1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

nghiên cứu kết quả xử trí sản khoa ở sản phụ dưới 18 tuổi đến điều trị tại khoa sản bệnh viện đa khoa huyện yên châu năm 2024

34 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kết quả xử trí sản khoa ở sản phụ dưới 18 tuổi đến điều trị tại khoa sản bệnh viện đa khoa huyện yên châu năm 2024
Trường học Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Yên Châu
Chuyên ngành Sản Khoa
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Yên Châu
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 119,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi VTN là 10 - 18 tuổi. Thanh niên là lứa tuổi 19 - 24 tuổi. Những người trẻ tuổi là tuổi từ 10 đến 24 tuổi. Việt Nam gọi những người ở lứa tuổi này là Thanh thiếu niên. Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục VTN-thanh niên của khối Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi. Ở Việt Nam VTN là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi, thanh niên là từ 19 - 24 tuổi.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi VTN là 10 - 18 tuổi Thanhniên là lứa tuổi 19 - 24 tuổi Những người trẻ tuổi là tuổi từ 10 đến 24 tuổi.Việt Nam gọi những người ở lứa tuổi này là Thanh thiếu niên Chương trìnhSức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục VTN-thanh niên của khối Liên minhChâu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24tuổi Ở Việt Nam VTN là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi, thanh niên là từ 19 - 24tuổi

Ngày nay khái niệm về tuổi VTN được thừa nhận rộng rãi và căn cứvào tuổi sinh học VTN là một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, chuyển tiếp từtrẻ em thành người lớn, đặc trưng bởi sự phát triển nhanh về thể chất, giớitính, tinh thần, tình cảm và xã hội Đây cũng là thời kỳ hình thành và pháttriển nhân cách riêng VTN có đặc điểm tâm sinh lý đặc thù như tính thửnghiệm, thích khám phá, năng động, sáng tạo, có xu hướng hoà nhập dần dầnvào xã hội để thích ứng với đời sống xã hội Với những đặc điểm như vậyVTN thường xuyên phải đối mặt với những thách thức, nguy cơ

Kinh tế xã hội phát triển, người dân có điều kiện tiếp cận với các nguồnthông tin văn hóa xã hội, trên sách báo, Internet cùng với sự du nhập sảnphẩm văn hóa tiến tiến của nhân loại còn có không ít các văn hóa phẩm đồitrụy, phim ảnh, bạo lực, kích dục làm kích thích sự tò mò của VTN, ảnhhưởng hành vi một bộ phận không nhỏ VTN /TN

Trên Thế giới, hàng năm có khoảng 1,5 tỷ người nhóm tuổi từ 10-24,chiếm gần 30% dân số thế giới và sẽ tăng đến 2 tỉ vào năm 2025 Theo QuỹDân số Liên hợp quốc (UNFPA), hàng năm có khoảng 16 triệu em gái trong

độ tuổi từ 15-18 sinh con Các biến chứng khi mang thai và khi sinh tiếp tục

là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong mẹ với các em gái tuổi từ 15

-18 ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Ở nước ta lứa tuổi từ 15 18chiếm 20% dân số (khoảng 18 triệu người), những năm gần đây VTN nữ nạo

Trang 2

phá thai cũng tăng lên Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình, ViệtNam là một trong ba nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới (1,2 đến 1,6triệu ca/năm) trong đó 20% là VTN Còn thông báo của Cục thống kê năm

2005 thì tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam vẫn thuộc hàng cao nhất thế giới TạiBệnh viện Phụ sản Trung Ương hàng năm có 2-3% số ca đến nạo phá thai làVTN Mang thai ở VTN đa số là ngoài ý muốn, phát hiện thai muộn, lúngtúng trong việc ra quyết định, thúc ép của gia đình, xấu hổ không dám đếnbệnh viện, không có tiền là nguyên nhân dẫn đến việc sinh con ở tuổi VTN.VTN nữ sẽ bỏ dở việc học hành, không có việc làm, không có thu nhập, ảnhhưởng đến phát triển kinh tế xã hội VTN chưa phát triển đầy đủ thể chất,thiếu kiến thức, không biết cách chăm sóc bản thân, thai nghén và nuôi con,nguy cơ tai biến cho mẹ và trẻ sơ sinh tăng lên Mặc dù dường như số trẻVTN sinh con đang tăng lên, nhưng trong thời gian qua rất ít nghiên cứu vềvấn đề này Với kinh tế phát triển, thể chất VTN Việt Nam cũng phát triểnvậy thì đặc điểm của những bà mẹ trẻ này có gì thay đổi, những lý do nàophát hiện có thai muộn và thời điểm phát hiện có thai cũng như việc đăng kýquản lý thai nghén có được quan tâm đúng mức như phụ nữ trưởng thànhkhông? Trọng lượng sơ sinh và các phương pháp xử trí trong chuyển dạ có gìthay đổi, Bệnh viện đa khoa huyện Yên Châu trong năm tiếp nhận bệnh nhântrong toàn huyện đến điều trị trong đó có đối tượng VTN Vì vậy nhóm chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “nghiên cứu kết quả xử trí sản khoa ở sản phụ dưới 18 tuổi đến điều trị tại khoa sản bệnh viện đa khoa huyện yên châu năm 2024” với mục tiêu:

1 Mô tả một số đặc điểm của sản phụ dưới 18 tuổi đến điều trị tại bệnh

viện đa khoa huyện Yên Châu.

2 Nhận xét kết quả xử trí sản khoa ở những sản phụ dưới 18 tuổi đến

điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Yên Châu.

Trang 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tuổi VTN và tình trạng sinh đẻ ở lứa tuổi này

17 tuổi), muộn (18 – 19 tuổi) Ở nước ta, hiện nay chia làm hai nhóm tuổi

- Nhóm 10 - 14 tuổi

- Nhóm 15 - 18 tuổi

Chúng ta đề cập đến nhóm tuổi từ 15 - 18 chiếm 20% dân số cả nước

Độ tuổi này cần được phát triển lành mạnh cả về 3 mặt:

- Sức khoẻ (thể lực và thể chất)

- Trí tuệ và tinh thần

- Phát triển cá thể trong xã hội, khả năng hoà nhập cộng đồng và triểnvọng có việc làm với nữ VTN, thể lực và thể chất phát triển nhanh ở tuổi dậythì từ 8 - 12 tuổi, kết thúc lúc l6 tuổi Khoảng thời gian cơ thể phát triển hoànthiện từ 3 - 5 năm, trẻ gái dậy thì sớm hơn trẻ trai

1.1.2 Tình trạng sinh con ở tuổi VTN

Sự phát triển cả về 3 mặt nói trên của nữ VTN dưới 18 tuổi sẽ gặp phảinhiều khó khăn khi họ ở trong tình trạng mang thai, bởi vì chính thời kỳ nàycác đặc điểm đặc trưng về thể chất chưa phát triển đến giai đoạn chín muồi đểchuẩn bị tốt cho quá trình mang thai và sinh nở của bà mẹ Lứa tuổi này mangđặc tính của tuổi mới lớn:

- Chưa trưởng thành về thể chất, thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản

- Chưa độc lập về suy nghĩ, kinh nghiệm sống nghèo nàn

Trang 4

- Chưa độc lập về kinh tế vì chưa có nghề nghiệp.

- Ý thức về y tế nói chung và kiến thức về giới tính rất thấp

Các bà mẹ trẻ này chưa có kinh tế để đủ khả năng nuôi mình và conthiếu kiến thức làm mẹ Ở tuổi VTN, sự phát triển thể lực và thể chất chưa đạtđến độ hoàn chỉnh về xương chậu, tử cung, âm đạo như ở người phụ nữtrưởng thành 18 tuổi Đồng thời, sự mang thai đã làm tăng nhu cầu dinhdưỡng đối với cơ thể và đòi hỏi thai phụ phải cố gắng thích nghi với tìnhtrạng mang thai của mình Ở tuổi VTN, các em đang trong giai đoạn pháttriển mạnh về thể chất để hoàn chỉnh phát triển cơ thể, vì vậy cần rất nhiềunăng lượng cũng như các chất dinh dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển về thểchất Khi mang thai hoặc nuôi con nhỏ, lượng dinh dưỡng và các chất cầnthiết này sẽ bị chia làm hai đã làm cho người mẹ không phát triển đầy đủ sẽtrở thành nhỏ thấp, gầy gò, suy dinh dưỡng, thiếu máu so với các nữ VTNcùng lứa tuổi Các chất đinh dưỡng cung cấp cho thai nhi không đầy đủ, vì thế

sẽ có nhiều khó khăn trong việc nuôi dưỡng thai nhi phát triển trong cơ thể

mẹ, trong chuyển dạ và trong sinh nở Do cơ thể chưa phát triển đầy đủ, đặcbiệt là sự phát triển về xương và khung chậu, nên những bà mẹ dưới 18 tuổi

có nguy cơ khi đẻ phải can thiệp, như mổ hoặc dùng thủ thuật để lấy thai ra,ảnh hưởng đến sức khoẻ của mẹ cũng như con Tỷ lệ đẻ khó ở những bà mẹVTN này cũng là phần lớn nguyên nhân gây ra sang chấn sản khoa như: rách

cổ tử cung, rách TSM phức tạp, rách đoạn dưới tử cung, rò BQ-AĐ, rò trựctràng - âm đạo

Theo UNFPA trên thế giới mỗi năm có khoảng 14 triệu nữ VTN sinhcon, tại các nước kém phát triển cứ 6 trường hợp sinh con có 1 là VTN Trêntoàn thế giới ít nhất 1/10 số nạo thai là VTN, mỗi năm có khoảng 4,4 triệuVTN nạo thai và 40% số này là nạo thai không an toàn

Trang 5

1.1.3 Tình hình sinh đẻ và những biến chứng xảy ra trong chuyển dạ, trong và sau đẻ của những sản phụ VTN

Theo đánh giá của một số tác giả nước ngoài về diễn biến của cuộc đẻcủa những sản phụ này có một số đặc điểm sau:

Tỷ lệ ngôi thai trong các cuộc đẻ ở nữ VTN và phụ nữ trưởng thành lànhư nhau: Nghiên cứu trên 1.600 VTN và 14.699 nữ trên 19 tuổi sinh tạiBệnh viện Đa khoa Anuradhupa (Srilanca) từ 1993 - 1995, cho thấy không có

sự khác nhau rõ rệt về tỷ lệ đẻ ngôi ngược, tỷ lệ đẻ đường âm đạo trong sốnhững bà mẹ VTN có cao hơn chút ít (90,8%) so với các bà mẹ trên 19 tuổi(86,7%), có lẽ một phần do ở trọng lượng thai và kích thước của con cáinhững bà mẹ VTN này nhỏ hơn

Về phương pháp đẻ: Tại Việt Nam, Ngô Thị Kim Phụng và Phạm NgọcĐoan Trang nghiên cứu 384 trường hợp VTN sinh con tại Bệnh viện Từ Dũ

có tới 25% phải phẫu thuật trong đó 20% là do thai kém phát triển, có 12,3%bất tương xứng thai chậu và có 1,3% có nhiễm trùng hậu sản Hiện nay cónhiều công trình nghiên cứu về tỷ lệ đẻ khó ở nữ VTN, các tác giả đều thốngnhất rằng: Tỷ lệ đẻ con có can thiệp là cao hơn so với nhóm nữ trưởng thành.Kuppsuswamy đã tổng kết tỷ lệ đẻ can thiệp bằng Fooc-xep và giác hút(Ventouse) ở nữ VTN là 17,4%, trong khi nhóm chứng là 6,2% trên tổng số

Ở nước ta, chưa có đề tài đánh giá cụ thể, mặc dù có một số tác giả cũng đãđưa ra quan điểm về tình trạng đẻ khó chiếm tỷ lệ cao ở nữ VTN, quan điểmnày phù hợp với nghiên cứu của đa số các tác giả nước ngoài

Một cuộc chuyển dạ khó khăn ở nữ VTN do sự phát triển chưa hoànthiện về cơ thể, dễ gây ra các tai biến cho mẹ như sang chấn sinh dục: ráchTSM phức tạp, rách CTC, rò BQ-AĐ, rò TT-AĐ, nhiễm khuẩn, bang huyết Nhiều nghiên cứu ở Châu Phi và Châu Á cho thấy nữ VTN sinh con lần đầu

dễ bị rò sinh dục hơn những phụ nữ trưởng thành, mặc dù tỷ lệ đẻ đường âmđạo trong số các bà mẹ VTN cao hơn chút ít so với các bà mẹ trưởng thành

Trang 6

Tử vong có liên quan đến sinh đẻ ở tuổi VTN cao gấp 2 lần so với phụ nữ

20-30 tuổi, trong đó nhóm <15 tuổi gấp 25 lần Đẻ khó, nguy cơ tai biến do thaisản luôn là thách thức đối với VTN

Ở Việt Nam, về vấn đề mang thai và kết thúc thai nghén của các sảnphụ VTN là như thế nà, ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng cá nhân cơ bảncủa các nữ VTN (độ tuổi, nghề nghiệp, hôn nhân, điều kiện sinh sống, tìnhtrạng kinh tế ) đối với các biến chứng sản khoa xảy ra cho họ trong các cuộc

đẻ ra sao! Vấn đề này hiện nay vẫn chưa có một con số thống kê cụ thể, toàndiện Chúng tôi mạnh dạn thực hiện nghiên cứu này tại Bệnh viện đa khoahuyện Yên Châu với mong muốn góp một phần vào việc đánh giá tình hìnhsinh đẻ của thanh thiếu nữ từ 18 tuổi trở xuống

1.2 Cấu trúc giải phẫu của cơ quan sinh dục nữ

Hệ sinh dục nữ bao gồm các cơ quan sinh dục trong và ngoài Các cơquan sinh dục trong nằm trong chậu hông bé và bao gồm các buồng trứng, cácvòi tử cung, tử cung và âm đạo Cơ quan sinh dục ngoài nằm ở trước và dướicung mu, bao gồm gò mu, các môi lớn và bé của âm hộ, âm vật, hành tiềnđình, các tuyến hành tiền đình lớn và tiền đình

1.2.1 Cơ quan sinh dục trong:

Âm đạo, tử cung, hai vòi tử cung, hai buồng trứng là cơ quan sinh dụctrong của nữ Nhưng trong việc mang thai và chuyển dạ đẻ thì tử cung là yếu

tố quan trọng

1.2.1.1 Tử cung

Tử cung nằm trong chậu hông bé, giữa bàng quang và trực tràng, buồng

tử cung thông với vòi tử cung và liên tiếp với âm đạo ở dưới Tử cung có hìnhquả lê, hơi dẹt trước sau

Thành TC được cấu tạo bởi 3 lớp cơ trơn, cơ vòng, cơ chéo và cơ dọc

Eo tử cung, cổ tử cung không có lớp cơ chéo (cơ rối)

Trang 7

Thân tử cung có hình thang và hẹp dần từ trên xuống, thân tử cung cókích thước khoảng 4cm x 4,5 cm Đáy tử cung có hình vòm hướng ra trước.Nơi vòi tử cung đi vào tử cung gọi là sừng tử cung Buồng tử cung là mộtkhoang rỗng, hẹp, lát trên mặt trong tử cung là niêm mạc TC, lớp niêm mạcnày dày hay mỏng tùy thuộc vào giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt Hàngtháng, do tác động bởi sự thay đổi của nội tiết sinh dục niêm mạc bong ra tạo

ra hiện tượng kinh nguyệt

Cổ tử cung dài khoảng 2,5 cm chia làm hai phần là phần trên âm đạo vàphần âm đạo Nối giữa thân tử cung và cổ tử cung là eo tử cung Ống cổ tửcung là khoang rỗng nối liên tiếp với buồng tử cung và thông với âm đạo

1.2.1.2 Các phương tiện giữ tử cung tại chỗ:

- Dây chằng rộng (bload ligament of uterus) là hai nếp phúc mạc đi từhai thành bên của tử cung đến thành bên chậu hông, nối phúc mạc tử cung vớiphúc mạc thành chậu

- Dây chằng tròn dài khoảng 10 - 15 cm đi từ dưới sừng TC chạy rangoài, xuống dưới và ra trước, qua thành chậu và ống bẹn rồi tỏa ra cùng với

mô dưới da gò mu và môi lớn Một số mạch bạch huyết của TC đi theo dâychằng tròn và đổ vào các hạch bạch huyết bẹn nông

Trang 8

Âm đạo là một ống xơ cơ được lát bằng biểu mô lát tầng không sừnghóa, đi từ tiền đình ÂĐ đến TC ÂĐ nằm sau bàng quang và ống niệu đạo,nằm trước trực tràng và ống hậu môn ÂĐ gồm có hai thành trước và sau:

Thành trước dài khoảng 7,5 cm liên quan với đáy bàng quang và niệuđạo

Thành sau dài khoảng 9 cm liên quan với trực tràng, đoạn trên đượcngăn cách với tực tràng bởi túi cùng tử cung - trực tràng Đoạn giữa đượcngăn với trực tràng bởi vách trực tràng- âm đạo, đoạn dưới ngăn cách với hậumôn bởi thể đáy chậu

Đoạn trên báo vào CTC, cùng với phần âm đạo CTC tạo nên vòm ÂĐ.Đoạn này liên quan với niệu quản nơi niệu quản đổ vào bàng quang Đầu dưới

đổ vào tiền đình ÂĐ, ở trinh nữ lỗ dưới ÂĐ được đạy bởi một màng niêmmạc thủng ở giữa gọi là màng trinh Xung quang đầu dưới ÂĐ có hành tiềnđình và cơ hành xốp bao quang Lỗ ÂĐ ở phía sau lỗ niệu đạo ngoài

1.2.1.4 Mạch máu và thần kinh:

Có hai động mạch chính:

- Động mạch buồng trứng: tách từ ĐM chủ bụng, đi theo dây chằngbuồng trứng đến đầu vòi của buồng trứng, phân thành 2 nhánh là nhánhbuồng trứng và nhánh vòi TC và tiếp nối với các nhánh ĐM TC

- Động mạch tử cung: được tách ra từ động mạch chậu trong cấp máucho TC, ĐM phân nhánh cấp máu cho buồng trứng, vòi TC, ÂĐ, niệu quản,bàng quang, CTC

- Tĩnh mạch đổ về đám rối TM buồng trứng và TC rồi đổ vào TM chậutrong

- Mạch bạch huyết đổ vào chuỗi hạch cạnh ĐM TC, hay ĐM ÂĐ cuốicùng đổ vào các hạch chậu trong Thần kinh tách ra từ đám rối hạ vị dưới

1.2.2 Cơ quan sinh dục ngoài

1.2.2.1 Âm hộ

Trang 9

Âm hộ gồm có gò mu, môi lớn, môi bé và tiền đình âm đạo.

Gò mu là một gò lồi lên liên tiếp với thành bụng ở trên, với 2 môi lớn ởdưới và ngăng cách với đùi bởi nếp bẹn

Môi lớn: là hai nếp lớn tạo nên giới hạn bên của âm hộ Khoảng nằmgiữa hai môi lớn là khe âm hộ, hai môi này gặp nhâu ở phía trước tạo mépmôi trước và liên tiếp ở phía sau tạo nên mép môi sau cách hậu môn khoảng3cm

Môi bé là hai nếp da nhỏ hơn nằm giữa các môi lớn và ngăn cách vớimôi lớn bởi rãnh gian môi

Tiền đình âm đạo là khoảng lõm nằm giữa mặt trong hai môi bé sau âmvật và trước hãm môi âm hộ Mở thông vào tiền đình có lõ niệu đạo ngoài ởtrước và lỗ âm hộ ở sau và ống tiết của tuyến tiền đình lớn

1.2.2.2 Âm vật

Âm vật được tạo nên bởi hai vật hang Âm vật nằm trước tiền đình ÂĐ,dưới khớp mu, trên lỗ niệu đạo

1.3 Thay đổi giải phẫu và sinh lý ở bộ phận sinh dục khi mang thai

1.3.1 Thay đổi ở thân tử cung

Thân tử cung là bộ phận thay đổi nhiều nhất trong khi có thai và chuyển

dạ đẻ Trứng làm tổ ở niệm mạc tử cung và niêm mạc tử cung biến đổi thànhngoại sản mạc Tại đây hình thành bánh rau, màng rau, buồng ối để chứa thainhi ở trong Trong khi chuyển dạ, tử cung thay đổi dần để tạo thành ống đẻcho thai ra Để đáp ứng các yêu cầu đó, thân tử cung thay đổi về kích thước,

Trang 10

tháng thứ 4-5, lớp cơ tử cung dầy nhất, khoảng 2,5 cm, có 3 nguyên nhân dẫnđến tăng trọng lượng tử cung:

Tăng tạo các sợi cơ tử cung mới

Tăng sinh mạch máu bao gồm cả động mạch, tĩnh mạch và mao mạch.Tăng giữ nước ở cơ tử cung

Bản thân sợi cơ tử cung cũng phì đại lên Các sợi cơ tử cung có thể pháttriển theo chiều rộng gấp 3-5 lần, theo chiều dài lên tới 40 lần Trong nửa saucủa thời kỳ thai nghén, sự tạo thêm các sợi cơ mới đã giảm đi hoặc chấm dứt.Trong giai đoạn này cơ tử cung có lớn hơn trước là do phù và phì đại là chủyếu Trong những tháng đầu của thai nghén, tử cung to lên chủ yếu do tácdụng của estrogen và có lẽ cả progesterone Trong giai đoạn này tử cung tolên không phải hoàn toàn do đáp ứng lại với sự phát triển to lên của trứng ởtrong tử cung vì trong các trường hợp chửa ngoài tử cung, tử cung cũng cócác thay đổi giống như có thai trong tử cung Nhưng sau 12 tuần lễ, tử cungtăng lên về kích thước chủ yếu do thai và phần phụ của thai to lên làm cho tửcung phải tăng lên theo

1.3.3 Dung tích

Khi chưa có thai, buồng tử cung có dung tích 2-4ml Khi có thai, dungtích buồng tử cung tăng lên tới 4000-5000ml, trong các trường hợp đa ối, đathai dung tích buồng tử cung có thể tăng lên nhiều hơn nữa Buồng tử cung đođược trung bình 7cm (6 – 8cm) khi chưa có thai Vào cuối thời kỳ thai nghén,buồng tử cung lên tới 32cm

1.3.4 Hình thể

Trong 3 tháng đầu, do đường kính trước sau to nhanh hơn đường kínhngang nên tử cung có hình tròn Phần dưới phình to lên, có thể nắn thấy quátúi cùng bên âm đạo Đó là dấu hiệu Noble

Do thai không chiếm hết toàn bộ buồng tử cung làm cho tử cung khôngđối xứng, hình thể tử cung không đều Đó là dấu hiệu Piszkacsek.Vào 3 tháng

Trang 11

giữa, tử cung có hình trứng, cực to ở trên còn cực nhỏ ở dưới Đáy tử cungphình to.

Trong 3 tháng cuối, hình thể tử cung phụ thuộc vào tư thế của thai nhinằm ở bên trong Tử cung có hình trứng nếu thai nhi nằm dọc Nếu thai nhinằm ngang thì tử cung sẽ bè ngang

1.3.5 Vị trí

Khi chưa có thai, tử cung nằm ở đáy chậu, trong tiểu khung Khi cóthai, tử cung lớn lên và tiến vào ổ bụng Tử cung cao dần lên và tiếp xúc vớithành bụng trước, đẩy ruột sang bên và lên trên Cuối cùng đáy tử cung tiếndần đến gần gan Khi tử cung lên cao, nó kéo giãn căng dây chằng rộng vàdây chằng tròn theo Cùng với việc tử cung cao dần lên vào ổ bụng, tử cungthường lệch sang bên phải và xoay về phía phải, do đó sừng trái tử cungthường nhô ra phía trước Sừng bên phải chìm sau xuống do ổ bụng ở phía đórộng hơn

Tháng đầu, tử cung còn ở dưới khớp vệ Từ tháng thứ hai trở đi trungbình mỗi tháng, tử cung phát triển cao lên phía trên khớp vệ 4cm Nhờ tínhchất này, người ta có thể tính được tuổi thai theo công thức:

Tuổi thai(tháng)= chiều cao tử cung(cm) /4+1

1.3.6 Cấu tạo

Tử cung gồm 3 phần: thân, eo và cổ tử cung Thành tử cung gồm 3 lớp

từ ngoài vào trong: phúc mạc, cơ và niêm mạc

- Phúc mạc: ở thân tử cung, phúc mạc dính chặt vào lớp cơ Khi có thaiphúc mạc phì đại và giãn ra theo lớp cơ tử cung Ở đoạn eo tử cung, phúc mạc

có thể bóc tách được dễ dàng ra khỏi lớp cơ Ranh giới giữa hai vùng làđường bám chặt của phúc mạc Đó là ranh giới để phân biệt đoạn thân tử cungvới đoạn dưới tử cung Người ta thường mổ lấy thai ở đoạn dưới tử cung để

có thể phủ được phúc mạc sau khi đã đóng kín vết mổ ở lớp cơ tử cung

Trang 12

- Cơ tử cung gồm 3 lớp: lớp ngoài và lớp cơ dọc Lớp cơ này vòng quađáy tử cung và kéo dài tới các dây chằng của tử cung Lớp trong là lớp cơvòng, nó có các sợi cơ giống như cơ thắt ở quanh các lỗ vòi trứng và lỗ trong

cổ tử cung Giữa 2 lớp cơ này là lớp cơ đan hay cơ chéo (cơ rối) Lớp cơ nàydày nhất và phát triển mạnh nhất trong khi có thai Trong lớp cơ này có nhiềumạch máu Sau khi sổ rau, lớp cơ này co chặt lại để tạo thành khối an toàncủa tử cung, thít chặt các mạch máu lại, đảm bảo không chảy máu Đó là sựcầm máu sinh lý

- Niêm mạc tử cung khi có thai biến đổi dần thành ngoại sản mạc.Ngoại sản mạc gồm 3 phần: ngoại sản mạc trứng, ngoại sản mạc tử cung vàphần phát triển mạnh nhất là ngoại sản mạc tử cung-rau

1.3.7 Mật độ

Khi không có thai, mật độ tử cung chắc, nắn thấy có tính đàn hồi Khi

có thai, tử cung mềm nắn dễ lún xuống Do ảnh hưởng của progesterone nênkhi có thai cơ tử cung cũng như các cơ trơn khác đều giảm trương lực và mềm

đi Mặt khác, khi có thai, các mạch máu tăng sinh, các sợi cơ phì đại và ngấmnước nên cũng mềm

1.3.8 Khả năng co bóp và co rút

Trong khi có thai, khả năng co bóp và co rút của tử cung tăng lên rấtlớn Thể tích của tử cung có thể co lại còn 2/3, đang từ mềm toàn bộ có thể cochắc lại Tăng khả năng co bóp và co rút do hai yếu tố: các sợi cơ tử cung đãtăng tình trạng dễ kích thích nên dễ bị co bóp hơn và các sợi cơ thường xuyên

ở trong tình trạng giãn nên dễ dàng và sẵn sàng co rút lại Trong 3 tháng đầucủa thai nghén, tử cung có thể có những cơn co không đều thường không đau.Trong ba tháng giữa, các cơn co này có thể phát hiện thấy khi thăm khámbằng tay Đó là các cơn co Hicks do J.Braxton Hicks tìm ra năm 1872 Ởnhững tháng cuối, các cơn co Hicks có thể tăng lên, gây khó chịu

Trang 13

1.3.9 Thay đổi ở eo tử cung

Trước khi có thai, eo tử cung chỉ là một vòng nhỏ, chiều cao 0.5-1 cmnằm giữa thân và cổ tử cung Phúc mạc ở eo tử cung lỏng lẻo, dễ bóc tách rakhỏi lớp cơ vì giữa phúc mạc và lớp cơ có một tổ chức liên kết khá dày Khi

có thai và đoạn dưới tử cung được thành lập phúc mạc cũng giãn dần ra Lớp

cơ ở đoạn dưới tử cung chỉ có hai lớp, lớp cơ vòng ở trong và lớp cơ dọc ởngoài, không có lớp cơ đan ở giữa Khi có thai eo tử cung giãn rộng dần, dài

và mỏng ra tạo thành đoạn dưới tử cung Đến cuối cuộc chuyển dạ đẻ, đoạndưới tử cung dài khoảng 10 cm Đoạn dưới tử cung được thành lập dần đầntrong suốt thời kỳ thai nghén Nhưng đoạn dưới tử cung chỉ hoàn toàn hìnhthành khi có sự chuyển dạ nhờ sự co bóp của tử cung Đối với người con so,đoạn dưới tử cung được thành lập từ đầu tháng thứ chín Còn ở người con rạ,đoạn dưới tử cung thành lập vào giai đoạn đầu của cuộc chuyển dạ Đoạndưới tử cung là phần dễ vỡ nhất trong cuộc chuyển dạ đẻ, dễ chảy máu nhấtkhi có rau bám thấp Ngoại sản mạc ở đoạn dưới tử cung cũng không dàybằng ở thân tử cung Khi có thai, do ảnh hưởng của nội tiết tố thai nghén, eo

tử cung mềm Eo tử cung có thể không nắn thấy và khối thân tử cung nhưtách rời khỏi cổ tử cung Đó là dấu hiệu Hegar, một triệu chứng thực thể đểchẩn đoán thai nghén trong những tháng đầu của thai nghén

1.3.10 Thay đổi ở cổ tử cung

So với thân tử cung, cổ tử cung ít thay đổi hơn Khi có thai, cổ tử cungmềm ra, mềm từ ngoại vi vào trung tâm Do đó trong những tuần đầu khi cóthai khám cổ tử cung sẽ thấy giống như một cái trụ gỗ có bọc nhung ở ngoài

Cổ tử cung của người con rạ mềm sớn hơn so với người con so Vị trí và hướngcủa cổ tử cung không thay đổi nhưng khi đoạn dưới được thành lập, cổ tử cungthường quay về phía xương cùng do đoạn dưới tử cung phát triển nhiều hơn ởmặt trước hơn là mặt sau Trong khi có thai, biểu mô lát của cổ tử cung có màutím do các mạch máu ở phần dưới tăng sinh và cương tụ Cổ tử cung mềm và

Trang 14

có màu tím thường khám thấy sau khi có thai khoảng một tháng Các tuyếntrong ống cổ tử cung cũng không chế tiết hoặc chế tiết rất ít Chất nhầy cổ tửcung đục và đặc tạo thành một cái nút bịt kín lỗ cổ tử cung, gọi là nút nhầy cổ

tử cung Nút nhầy cổ tử cung ngăn cách buồng tử cung với âm đạo, ngăn cáchkhông cho thụ tinh lần thứ hai và không cho nhiễm khuẩn bộ phận sinh dụctrên Khi bắt đầu chuyển dạ đẻ, cổ tử cung xóa và mở, nút nhầy cổ tử cung bịtống ra ngoài và thường có lẫn ít máu có màu hồng nên được gọi là ra nhầyhồng

1.3.11 Thay đổi ở âm đạo, âm hộ

Khi có thai niêm mạc âm đạo có màu tím, giống như thay đổi của cổ tửcung, chủ yếu do ứ máu và tăng sinh mạch máu Thành âm đạo dày lên, tổchức liên kết lỏng lẻo, các cơ trơn của âm đạo phì đại giống như cơ tử cung.Các thay đổi này làm cho âm đạo dài ra, dễ giãn rộng Trong khi có thai, khí

hư âm đạo có thể tăng nhiều lên Khí hư thường trắng, đục Độ pH của âmđạo trở nên acid hơn thay đổi từ 3.5 đến 6 do trực khuẩn Lactobacillusacidophilus trong âm đạo tăng sản xuất acid lactic từ glyeogen trong biểu mô

âm đạo Khi mới có thai, các tế bào biểu mô tương tự như ở giai đoạn hoàngthể của chu kỳ kinh nguyệt Khi thai phát triển, trên phiến đồ âm đạo nhuộmtheo phương pháp Papanicolaou thấy rất nhiều tế bào hình thoi, tụ thành từngđám, dày đặc Do khi có thai, các lớp tế bào của biểu mô âm đạo không pháttriển, không trưởng thành để thành những lớp tế bào bề mặt, tế bào nhân đôngnhư khi chưa có thai nên chỉ số tế bào nhân đông rất thấp Các môi lớn và môinhỏ có những tĩnh mạch giãn rộng, nhìn mắt thường cũng có thể thấy được.Các mạch máu tăng sinh và ứ máu dưới da và cơ của tầng sinh môn và âm hộlàm cho tổ chức liên kết ở khu vực này cũng mềm Âm vật cũng có màu tím

Trang 15

1.4 Sinh lý chuyển dạ

1.4.1 Định nghĩa:

Chuyển dạ là quá trình sinh lý làm cho thai và phần phụ của thai đượcđưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ

1.4.2 Các giai đoạn của cuộc chuyển dạ đẻ

Cuộc chuyển dạ đẻ được chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn I hay giai đoạn xóa mở cổ tử cung được tính từ khi bắt đầuchuyển dạ đẻ đến khi cổ tử cung mở hết Giai đoạn này được chia làm hai giaiđoạn: giai đoạn Ia và giai đoạn Ib Giai đoạn này là giai đoạn kéo dài nhất củacuộc chuyển dạ

- Giai đoạn II hay giai đoạn sổ thai Giai đoạn này được tính từ khi cổ

tử cung mở hết đến khi đẻ thai

- Giai đoạn III hay giai đoạn sổ rau Bắt đầu từ khi thai sổ hoàn toànđến khi rau sổ ra ngoài

1.4.3 Động lực của cuộc chuyển dạ đẻ

Cơn co tử cung là động lực của cuộc chuyển dạ đẻ Nếu không có cơn

co tử cung thì cuộc đẻ không xảy ra Rối loạn co bóp của tử cung có thể làmcho cuộc chuyển dạ bị kéo dài hoặc gây các tai biến cho người mẹ và cho thainhi

Cơn co tử cung làm thay đổi về phía người mẹ Đó là hiện tượng xóa

mở cổ tử cung, sự thành lập đoạn dưới tử cung và thay đổi ở đáy chậu trongthời kỳ sổ thai

Đối với thai nhi, cơn co tử cung đẩy thai nhi từ trong buồng tử cung rangoài qua các giai đoạn lọt, xuống, quay và sổ

Về phía phần phụ của thai, cơn co tử cung làm cho đầu ối được thànhlập, rau thai và màng rau bong, xuống và sổ ra ngoài

Trang 16

1.4.4 Sự khởi động chuyển dạ

Cho đến ngày nay, cơ chế thật sự của sự phát sinh cuộc chuyển dạ đẻcòn chưa được rõ và đầy đủ Tuy nhiên, có một số giả thuyết được đa số chấpnhận

1.4.4.1 Giả thuyết Prostaglandin

Các Prostaglandin là những chất có thể thay đổi hoạt tính co bóp của cơ

tử cung Sự sản xuất của PGF2 và PGE2 tăng dần trong quá trình thai nghén

và đạt tới giá trị cao trong nước ối, màng rụng và trong cơ tử cung vào lúc bắtđầu của cuộc chuyển dạ Người ta có thể gây chuyển dạ bằng cách tiêmProstaglandin có thể làm phát inh cuộc chuyển dạ Các Prostaglandin thamgia làm chín mùi cổ tử cung do tác dụng lên chất Collagene của cổ tử cung

1.4.4.2 Estrogen và progesteron

Trong quá trình thai nghén, các chất estrogen tăng lên nhiều làm tăngtính kích thích các sợi cơ trơn của tử cung và tốc độ lan truyền của hoạt độngđiện Cơ tử cung trở nên mẫn cảm hơn với các tác nhân gây cơn co tử cung,đặc biệt là đối với oxytocin Estrogen làm tăng sự phát triển của lớp cơ tửcung và làm thuận lợi cho việc tổng hợp các Prostaglandin

Progesteron có tác dụng ức chế với co bóp của cơ tử cung Nồng độProgesteron giảm ở cuối thời kỳ thai nghén làm thay đổi tỷ lệ Estrogen/Progesteron là tác nhân gây chuyển dạ

1.4.4.3 Vai trò của oxytocin

Người ta xác định được có sự tăng tiết oxytocin ở thùy sau tuyến yêncủa người mẹ trong chuyển dạ đẻ Các đỉnh liên tiếp nhau của oxytocin có tần

số tăng lên trong quá trình chuyển dạ đẻ và đạt mức tối đa khi rặn đẻ Tuy vậyoxytocin có lẽ không đóng một vai trò quan trọng để gây chuyển dạ đẻ màchủ yếu là làm tăng nhanh quá trình chuyển dạ đang diễn ra

1.4.4.4 Các yếu tố khác.

Trang 17

- Sự căng giãn từ từ và quá mức của cơ tử cung và sự tăng đáp ứng vớicác kích thích sẽ phát sinh ra chuyển dạ đẻ Trong lâm sàng chúng ta thấy cáctrường hợp đa ối, đặc biệt là đa ối cấp, đa thai và phá thai to bằng phươngpháp đặt túi nước là các thí dụ minh họa cho sự căng giãn cơ tử cung quá mứcgây chuyển dạ đẻ.

- Yếu tố thai nhi: thai vô sọ hoặc thiểu năng tuyến thượng thân thì thainghén thường bị kéo dài Ngược lại, nếu có cường thượng thận thì sẽ đẻ non

1.4.5 Cơn co tử cung:

Cơn co tử cung là động lực của cuộc chuyển dạ đẻ Sự co bóp của cơ tửcung là sự trượt lên nhau của các sợi actin và myosin Năng lượng cung cấpcho mối liên kết actin-myosin là thủy phân ATP

1.4.5.1 Đặc điểm của cơn co tử cung

Áp dụng cơn co tử cung được tính bằng milimets thủy ngân(mmHg)hoặc bằng kilo Pascal (1mmHg = 0,133 kPa) Đơn vị Montevideo (UM) bằngtích của biên độ cơn co trung bình nhân với tần số cơn co (số cơn co trong 10phút) Trong 30 tuần đầu của thai nghén, tử cung hầu như không co bóp, hoạtđộng tử cung dưới 20 UM Từ tuần thứ 30 đến tuần thứ 37, các cơn co tửcung có thể nhiều hơn, đạt tới 50 UM, không quá một cơn co trong một giờ.Một hai tuần lễ trước khi chuyển dạ đẻ, tử cung có các cơn co nhẹ, mau hơntrước, áp lực từ 3-15mmHg gọi là các cơn co Hisks Đặc điểm của cơn coHicks là không gây đau Trương lực cơ bản của tử cung: bình thường ngoàicơn co, cơ tử cung vẫn trong tình trạng hơi co được gọi là trương lực cơ bản.Trung bình áp lực này là 10mmHg (5-15mmHg) Cường độ cơn co là số đo ởthời điểm áp lực tử cung cao nhất của mỗi cơn co Hiệu lực cơn co tử cung làhiệu số của cường độ cơn co tử cung trừ đi trương lực cơ bản Hiệu lực cơn cogiảm khi cường độ cơn co giảm hoặc trương lực cơ bản tăng

Độ dài của cơn co được tính từ thời điểm tử cung bắt đầu co bóp đếnkhi hết cơn co Đơn vị tính là giây

Ngày đăng: 16/03/2025, 19:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thị Cương (2002),"Sinh lý chuyển dạ", bài giảng sản phụ khoa, nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý chuyển dạ
Tác giả: Dương Thị Cương
Nhà XB: nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
2. Phan Trường Duyệt (2000), "Phòng chống năm tai biến sản khoa".Nhà xuất bản Y học, 10-12,24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống năm tai biến sản khoa
Tác giả: Phan Trường Duyệt
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
3. Trần Hán Chúc (1992), "Đẻ thai non tháng", bài giáng sản phụ khoa,nhà xuất bản Y học, 78-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẻ thai non tháng
Tác giả: Trần Hán Chúc
Nhà XB: nhà xuất bản Y học
Năm: 1992
4. Nguyễn Việt Hùng (2000), "Sinh lý chuyển dạ", bài giảng sản phụ khoa, bộ môn Phụ Sản trường Đại học Y Hà Nội, nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý chuyển dạ
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Nhà XB: nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
5. Trần Sinh Vương (2011), “Hệ sinh dục nữ”, Giải phẫu người, Nhà xuất bản Y học, 304-312 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu người
Tác giả: Trần Sinh Vương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
6. Nguyễn Đức Vy (2006), "Chuyển dạ đình trệ" Bài giảng sản phụ khoa dùng cho sau đại học, 61-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dạ đình trệ
Tác giả: Nguyễn Đức Vy
Nhà XB: Bài giảng sản phụ khoa dùng cho sau đại học
Năm: 2006
7. Lương Ngọc Bích (2013), Khảo sát kết cục cuộc sinh ở trẻ VTN tại thành phố Cần Thơ, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kết cục cuộc sinh ở trẻ VTN tạithành phố Cần Thơ
Tác giả: Lương Ngọc Bích
Năm: 2013
8. Phạm Thị Thanh Hương (2014), Khảo sát kết cục của thai phụ VTN tại BV Từ Dũ - BV Hùng Vương, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kết cục của thai phụ VTN tại BV Từ Dũ - BV Hùng Vương
Tác giả: Phạm Thị Thanh Hương
Nhà XB: Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
9. Võ Thị Thu Nguyệt (2008), "Khảo sát tình trạng thiếu máu thiếu sắt trong 3 tháng giữa thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Y Học, 12(1), tr. 93-117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình trạng thiếu máu thiếu sắt trong 3 tháng giữa thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Võ Thị Thu Nguyệt
Nhà XB: Tạp chí Y Học
Năm: 2008
10. Nguyễn Duy Tài (2011), "Định tuổi thai", Sản phụ khoa NXB Y học, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 370-376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tuổi thai
Tác giả: Nguyễn Duy Tài
Nhà XB: NXB Yhọc
Năm: 2011
11. Nguyễn Duy Tài và Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2012), "Xác định tỷ lệ tuổi nữ VTN có thai và các yếu tố nguy cơ tại ba bệnh viện công tại Thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Y Học, 16(1), tr. 218-224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xácđịnh tỷ lệ tuổi nữ VTN có thai và các yếu tố nguy cơ tại ba bệnh viện công tạiThành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Duy Tài và Huỳnh Nguyễn Khánh Trang
Năm: 2012
12. Phạm Ngọc Đoan Trang (2008), Khảo sát đặc điểm thai kỳ và kết cục cuộc sanh ở thai phụ VTN tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Hùng Vương năm 2008, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đặc điểm thai kỳ và kếtcục cuộc sanh ở thai phụ VTN tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Hùng Vươngnăm 2008
Tác giả: Phạm Ngọc Đoan Trang
Năm: 2008
13. Huỳnh Thị Bạch Tuyết (2009), Khảo sát những nguy cơ trên thai kỳ của sản phụ VTN tại bệnh viện Hùng Vương năm 2009, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát những nguy cơ trên thai kỳ của sản phụ VTN tại bệnh viện Hùng Vương năm 2009
Tác giả: Huỳnh Thị Bạch Tuyết
Nhà XB: Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
14. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2015). Nghiên cứu về xử trí chuyển dạ đẻ ở sản phụ dưới 20 tuổi tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 2011 đến năm 2013, Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, Bệnh viện Phụ sản Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về xử trí chuyển dạ đẻ ở sản phụ dưới 20 tuổi tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 2011 đến năm 2013
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Năm: 2015
15. Nguyễn Thị Lan Hương, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Thị Hoàn, (2019), “Nhận xét tình hình sinh đẻ của sản phụ tuổi VTN tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương, năm 2017-2018”, Kỷ yếu hội nghị Sản phụ khoa Việt Pháp-2019, tr. 30-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét tình hình sinh đẻ của sản phụ tuổi VTN tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương, năm 2017-2018
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Thị Hoàn
Nhà XB: Kỷ yếu hội nghị Sản phụ khoa Việt Pháp-2019
Năm: 2019

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w