cực cá nhân, năng động, chủ động, đem hết tài năng, sức lực của mình cống hiến cho đất nước [33].Đối với các môn khoa học tự nhiên nói chung và bộ môn Vật lí nói riêng, mục tiêu dạy học
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
$
TRẦN VĂN HỮU
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ VÀ SỰ VẬN DỤNG NÓ
VÀO GIẢNG DẠY PHẦN KIẾN THỨC
“CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÍ LỚP 10 THPT
VỚI SU HO TRỢ CUA CÔNG NGHỆ THONG TIN
Chuyên ngành: Ly luận và phương pháp day hoc môn Vật lí
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIAO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THỊ THANH THẢO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2005
Trang 2đồi dau lién tic yd xin chin (hành cim on dâu dếc din TS ⁄2
Thi Shanh Thio da tin tinh huting din đúc ya hoin thinh tuận van.
Khoa hoc cong ugh — Fu dat hoc “ườug Dai hoe sw plam TShinh fhe Me Chi Minh dé tin linh ging day va tiuyén dil nhiéu kién (ức
mn, yp tic ya liam quen din vdt viéc „đôn ctu khoa hee.
wa sta chita nhiing (lđếu stl dé luận vin “hoàn chinh hon.
Itc ya chin thinh cim on Ban Giim Hiéu “ườug THIT Him
Shuin Nam, (huậc tinh Binh Fhuin, noi lic ya dang cing “ức, “ườug
1 Phan Let Chiu, noi tic ya lién hanh luc nghi¢m bu ‘phan.
Cubi cing “ức gi ain bay “ ling biel on dâm dốc Mét tới ya dinh
Trang 3Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
CNTT : Công nghệ thông tin.
CNTT-TT : Công nghệ thông tin - truyén thông.
CQ : Câu hỏi nội dung (Content Questions)
EQ : Câu hỏi khái quát (Essential Questions).
GV : Giáo viên.
KHBG : Kế hoạch bài giảng.
KT-ĐG : Kiểm tra đánh giá.
UQ : Câu hỏi bài hoc (Unit Questions).
Xtr-i : Xem trang 1 trong luận văn.
Xtr-CD : Xem trén dia CD kém theo.
Trang 4MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới với sự phát
triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật hiện đại mà những thành tựu của nó gần
như được áp dụng ngay lập tức vào tất cả các lĩnh vực, là động lực thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ về mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và tạo ra những chuyển biến cơ
bản trong nên sản xuất hiện đại Để đáp ứng được những chuyển biến mạnh mẽ đó,
người lao động không những phải có trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ nhất
định còn phải có tính độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết
vấn để thực tiễn, có khả năng đào tạo và tự đào tạo để không ngừng phát triển vàđáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và san xuất Thực tiễn đó đặt ra cho nền giáodục của mỗi quốc gia phải không ngừng đổi mới cả về nội dung cũng như phương
pháp giáo dục và đào tạo con người.
Định hướng đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học đã được
xác định trong Nghị quyết Trung ương khóa VII (01 — 1993), Nghị quyết Trung ương
2 khóa VIII (12 - 1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (12 - 1998), được cụ thể
hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị 15 (4 — 1999) và
được vạch rõ trong chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 (1999)
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 đã xác định, để phát triển giáo
dục thì: “đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên là trọng tâm”
&
hay “ nội dung, chương trình cần được đổi mới theo hướng chuẩn hóa, hiện đại
hóa, tiếp cận với trình độ chương trình của các khu vực và trên thế giới, đồng thời
thích ứng với nguồn nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế — xã hội của đất nước,
Nhanh chóng áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục để đổi mới phương pháp
giáo dục và quản lý”.
Trang 5Luật giáo dục, điều 24.2 đã ghi: “phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học; béi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dungvào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho hoc
sinh”
Để việc đổi mới diễn ra một cách đồng bộ, triệt để, tiếp cận được với nền giáodục trong khu vực và trên thế giới cần đổi mới sâu sắc từ mục tiêu, nội dung chươngtrình, phương pháp giảng dạy và phương tiện kiểm tra đánh giá Trong đó việc xác
định mục tiêu giữ vai trò chủ đạo, từ đó có cơ sở để xác định nội dung, phương pháp,
phương tiện dạy học một cách hợp lí Nội dung kiến thức cần trang bị cho HS phải
nằm trong một cấu trúc chặt chẽ, gắn kiến thức giáo dục với thực tiễn cuộc sống hàng ngày và đặc biệt hệ thống kiến thức này phải hỗ trợ cho GV vận dụng được các
phương pháp dạy học hiện đại cũng như ứng dụng công nghệ hiện đại vào dạy học.
Trên thế giới, theo đánh giá của UNESCO, việc đổi mới nội dung chương trình
và cách tiếp cận nội dung chương trình dạy học ở nhiều quốc gia đang có xu hướng
tích hợp theo chủ dé hoc tập và cách tiếp cận dạy học theo chủ để cùng với sự tích
hợp công nghệ vào dạy học đang được quan tâm, chú trọng một cách đặc biệt Đổi
mới phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin (CNTT) là một chương trình lớn
được UNESCO chính thức dưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa
của thế kỷ XXI UNESCO đã dự đoán rằng sẽ có sự thay đổi một cách căn bản nên
giáo dục trên thế giới ở đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT
2
Ở nước ta, mặc dù đã có những chiến lược đổi mới về mục tiêu, chương trình,nội dung cũng như định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy như trên Cụ thể, gần
đây nhất, chúng ta đã triển khai biên soạn và thử nghiệm chương trình SGK mới
Nhưng qua tổng kết, bên cạnh một số ưu điểm, việc đổi mới vẫn được đánh giá làchưa đồng bộ, nên việc thực hiện mục tiêu giáo dục đặt ra vẫn còn gặp những khó
khăn hạn chế Một vài trong số những khó khăn vẫn được quan tâm và bàn luận
Trang 6nhiều nhất là sự mâu thuẫn giữa mục tiêu đào tạo với nội dung chương trình đào tạo;
giữa phương pháp giảng dạy với chương trình SGK; giữa mục tiêu, nội dung, phương
pháp giảng dạy với nền tang kiến thức của người học và phương tiện kiểm tra đánh
giá,
Khi tìm hiểu cấu trúc, nội dung kiến thức và thực trạng dạy học phần kiến thức
các định luật bảo toàn ở lớp 10 THPT hiện nay, chúng tôi nhận thấy khi dạy phần kiến thức này, cả GV và HS đều gặp phải những khó khăn về mặt nội dung kiến thức, về logic hình thành cũng như phương pháp tiếp cận từng đơn vị kiến thức, do đó
dẫn đến chất lượng và hiệu quả dạy học phần kiến thức này chưa cao
Với xu thế xã hội và thực tiễn đặt ra như trên, cùng với sự mong muốn nâng cao chất lượng dạy học phần kiến thức này, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu là: “DẠY
HỌC THEO CHỦ ĐỀ VÀ SỰ VẬN DỤNG NÓ VÀO GIẢNG DẠY PHẦN KIẾN
THỨC “CÁC ĐỊNH LUAT BẢO TOÀN” VAT LÍ LỚP 10 THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ
CUA CÔNG NGHỆ THONG TIN”.
II Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng quan điểm tiếp cận dạy học theo chủ để với sự hỗ trợ của
CNTT vào dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của HS, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học.
III Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
- Muc tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên.
- Nội dung chương trình Vật lí THPT.
- Phuong pháp giảng day vật lí.
- Phuong tiện dạy hoc vật lí ở trường phổ thông,
Trang 7- _ Một số phần mém tin học hỗ trợ trong day học.
2 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu là Lý luận dạy học Vật lí ở trường THPT
3 Phạm vỉ nghiên cứu:
Nghiên cứu xây dựng tài nguyên hỗ trợ cho việc giảng dạy và thiết kế tiến trình
dạy học phần kiến thức các định luật bảo toàn trong chương trình vật lí 10 THPT theo
quan điểm tiếp cận dạy học theo chủ dé với sự hỗ trợ của CNTT
Khả năng ứng dụng của đề tài vào giảng dạy vật lí ở các trường THPT
III Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tim hiểu sự thay đổi mục tiêu dạy học các môn khoa học về tự nhiên ở
trường phổ thông
- _ Nghiên cứu cơ sở lí luận của cách tiếp cận dạy học theo chủ dé
- _ Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng CNTT trong dạy học vật lí.
- Tim hiểu thực tế của việc giảng dạy phan kiến thức về các định luật bảo
toàn ở trường THPT.
- - Nghiên cứu xây dung website hỗ trợ cho việc giảng dạy phần kiến thức về
các định luật bảo toàn.
- _ Nghiên cứu thiết kế chủ dé học tập phan kiến thức về các định luật bảo toàn
trên tinh thần của cách tiếp cận dạy học theo chủ để với sự hỗ trợ của
CNTT.
- _ Nghiên cứu hiệu qua sư phạm của việc vận dụng cách tiếp cận day học mới,
trên đối tượng HS THPT.
IV Phương pháp nghiên cứu:
1 Nghiên cứu lý thuyết:
Trang 8- _ Nghiên cứu các văn kiện của Đảng.
- Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học và phương pháp giảng dạy vật lí,
các phương pháp tiếp cận dạy học hiện đại trên thế giới.
- _ Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn sử dụng công nghệ trong dạy học; các tài
liệu liên quan đến sử dụng một số phần mém thiết kế web, khai thác
3 Nghiên cứu thực nghiệm:
- _ Nghiên cứu sử dụng máy tinh và một số thiết bị ngoại vi, cách quan lý việc
học của HS trong phòng máy tính nối mạng.
- Khai thác các tài liệu có liên quan đến chủ dé học tập từ Internet, từ các
đồng nghiệp
- _ Thiết kế Website hỗ trợ dạy học.
- _ Thiết kế tiến trình dạy học.
- Chon mẫu và dạy thực nghiệm ở trường THPT.
4 Thống kê toán học:
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sưphạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai
nhóm đối chứng và thực nghiệm.
Cấu trúc của luận văn:
Luận văn được cấu trúc như sau:
Trang 10NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ;
NHUNG CƠ SO CUA CÁCH TIẾP CAN DAY HỌC THEO CHỦ DE
VỚI SU HO TRỢ CUA CONG NGHỆ THONG TIN
1.1 SỰ THAY ĐỔI CÁCH TIẾP CAN MỤC TIEU GIANG DAY CAC MON
KHOA HỌC VỀ TỰ NHIÊN TRONG NHÀ TRƯỜNG.
1.1.1 Mục tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên từ những
năm 80 trở về trước.
Nhìn chung, mục tiêu giáo dục phổ thông của Việt Nam giai đoạn này dựa trênmục tiêu giáo dục phổ thông của Liên Xô (cũ) Cụ thể, mục tiêu tổng quát là: đàotạo con người phát triển toàn diện: đức, trí, thể, mĩ, “ có trình độ văn hóa ngàycàng cao, nắm được những hiểu biết cần thiết về khoa học kĩ thuật, và áp dụngnhững hiểu biết đó vào xây dựng nên văn hóa, khoa học và ki thuật tiên tiến, thiết
thực phục vụ sự nghiệp cách mạng XHCN, nâng cao không ngừng đời sống vật chất
và văn hóa của nhân dân ta” [23]
bó Zz tA Zz A R Z ^ À tA Ze
Cu thé hóa mục tiêu đó, mục tiêu cụ thể của các môn khoa hoc về tự nhiên nói
chung và môn Vật lí nói riêng được xác định thông qua các nhiệm vụ:
Truyén thu cho HS hệ kiến thức về khoa học tự nhiên, nhằm giúp người học cómột bức tranh chân thực về thế giới tự nhiên; trang bị hệ thống kiến thức về cácphương pháp nhận thức thế giới và phương pháp tư duy Với môn Vật lí: truyền thụcho HS hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, có hệ thống về cơ, nhiệt, điện, quang,
nguyên tử và vật lí hạt nhân [14] Đặc biệt chú trọng xây dựng các khái niệm chủ chốt, cho rằng: “Nắm vững các khái niệm có nghĩa là nắm vững toàn bộ tập hợp những tri thức về các sự vật mà khái niệm đã cho có quan hệ với chúng” [23].
Phát triển tư duy của HS trong việc thu nhận kiến thức và vận dụng kiến thứcmột cách sáng tạo, bổi dưỡng cho HS có phương pháp hoc tập, phương pháp nghiên
Trang 11cứu khoa học, béi dưỡng lòng ham thích nghiên cứu khoa học, trí tò mò, óc sáng tạo,
ý thức tích cực, góp phần vào công cuộc cách mạng kỹ thuật trong quá trình học tập
và chuẩn bị ra thực tế, có khả năng tự lập trong học tập và lao động sản xuất.[ 14]
Góp phần xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho HS, làm cho họ hiểu
thế giới tự nhiên là vật chất, vật chất luôn ở trạng thái vận động và vận động theo
quy luật Củng cố lòng tin khoa học vô thần, ở khả năng con người có thể nhận biết
được các quy luật tự nhiên và nhận biết ngày càng chính xác Góp phần giáo dục
lòng yêu nước, yêu CNXH, tinh thần quốc tế vô sản, rèn luyện nhân sinh quan chủnghĩa và cộng sản chủ nghĩa, từ tính cần cù, cẩn thận, chính xác, cho đến tinh than
tập thể, thái độ lao động XHCN trong học tập và lao động
Góp phan giáo dục kĩ thuật cho HS, làm cho HS nắm được những nguyên lí cơ bản về các quá trình sản xuất của những ngành chủ yếu Rèn luyện cho họ ki năng ki xảo trong việc sử dụng những dụng cụ do lường đơn giản, phương pháp thực nghiệm
khoa học, biết tiến hành công tác thực hành có kế hoạch và biết xử lý các số liệu thực nghiệm.
1.1.2 Mục tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên khoảng sau
những năm 90 đến nay
Từ khi cải cách giáo dục cho đến nay, mục tiêu giáo dục phổ thông ở Việt Namvẫn cơ bản giữ vững quan điểm toàn diện, chú trọng cả bốn mặt đức, trí, thể, mỹnhằm đào tạo những người lao động mới có khả năng xây dựng và bảo vệ tổ quốcXHCN Bên cạnh đó, nhấn mạnh thêm một số điểm cho phù hợp với tình hình mới:
coi trọng giáo dục tư tưởng, chú trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, một mặt
phải học để nắm vững và làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại mà nhânloại đã tích lũy được; mặt khác phải có tư duy sáng tạo, phát huy tiểm năng của dântộc và con người Việt Nam; người lao động mới vừa phải có ý thức cộng đồng, tinhthần tập thể vì sự nghiệp chung hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, vừa phải phát huy tính tích
Trang 12cực cá nhân, năng động, chủ động, đem hết tài năng, sức lực của mình cống hiến cho đất nước [33].
Đối với các môn khoa học tự nhiên nói chung và bộ môn Vật lí nói riêng, mục tiêu dạy học hướng tới:
Về kiến thức: Trang bị cho HS hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại,
bao gồm: các khái niệm vật lí; các định luật, nguyên lý vật lí; những nét chính của
các thuyết vật lí, phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình hóa trong vật lí; những ứng dụng quan trọng của vật lí trong đời sống và sản xuất.
Về kĩ năng: chú trọng rèn luyện cho HS các kĩ năng:
- Thu lượm thông tin từ quan sát thực tế, thí nghiệm, điều tra, sưu tầm tài
liệu, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng, khai thác mạng
internet,
- CAc ki năng xử lí thông tin như: xây dựng bang, biểu dé, vẽ đồ thị, rút ra
kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận diễn dịch, khái quát hóa,
- _ Các kĩ năng truyền đạt thông tin: thảo luận khoa hoc, báo cáo viết,
- _ Kĩnăng vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng
- _ Giải bài tập vật lí phổ thông
- Kha năng dé xuất khoa hoc và thí nghiệm kiểm tra
Về tình cảm, thái độ, tác phong, cần bồi dưỡng:
- Su hứng thú học tập, lòng yêu thích khoa học.
- _ Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, ti mi
- Tinh trung thực trong khoa hoc.
- Tinh thần hợp tác trong học tập và nghiên cứu.
Trang 13Có thể nói, mục tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên ở nước ta, theothời gian, đã thay đổi theo hướng tích cực Tuy nhiên, cách tiếp cận mục tiêu giáo
tA tA Ẩ ` Z ne A tA 22 22 À nx
dục của Việt nam hiện nay vẫn là cách tiếp cận mục tiêu giáo dục kiéu truyền thống.
Thật vậy Trong lịch sử phát triển các cách tiếp cận mục tiêu giáo dục thì cáchtiếp cận mục tiêu theo quan điểm của nhóm Bloom được gọi là cách tiếp cận truyền
thống (mục tiêu giáo dục xác lập trong ba lĩnh vực: nhận thức, kỹ năng và thái độ),
trong đó quy định cụ thể những yêu cầu trong lĩnh vực nhận thức (về kiến thức, trình
độ nắm vững kiến thức); các kỹ năng cơ bản và trình độ hoàn thiện từng kỹ năng
và điều quan trọng là các mục tiêu có thể cụ thể hóa thành những tiêu chí đánh giá
chung cho phép do lường — đánh giá thành quả học tập của từng học sinh Mục tiêu
kiểu truyền thống thể hiện sự chờ đợi kết quả học tập ở tất cả học sinh, dù có sựkhác biệt cá nhân như thế nào đều đạt tới một chuẩn mực nhất định sau một khóa
học nào đó.
Ở thời điểm ra đời, cách tiếp cận mục tiêu này đã ngay lập tức mang đến cuộc
cách mạng thực sự trong giáo dục, đẩy nhanh sự phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia
trong các thập niên sau đó (từ những năm 50 của thế kỷ XX và vẫn còn phổ biến ở
nhiều quốc gia cho đến ngày nay)
Bên cạnh những ưu việt không thể phủ nhận của cách tiếp cận mục tiêu giáodục này thì đồng thời nó cũng thể hiện những hạn chế lớn: Đó là giáo dục tạo cácsản phẩm giáo dục (nhân cách) khuôn đúc, nó không quan tâm tới sự phong phú, đa
dạng vốn có của nhân cách cá nhân, cũng có nghĩa là không quan tâm đến sự khác
biệt, phong phú, da dang của phong cách học tập, phong cách tư duy , cũng có nghĩa là không quan tâm đến định hướng tương lai, nghề nghiệp khác nhau của người
học.
Mục tiêu giáo dục các môn học ở trường phổ thông Việt Nam lần đầu tiên được
chính thức hóa trong văn bản của ngành giáo dục là mục tiêu của lần phân ban này Điều dễ nhận ra là nó vẫn được thiết lập theo cách tiếp cận mục tiêu truyền thống.
Trang 14Chúng ta sẽ đối chiếu và so sánh cách tiếp cận mục tiêu DH các môn khoa học (về
tự nhiên) hiện nay ở nước ta với cách tiếp cận mục tiêu DH hiện đại trên TG ở phan
tiếp theo để làm sáng tổ hơn điều này
1.1.3 Hiện trạng mô hình dạy học vật lý ở nước ta
Ở Việt Nam do mục tiêu giáo dục các môn học ở trường phổ thông không được
chính thức hóa bằng văn bản quản lý giáo dục các cấp trong một thời gian dài nên dù
chúng có được xác lập ở phương diện nghiên cứu và đào tạo giáo viên chăng nữa
cũng vẫn không trở thành yếu té bắt buộc phải thực hiện trong thực tiễn Trong thựctiễn giáo dục phổ thông mục tiêu giáo dục đích thực của các môn học đã bị chi phối
triệt để bởi nội dung, cách thức thi cử nhiều chục năm qua (chỉ quan tâm đến dung lượng và mức độ đồng hóa kiến thức, việc vận dụng kiến thức chủ yếu được quy về
các kỳ năng giải các bài tập vật lý mà cùng với thời gian chúng đã ngày càng biếnthái thành những bài toán vật lý lắt léo đánh đố xa rời thực tiễn nhưng lại cẩn
nhiều thủ thuật, cần thời gian khổ luyện).
Chính nội dung, cách thức thi cử này đã đưa đến một kiểu “đạy học truyền
thống tiêu cue” phổ biến hiện nay hướng tới các mục tiêu thi cử lệch lạc như thế Trong kiểu day học tiêu cực này người giáo viên thấy rằng không cần thiết phải sử dụng phương tiện, đổ dùng dạy học, không cẩn phải quan tâm, chú ý diễn biến tâm
lý, đến sự phát triển của học sinh (mặc dù họ đã được chuẩn bị về hiểu biết và trang
bị những kỹ năng nhất định trong quá trình đào tao), mà chỉ cần truyền thụ bản thân
kiến thức và yêu cầu học sinh ghi nhớ kiến thức và luyện tập cho họ giải bài tập vật
lý, là các nội dung thường có trong các kỳ thi Không chỉ riêng việc day học mà mọi
tác động giáo dục trong nhà trường phổ thông đều bị chỉ phối bởi mục tiêu thi cử,
đánh giá Trong kiểu dạy học này các phương pháp dạy học truyền thống vốn cónhiều ưu điểm trở thành các phương pháp dạy học tiêu cực, ở đó người giáo viên là
trung tâm là độc tôn trong quá trình dạy học diễn biến trên lớp học phổ biến trong
thực tế chỉ còn là thay thuyết trình hay đọc, trò nghe và ghi chép, nhớ và lặp lại,
Trang 15phương tiện day học chi còn là phấn bảng thí nghiệm vật lý trở thành xa xi và chỉ
được sử dụng trong các kỳ thi giáo viên dạy giỏi các cấp
Có thể nói mô hình đạy học truyền thống tiêu cực là không có mục tiêu hay lấy
nội dung dạy học làm mục tiêu cũng vậy (cách tiếp cận nội dung cũng đã có tronglịch sử phát triển giáo dục, phổ biến đến những năm 40 của thế kỷ XX, ngày nay
được coi là cách tiếp cận chương trình học lạc hậu nhất)
1.1.4 Cách tiếp cận mục tiêu DH theo hướng hiện đại:
Những hạn chế của cách tiếp cận truyền thống thúc đẩy sự ra đời gần như cùngmột giai đoạn ở thập niên 60 70 một cách tiếp cận mục tiêu giáo dục mang tính nhân
văn gần như trái ngược lại, đó là cách tiếp cận chủ trương coi trọng nhu cầu cá nhân,
cố gắng làm cho mục tiêu, nội dung học tập thích hợp với người học, coi người học là
trung tâm của quá trình dạy học, coi trọng hứng thú và sự chọn lựa của người học.
Cách tiếp cận này dựa trên nguyên tắc coi mục tiêu giáo dục là sự hiện thực hóa sự
trưởng thành hoặc khả năng của người học.
Tuy nhiên, giáo dục thời kỳ nào cũng là tác động trên bình diện toàn xã hội,
giáo dục bên cạnh sự cần thiết thỏa mãn nhu cầu học tập và phát triển cá nhân, tạo
điều kiện cho su phát triển nhân cách đa dang của các nhân thì giáo dục còn có nhiệm vụ lớn lao là giáo dục — đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho
định hướng phát triển của quốc gia
Cách tiếp cận truyền thống — nhân văn (hay cách tiếp cận hiện đại, tiếp cận
phát triển, tiếp cận quá trình) thực chất là sự dung hòa can thiết hai quan điểm trên
nhằm làm cho giáo dục không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội mà còn làm cho người học tim thấy sự thỏa mãn nhu cầu học tập và có cơ hội phát triển cá nhân Các
xu hướng đổi mới giáo dục phổ thông (và cả các bậc học cao hơn) của nhiều quốc gia
hiện nay đồng tình với cách tiếp cận mục tiêu này
Trang 16Chúng ta hãy xem và so sánh một số mục tiêu giáo dục (MTGD) khoa học hiện
nay qua Bảng | dưới đây:
a) Thu thập thông tin từ quan sat,
thí nghiệm vật lý, từ tài liệu và
các nguồn thông tin đại chúng ,
b) Xử lý thông tin về vật lý (xây
dựng biểu đổ, vẽ đồ thị, suy luận,
khái quát hóa ).
c) Truyền đạt thông tin về vật
d) Giải thích các hiện tượng vật
và sự hiểu biết về tiến
b) Lam việc với thông tin:
- khai thác thông tin,
- Sau đó mới tới các
kỹ năng thuần túy
trí tuệ.
Mục tiêu thái độ:
Học để chung sống -Học để tự khẳng
Trang 17yêu thích khoa học, có tác phong
làm việc khoa học, có tính trung
thực khoa học, có ý thức sẵn sàng
áp dụng hiểu biết vật lý vào thực
tế
+ Ban xã hội: Trong các mục
tiêu kiến thức của ban tự nhiên
thì giảm nhẹ (?) các mục tiêu b,
c, d Giảm nhẹ các yêu cầu về
tính toán định lượng và về lý
thuyết trừu tượng.
Trong các mục tiêu kỹ năng,
đối với khoa học, đó là
niềm tin, sự say mê, hứng thú đối với khoa học.
** Mục tiêu cơ bản của
So sánh các quan điểm vé mục tiêu trên dé dàng nhận thay:
+ Mục tiêu giáo dục của môn vật lý và của nhiều môn học về tự nhiên khác ở
trường phổ thông của Việt Nam trước đây và hiện nay, dù là xác lập cho ban nào
cũng gần như chỉ hướng tới trang bị kiến thức, kỹ năng chủ yếu cho một loại hoạt
động: hoạt động nghiên cứu khoa học (vật lý), coi trọng phát triển tư duy thuần túy trí
tuệ (trang bị kiến thức khoa học vật lý, các phương pháp nghiên cứu vật lý, rèn luyện
các kỹ năng cần thiết để giải quyết các vấn để trong học tập và nghiên cứu vật lý,phát triển tư duy khoa học vật ly )
+ Trong khi đó mục tiêu các môn khoa học về tự nhiên ở trường phổ thông theo
xu thế hiện nay ở của nhiều nước trên thế giới và mục tiêu giáo dục rất thuyết phục
do tổ chức giáo dục lớn nhất hành tinh (Unesco) đưa ra lại có những khác biệt rất cơ
bản với quan niệm quen thuộc của chúng ta, theo đó mục tiêu giáo dục các môn khoa
học là sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu nhân văn, đáp ứng nhu cầu học tập và
phát triển của cá nhân, của các phong cách học tập khác nhau với mục tiêu truyền
thống hướng tới những nội dung kiến thức và kỹ năng cần thiết phục vụ cho nhu cầu
sự phát triển có định hướng nguồn nhân lực cho xã hội Theo quan niệm này việc dạy
các môn học khác nhau hướng tới nhiều mục tiêu chung như:
Trang 18- Hiểu biết về tiến trình khoa học và các kỹ năng tiến trình khoa học (không phải là hiểu hiết về hoạt động nghiên cứu của mỗi khoa học, không phải là các kỹ
năng cần thiết cho hoạt động học tập và nghiên cứu trong mỗi khoa học mà là tiến
trình và các kỹ năng cần thiết có thể áp dụng để giải quyết các vấn để thuộc các lĩnh
vực khác nhau một cách khoa hoc:
- Các kỹ năng tư duy bậc cao: phân tích, tổng hợp đánh giá,
- Các kỹ năng sống và làm việc trong xã hội đương đại: giao tiếp, ngôn ngữ,
hợp tac, quan lý, tổ chức điều hành, ra quyết dinh )
1.2 SỰ ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CAN MỤC TIÊU DẪN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI
CÁC THÀNH TỐ CÒN LẠI CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC.
1.2.1 Sự khác biệt giữa các yếu tố của các mô hình day học:
Sự khác biệt về cách tiếp cận mục tiêu đã đưa đến sự khác biệt ở hầu hết các
yếu tố của các mô hình dạy học Nếu xét các mô hình dạy học dựa trên một số yếu
tố: hình thức tổ chức day học, thái độ người học, tính chất quản lý người học, cơ sở lý
luận dạy học yếu tố trung tâm của quá trình dạy học phương tiện dạy học, quan hệ
thay — trò, quan hệ HS - HS, kết quả chủ yếu thu được, chúng ta có thé so sánh sự
khác nhau giữa các yếu tố của mỗi mô hình qua Bảng 2 sau đây:
Trang 19Nếu xét sự khác biệt của các cách tiếp cận mục tiêu trong lịch sử phát triển
giáo dục ( I > II > Ill > IV) thông qua sự khác biệt ở từng yếu t6, dé dàng nhận
thấy, trên con đường tiếp cận với một nền giáo dục hiện đại, chúng ta còn một cự lykhá xa, nếu không nói là gần như đang ở đích xuất phát Mô hình dạy học chúng ta
hiện có là mô hình dạy học truyền thống tiêu cực (tương ứng với cách tiếp cận nội
dung), còn mô hình mà chúng ta đang hướng tới trong đổi mới giáo dục phổ thông
Trang 20hiện nay là mô hình dạy học truyền thống (tạm gọi là tích cực vì mục tiêu của nó tích
cực hơn mục tiêu mà thực tiễn giáo dục Việt Nam đang thể hiện, nhưng nó vẫn chỉ là
cách tiếp cận mục tiêu đã có trong lịch sử giáo dục cách nay hơn nửa thế kỷ) Nhìn
chung hai mô hình này không có sự khác biệt đáng kể chúng giống nhau ở hầu hết
các yếu tố chính:
1- Chương trình, nội dung học: Thích hợp nhất cho các kiểu mục tiêu này vẫn là chương trình học xây dựng một cách tuần tự, chặt chẽ, logic (chương trình kiểu tuyến
tinh) các nội dung trước là cơ sở để xây dung và tiếp thu các nội dung sau theo chiều
hướng vấn để ngày càng được mở rộng đi sâu Nội dung các bài học cụ thể đành ưu
tiên cho việc xây dựng kiến thức, vì như thế cùng với quá trình dạy học kiến thứcmới học sinh có thể được rèn luyện tư duy, nắm được phương thức họat động nhận
thức, phương pháp nhận thức đó cũng là những mục tiêu giáo dục của môn học.
2- Phương tiện hỗ trợ đắc lực để dạy học đạt tới các mục tiêu này là phương
tiện, d6 dùng dạy hoc, với môn vật lý và các môn khoa học thực nghiệm khác thi
thiết bị, dụng cụ thí nghiệm là phương tiện không thể thiếu để phục vụ cho việc xây
dựng, kiểm chứng lý thuyết (thay cho đạy chay, học chay hiện nay)
3- Phương pháp dạy học: các phương pháp tạo điều kiện cho học sinh tham gia
tích cực, chủ động vào hoạt động học tập kiến thức mới, tạo điều kiện cho việctruyền đạt kiến thức đến học sinh hiệu quả nhất Trong mô hình này các phương pháp
day học truyền thống quen thuộc van tỏ ra rất hiệu quả và được tôn vinh (thuyết
trình, đàm thoại, tim tòi, thí nghiệm thay cho kiểu day học độc giảng của giáo viên
phổ biến hiện nay).
4- Hình thức tổ chức day hoc: Theo lớp với tất cd các đối tượng học sinh (vì tất
cả học sinh đều phải đạt tới các tiêu chí đánh giá kết quả học tập chung)
Š- Kiểm tra — đánh giá: Theo các tiêu chí định sẵn được cụ thể hóa từ mục tiêu
môn học thành các hình thức, nội dung thi cử chung, coi trọng kết quả cuối cùng.
Trang 211.2.2 Xu hướng đổi mới các thành tố của quá trình day học theo
hướng tiếp cận hiện đại.
Các thành tố Mục tiêu, Nội dung, Phương pháp - phương tiện dạy học, phương
thức tổ chức day học va cách thức kiểm tra đánh giá có quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau Sự thay đổi của thành tố này ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến
các thành tế khác Đặc biệt, khi mục tiêu GD thay đổi, kéo theo sự thay đổi một cáchsâu sắc các thành tố còn lại Vậy các thành tố này đã thay đổi như thế nào?
Về nội dung:
Mục tiêu GD của nước ta trước đây luôn đặt yếu tố hàng đầu là xây dựng một
hệ thống các khái niệm chủ chốt sao cho chặt chẽ, logic, có hệ thống, điều này đã dẫn đến chương trình mang nặng tính lý thuyết, hàn lâm, ít gắn kết được với thực tiễn
cuộc sống, chỉ thích hợp với một số ít các HS có thiên hướng khoa học Bên cạnh đó,
do coi trọng việc xây dựng một hệ thống khái niệm chặt chế như trên nên SGK được
coi là chương trình pháp lệnh, mất đi tính mở, không thích ứng được với các đối tượng
HS, do đó chương trình trở nên quá tải đối với HS này nhưng lại đơn điệu đối với HS
khác Hơn nữa, các môn khoa học được xây dựng một cách độc lập, không có tính
liên thông nên chưa khuyến khích HS vận dụng kiến thức kinh nghiệm vào học
tập
Theo cách tiếp cận mục tiêu GD tiên tiến, bên cạnh việc xây dựng hệ thống
kiến thức, chú trọng hơn đến việc xây dựng các tiến trình khoa học và hình thành cho
HS các kĩ năng tiến trình khoa học, gắn việc học của HS với các hoạt động thực tiền
(học bằng hoạt động và thông qua hoạt động), điều này giúp HS vận dụng tốt hon
những kiến thức đã học vào thực tiễn và nội dung học tập thật sự giúp ích cho cuộc sống của họ sau này.
Từ việc coi trọng rèn luyện các kỹ năng tiến trình khoa học, coi trọng việc xâydựng kiến thức dựa trên các hoạt động thực tiễn nên xu hướng xây dựng chương trình
Trang 22trở nên có tính mở hơn dựa trên một chương trình chuẩn tùy từng điều kiện cu thể,
nội dung chi tiết sẽ được xây dựng ở mỗi vùng miễn khác nhau, , SGK chỉ có vai trò
là những tài liệu tham khảo, tra cứu GV và HS có quyền lựa chọn một số nội dung
phù hợp nhằm thích ứng nhiễu hơn với điểu kiện cụ thể và phát huy hết tiém năng
vốn có của HS.
Bên cạnh đó việc học luôn gắn với thực tiễn cuộc sống nên cùng một lúc các
kiến thức cần trang bị cho HS có liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau,
do đó việc tích hợp các môn khoa học vào những chủ để học tập cụ thé trong trường
phổ thông được chú trọng và phát triển như một điều tất yếu và tự nhiên.
Với mục tiêu hướng tới hình thành ở HS các kĩ năng tư duy, kĩ năng sống và làm
việc, thì ở nhiều nước, nội dung các môn khoa học (về tự nhiên) đã từ lâu được biên
soạn theo các chủ để liên môn, tích hợp (ở Tiểu học và Trung học cơ sở, ở đó các
môn khoa học về tự nhiên hợp chung thành môn Khoa học) và tích hợp (ở Trung học
phổ thông, ở đó nội dung học được tích hợp trong từng môn học riêng biệt thành các
chủ để) vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, tạo cho học sinh hứng thú,say mê nghiên cứu chúng Việc lựa chọn chủ để, xây dựng nội dung các chủ để có sự
khác nhau ở các quốc gia khác nhau, các trường khác nhau, nó phản ánh những quan
điểm triết học giáo dục riêng.
Khi nghiên cứu các chủ để có nội dung liên môn, tích hợp học sinh không
những chiếm lĩnh được tri thức khoa học mang tính tổng thể (chứ không phải từng
khái niệm riêng lẻ) mà còn được làm quen với tiến trình khoa học và được rèn luyệncác kĩ năng tiến trình khoa học Các chủ dé này thường được thận trọng khéo léo lựa
chọn và xây dựng bắt nguồn từ thực tiễn sinh động mà học sinh đang sống tạo được
hứng thú ở học sinh khi tìm biểu, xử lí các thông tin khoa học và đời sống từ các
nguồn khác nhau để cùng giải quyết vấn để đặt ra Khi đó phan kiến thức cốt lõi
được khéo léo đưa vào trở thành kiến thức chìa khóa mà học sinh tất yếu phải nắm
Trang 23được để tham gia nghiên cứu chủ dé Kết quả là bên cạnh kiến thức cốt lõi họ còn
thu được rất nhiều kiến thức khác có được do tự lực tìm và xử lí thông tin
Các chủ dé có ý nghĩa thực tiễn thường có sự tích hợp, vì vậy 6 Mĩ và nhiều
nước Tây Âu (như Pháp, Úc, Hà Lan, ) và cả nhiều nước trong khu vực Đông Nam
Á (như Thái lan, Indonesia, Singapo, Malaixia, Philipin, ) đã từ lâu không tách rời
các môn Lý, Hóa, Sinh ở cấp Tiểu học và THCS, ở hai cấp học này các môn này tích
hợp thành môn Khoa học và chỉ được tách ra ở cấp THPT Chương trình THPT cũng
được xây dựng thành các chủ dé tích hợp có ý nghĩa thực tiễn cao
Sự tích hợp thành môn Khoa học sẽ được giảng dạy theo một số chủ để chính Các chủ dé chính sau đó dược phân cấp thành các chủ dé nhỏ hơn.
Ví dụ ở Úc, chương trình khoa học gồm các chủ để chính sau [1]
e Lam việc khoa học.
e_ Cuộc sống va vật thé sống
e Vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân tạo.
e Năng lượng và sự biến đổi
e Trái đất và vũ trụ.
Trong mỗi chủ dé lại bao gồm nhiều chủ để nhỏ và được phân thành các mức từ
1 đến 7 cho các lớp từ thấp đến cao Ví dụ chủ dé “Vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân
tạo” gồm các chủ đề:
Cấu trúc, tính chất và ứng dụng của vật liệu nói chung.
* Chất rắn, chất lỏng, chất khí trong các mẫu đơn giản.
*x Hỗn hợp và nguyên chất.
* Cấu tạo nguyên tử.
* Các nguyên tố và hợp chất.
Trang 24* Phan ứng và sự biến đổi, gồm: Những thay đổi trong vật liệu nói
chung, những điều kiện ảnh hưởng đến phan ứng hóa học, các phan ứng hóa học giữa các chất khác nhau.
Ở Thái Lan, chương trình khoa học gồm các chủ đề chính sau: [44]
e Quá trình khoa học.
e Chất.
e Sinh vật và môi trường.
e Năng lượng và sự biến đổi
Mỗi chủ dé chính lại được phát triển thành các chủ dé nhỏ và được phân thànhcác mức khác nhau từ Tiểu học đến THCS và THPT
Về phương pháp giảng dạy:
Với cách tiếp cận dạy học truyén thống, để có thể truyén tải hết nội dung, với
việc đặt mục tiêu hang đầu là xây dựng một tập hợp đầy đủ và chặt chẽ hệ thống các khái niệm đã được trình bày trong SGK Người GV, dẫu muốn hay không, cũng
phải chạy đua với thời gian để truyén tải hết nội dung và “yên tâm” với việc hoàn
thành bài giảng của mình Phương pháp nào là tối ưu trong trường hợp này? Câu trả
lời có lẽ không ngoài các phương pháp truyén thống! Người HS, dẫu muốn hay
không, chỉ cần ngồi nghe là đã thực hiện xong nhiệm vụ học tập.
Khi mục tiêu GD chú trọng hơn đến việc hình thành ở HS các kĩ năng tiến trình
khoa học, thì việc dạy học sẽ chú ý nhiều đến việc tạo cơ hội cho HS tham gia hoạt
động học tập, quá trình học tập sẽ được tiến hành bằng các hoạt động và thông qua
các hoạt động Các bài tập, các tình huống, các vấn dé thực tiễn, được đưa ra cho
HS giải quyết, HS có cơ hội tìm hiểu những vấn để mình ưa thích, được phát huy hết
năng lực của mình; kiến thức kinh nghiệm của HS được phát huy một cách tối đa.
Thông qua các hoạt động học tập cụ thể những kiến thức kinh nghiệm này sẽ được
Trang 25chính xác hóa dần thành kiến thức khoa học, điều này sẽ làm cho các kiến thức mang tính chất thực tiễn cao và được lưu giữ một cách chắc chắn hơn.
Các cách tiếp cận hiện đại hướng tới sự phát triển tư duy cho học sinh nhưngkhông phải mỗi môn học lại trang bị và rèn luyện cho học sinh những hiểu biết về
phương pháp và kỹ năng tư duy của bản thân mỗi khoa học (nhiều khi mang tính đặc thù cao), mà các môn khoa học riêng biệt phải cùng hướng tới mục tiêu chung làm
cho học sinh hiểu tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năng tiến trình khoa học có
thể áp dung để giải quyết một cách khoa học các vấn dé khác nhau trong cuộc sống,
nghề nghiệp sau này, hướng tới rèn luyện những kỹ năng sống và làm việc không thể
thiếu của con người trong thời đại ngày nay Chính vì thế day học phải chú trọng đến
các phương pháp tạo cơ hội, tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động, đặc biệt
là quan điểm kiến tạo trong dạy học, còn quá trình học là quá trình giải quyết cácvấn dé thực tiễn trên cơ sở kiến thức được học
Trong các mô hình dạy học tích cực khác người ta không dành nhiều thời gian
cho việc cung cấp kiến thức mới bằng cách dẫn dắt xây dựng kiến thức đó như kiểu
dạy học truyền thống hiện nay mà thời gian học chủ yếu dành cho việc giải quyết
vấn để của các nhóm học sinh Kiến thức mới có thể được cung cấp một cách đúng
lúc trong quá trình học sinh giải quyết vấn để thực tiễn được giao, hoặc được giới
thiệu trong một khoảng thời gian ngắn theo cách dạy truyền thống trước khi học sinhgiải quyết vấn dé, hoặc thông qua tài liệu do giáo viên cung cấp, chỉ dẫn Nói cách
khác, các mô hình dạy học tích cực phổ biến hiện nay thường ưu tiên việc sử dụng
kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, học sinh học được tiến trình khoa
học và kỹ năng tiến trình khoa học từ việc giải quyết vấn dé chứ không phải từ việc tham gia xây dựng kiến thức như quan niệm dạy học truyền thống quen thuộc.
Sự thay đổi về phương tiện dạy học:
Trên con đường hướng tới một xã hội tri thức, thông tin và hợp tác toàn cầu, nhu
cầu về tiếp nhận, tìm hiểu thông tin, tìm kiếm tri thức của loài người ngày càng cao
Trang 26cũng như lượng tri thức cần cập nhật hàng ngày là vô cùng lớn, việc dạy học với chỉbảng đen phấn trắng, với mục tiêu dạy học giới hạn ở việc truyền thụ một hệ thống
các khái niệm chủ chốt là chính, không còn đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực của xã hội trong giai đoạn hiện tại và tương lai - xã hội mà người lao động cần có
những kỹ năng như cộng tác làm việc, có khả năng tìm kiếm, khai thác, xử lý, sử
dụng thông tin, một cách có hiệu quả.
Với tinh than “học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tựkhẳng định mình”, GD ở mọi quốc gia không thể đứng ngoài xu thế phát triển của xã
hội, của khoa học kỹ thuật, ngược lại, phải là lĩnh vực đi dầu trong việc giúp thế hệ trẻ tiếp cận và sử dụng những thành tựu mới của nhân loại, của khoa học hiện đại, có
như vậy mới có thể giúp người học “biết”, từ đó có cơ sở để “làm” và “chung
sống”, Điều đó cho thấy việc đưa công nghệ vào tận lớp học nhằm hỗ trợ cho việc
học tập của HS như một điều tất yếu tự nhiên Những ứng dụng của công nghệ thông
tin — truyén thông và nguồn tài nguyên khổng lổ trên Internet về mọi lĩnh vực đang,
đã và sẽ là yếu tố quan trong tác động mạnh mẽ đến nền GD trên toàn thế giới Nóvừa là phương tiện, là nguồn tài nguyên vô hạn hỗ trợ đắc lực cho việc dạy học trong
nhà trường nhằm đáp ứng mục tiêu dạy học mới trong tương lai.
Về hình thức tổ chức dạy học:
Với sự thay đổi về nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học như trên, hìnhthức tổ chức dạy học cũng có nhiều thay đổi Bên cạnh việc tổ chức học tập theo lớp(với số lượng HS ít hơn), các mô hình tiếp cận dạy học hiện đại chú trọng cách tổ
chức dạy học theo nhóm hợp tác.
Không gian học không bó hẹp trong lớp học mà mở ra ngoài thực tiễn.
Thời gian học tập để hoàn thành một nội dung một chủ để, một bài học, không nhất thiết trong một, hai tiết học mà có thể kéo dài trong một, vài tuần tùy ý
nghĩa, mức độ quan trọng và khó khăn của nội dung kiến thức.
Trang 27Về cách thức kiểm tra đánh giá:
Cùng với sự thay đổi của nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, cáchthức kiểm tra đánh giá cũng có sự thay đổi cơ bản khi mục tiêu GD thay đổi Khi
mục tiêu GD chú trọng đến việc xây dựng tiến trình khoa học và hình thành ở HS các
kỹ năng tiến trình khoa học, việc đánh giá không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra kết quả
mà HS đạt được (đánh giá kết quả) sau một học phần hay một khoảng thời gian định
kỳ nào đó, mà sự đánh giá phải đồng thời diễn ra trong suốt quá trình dạy học (đánh
giá tiến trình) Nghĩa là không những dánh giá xem HS đã biết những gì mà quan tâm
nhiều hơn đến việc đánh giá xem HS đã làm gì và làm như thế nào để biết được điều
đó!
Với công cụ đánh giá tin cậy cùng với sự hỗ trợ của công nghệ trong dạy học,
việc kiểm tra đánh giá cũng thay đổi cơ bản theo hướng thuận tiện, nhanh chóng,
chính xác và khách quan hơn,
1.2.3 Mục tiêu của một số mô hình dạy học tích cực trên thế giới.
1.2.3.1 Các mô hình dạy học tích cực:
Khi phân tích mục tiêu giáo dục môn học của Việt nam và xu thế chung của sự
đổi mới mục tiêu dạy khoa học (về tự nhiên) ở nhiều nước trên thế giới chúng ta đã
nhận thấy những khác biệt cơ bản trong cách tiếp cận của mục tiêu Mục tiêu đổi
mới theo xu thế chung ở nhiều nước hiện nay rất chú trọng việc phát huy, khuyếnkhích các về phong cách học tập khác nhau của học sinh, chú trọng rèn luyện các kỹ
năng được cho là quan trọng để con người sống, làm việc và thành công trong thời
đại mới với nhiều biến động khôn lường Nhìn chung mục tiêu của các mô hình dạy
học tích cực hiện nay đều cố gắng hướng tới các mục tiêu giáo dục thiên niên kỷ mà Unesco đưa ra Sự khác biệt khá cơ bản giữa mục tiêu giáo dục truyền thống và hiện
dai đưa đến sự khác biệt không chỉ ở một vài thành tố của quá trình dạy học mà đưa đến sự khác biệt của cả mô hình dạy học.
Trang 28>Day hoc chủ dé (Themes based learning), day hoc dựa trên cơ sở vấn dé
(problem based learning) va day hoc dự án (project based learning) là ba trong các
mô hình day học tích cực có thể hướng tới nhiều mục tiêu giáo dục tích cực, trong đó
mỗi mô hình chú trọng hơn đến một nhóm kỹ năng rất thuyết phục được cho là quan
trọng và cần thiết đối với người học trong cuộc sống đương đại (Chúng tôi sẽ trìnhbày chi tiết hơn về mô hình dạy học chủ dé trong mục 1.3)
Nhìn chung, trong thời đại của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông,
các mô hình dạy học này bằng nhiều con đường đã đến với nhiều giáo viên, nhiều
nhà nghiên cứu, nhưng hình như chúng ta loay hoay mãi vẫn chưa tìm ra con đường
để chúng đi vào thực tiễn giáo dục Việt Nam Một lý do thuyết phục và cơ bản là
mục tiêu giáo dục quá khác nhau dẫn đến sự khác biệt không chỉ đơn thuần là
phương pháp dạy học (như nhiều người vẫn nghĩ) mà mà là cả mô hình dạy học.
Đổi mới mô hình dạy học, dù chỉ là chuyển sang các mô hình dạy học đã phổbiến từ lâu ở nhiều nước tiên tiến, đòi hỏi sự đổi mới trước tiên là đổi mới tư duy của
những người làm giáo dục, đòi hỏi sự từ bổ nhiều quan niệm quen thuộc, lâu đời về
giáo dục.
1.2.3.2 Những cơ sở để đưa ra các mục tiêu của các mô hình dạy học tích
cực.
Trong thời đại ngày nay khi khoa học, kỹ thuật phát triển rất nhanh chóng, nhất
là sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông thì việc trang bị một
số lượng hữu hạn các khái niệm cụ thể, chủ chốt thuộc một số khoa học cụ thể không
còn ý nghĩa nữa, nhất là khi thời gian học tập trung có xu hướng ngày càng thu ngắn lại, thông tin khoa học thi quá nhiều và không ngừng tăng lên, kha năng tiếp cận với thông tin ngày càng dễ dàng và nhà trường không còn là nơi độc quyển cung cấp
hiểu biết nữa Dạy học, dù ở cấp độ nào không phải chỉ giúp người học tích lũylượng kiến thức được cho rằng cần thiết để hoạt động thực tiễn mà việc dạy mỗi môn
Trang 29học đều cần phải góp phần phát triển trí tuệ, kỹ năng sống, kha năng đương dau,thích ứng để phát triển vì tương lai xã hội và của mỗi người sẽ rất nhiều biến động
không thể dự báo chính xác
Trong thời đại bùng nổ thông tin thì việc phải biết tận căn nguyên sự hình thành
một số lượng khái niệm cơ bản, nhất định không phải là nhu cầu, đòi hỏi của đa số
người học để họ có niềm tin vào kiến thức, giáo dục phổ thông cũng không thé đủthời gian để làm việc đó, trong khi để giải quyết các vấn để khác nhau trong cuộcsống người ta cần phải biết rất nhiều điều chứ không chỉ một số lượng ít di những
điều được học Niém tin vào kiến thức đến từ mọi nguồn thông tin có cơ sở rất đa dạng mà nhờ đó người học biết được những kiến thức đó đã được vận dụng vào thực
tiễn như thế nào đồng thời biết được họ có thể sử dụng kiến thức vào giải quyết cácvấn dé hấp dẫn của thực tiễn mà ho đang sống ra sao, chứ không hẳn phải bằng một
số thí nghiệm lý tưởng xác nhận như trong quan niệm dạy học truyền thống Kiến
thức đích thực là kiến thức phải sử dụng được trong thực tiễn và tương lai cuộc sống.
Việc mất nhiều thời gian cho việc nắm vững một số lượng giới hạn các khái niệmkhông rõ ràng về kha năng ứng dung trong thực tế là đối nghịch với việc con người
phải đối diện với nguồn thông tin vô cùng lớn, phong phú và đa dạng và không
ngừng phát triển, biến đổi khi họ muốn giải quyết các vấn để đa dạng trong học tập
và trong thực tiễn mà họ đang sống.
- Điều quan trọng hơn việc trang bị một hệ thống kiến thức là qua quá trình học
các môn học khác nhau học sinh có cơ hội phát triển tư duy suy luận, tư duy phê
phán, óc sáng tạo, có hiểu biết đúng về tiến trình khoa học chung có thể áp dụng để
giải quyết các vấn để trong các lĩnh vực khác nhau và có các kỹ năng cơ bản cần
thiết để giải quyết các vấn đề đó
- Phương thức tư duy và phương pháp giải quyết các vấn để mang tính đặc thù
trong các khoa học cụ thể không thể coi là có thể và cần thiết để giải quyết các vấn
dé trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau mà mỗi học sinh sẽ phải đương dau.
Trang 30- Tư duy và khả năng sáng tạo trong một khoa học cụ thể không quyết định sự
thành công của tất cả học sinh vốn có thiên hướng, sở trường và có định hướng nghé
nghiệp rất khác nhau.
- Hoc sinh vốn có phong cách, tiềm năng và định hướng học tập, nghề nghiệp rất khác nhau Day học phải làm thé nào tạo điều kiện cho tất cả học sinh vốn có
nhân cách rất đa dạng, phong phú đều có cơ hội phát triển và phát triển toàn diện
- Giáo dục phổ thông phải cố gắng chuẩn bị cho người học những kỹ năng sống
và làm việc, tức là chuẩn bị một tiềm năng để thích ứng, đương đầu và phát triển ở
bất cứ lĩnh vực nghề nghiệp nào trong tương lai (kha năng ngoại ngữ, tin học, tiếp
cận và làm việc với thông tin, khả năng suy luận, khả năng giao tiếp, hợp tác, tổ
chức, điều hành quản lý, ra quyết định ).
1.2.3.3 Sự khác biệt của cách tiếp cận mục tiêu giáo dục môn học Vật lí:
Dạy học vật lý hướng tới các mục tiêu giáo dục như hiện nay, dù có tích cực
hơn kiểu dạy học truyền thống tiêu cực (chỉ hướng tới nội dung và mức độ đồng hóakiến thức) vẫn thể hiện nhiều hạn chế, bất cập so với xu thế đổi mới với các mụctiêu xác lập theo tiếp cận hiện đại (các mô hình dạy học tích cực) Có thể so sánh
các mục tiêu của hai cách tiếp cận này như sau:
Dạy học truyền thống Dạy học tích cực
- Sự hạn chế về dung lượng kiến thức | - Không đặt trọng tâm là trang bị một
do phải dành nhiều thời gian vào việc | dung lượng kiến thức khoa học nhất định
xây dựng từng khái niệm, rèn luyện để | (hay không coi nội dung là mục tiêu quan
nắm vững từng khái niệm Điều này | trọng nhất),
rất mâu thuẫn với sự phát triển nhanh | - Không đặt mục tiêu tiên quyết là phát
chóng của khoa học, công nghệ, sự | triển tư duy thuần túy trí tuệ (không chú
bùng nổ thông tin và sự phát triển | trọng trang bị hiểu biết trong từng khoa
không ngừng của kỹ thuật truyền |học, không chú trọng bổi dưỡng các
thông, thực tế ấy đòi hỏi con người | phương pháp nhận thức và phương thức tư
ngày càng phải biết nhiều hơn, tiếp | duy trong một khoa học cụ thể nào (vật
cận với thông tin tốt hơn, đồng thời | lý, hóa học ) cho tất cả học sinh,
quan niệm dạy học này còn mâu thuẫn | - Không đặt mục tiêu bắt buộc phải rèn
Trang 31với chính nhu cầu từ phía người học,
khi nhà trường không còn là nơi duy
nhất độc quyền cung cấp thông tin và
hiểu biết khoa học nữa Quan niệm
day học này luôn phải coi người học là
chưa biết gì về những điều sẽ học khi
bước vào giờ học, thậm chí nếu giáo
viên mười mươi biết rằng học sinh đã
co hiểu biết (có khi còn phong phú hơn
kiến thức sẽ dạy) giáo viên sẽ coi đó
là một khó khăn cho việc dạy học và
vẫn cố tình dạy như học sinh chưa biết
8ì,
- Quan niệm dạy học này làm cho kiến
thức, kỹ năng được học xa rời thực tại
mà con người đang sống do logic của
việc hình thành chúng luôn nặng tính
lý thuyết, khoa học, việc học lại
thường chỉ dừng lại ở việc lĩnh hội
kiến thức, nhất là khi kiến thức vật lý
được dạy lại chủ yếu là các kiến thức
cổ điển,
- Quan niệm dạy học vật lý như vậy
đòi hỏi sự phát triển tư duy của học
sinh qua quá trình học phải tương ứng
với việc tiếp nhận hệ thống khái niệm
có mức độ trừu tượng và khái quát
ngày càng cao làm cho số đông học
sinh có phong cách tư duy khác không
thể thích ứng
- Quan niệm dạy học này làm xóa
nhòa tính đa dạng của nhân cách
người học khi hoạt động học tập được
lựa chọn hầu như chỉ thích ứng với
phong cách học tập của một nhóm đối
tượng học sinh không chiếm đa số, gây
ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ và
ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển
nghề nghiệp của số đông học sinh còn
lai.
luyện các kỹ năng can thiết dé nghiêncứu, làm việc trong một khoa học cụ thể
nào,
- Rất chú trọng tiến trình khoa học được
quan niệm là tiến trình chung nhất để giải quyết một cách khoa học các vấn để khác
nhau trong các lĩnh vực khác nhau, không
chỉ riêng trong khoa học vật lý; chú trọng việc rèn luyện các kỹ năng tiến trình khoa
học và các kỹ năng làm việc cần thiết choviệc giải quyết độc lập các vấn đề thuộc
các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống (kỹ năng quan sát, phân tích, tiếp cận
thông tin, so sánh, phân lọai, sắp xếp, liên
hệ thông tin, suy luận, áp dụng (quan
niệm nội dung cũng quan trọng nhưng
không quan trọng bằng hiểu biết tiến trình
khoa học và kỹ năng tiến trình khoa học
được nhiều xu hướng đổi mới giáo dục
thừa nhận, mặc dù còn nhiều tranh cãi).
- Chú trọng rèn luyện tư duy bậc cao
- Chú trọng mục tiêu phát triển nhân cách
đa dạng của cá nhân hơn là việc đạt tới
các mục tiêu chung, cứng nhắc, bắt buộc,
khuôn mẫu áp đặc cho tất cả học sinh
(chú trọng sự phát triển cá nhân, chú
trọng quá trình),
- Chú trọng phát triển thái độ sống và làm
việc của con người trong thế kỷ XXI: độc
lập, tự quyết định, tự chịu trách nhiệm, tự đánh giá, tự điều chỉnh
Trang 321.3 NHỮNG CƠ SỞ CỦA CÁCH TIẾP CẬN DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ.
1.3.1 Những cơ sở lý luận.
1.3.1.1.Lý thuyết về mối quan hệ giữa giáo dục và sự phát triển trí thông
minh, óc sáng tao [2]:
Những năm gan đây các kết quả nghiên cứu về sự khác biệt giữa bán cầu não
trái và phải đã roi luồng sáng mới quá trình hoạt động trí óc và mối quan hệ giữa trí
thông minh và óc sắng tạo.
Theo quan điểm cũ bán cầu não trái luôn được coi là trội hơn, nó như một đặc điểm chung mang tinh bẩm sinh, đi truyền Tuy nhiên kết quả nhiều nghiên cứu về
sinh lý, than kinh và tâm lý học đã kết luận rằng cho rằng: sở dĩ có vấn để này (sự
phát triển trội hơn của các chức năng tư duy thuộc bán cầu não trái) chủ yếu là do sự học tập chứ không phải chỉ do gien di truyền, người ta sinh ra có thể phát triển trội
(hoặc cân bằng) bán cầu não trái hay phải nhưng giáo dục có ảnh hưởng đến sự phát
triển tiếp theo của chúng.
Giáo dục có thể làm cho một người không có sự phát triển thiên lệch ở hai nửa
bán cầu não thành người có sự phát triển trội ở một nửa nào đó (thực tế giáo dục đã làm đa số người học phát triển trội tư duy não trái), ngược lại, giáo dục có thể làm
mất đi tính trội bẩm sinh của các bán cầu não (những người bẩm sinh trội não phải có
NAO PHAI
1- Logic I- Trực giác
2- Ngôn ngữ 2- Thị giác phi ngôn ngữ
3- Mặt phẳng 3- Không gian ba chiều
4- Phan tích 4- Sáng tạo
5- Lý trí 5- Tổng thể
6- Nghiêm túc 6- Nghệ sĩ
7- Dit khoát, rõ ràng 7- Khôi hài
8- Có khuynh hướng hiểu ký hiệu (chữ §- Có khuynh hướng xem vật cụ thể và
cái từ) luôn là người đọc rất tổi
Trang 339- Tích lũy kinh nghiệm qua sách, vở
10- Sử dụng thị giác và thị giác hành vi
11- Tất cả chỉ dẫn dưới dạng chữ viết,
cụ thé, rõ ràng
12- Lặp lại thông tin
13- Không thích những dang bài tập la
không có cấu trúc quen thuộc
14- Làm việc dựa trên tiêu chuẩn (đánh
- Não trái là trung tâm điều khiển các
chức nắng trí tuệ như ghi nhớ, ngôn ngữ,
lý luận, tính toán, sắp xếp, phân loại,
viết, phân tích và tư duy quy nap.
- Các chức năng não trái có đặc điểm là
tuần tự, hệ thống (2 IQ: logic và ngôn
- Đặt và trả lời các câu hỏi tuần tự
9- Cẩn có tranh minh họa để hình dung
14- Phán đoán và dựa vào trực giác
15- Muốn thông tin trình bày dưới dạng
Não phải là trung tâm kiểm soát các
chức năng như trực giác, ngoại cảm, thái
độ, xúc cảm, liên hệ về thị giác và
không gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp
điệu, vũ điệu, các hoạt động phối hợp
thể lực , các quá trình tư duy tổng hop và
tư duy suy diễn
Các chức năng não phải có đặc điểm
ngẫu hứng tan mạn (8 IQ)
Não phải lại nhìn thấy cái tổng thể
trước (nắm cái tổng thể (bằng trực giác,
linh cảm): nhận ra kết quả cuối cùng rồimới làm, sau đó mới mổ xẻ thành chỉ
tiết)
Tư duy não phải là tố chất của óc sáng tạo
Định hướng bằng hình ảnh, biểu dé Câu hỏi đủ loại ngẫu hứn
Trang 34Quan điểm giáo dục đúng đắn cần phải là: Con người khi sinh ra có thể có sự
phát triển trội ở một trong hai bán cầu não, nhưng hai nửa não cân phải được tạo
điều kiện để hoạt động, phát triển cân bằng và phối hợp tốt với nhau để con người
phát triển toàn diện về cả trí tuệ và thể lực, về cả suy nghĩ và hành động.
Chúng ta đã và đang sống trong một xã hội thuộc về não trái, học đường là nơi
toàn tâm hướng tới sự phát triển và tôn vinh hoạt động của não trái Các phương pháp giáo dục truyền thống đã và đang có hiện nay đã vô tình đẩy những học sinh có
tư duy não phải trội hơn ra khỏi môi trường học đường, kết quả học tập mỗi ngày mộttồi tệ hơn luôn chờ đợi ho, họ luôn phải chịu sự đè nén trong hoc đường, trong khi
đáng lẽ ra họ có thể sẽ trở thành những người rất thành đạt, thậm chí sẽ trở thành
những nhà lãnh đạo tiém năng, có tim nhìn, có khả năng giải quyết các vấn để một
cách sáng tạo.
Trong mô hình giáo đục truyền thống kiến thức thường được cung cấp theo quy
trình liên tục và tuần tự Trong mỗi môn học chương trình thiết lập theo kiểu tuyến tính, rất phù hợp với học sinh có não trái phát triển trội vì đó cũng là cách thu nhận
và xử lý thông tin của họ, việc dạy học tất nhiên sẽ làm cho các chức năng não trái
ngày càng phát triển.
Những học sinh có não phải phát triển trội gặp khó khăn vì họ thường không xử
lý thông tin theo cách đó họ có xu hướng nhìn nhận mọi vấn dé một cách tổng thể hơn là chi tiết Họ có xu hướng nắm cái toàn thể sau đó mới đi ngược lại và mổ xẻ
vấn để, họ có tầm nhìn tổng thể Tuy nhiên, đó lại là những quá tình đảo ngược
của các phương pháp day học truyền thống (học sinh có não phải phat triển trội gần như không tìm thấy sự cảm thông và chia sẻ, thậm chí bị làm tổn thương khi trước
một bài toán họ lập tức đưa ra một lời giải hay đáp số đúng mà không lý giải được,khi trước một vấn để họ hay nói về kết cục có vẻ mơ hồ của nó khi chưa bắt tay giải
quyết, họ hay nói về tương lai tưởng chừng như viển vông của họ hay người khác, họ
hay đưa ra cách giải quyết một vấn để không theo đường lối quen thuộc )
Trang 35Chương trình môn học vật lí phổ thông từ trước tới nay được xây dựng theo cách: Tuân tự, tuyến tính; nội dung thì ưu tiên kiểu trình bày và giảng dạy xây dựng
kiến thức theo tiến trình logic, chặt chẽ với sự hỗ trợ mạnh mẽ của logic toán học,
mang đặc trưng hàn lâm của kiểu tư duy trong khoa học vật lý Biên soạn nội dung
và dạy học theo quan điểm này là phù hợp với phong cách tư duy của não trái
Đến đây thì có thể dễ ràng giải thích vì sao tiếng kêu về sự nặng nể, quá tải
của chương trình học hình như ngày càng lớn hơn cho dù chương trình không ngừng
được cắt giảm, bởi lẽ sự nặng nể, quá tải xảy ra trong từng bài học, với một số rất
đông học sinh có phong cách học tập, phong cách tư suy không phù hợp Đây là bất
cập lớn nhất của dạy học truyền thống mà niều quốc gia gọi đó là sự thất bại
Những thất bại của kiểu giáo dục truyền thống kéo đài cả thế kỷ qua ở nhiều quốc gia đặt ra yêu cầu phải đổi mới quan niệm dạy học Dạy học phải làm thế nào
để không những học sinh có não phải phát triển trội cũng tìm thấy sự thích ứng mà
còn làm sao để mọi học sinh được phát triển cân bằng các chức năng tư duy của cả hai nửa bán cầu não, bởi vì chức năng của cả hai bán cầu não đều can thiết để con
người giải quyết một cách sáng tạo các vấn dé khác nhau, giúp mỗi người thành công
trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn khác nhau (học sinh có não phải phát triển trội
có thể có những ý tưởng hay, sáng tạo, có hình dung toàn cục tốt nhưng để giải quyết
vấn để họ cũng cần phải thực hiện công việc từng bước tuần tự với logic chặt chẽ,
thuyết phục ngược lại, nếu chỉ trội tư duy não trái sẽ không thể có tầm nhìn có ý tưởng độc đáo, mới lạ, không thể sáng tạo ).
Muốn biến ý tưởng này thành hiện thực thì hệ thống giáo dục phải cấu trúc lại,
mô hình day học phải thay đổi triệt để: lớp ít học sinh hơn, số môn học giảm đi,
phương pháp giáo dục phải hướng vào người học ) như nhiều nước có nền giáo dục
phát triển đã thực hiện một vài thập niên gần đây.
Dạy học truyền thống Dạy học tích cực
Trang 36{-Đặc điểm: I-Đặc điểm:
- Sử dụng bán cầu não trái Phát triển cả hai bán cầu não: Sáng tạo (8
(2 IQ: logic toán + ngôn ngữ) IQ: thuộc 3 lĩnh vực: ngôn ngữ, vật thé, con
người: Hình ảnh, nghệ thuật, vận động )
- Phát triển chắc chắn trong một Chấp nhận rủi ro, thử thách mới có thể
khuôn mẫu giáo dục phát triển
- Mục tiêu định sẵn với tất cả Chấp nhận sự đa dạng của cá nhân và kết
học sinh quả học tập của họ
- Sử dụng giác quan giới hạn: Sử dụng tất cả các giác quan (nghe, nhìn,
Nghe vận động ) (nghe: quên; nhìn: nhớ; làm: học
- Kết quả: nội dung Kết quả: nội dung, quá trình (phát triển)
2- Lý thuyết: Một lựa chọn 2- Lý thuyết: Nhiều lựa chọn
(Lý thuyết một cơ hội: Single (Lý thuyết nhiều cơ hội: Multitife chance
chance theorie) theorie).
3- Phương pháp day học: thay 3- Phương pháp day học; hướng vào người
là trung tam, người học thụ động | học day cách học, người học chủ động.
4- Đánh giá; Chờ đợi kết qua học | 4- Đánh giá: Chờ đợi sự độc đáo, sáng tạo
tập theo hệ thống tiêu chí định trong kết quả học tập Coi trọng sự tiến triển
sẵn Coi trọng kết quả cuối cùng | theo quá trình học
1.3.1.2.Lý thuyết phân loại các trình độ nhận thức của Bloom:
Khác với quan niệm truyền thống, trình độ tư duy của học sinh phải phát triển
một cách tuần tự, từng bước từ thấp đến cao (nhận thức ở các mức độ thấp hơn là tiền
dé cẩn thiết để phát triển nhận thức ở mức cao hơn), quan niệm dạy học quan tâmđến sự phát triển kiểu tư duy của cả hai bán cầu não cho rằng tư duy bậc cao có thể
phát triển ở mọi lứa tuổi, trật tự thứ bậc của các trình độ tư đuy (trong phân loại của Bloom) không có nghĩa là tư duy phải phát triển một các tuần tự theo thời gian, theo
Trang 37lứa tuổi Học sinh thuận não phải thường không tư duy theo kiểu tuần tự và có thể cũng không phát triển tư duy theo tuần tự (như lý luận trình bày ở mục 1.3.1.3).
Tư duy bậc cao tư duy sáng tạo không chỉ có cơ hội phát triển khi tham gia giải
quyết các vấn dé khoa học mà phát triển trong cả quá trình giải quyết các vấn dé cótính thực tiễn
1.3.1.3.Phân biệt các phong cách tư đuy
Những nghiên cứu gần đây cho thấy có 4 kênh hay 4 phong cách tư duy điểnhình đại điện cho những học sinh có tư duy trội ở một trong hai bán cầu não hoặcphát triển trội một trong hai bán cầu não nhờ tác động giáo dục và hoạt động thực
tiễn:
- Kênh cụ thể - tuần tự,
- Kênh trừu tượng - tuần tự,
- Kênh cụ thể - ngẫu hứng,
- Kênh trừu tượng- ngẫu hứng
Mỗi cá nhân đều có các khả năng trí tuệ trên nhưng mỗi cá nhân đều có thiên
hướng sử dụng một hoặc hai kênh tư duy nào đó tốt hơn những kênh khác Đó là
khuynh hướng tự nhiên khiến chúng ta khác nhau
1- Kênh cu thể — tuần tự:
- Uu tiên nhận thức qua các giác quan từ thế giới cụ thể,
- Có kiểu tư duy tuần tự, tuyến tính, rạch ròi quá khứ hiện tại, tương lai
- Có khả năng tạo ra những sản phẩm sao chép, chau chuốt: có cách diễn dat
ngôn ngữ theo nghĩa den, logic,
- Xu hướng chấp nhận ngọai cảnh
2- Kênh trừu tượng — tuần tự:
Trang 38- Nhận thức thế giới cụ thể thông qua thế giới trừu tượng của hệ thống khái
niệm trừu tượng trong óc,
- Có kiểu tư duy tuần tự nhưng hệ thống (hai chiều, kiểu nhánh cây).
- Hoạch định được quá khứ, hiện tại và tưởng lai,
- Có khả năng tạo ra những lý thuyết, mô hình
- Có cách diễn đạt ngôn ngữ đa âm tiết, chính xác duy lý
- Xu hướng bên ngoài là chấp nhận ngoại cảnh nhưng tinh thần thì bị kích
thích
3- Kênh cụ thể - ngẫu hứng:
- Nhìn thế giới qua cam xúc, tình cảm,
- Có kiểu tư duy ngẫu hứng mạng lưới,
- Quan niệm thời gian, không gian là yếu tố do con người quyết định,
- Có khả năng tạo ra các sản phẩm từ trí tưởng tượng, óc mĩ thuật, có khả năng
tạo dựng các mối quan hệ
- Có cách diễn đạt ngôn ngữ nhiều ẩn dụ, dùng cử chỉ thay cho ngôn ngữ
- Xu hướng tự do, năng động thích thay đổi
4- Kênh trừu tượng - ngẫu hitng:
- Nhận thức thế giới bằng thế giới trừu tượng thiên bẩm của trí tuệ thông quahành động cụ thể,
- Có kiểu tư duy ba chiều ngẫu nhiên
- Quan niệm không có biên giới giữa quá khứ, biện tại và tương lai
- Có bẩm sinh sáng tạo, phát minh
Trang 39- Có cách diễn đạt ngôn ngữ nhiều màu sắc (ngôn ngữ không chuyển tải nghĩa
thật)
- Xu hướng không chấp nhận ngoại cảnh, nhiều kích thích, ganh đua
1.3.1.4.Cơ chế phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh
Để tất cả học sinh, dù là thuận não trái hay não phải, dù có phong cách học
khác nhau đều có cơ hội tham gia tích cực vào hoạt động học, đều có cơ hội phát
triển toàn diện thì cần phải tổ chức hoạt động học tập đẩy đủ cả ba giai đoạn:
I- Nhập dữ liệu: Nghe, nhìn, doc.
2- Xử lý: Qua bộ não
- Xử lý phân tích (Não trái)
- Xử lý tổng hợp
- Xử lý khái quát hóa (Não phải)
3- Xuất đữ liệu: Nói, viết, các hoạt động ngoài ngôn ngữ (các hoạt động này
làm tăng khả năng lưu giữ thông tin từ 20% lên 90%).
Giai đoạn 3 là rất quan trọng với những học sinh có não phải phát triển trội, họ
có cơ hội phát huy phong cách học tập đa dạng, tư duy ngẫu hứng của mình
Các mô hình dạy học tích cực ngày nay đang cố gắng tạo điều kiện cho học sinhtrải qua cả 3 giai đoạn cần thiết thay vì dạy học truyền thống chỉ chú trọng hai giai
đoạn dau Dạy học ba giai đoạn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của tất cả
học sinh: nhưng học sinh có tư duy não trái trội qua giai đoạn thứ ba sé học tập (qua
công việc qua sự giao lưu với nhưng học sinh có não phải phát triển trội) phong cách
tư duy não phải, còn ngược lại, học sinh có não phải phát triển trội được rèn luyện tư
duy logic
Trang 401.3.2 Những cơ sở thực tiễn.
1.3.2.1 Những thay đổi cơ bản về mô hình day học trong nhà trường:
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật từ giữa thế kỷ XX, các công tácgiáo dục nói chung và các mô hình dạy học nói riêng đã có những thay đổi đáng kể
từ quan niệm, nội dung đến hình thức, phương pháp dạy học cũng như công cụ,
phương tiện kiểm tra đánh giá Sự thay đổi này không chỉ diễn ra mạnh mẽ ở các
nước phát triển như Mỹ, Anh, Phdp, mà còn ở cả các nước Phương Đông như thái
Lan, Singapore, Malaixia, Theo tài liệu tổng thuật của viện nghiên cứu giáo dục [31] thì dựa trên tiêu chí và cách tiếp cận chương trình có thể phân chia sự phát triển
của chương trình môn học cũng như các quan điểm dạy học các môn khoa học làm các giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn thứ nhất được gọi là giai đoạn truyền thống của việc dạy các môn
khoa học Trong giai đoạn này, việc dạy các môn khoa học chủ yếu tập trung vào
cho HS ghi nhớ các sự kiện là chính Đặc điểm của giai đoạn này là các môn khoa
học như Vật lí, Hóa học được tách riêng: các chủ dé dạy học được trình bày theo
kiểu mô tả hơn là dựa trên các khái niệm hay lý thuyết; các hoạt động khám phá
không được coi trọng hoặc thậm chí bị loại bỏ; các thông tin đưa ra mang tính chất
thông báo áp dat; các hoạt động thí nghiệm thật ít di và chỉ là để khẳng định cái
được học mà thôi.
Giai đoạn thứ hai được bắt đầu bằng phong trào cải cách giáo dục khoa học lan thứ nhất, bắt đầu từ những năm 50 của thế ky XX Đặc điểm nổi bật của chương
trình khoa học thời kỳ này là các môn khoa học đã có sự tích hợp theo chủ để Kết
quả của cuộc cách mạng này là những chuyển biến quan trọng cả vé nội dung và
phương pháp dạy học:
Từ