Hai hệ thống thủy lợi lớn cũng gắn liền với 2 vùng nông nghiệp lớn nhất cảnước là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.. Nhu cầu nước vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020dự ki
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
MÔN :TÀI CHÍNH CÔNG
VỐN ODA PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG THỦY LỢI
TẠI ĐBSCL
Trang 2MỤC LỤC
NỘI DUNG 5
Chương 1: Cơ sở lí luận 5
1.1 Khái quát chung về hệ thống thủy lợi 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Hệ thống thủy lợi ở Việt Nam 5
1.2 Các nguồn phát triển hệ thống thủy lợi 6
1.2.1 Ngân sách Nhà Nước 6
1.2.2 Trái phiếu Chính Phủ 7
1.2.3 Vốn vay nước ngoài ODA 7
1.3 Kinh nghiệm các nước và kinh nghiệm cho Việt Nam 8
1.3.1 Kinh nghiệm của các nước 8
1.3.2 Kinh nghiệm của Việt Nam 9
Chương 2: Thực trạng huy động vốn cho phát triển hệ thống thủy lợi tai ĐBSCL 10
2.1 Khái quát địa bàn ĐBSCL 10
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Vùng đồng bằng sông Cửu Long 10
2.2 Thực trạng hệ thống thủy lợi tại ĐBSCL 12
2.2.1 Vùng Tả sông Tiền 13
2.2.2 Vùng giữa sông Tiền-sông Hậu 14
2.2.3 Vùng Tứ giác Long Xuyên 14
2.2.4 Vùng Bán đảo Cà Mau 15
2.3 Thực trạng nguồn vốn ODA phát triển hệ thống thủy lợi tại ĐBSCL .15
2.3.1 Tiểu dự án Nam Mang Thít tỉnh Vĩnh Long – Trà Vinh 16
2.3.2 Dự án lớn “Quản lý thủy lợi phục vụ phát triển nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long” Gọi tắt là WB6 16
2.4 Đáng giá nguồn vốn ODA phát triển hệ thống thủy lợi tại ĐBSCL 19
2.4.1 Các ưu điểm 19
Trang 32.4.2 Các hạn chế và nguyên nhân 20
Chương 3 : Một số giải pháp huy động vốn phát triển hệ thống thủy lợi tại ĐBSCL 21
3.1 Mục tiêu, định hướng phát triển hệ thống thủy lợi tại ĐBSCL 21
3.1.1 Mục tiêu 21
3.1.2 Định hướng 22
3.2 Các giải pháp huy động vốn phát triển hệ thống thủy lợi tại ĐBSCL .23
3.3 Các kiến nghị 24
Kết Luận: 26
Tài liệu tham khảo: 26
Trang 4NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận.
1.1 Khái quát chung về hệ thống thủy lợi.
1.1.1 Khái niệm
- Quan niệm trước đây:
Hệ thống thủy lợi là tập hợp một hệ thống canh tác từ đầu mối đến mặtruộng Cung cấp nước cho Nông nghiệp khi thiếu nước và tiêu khi thừanước để thõa mãn yêu cầu nước trong mọi thời điểm, tạo điều kiện chocây trồng phát triển tốt và cho năng suất cao
- Hiện nay, hệ thống thủy lợi phải đảm bảo yêu cầu tổng hợp.
Hệ thống thủy lợi gồm: hệ thống kênh tưới, hệ thống kênh tiêu, hệ thốngcanh tác đầu mối, các canh tác trên hệ thống tưới tiêu, hệ thống đườnggiao thông, rừng cây chắn gió, …
Bố trí hệ thống canh tác thủy lợi phải xét đến nhiều yếu tố: địa hình, địachất, quy hoạch nông nghiệp, điều kiện quản lí
Lấy nguyên tắc khai thác tổng hợp các tài nguyên trong vùng để phục vụcho yêu cầu phát triển kinh tế quốc dân
1.1.2 Hệ thống thủy lợi ở Việt Nam.
Theo Tổng cục Thủy lợi, nước ta hiện có hàng chục nghìn công trình thủy lợicác loại trong đó có hơn 900 hệ thống thủy lợi lớn và vừa, quy mô diện tích từ200ha trở lên
Hai hệ thống thủy lợi lớn cũng gắn liền với 2 vùng nông nghiệp lớn nhất cảnước là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
- Khu vực đồng bằng sông Hồng và Bắc Hưng Hải.
Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trọng điểm của cả nước với nhiềuthành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và cũng là khu vực tập trung phầnlớn diện tích trồng lúa tại phía Bắc Diện tích đất trồng lúa vùng đồngbằng sông Hồng là 1,3 triệu ha, với khoảng 124.000 ha diện tích nuôitrồng thủy sản nước lợ và nước ngọt
Theo tính toán, nhu cầu nước cho kinh tế, xã hội và môi trường của cáctỉnh đồng bằng sông Hồng năm 2009 là 24.639 x 106 m3 trong đó nhucầu nước tưới vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất đến 54,4%, các nhu cầu khác
Trang 5bao gồm chăn nuôi, thủy sản, công nghiệp, sinh hoạt, môi truờng chỉchiếm 45,6%. Nhu cầu nước vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020
dự kiến khoảng 30.939 x 106 m3, trong đó nhu cầu nước cho tưới vẫn lớnnhất chiếm khoảng 52%, nhu cầu nước cho thủy sản và môi trường cũngtăng nhanh, nhưng tổng các nhu cầu ngoài tưới cũng chỉ chiếm 48%.
Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là công trình thủy lợi lớn nhất của khuvực này, cung cấp nước tưới cho 135.000 ha và tiêu úng cho 185.000 hađất canh tác Đồng thời Bắc Hưng Hải còn cung cấp nước sử dụng chonhiều mục đích khác như cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, sản xuất củacác làng nghề Bắt đầu xây dựng từ năm 1958, Bắc Hưng Hải là tên gọitắt từ tên của các tỉnh mà 200 km hệ thống kênh chính này chảy qua, gồm
Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương
- Đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi chằng chịt.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là phần cuối cùng của châu thổsông Mekong với nhiều sông lớn nhưu sông Tiền, sông Hẩu, sông Vàm
Cỏ, Cái Lớn – Cái Bé và sông Giang Thành Chính vì vậy, hệ thống sôngngòi, kênh rạch ở đây nhìn chung đủ để cấp nước, tiêu nước, thoát lũ. Toàn ĐBSCL hiện có trên 15.000 km kênh trục và kênh cấp I, gần 27.000
km kênh cấp II và khoảng 50.000 kênh cấp III và nội đồng, 80 cống rộngtrên 5 m
Ngoài ra, khu vực này có khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô, trong đó mùa mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Đếnmùa lũ, nước dâng có thể gây ngập khoảng 1,2 đến 1,9 triệu ha. Kênh đàolớn nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam – kênh Vĩnh Tế nằm trên địabàn tỉnh An Giang và Kiên Giang của khu vực này Với chiều dài 87 km,rộng 30 m, kênh Vĩnh Tế đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển củakinh tế khu vực ĐBSCL từ khi ra đời đến nay
1.2 Các nguồn phát triển hệ thống thủy lợi
1.2.1 Ngân sách Nhà Nước.
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và làphạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính Thuật ngữ "Ngânsách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốcgia Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã
Trang 6đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và cáclĩnh vực nghiên cứu.
Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoảnthu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia
Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông quangày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chicủa Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyếtđịnh và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng vànhiệm vụ của nhà nước
1.2.2 Trái phiếu Chính Phủ.
Trái phiếu chính phủ, công trái hay công khố phiếu là trái phiếu được phát hànhbởi chính phủ một quốc gia Trái phiếu chính phủ có thể được phát hành bằngđồng tiền nước đó hoặc ngoại tệ
1.2.3 Vốn vay nước ngoài ODA.
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ OfficialDevelopment Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài Các khoản đầu
tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thờigian vay dài Mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh
tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Nguồn vốn này thường là cho Nhànước vay
Tổng số vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân trong 6 tháng đầu năm 2014 đạtkhoảng 2.800 triệu USD, cao hơn 22% so với cùng kỳ năm ngoái
Các dự án nguồn vốn ODA năm 2013: gồm 05 dự án
- Dự án WB3 (Hỗ trợ thủy lợi Việt Nam ): Với TMĐT là 3.550,19 tỷ đồng
Dự án đang trong giai đoạn hoàn thành để kết thúc dự án theo kế hoạch
Kế hoạch vốn năm 2013 là 6 tỷ đồng, đến tháng 11-2013 đã giải ngân100,4% KH) Dự án này đang trong giai đoạn quyết toán
- Dự án WB4 (Quản lý rủi ro thiên tai): với TMĐT là 1.413,8 tỷ đồng, kếhoạch năm 2013 là 55 triệu đồng Hiện nay đang trong giai đoạn quyếttoán (trong đó có hợp phần SCNC hồ Vực Mấu do Tổng cục quản lý)
- Dự án ADB5 (Tăng cường quản lý thủy lợi và Cải tạo các hệ thống thủynông): TMĐT là 3.224,54 tỷ đồng Kế hoạch vốn năm 2013 là 155 tỷđồng , đến tháng 11-2013 đã giải ngân đạt 60% KH năm)
Trang 7- Dự án RETA (Giảm thiểu lũ và hạn tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng):
Kế hoạch được giao năm 2013 là 46,5 tỷ đồng, đang trong giai đoạnchuẩn bị đấu thầu
- Dự án Nâng cấp HTTL Bắc Nghệ An (JICA2): Tổng mức đầu tư là 273,9triệu USD, trong đó KH năm 2013 là 37 tỷ đồng, đang trong giai đoạnchuẩn bị đấu thầu
1.3 Kinh nghiệm các nước và kinh nghiệm cho Việt Nam.
1.3.1 Kinh nghiệm của các nước.
- Trung Quốc.
Chính quyền các địa phương được chính quyền Trung ương phân cấp mạnh
và giao nhiệm vụ phải tìm nguồn tài chính để đầu tư phát triển kết cấu hạtầng Tại các địa phương, phát hành trái phiếu trong nước và vay vốn nướcngoài được xem là các nguồn cung cấp tài chính chủ yếu cho các dự án pháttriển kết cấu hạ tầng Để thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trongcác dự án đầu tư kết cấu hạ tầng, Trung Quốc đẩy mạnh áp dụng hình thứcđối tác công-tư (PPP) và hình thức này dần phát huy hiệu quả, trở thànhphương thức phổ biến được áp dụng trong các dự án đầu tư kết cấu hạ tầngcủa Trung Quốc hiện nay Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đa dạng hóa hìnhthức huy động nguồn tài chính từ các doanh nghiệp trong nước Ví dụ như,tại thành phố Đông Quản, thuộc tỉnh Quảng Đông, chính quyền địa phương
đã thành lập một công ty vận động tài chính từ các nguồn khác nhau để xâydựng đường và các nhà máy điện Các khoản vay được trả lãi theo định kỳ,phần vốn gốc sẽ được hoàn trả bằng nguồn thu phí của người sử dụng khicông trình được hoàn thành và đưa vào sử dụng
- Ấn Độ.
Chính phủ nước này đã xác định, vốn từ ngân sách nhà nước là không thể
đủ Trên cơ sở đó, Ấn Độ đã xây dựng hệ thống chính sách và môi trườngthuận lợi cho các dự án đầu tư theo hình thức PPP Từ đó, đã khuyến khíchthành phần tư nhân tham gia mạnh mẽ vào các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng.Năm 2006, Ấn Độ đã nhằm huy động tài chính từ nhiều nguồn khác nhau để
hỗ trợ vốn cho các dự án phát triển kết cấu hạ tầng Công ty này sẽ huy độngvốn trong và ngoài nước, sau đó cung cấp vốn cho các dự án một cách trựctiếp hoặc thông qua các ngân hàng và tổ chức tín dụng
- Một số nước khác, như: Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan
Trang 8Cũng xác định ngân sách không phải là nguồn cung cấp vốn chính cho pháttriển kết cấu hạ tầng Các nước này đã chủ động kêu gọi sự tham gia củathành phần tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài Trong hầu hết các dự án pháttriển kết cấu hạ tầng, vai trò của chính quyền hầu như chỉ là duy trì một môitrường đầu tư ổn định với hệ thống luật pháp thống nhất, ổn định và mứcthuế thấp Các doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài được khuyếnkhích khai thác tối đa các cơ hội kinh doanh có được Hình thức PPP cũngđược áp dụng với nhiều công cụ hỗ trợ đa dạng, như: trợ giá xây dựng, bảolãnh tín dụng, bảo lãnh doanh thu tối thiểu, trợ giá vận hành, thời hạn chuyểngiao dài
Như vậy, tại các nước trong khu vực, xu hướng chung là tìm kiếm sự tham giacủa khu vực kinh tế tư nhân để bổ sung vốn đầu tư kết cấu hạ tầng Nhà nướcchỉ thể hiện vai trò là chủ thể tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhất để giải phóngnguồn lực và thu hút sự tham gia của các thành phần, lực lượng khác trong xãhội
1.3.2 Kinh nghiệm của Việt Nam.
Từ nay đến năm 2020, mỗi năm Việt Nam cần từ 16-17 tỷ USD cho phát triểnkết cấu hạ tầng, trong khi khả năng đáp ứng theo cách truyền thống là từ ngânsách chỉ khoảng 50-60% Thực tế thời gian qua cho thấy, phần đóng góp củangân sách nhà nước và các ngân hàng thương mại trong tổng vốn đầu tư pháttriển kết cấu hạ tầng là khá nhỏ và xu hướng này khó có thể thay đổi trong thờigian tới Vì thế, việc huy động vốn bổ sung từ nguồn đầu tư tư nhân trong nước
là hết sức quan trọng, mà nguồn lực này hiện khá lớn
Đối với các nguồn vốn từ nước ngoài, cơ hội tiếp cận với các khoản vay ưu đãi
từ các nhà tài trợ đang bị giảm xuống khi Việt Nam trở thành quốc gia có thunhập trung bình Nếu chúng ta tiếp tục sử dụng nguồn vốn này, thì sẽ phải vayvới lãi suất cao, chi phí đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vì thế sẽ tăng cao hơn
và gây nguy hiểm cho nợ công Hơn nữa, do tình hình suy giảm kinh tế vànhững khó khăn về tài chính, nợ công thời gian tới khiến cho các quốc gia tàitrợ nhiều cho Việt Nam đều quyết định thu hẹp các khoản vay để tập trung hỗtrợ nền kinh tế của họ Do vậy, Việt Nam cần thay đổi chiến lược huy động vốnnước ngoài để phát triển kết cấu hạ tầng Thay vì tập trung vào các nhà tài trợnước ngoài, chúng ta nên hướng sự chú ý tới các nhà đầu tư tư nhân nước ngoài
và trong nước
Trang 9Chương 2: Thực trạng huy động vốn cho phát triển hệ thống thủy lợi tai
ĐBSCL.
2.1 Khái quát địa bàn ĐBSCL.
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Vùng bao gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh,Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp,Hậu Giang với tổng diện tích tự nhiên 39.734 km2 chiếm 12,2 % diện tích tựnhiên của cả nước
Bản đồ vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Vị trí địa lý
Nằm ở phần cuối của bán đảo Đông Dương, liền kề với vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam nên vùng có mối quan hệ hai chiều rất chặt chẽ vàquan trọng Nằm giáp với Campuchia và cùng chung sông Mê Kông làđiều kiện giao lưu hợp tác với các nước trên bán đảo Nằm ở vùng tậncùng Tây Nam của Tổ quốc có bờ biển dài 73,2 km và nhiều đảo, quầnđảo như Thổ Chu, Phú Quốc là vùng đặc quyền kinh tế giáp biển Đông vàvịnh Thái Lan
Trang 10Vùng nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải và hàng khôngquốc tế giữa Nam á và Đông Nam á cũng như với châu úc và các quầnđảo khác trong Thái Bình Dương Vị trí này rất quan trọng trong giao lưuquốc tế.
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
+ Địa hình:
Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ nhữngtrầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nướcbiển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo
bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành nhữngvạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồngcát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùngĐồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu vàbán đảo Cà Mau Địa hình của vùng tương đối bằng phẳng, độ cao trungbình là 3 - 5m, có khu vực chỉ cao 0,5 - 1m so với mặt nước biển
+ Khí hậu:
Nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt Nhiệt
độ trung bình hàng năm 24 – 27 0C, biên độ nhiệt trung bình năm 2 – 300C, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm thấp, ít có bão hoặc nhiễu loạn thờitiết Có hai mùa rõ rệt, mùa mưa tập trung từ tháng 5 - 10, lượng mưachiếm tới 99% tổng lượng mưa của cả năm Mùa khô từ tháng 12 đếntháng 4 năm sau, hầu như không có mưa Có thể nói các yếu tố khí hậucủa vùng thích hợp cho các sinh vật sinh trưởng và phát triển, là tiền đềcho việc thâm canh, tăng vụ
+Đất đai:
Diện tích đất trong vùng bao gồm các nhóm đất sau:
Đất phù sa, nhóm đất phèn, nhóm đất xám, ngoài ra còn có các nhóm đấtkhác như đất cát giông, than bùn, đất đỏ vàng, đất xói mòn… Nhìn chungđất đai ở đây rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thích hợp trồng lúa,dừa, mía, dứa, cây ăn quả
+ Tài nguyên nước:
Trang 11Với hệ thống hạ lưu sông Mê Kông ở Việt Nam là hai nhánh sông Tiền
và sông Hậu tổng lượng nước sông Cửu Long là 500 tỷ mét khối Trong
đó sông Tiền chiếm 79% và sông Hậu chiếm 21% Chế độ thuỷ văn thayđổi theo mùa Mùa mưa nước sông lớn vào tháng 9, tháng 10 làm ngậpcác vùng trũng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên Về mùa này,nước sông mang nhiều phù sa bồi đắp cho đồng bằng Về mùa khô, lượngnước giảm nhiều, làm cho thuỷ triều lấn sâu vào đồng bằng làm vùng đấtven biển bị nhiễm mặn nghiêm trọng
Chế độ nước ngầm khá phức tạp, phần lớn ở độ sâu 100 mét Nếu khaithác quá nhiều có thể làm nhiễm mặn trong vùng
+Tài nguyên biển:
Chiều dài bờ biển 732 km với nhiều cửa sông và vịnh.Trên biển có nhiềuđảo, quần đảo có tiềm năng kinh tế cao như đảo Thổ Chu, Phú Quốc.Ven
bờ là hệ thống rừng ngập mặn có giá trị về kinh tế và sinh thái với nhiềuloại động vật, thực vật
+Tài nguyên khoáng sản:
Trữ lượng khoáng sản không đáng kể Đá vôi phân bố ở Hà Tiên, KiênLương dạng núi vách đứng với trữ lượng 145 triệu tấn, than bùn ở UMinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, tứ giác Long Xuyên Ngoài ra còn cáckhoáng sản khác như đá, suối khoáng…
2.2 Thực trạng hệ thống thủy lợi tại ĐBSCL.
- Tưới tiêu, cấp nước:
Toàn ĐBSCL hiện có trên 15.000 km kênh trục và kênh cấp I, gần 27.000
km kênh cấp II, khoảng 50.000 kênh cấp III và nội đồng, 80 cống rộngtrên 5 m (lớn nhất là cống-đập Láng Thé 100 m và cống-đập Ba Lai 84m), trên 800 cống rộng 2-4 m và hàng vạn cống, bộng nhỏ, trên 1.000trạm bơm điện lớn và vừa, hàng vạn máy bơm nhỏ để chủ động tưới, tiêu
- Kiểm soát lũ:
Để kiểm soát lũ, hiện vùng ngập lũ ĐBSCL đã hình thành hệ thống đê và
bờ bao với tổng chiều dài khoảng 13.000 km, trong đó có 7.000 km bờbao chống lũ tháng 8 để bảo vệ lúa Hè-Thu Ngoài ra còn có hơn 200 km
đê bao giữ nước chống cháy cho các Vườn Quốc gia và rừng tràm sảnxuất tập trung
- Kiểm soát mặn và triều cường:
Trang 12Vùng ven biển ĐBSCL đã xây dựng 450 km đê biển, 1.290 km đê sông
và khoảng 7.000 km bờ bao ven các kênh rạch nội đồng để ngăn mặn,triều cường và sóng bão cho vùng ven biển
- Cấp nước sinh hoạt:
Hầu hết dần cư ở các thị trấn, thị xã, thành phố ở ĐBSCL hiện đều đượccấp nước sạch (tuy có lúc, có nơi chưa đủ về mặt số lượng) Trong khi đó,dân cư vùng nông thôn chỉ được cấp nước hợp vệ sinh với tỷ lệ khoảng40%
Thống kê công trình thủy lợi chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long:
L (km) Số lượn
g
L (km )
Số lượn g
L (km )
Số lượn g
L (km) Số lượn
g
L (km)
Trang 13nông nội đồng phát triển không đồng đều và cũng chưa có nơi nào thật sự hoànchỉnh,
Những hạn chế:
Vùng sông Vàm Cỏ có địa thế dạng lòng máng, là vùng trũng nhất của ĐTM.Gần 64% diện tích đất đai nằm dưới cao trình 1,0 m Trên 66% diện tích đấtphèn ĐTM tập trung ở đây nhưng việc thau chua, rửa phèn chưa được chú trọngnhiều Mùa lũ đến Vàm Cỏ Tây muộn, chua phèn từ trung tâm ĐTM chảyxuống, tiêu nước lại khó khăn do ảnh hưởng thuỷ triều Mùa kiệt cả 2 sông đềuthiếu nước (Vàm Cỏ Tây nhờ tiếp nước từ sông Tiền còn khoảng 15-25 m3/s,Vàm Cỏ Đông nhờ tiếp nước từ Dầu Tiếng có khoảng 20-25 m3/s) Do khaithác nước quá mức và dòng chảy kiệt xuống thấp trong những năm gần đây mặnxâm nhập mặn ngày càng sâu trên cả sông Tiền và sông Vàm Cỏ Những hạnchế này khiến sản xuất nông nghiệp và cấp thoát nước vùng TST còn khó khăn
và kém hiệu quả hơn so với những nơi khác
2.2.2 Vùng giữa sông Tiền-sông Hậu
Đây là vùng có điều kiện thiên nhiên khá thuận lợi, với nguồn nước dồi dàođược lấy trực tiếp từ cả 2 sông Tiền và Hậu, đất đai màu mỡ Hiện tại, vùnggiữa sông Tiền-sông Hậu (GSTSH) có hệ thống thủy lợi khá hoàn chỉnh, với 32kênh trục (chiều dài 1.039 km), 200 kênh cấp I (chiều dài 1.945 km), 1.072kênh cấp II (chiều dài 3.363 km) và 24.773 kênh cấp III/nội đồng (chiều dài21.853 km); 455 cống trung bình và lớn, 10.111 cống nhỏ và bọng; 494 trạmbơm điện quy mô vừa và nhỏ; 1.748 km bờ bao/đê bao kiểm soát lũ; 281 km đêsông-cửa sông và 133 km đê biển
Những hạn chế:
Vùng ảnh hưởng lũ tuy được đầu tư khá hoàn chỉnh nhưng chưa ổn định, quy
mô các vùng bao còn biến động, hệ thống cống điều tiết chưa đủ, chưa có quytrình vận hành hợp lý Vùng mặn tuy đã được đầu tư nhưng chưa khép kín nênnảy sinh một số vấn đề về môi trường cũng như hiệu quả công trình Tuyến đêbiển-cửa sông tuy đã hình thành nhưng còn thấp, yếu, cần tiếp tục nâng cấp,hoàn chỉnh Vấn đề kết hợp tuyến đê biển và giao thông ven biển còn hạn chế,đặc biệt các cầu qua sông đã và đang được ngành giao thông xây dựng trong khicác cống-đập ngăn mặn vẫn còn trong giai đoạn quy hoạch