỉ một doanh nghiệp hoặc một ngành nghề hoặc một nhóm doanh nghiệp hoặc nhóm ngành nghề, nhưng cũng có những trường hợp, ví dụ như trong vụ US -Upland Cotton, thuật ngữ này còn có thể đề cập tới những sản phẩm mà các doanh nghiệp đó sản xuất ra Điều này cho thấy được sự linh hoạt trong việc giải thích và áp dụng của CQPT nhằm phù hợp với mục đích của Hiệp định SCM cũng như cho thấy được sự tham khảo, xem một cách cẩn thận các án lệ trong khuôn khổ WTO

Thứ tư, nhóm cũng đồng ý với lập luận của CQPT khi cho rằng, chỉ cần một

trong ba yếu tố sau đây tồn tại: (1) Việc giới hạn khả năng tiếp cận trợ cấp đối với một số doanh nghiệp nhất định mang tính chất riêng biệt; hoặc (2) giới hạn khả năng hưởng lợi ích mang tính chất riêng biệt; hoặc (3) cả hai trường hợp thứ nhất và thứ hai xảy ra thì đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Điều 2.1 Hiệp định SCM Bởi theo nhóm, nếu ngay từ đầu doanh nghiệp không nhận được bất cứ trợ cấp hay lợi ích nào thì sau này cũng sẽ không nhận được những lợi ích phát sinh tương ứng và do đó không tồn tại trợ cấp mang tính riêng biệt Tuy nhiên ngược

14 Appellate Body Report, US – Countervailing Measures (China), para 4.123

Ngày đăng: 19/03/2025, 10:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w