Hiện nay có nhiều bài báo đã phản ánh việc lười tập thể dục của sinh viên, lí do để các bạn sinh viên không tập thể dục là rất nhiều, hầu như là các bạn có thể dùng bất kỳ lí do nào để b
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài này nhằm đạt được các mục tiêu như sau:
Thứ nhất: Nhận thức được các tác nhân ảnh hưởng đến việc lười tập thể dục của sinh viên Đại học Ngân Hàng
Thứ hai: Đánh giá thực trạng việc lười tập thể dục của sinh viên Ngân Hàng
Cuối cùng là đưa ra các phương hướng giải quyết giúp các bạn sinh viên hứng thú hơn trong việc tập thể dục
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Lợi ích của việc tập thể dục và tác hại của việc lười tập thể dục
2.1.1 Lợi ích của việc tập thể dục:
Tập thể dục mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe con người, không chỉ về thể chất mà còn cả tinh thần Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc tập luyện thường xuyên có tác động tích cực đến sức khỏe tổng thể, giúp cải thiện tâm trạng và tăng cường sức đề kháng.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ khuyến nghị mỗi người nên thực hiện 2,5 giờ tập luyện các bài tập tim mạch vừa phải như đi bộ hoặc đạp xe, hoặc 1,25 giờ tập các bài tập tim mạch nặng như chạy bộ và bơi lội Ngoài ra, nên kết hợp với 2 buổi tập gym mỗi tuần để nâng cao sức khỏe và thể lực.
Bạn có thể bắt đầu với cường độ thấp và từ từ tăng dần cho đến khi đạt được mục tiêu Dưới đây là những lợi ích của việc tập thể dục đã được nghiên cứu khoa học chứng minh.
Đối với phụ nữ, kể cả những người đang dùng thuốc chống trầm cảm, tập thể dục được chứng tỏ sẽ làm tăng ham muốn tình dục
Tập luyện đều đặn sẽ làm giảm đi những triệu chứng trầm cảm và lo âu
Các hoạt động thể chất đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát bệnh tiểu đường loại 2 Theo thống kê, có ít nhất một trong ba người Mỹ sẽ mắc căn bệnh này trong suốt cuộc đời của họ Việc duy trì thói quen vận động thường xuyên không chỉ giúp cải thiện sức khỏe tổng thể mà còn giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường.
Những bài tập nói chung làm tăng lượng cholesterol 'tốt' và giảm lượng cholesterol 'xấu'
Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tập thể dục có thể làm giảm viêm đường hô hấp ở những người bị bệnh hen suyễn
Tập gym sẽ giúp làm xương chắc khỏe và chống loãng xương khi xương hấp thụ canxi kém đi (ở những người cao tuổi)
Những người hay tập thể dục cường độ cao thường sẽ hấp thụ vitamin
D tốt hơn - một phần cũng bởi vì họ dành nhiều thời gian dưới ánh nắng mặt trời hơn
Nhiều người tin rằng thể dục có thể tăng cường sự trao đổi chất, nhưng điều này không hoàn toàn chính xác Tuy nhiên, thực tế là việc tập luyện giúp đốt cháy một lượng lớn năng lượng.
Những bài tập thể chất nhẹ nhàng như Yoga có thể cải thiện sức khỏe tim mạch, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tim.
10.Những bài thể dục hết sức bình thường cũng có thể làm giảm mức độ stress của bản thân
Nghiên cứu cho thấy rằng các bài tập tim mạch cường độ cao trong khoảng thời gian ngắn có hiệu quả trong việc giảm cân và đốt cháy mỡ thừa.
Luyện tập giúp cơ thể bạn linh hoạt hơn, tăng cường khả năng thăng bằng và giảm nguy cơ ngã cũng như các chấn thương nhỏ.
Tập thể dục thường xuyên có thể nâng cao sức đề kháng của cơ thể Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa xác định rõ liệu việc tập luyện có giúp đường thở lọc vi khuẩn hiệu quả hơn hay tạo ra nhiều kháng thể để chống lại vi khuẩn tốt hơn.
Các bài tập Aerobic tăng cường khả năng ghi nhớ của não bộ Đó là lí do người già cần tập thể dục đều đặn
Vóc dáng khỏe khoắn góp phần tăng cường tuổi thọ, với nghiên cứu cho thấy rằng những người vận động ít nhất 7 giờ mỗi tuần có khả năng giảm 40% nguy cơ tử vong sớm so với những người chỉ tập luyện dưới 30 phút mỗi tuần.
Và nhiều lợi ích khác…
2.1.2 Tác hại của việc lười tập thể dục:
Tập thể dục mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhưng lười vận động có thể gây ra những tác hại nghiêm trọng, đặc biệt là đối với những người làm văn phòng Tình trạng lười vận động đang trở nên phổ biến và có thể dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật (CDC), tại
Mỹ, nếu bạn là người đang trải qua các vấn đề về giấc ngủ, rất có thể do bạn không tập luyện thường xuyên
Tập thể dục thường xuyên mang lại lợi ích cho giấc ngủ, đặc biệt là cho những người bị mất ngủ Hoạt động thể chất giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ bằng cách tăng thời gian ngủ sâu, nhờ vào việc não bộ bù đắp cho căng thẳng thể chất Hơn nữa, việc tập luyện làm tăng thân nhiệt, và sau đó nhiệt độ giảm xuống, tạo điều kiện thuận lợi cho giấc ngủ Sự giảm nhiệt này giúp bạn dễ dàng đi vào giấc ngủ và có giấc ngủ ngon hơn.
Nếu bạn không tập thể dục thường xuyên, bạn có thể cảm thấy mệt mỏi và thở hắt ra chỉ sau khi leo cầu thang hoặc mang vác túi hàng hóa nặng Ngược lại, những người chăm chỉ tập luyện sẽ không gặp phải tình trạng này dễ dàng như vậy.
Tập thể dục thường xuyên làm tăng sức khỏe tim mạch, phổi, giảm tình trạng khó thở ở cả người khỏe mạnh và những người bị bệnh
Tập thể dục thường xuyên giúp cải thiện khả năng hấp thụ oxy của cơ thể, ngay cả khi bạn cảm thấy mệt mỏi Nếu không duy trì thói quen vận động, cơ thể sẽ không thể hấp thụ oxy hiệu quả trong trạng thái căng thẳng, dẫn đến tình trạng khó thở Điều này khiến bạn thường xuyên phải thở hổn hển khi thực hiện các hoạt động nặng nhọc.
Lười vận động là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tăng cân, gây ra tình trạng thừa cân và béo phì Những vấn đề này có thể dẫn đến các bệnh lý liên quan đến huyết áp và đường huyết Hơn nữa, việc thiếu hoạt động thể chất sẽ làm tăng lượng mỡ tích tụ ở vùng bụng.
Cơ thể dễ bị thương
Thực trạng của việc tập thể dục tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của các chuyên gia sức khỏe tại Đại học Stanford, người Việt Nam trung bình chỉ đi 3.600 bước mỗi ngày, thấp hơn tiêu chuẩn toàn cầu là 5.000 bước Khảo sát này được thực hiện dựa trên dữ liệu từ người dùng ứng dụng giám sát hoạt động Argus.
Hình 1: Nghiên cứu của các chuyên gia sức khỏe tại Đại học Stanford
Nhưng thực tế khi khảo sát ở một số nơi ở Việt Nam, số người tập thể dục khá là cao, đa số đều tập mỗi ngày một lần
Hình 2: "Khảo sát về nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của người dân ở các thành phố lớn của Vinaresearch
Bảng khảo sát tại các thành phố lớn cho thấy tình trạng lười tập thể dục của giới trẻ, mặc dù kết quả khảo sát có sự đa dạng về độ tuổi Nhiều bài báo, như “Tập thể dục: Trẻ ít hơn già, nam ít hơn nữ, sao vậy?”, đã chỉ ra thực trạng này và đặt ra câu hỏi về nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch trong thói quen tập luyện giữa các nhóm tuổi và giới tính.
Nghiên cứu về thói quen tập thể dục tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc chưa có đủ chứng cứ để khẳng định liệu người Việt có thực sự lười vận động hay không.
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Xây dựng bảng khảo sát
Nhóm thiết kế bản câu hỏi theo ba phần chính là:
1) Lời chào hỏi, giới thiệu về đề tài nghiên cứu:
Chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu về "Các tác nhân tiêu cực ảnh hưởng đến việc lười tập thể dục của sinh viên Đại học Ngân Hàng Thành Phố Hồ Chí Minh" Rất mong các bạn dành chút thời gian để trả lời một số câu hỏi trong khảo sát của chúng tôi Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của các bạn!
Phần này bao gồm các câu hỏi định danh dành cho người tham gia khảo sát, như sinh viên năm mấy, giới tính và độ tuổi Những câu hỏi này giúp phân loại thông tin và thu thập dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu.
1 Bạn có thường xuyên tập thể dục hay không?
2 Độ tuổi của bạn là:
3 Bạn là sinh viên năm mấy:
Phần này thuộc nhóm câu hỏi định lượng, sử dụng thang đo Likert truyền thống với 1 mệnh đề và 5 lựa chọn: (1) Hoàn toàn không đồng ý, (2) Không đồng ý, (3) Bình thường, (4) Đồng ý, (5) Hoàn toàn đồng ý.
Bảng câu hỏi phân thành 6 nhóm (bao gồm 1 biến phụ thuộc và 5 biến độc lập) bao gồm các câu hỏi được ký hiệu như dưới bảng sau
STT Nhóm các nhân tố Ký hiệu
I Không có điều kiện DK
1 Tôi không có đủ tiền ra phòng tập DK1
2 Tôi ở xa phòng tập DK2
3 Thời tiết không phù hợp cho tôi tập thể dục DK3
4 Tôi có quá ít địa điểm để tập thể dục DK4
II Không có thời gian TG
1 Thể dục tốn nhiều thời gian của tôi TG1
2 Vì phải đi học và làm thêm nên tôi hoàn toàn không có thời gian tập thể dục TG2
3 Tôi tham gia CLB, đội, nhóm nên không có thời gian tập thể dục TG3
4 Tôi thức khuya nên không có thời gian tập thể dục buổi TG4
III Không có sức khỏe SK
1 Tôi cảm thấy đau nhức cơ thể sau khi tập thể dục SK1
2 Tôi mệt mỏi khi tập thể dục SK2
3 Tôi không thể tập thể dục do sức khỏe yếu SK3
4 Tôi cảm thấy mình khỏe mạnh và dẻo dai nên không cần tập thể dục SK4
1 Tôi không có hứng thú với việc tập thể dục BC1
2 Tập thể dục không phải ưu tiên hàng đầu của tôi BC2
3 Tôi thích ăn kiêng hơn là tập thể dục khi cơ thể mập mạp BC3
4 Tôi biết tập thể dục tốt cho sức khỏe nhưng tôi không tập BC4
V Không có động lực DL
1 Gia đình, bạn bè không khuyến khích tôi tập thể dục DL1
2 Tôi không có bạn để cùng tập thể dục DL2
3 Bác sĩ không đề cập với tôi về việc tập thể dục DL3
4 Bạn bè hay những người xung quanh tôi không có ai tập thể dục cả DL4
VI Lười tập thể dục KL
1 Tôi không tập thể dục vì tôi không có điều kiện KL1
2 Tôi không tập thể dục vì tôi không có thời gian KL2
3 Tôi không tập thể dục vì tôi không có đủ sức khỏe KL3
4 Tôi không tập thể dục vì bản chất của tôi là không muốn tập thể dục KL4
5 Tôi không tập thể dục vì tôi không có động lực KL5
Thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập bằng cách khảo sát online tổng mẫu là 215 mẫu với số mẫu hợp lệ là 215 mẫu
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
Thống kê mô tả
4.1.1 Thống kê biến định tính:
Bảng 1: Có tập thể dục hay không
Tần số Phần trăm Phần trăm hợp lệ Phần trăm tích lũy
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Theo bảng 1.1, trong số 215 người được khảo sát, có 59 người (27,4%) thường xuyên tập thể dục, trong khi 156 người (72,6%) không có thói quen tập thể dục Kết quả cho thấy tỷ lệ người không tập thể dục cao hơn đáng kể so với số người tập thể dục.
Kết quả này chỉ mang tính chất tham khảo về xu hướng và không đủ để đưa ra các kết luận hay quyết định chính xác Do đó, việc phân tích sẽ tiếp tục được thực hiện sâu hơn trong các bước tiếp theo.
Bảng 2: Độ tuổi sinh viên
Tần số Phần trăm Phần trăm hợp lệ Phần trăm tích lũy
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Nhìn vào bảng 1.2 chúng ta có thể thấy khảo sát trong 215 người thì có 19 người ở độ tuổi từ 16 – 18 lười tập thể dục, chiếm tỉ lệ 8,8%,
Trong một nghiên cứu về thói quen tập thể dục, có 173 người ở độ tuổi từ 19-22 lười tập thể dục, chiếm 80,5% tổng số, cho thấy đây là nhóm có tỷ lệ lười biếng cao nhất Ngoài ra, trong độ tuổi từ 23-25, có 19 người lười tập thể dục, chiếm 8,8%, và chỉ 4 người trên 26 tuổi lười tập thể dục, chiếm 1,9% Kết quả này nhấn mạnh sự phổ biến của lối sống ít vận động trong giới trẻ.
Kết quả này chỉ mang tính tham khảo về xu hướng và không đủ để đưa ra các kết luận hay quyết định chính xác Do đó, việc phân tích sẽ được tiếp tục sâu hơn trong các bước tiếp theo.
Bảng 3: Sinh viên năm thứ
Tần số Phần trăm Phần trăm hợp lệ Phần trăm tích lũy
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Theo bảng 1.3, trong tổng số 215 sinh viên được khảo sát, có 42 sinh viên lười tập thể dục, chiếm 19,5% Trong đó, 56 sinh viên năm 2 lười tập thể dục (26,0%), 85 sinh viên năm 3 chiếm tỉ lệ cao nhất với 39,5%, và 32 sinh viên năm 4 trở lên chiếm 14,9% Kết quả cho thấy sinh viên năm 3 có tỷ lệ lười tập thể dục cao nhất.
Kết quả này chỉ mang tính chất tham khảo về xu hướng và chưa đủ để đưa ra các kết luận hay quyết định Do đó, phân tích sẽ được tiếp tục mở rộng trong các bước tiếp theo.
Bảng 4: Giới tính sinh viên
Tần số Phần trăm Phần trăm hợp lệ Phần trăm tích lũy
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Theo bảng 1.4, trong tổng số 215 người khảo sát, có 64 sinh viên nam lười tập thể dục, chiếm 29,8%, trong khi đó, 147 sinh viên nữ lười tập thể dục, chiếm 68,4% Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên nữ lười tập thể dục cao hơn nhiều so với sinh viên nam, với tỷ lệ 68,4%.
Kết quả này chỉ mang tính chất tham khảo về xu hướng và không đủ để đưa ra các kết luận hay quyết định chính xác Do đó, phân tích sẽ được tiếp tục mở rộng trong các bước tiếp theo.
4.1.2 Thống kê biến định lượng:
Bảng 5: Miêu tả biến không có điều kiện
GT lớn nhất Mean Độ lệch chuẩn
Số quan sát hợp lệ 215
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Chọn biến điều kiện để mô tả giá trị trung bình, bao gồm 4 biến nhỏ: điều kiện 1, điều kiện 2, điều kiện 3 và điều kiện 4, như đã phân tích ở trên.
Biến điều kiện 1 có giá trị nhỏ nhất là 1 và giá trị lớn nhất là 5 Nằm trong khoảng từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý
Giá trị trung bình của 215 quan sát bằng 2.90, cho thấy được điều kiện 1 ảnh hưởng ở mức bình thường đối với sinh viên
Biến điều kiện 2 có giá trị nhỏ nhất là 1 và giá trị lớn nhất là 5 Nằm trong khoảng từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý
Giá trị trung bình của 215 quan sát bằng 3.00, cho thấy được điều kiện 2 ảnh hưởng ở mức bình thường đối với sinh viên
Biến điều kiện 3 có giá trị nhỏ nhất là 1 và giá trị lớn nhất là 5 Nằm trong khoảng từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý
Giá trị trung bình của 215 quan sát bằng 2.66, cho thấy được điều kiện 3 ảnh hưởng ở mức bình thường đối với sinh viên
Biến điều kiện 4 có giá trị nhỏ nhất là 1 và giá trị lớn nhất là 5 Nằm trong khoảng từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý
Giá trị trung bình của 215 quan sát bằng 2.81, cho thấy được điều kiện 4 ảnh hưởng ở mức bình thường đối với sinh viên
Kết quả này chỉ mang tính tham khảo về xu hướng và không đủ để đưa ra các kết luận hay quyết định Do đó, phân tích sẽ được tiếp tục sâu hơn trong các bước tiếp theo.
Bảng 6: Miêu tả biến không có thời gian
GT lớn nhất Mean Độ lệch chuẩn
Số quan sát hợp lệ 215
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Chọn biến thời gian để thể hiện giá trị trung bình, được phản ánh qua bốn biến nhỏ TG1, TG2, TG3 và TG4.
Biến TG1 có giá trị dao động từ 1 đến 5, thể hiện mức độ đồng ý từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý Với 215 quan sát, giá trị trung bình đạt 2.74, cho thấy mức độ đồng ý chung của nhóm khảo sát.
TG1 ảnh hưởng ở mức bình thường đối với sinh viên
Biến TG2 có giá trị dao động từ 1 đến 5, thể hiện mức độ đồng ý từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý Với giá trị trung bình 3.09 từ 215 quan sát, TG2 cho thấy ảnh hưởng ở mức bình thường đối với sinh viên.
Biến TG3 có giá trị dao động từ 1 đến 5, thể hiện mức độ đồng ý từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý Với 215 quan sát, giá trị trung bình của TG3 đạt 2.59, cho thấy xu hướng ý kiến chung của nhóm đối tượng được khảo sát.
TG3 ảnh hưởng ở mức bình thường đối với sinh viên
Biến TG4 có giá trị dao động từ 1 đến 5, thể hiện mức độ đồng ý từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý Với giá trị trung bình là 3.39 từ 215 quan sát, TG4 cho thấy ảnh hưởng ở mức bình thường đối với sinh viên.
Kiểm tra độ tin cậy của thang đo
Bảng 11: Hệ số Cronpach’s Alpha của biến “Không có điều kiện”
GTTB biến đổi nếu loại biến
Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Kết quả phân tích Cronbach’s alpha cho thấy hệ số tổng đạt 0.729, nằm trong khoảng tin cậy 0.7 - 0.8, chứng tỏ thang đo của biến điều kiện có độ tin cậy cao Hơn nữa, hệ số Cronbach’s Alpha không tăng khi xem xét từng biến, do đó không cần thực hiện phân tích lần hai, và 0.729 sẽ là kết quả cuối cùng.
Bảng 12: Hệ số Cronpach’s Alpha của biến “Không có thời gian”
GTTB biến đổi nếu loại biến
Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Kết quả phân tích cronbach’s alpha ở bảng 12 cho thấy hệ số cronbach’s alpha tổng = 0.711 , nằm trong khoảng 0.7 - 0.8, do đó thang đo của biến thời gian có độ tin cậy
Bảng 13: Hệ số Cronpach’s Alpha của biến “Không có sức khỏe”
GTTB biến đổi nếu loại biến
Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Kết quả phân tích cronbach’s alpha ở bảng 13 cho thấy hệ số cronbach’s alpha tổng = 0.788 , nằm trong khoảng 0.7-0.8, do đó thang đo của biến sức khỏe có độ tin cậy
Bảng 14: Hệ số Cronpach’s Alpha của biến “Bản chất”
GTTB biến đổi nếu loại biến
Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Kết quả phân tích cronbach’s alpha ở bảng 14 cho thấy hệ số cronbach’s alpha tổng = 0.784 , nằm trong khoảng 0.7-0.8, do đó thang đo của biến bản chất có độ tin cậy
Bảng 15: Hệ số Cronpach’s Alpha của biến “Không có động lực”
GTTB biến đổi nếu loại biến
Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thấy hệ số tổng đạt 0.683, nằm trong khoảng 0.6-0.7 Theo Hoàng Trọng và Bảo Ngọc, kết quả này cho thấy thang đo của biến động lực có độ tin cậy và có thể sử dụng được.
Nhìn vào bảng ta thấy nếu loại biến thì hệ số crobach’s alpha cũng không tăng lên nhiều, vì vậy đây là kết quả cuối cùng
Bảng 16: Hệ số Cronpach’s Alpha của biến “Lười tập thể dục”
GTTB biến đổi nếu loại biến
Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thấy hệ số tổng đạt 0.801, nằm trong khoảng 0.8-0.9, chứng tỏ thang đo biến lười tập thể dục có độ tin cậy cao.
Kiểm tra độ hợp lệ của thang đo
4.3.1 Phân tích nhân tố lần 1:
Bảng 17: Hệ số KMO (lần 1)
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS Bảng 17 cho thấy hệ số KMO = 0.861 > 0.5, với mức ý nghĩa Sig 0.000, do đó phân tích nhân tố là hoàn toàn phù hợp
Bảng 18: Bảng nhân tố giải thích (Lần 1)
Initial Eigenvalues Rotation Sums of Squared
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Bảng 18 cho thấy mô hình phân tích nhân tố cho ra tổng cộng 5 nhân tố có hệ số eigenvalues lớn hơn 1 là :
Nhân tố 1 là nhân tố mạnh nhất với hệ số eigenvalues = 6.794 và giải thích được 16.089% mô hình phân tích nhân tố
Nhân tố 2 là nhân tố với hệ số eigenvalues = 2.082 và giải thích được 13.995% mô hình phân tích nhân tố
Nhân tố 3 là nhân tố với hệ số eigenvalues = 1.463 và giải thích được 13.341% mô hình phân tích nhân tố
Nhân tố 4 là nhân tố với hệ số eigenvalues = 1.174 và giải thích được 9.943% mô hình phân tích nhân tố
Nhân tố 5 là nhân tố với hệ số eigenvalues = 1.058 và giải thích được 9.490% mô hình phân tích nhân tố
Tổng 5 nhân tố được hình thành giải thích đc 62.858% mô hình phân tích nhân tố (>50%) do đó 5 nhân tố thu được là hoàn toàn phù hợp
Bảng 19: Ma trận xoay nhân tố (Lần 1)
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Bảng 19 chỉ ra rằng đã hình thành 5 nhóm sau khi loại bỏ các biến không thuộc cấu trúc tương ứng Cụ thể, nhóm 1 bao gồm BC1, BC2, BC4 sau khi loại BC3; nhóm 3 gồm TG1, TG2, TG3 sau khi loại TG4; và nhóm 5 gồm DK1, DK2, DK4 sau khi loại DK3 Nhóm 2 và nhóm 4 bị loại do sự phân bố của hai biến SK và DL không cho phép chọn biến nào Do đó, phân tích nhân tố lần 2 sẽ được tiến hành để xác định biến cần thiết.
4.3.2 Phân tích nhân tố lần 2:
Bảng 20: Hệ số KMO (Lần 2)
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy .786
*Nguồn: Trích xuất từ kết quả SPSS
Bảng 20 cho thấy hệ số KMO = 0.786 > 0.5, với mức ý nghĩa Sig 0.000, do đó phân tích nhân tố là hoàn toàn phù hợp
Bảng 21: Bảng nhân tố giải thích (Lần 2)
Initial Eigenvalues Rotation Sums of Squared
*Nguồn: trích từ kết quả spss
Bảng 21 cho thấy mô hình phân tích nhân tố cho ra tổng cộng 2 nhân tố có hệ số eigenvalues lớn hơn 1 là :
Nhân tố 1 là nhân tố mạnh nhất với hệ số eigenvalues = 3.420 và giải thích được 28.984% mô hình phân tích nhân tố
Nhân tố 2 là nhân tố với hệ số eigenvalues = 1.705 và giải thích được 28.000% mô hình phân tích nhân tố
Tổng 2 nhân tố được hình thành giải thích đc 56.949% mô hình phân tích nhân tố (>50%) do đó 2 nhân tố thu được là hoàn toàn phù hợp
Bảng 22: Ma trận xoay nhân tố (Lần 2)
DK1 669 DK2 764 DK4 724 TG1 633 TG2 510 TG3 600
Bảng 22 chỉ ra rằng nhóm biến DK và nhóm biến TG đều thuộc nhân tố 1, vì vậy chỉ có thể chọn một trong hai biến Trong phân tích nhân tố lần 3, chúng ta xem xét hai trường hợp: loại nhóm biến DK và giữ lại nhóm biến TG Kết quả từ bảng nhân tố giải thích cho thấy khi loại nhóm biến DK, tổng hai nhân tố giải thích được một tỷ lệ phần trăm cao hơn cho mô hình Do đó, lựa chọn tối ưu là giữ lại nhóm biến TG.
4.3.3 Phân tích nhân tố lần 3:
Bảng 23: Hệ số KMO (Lần 3)
KMO and Bartlett's Test Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy .742
*Nguồn: trích từ kết quả spss Bảng 23 cho thấy hệ số KMO = 0.742 > 0.5, với mức ý nghĩa Sig 0.000, do đó phân tích nhân tố là hoàn toàn phù hợp
Bảng 24: Bảng nhân tố giải thích (Lần 3)
Initial Eigenvalues Rotation Sums of Squared
*Nguồn: trích từ kết quả spss
Bảng 24 cho thấy mô hình phân tích nhân tố cho ra tổng cộng 2 nhân tố có hệ số eigenvalues lớn hơn 1là :
Nhân tố 1 là nhân tố mạnh nhất với hệ số eigenvalues = 2.927 và giải thích được 36.826% mô hình phân tích nhân tố
Nhân tố 2 là nhân tố với hệ số eigenvalues = 1.185 và giải thích được 31.715% mô hình phân tích nhân tố
Tổng 2 nhân tố được hình thành giải thích đc 68.542% mô hình phân tích nhân tố (>50%) do đó 2 nhân tố thu được là hoàn toàn phù hợp
Bảng 25: Ma trận xoay nhân tố (Lần 3)
*Nguồn: trích từ kết quả spss Kết luận: Kết quả phân tích nhân tố lần 3 cũng là kết quả cuối cùng, cụ thể như sau:
Nhóm 1 là nhóm BC = Mean(BC1, BC2, BC4) Nhóm 2 là nhóm của TG = Mean(TG1, TG2, TG3) Kết quả này sẽ được sử dụng trong phân tích chuyên sâu ở phần tiếp theo
4.3.4 Phân tích nhân tố cho biến phụ thuộc:
Bảng 26: Hệ số KMO (Biến phụ thuộc)
KMO and Bartlett's Test Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy .754
*Nguồn: trích từ kết quả spss
Bảng 27: Bảng nhân tố giải thích
Initial Eigenvalues Extraction Sums of Squared
*Nguồn: trích từ kết quả spss
Bảng 28: Ma trận xoay nhân tố (Biến phụ thuộc)
1 KL1 774 KL2 795 KL3 728 KL4 737 KL5 695
Phân tích nhân tố cho biến phụ thuộc cho thấy cấu trúc KL được hình thành từ các yếu tố KL 1, 2, 3, 4, 5 Do đó, INT được tính bằng trung bình của các yếu tố này, tức là INT = Mean(KL 1, 2, 3, 4, 5), và sẽ được sử dụng cho phân tích chuyên sâu ở phần tiếp theo.
Kiểm định mô hình nghiên cứu
Mẫu R R Square Adjusted R Square Std Error of the Estimate
Hệ số R2 trong Bảng 29 đạt giá trị 0.452, với kiểm định F là 496 và P value = 0.000, cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính với 5 biến độc lập giải thích được 45,2% sự biến thiên của biến phụ thuộc, trong khi 54,8% còn lại được ảnh hưởng bởi các yếu tố khác ngoài mô hình.
Bảng 31: Hệ số hồi quy
TG(BETA = 0.315, T = 6.192, mức ý nghĩa = 0.000