Năm 1840, Libiccho xuất bản tài liệu “hoá học ứng dụng trong trồng trọt và sinh lý thực vật”.Trong đó ông nêu ra thực vật hấp thụ các chất dinh dưỡng khoáng từ đất.Libic xem đất không ph
TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
Nhằm nâng cao nhận thức về việc sử dụng và quản lý đất đai, các nghiên cứu về đất và đánh giá đất đã được thực hiện từ lâu, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên cho tương lai Những nỗ lực này bắt đầu từ từng quốc gia và đã được tổng kết bởi cộng đồng quốc tế, như FAO và UNESCO, coi đây là tài sản tri thức chung của nhân loại.
Kiến thức về đất đã được hình thành từ khi nghề nông ra đời, khi con người bắt đầu chuyển từ thu lượm thực vật hoang dại sang trồng trọt và canh tác Qua quá trình sản xuất, họ liên tục quan sát và ghi nhớ các đặc tính của đất Những hiểu biết này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và cùng với sự phát triển của khoa học, chúng được tổng hợp và nâng cao, tạo nên nền tảng cho khoa học thổ nhưỡng.
Kinh nghiệm đầu tiên về đất đã được tích lũy từ thời cổ đại Hy-lạp, với sự phân loại đất độc đáo được ghi nhận trong các tác phẩm của các triết gia như Aristos và Teoflast Họ đã phân chia đất thành các loại như đất tốt, đất phì nhiêu và đất cằn cỗi Tuy nhiên, thổ nhưỡng chỉ thực sự phát triển thành một khoa học hoàn chỉnh sau này.
Cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, Tây Âu đã chứng kiến sự hình thành hai quan điểm khác nhau về đất, đó là nông địa chất học và nông hoá học.
Người đại diện cho nông địa chất học, Fallu, cho rằng đất được hình thành từ đá xốp, có nguồn gốc từ đá chặt dưới tác động của các quá trình phong hóa đá.
Một số người phủ nhận vai trò tích cực của thực vật trong quá trình hình thành đất, cho rằng thực vật chỉ đóng vai trò thụ động trong việc hấp thụ các nguyên tố dinh dưỡng được giải phóng từ quá trình phong hoá.
Nông hóa học liên quan đến các công trình của Teer và Liebig, những người đại diện cho quan điểm xem đất chỉ là nguồn cung cấp nguyên tố cho cây Teer đã đề xuất giả thuyết dinh dưỡng thụ động từ chất hữu cơ trong đất, nhưng giả thuyết này nhanh chóng bị bác bỏ Năm 1840, Liebig xuất bản tài liệu “Hóa học ứng dụng trong trồng trọt và sinh lý thực vật”, trong đó ông khẳng định thực vật hấp thụ chất dinh dưỡng khoáng từ đất Ông cũng nhấn mạnh rằng đất không phải là một vật thể độc lập mà là kho dự trữ thức ăn cho cây, từ đó đưa ra “quy luật tối thiểu” về thức ăn vô cơ cho cây trồng.
Quy luật hoàn lại đề cập đến việc đất trả lại các hợp chất vô cơ mà cây đã hấp thụ Tuy nhiên, những quy luật này thường bỏ qua các yếu tố quan trọng trong việc hình thành độ phì nhiêu của đất.
Độ phì nhiêu của đất thường được hiểu chỉ là thành phần hóa học, với những giới hạn ảnh hưởng đến sự phát triển của nó Tuy nhiên, nhiều người đã công nhận "quy luật độ phì nhiêu giảm dần", điều này mở ra một cái nhìn tích cực về học thuyết liên quan đến sự phát triển bền vững của đất.
"Dinh dưỡng khoáng của thực vật" mà Libic đề ra đã được áp dụng rộng rãi trong nông nghiệp, dẫn đến sự gia tăng đáng kể năng suất cây trồng Đây là một đóng góp to lớn của Libic cho ngành nông nghiệp.
Cả hai trường phái nông địa chất và nông hoá học chưa xây dựng được cơ sở vững chắc cho sự phát triển của thổ nhưỡng thành một khoa học chính xác Họ chưa đưa ra khái niệm khoa học về sự hình thành đất, cho rằng đất không phải là một vật thể thiên nhiên độc lập, không có lịch sử riêng, và không trải qua quá trình phát sinh và phát triển.
V.V Đacutraev (1846-1903) là người sáng lập ra khoa học về đất, nêu ra những nguyên tắc khoa học về sự phát sinh và phát triển của đất Trước ông những nghiên cứu về đất không đặt trong mối liên hệ với những quy luật phát sinh và hình thành ra nó Theo ông, nghiên cứu như vậy không toàn diện và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến không tìm ra được những biện pháp tốt để nâng cao độ phì nhiêu của đất Ông khẳng định rõ ràng mối liên quan có tính chất quy luật giữa đất và các điều kiện của môi trường xung quanh Trong nhiều năm ông đã tiến hành nghiên cứu đất Secnozom Những kết quả nghiên cứu của ông được thể hiện ở trong công trình phân loại đất Secnozom ở Nga. Trong đó, ông đã nêu ra học thuyết hình thành đất Secnozom, mô tả tính chất của chúng, những số liệu phân tích đặc điểm hình thái, quy luật phân bố đất Secnozom và phương pháp nâng cao độ phì nhiêu của chúng Trên cơ sở nghiên cứu ấy, ông đã nêu ra cơ sở khoa học của việc hình thành đất trong điều kiện tự nhiên Ông cho rằng đất là một vật thể thiên nhiên, có lịch sử riêng Nó được hình thành do tác động của 5 yếu tố là: Đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Nghiên cứu đất không chỉ xét từng yếu tố, từng điều kiện riêng rẽ, mà phải xét chúng trong mối liên quan chặt chẽ với nhau. Ngoài ra ông còn nêu ra các vùng tự nhiên ảnh hưởng tới sự hình thành đất, sơ đồ phân loại đất của nửa phía bắc địa cầu, các phương pháp nghiên cứu đất và những biện pháp nâng cao độ phì nhiêu của đất Ông đã gắn chặt thổ nhưỡng lý thuyết với thực hành và đã nghiên cứu nguyên nhân làm cho khô hạn ở vùng đất thảo nguyên và đưa ra các biện pháp cải thiện chế độ nước ở vùng này để nâng cao độ phì nhiêu của đất (Dẫn theo Trần Công Tấu và cs (1986)) [8].
N.M Sibirxev (1860-1900) là người học trò gần gũi nhất, người kế tục và cộng tác của Đacutraev Sibirxev đã phát triển học thuyết hình thành đất của Đacutraev và học thuyết của Kostutrev coi đất là môi trường cho cây phát (Dẫn theo Trần Công Tấu và cs (1986)) [8].
Sibirxev tập trung vào các nghiên cứu về phân loại và lập bản đồ đất, phát triển phương pháp nghiên cứu đất, cũng như các biện pháp chống khô hạn và đánh giá chất lượng đất Ông nhấn mạnh rằng sự hình thành đất là kết quả của sự biến đổi đá dưới tác động tổng hợp của các yếu tố sinh vật và vi sinh vật.
P.A Kostutrev (1845-1890) là một trong những người đầu tiên sáng lập ra khoa học thổ nhưỡng Những công trình của ông đã đặt cơ sở khoa học cho thổ nhưỡng nông hoá Nghiên cứu đất và thực vật trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau ý nghĩa to lớn của đất đối với nông nghiệp đã cho phép ông đưa ra nhiều lý luận có giá trị về thổ nhưỡng và trồng trọt Ông đã xác định đất là lớp thổ bì trong đó có một khối lớn rễ thực vật phát triển và nhấn mạnh mối liên quan chặt chẽ của sự hình thành đất với hoạt động sống của thực vật Lần đầu tiên ông đã đưa ra khái niệm về sự hình thành mùn liên quan đến hoạt động sống của vi sinh vật Những công trình của ông về tốc độ phân giải xác thực vật phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm, tính chất lý học của đất và hợp chất cacbonnat canxi có ý nghĩa rất quan trọng Và ông đã chỉ ra vai trò to lớn của cấu trúc đất bền trong nước đối với độ phì nhiêu của đất Ông đã nêu lên sự liên hệ chặt chẽ giữa các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp với những tính chất cuả đất và nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi các biện pháp canh tác cho phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của từng vùng Trong công trình “đất của vùng Secnozom Nga” (1886) ông đã nêu ra các đặc điểm hình thành mùn trong đất và các biện pháp nâng cao độ phì nhiêu của đất Công lao lớn của ông là đã gắn chặt giữa thổ nhưỡng và trồng trọt Những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX liên quan với sự phát triển chung của khoa học tự nhiên và vật lý, hoá học và sinh vật học, trong thổ nhưỡng cũng hình thành các chuyên môn vật lý đất, hoá học đất và sinh học đất (Dẫn theo Trần Công Tấu và cs (1986)) [8].
Ở Việt Nam
Độ phì của đất là yếu tố quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của thực vật rừng và cây trồng Các loại thảm thực vật khác nhau có tác động khác nhau đến độ phì đất, do đó, việc duy trì và nâng cao độ phì đất là cần thiết để bảo vệ tài nguyên đất Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình (1970) về sự biến đổi tính chất và độ phì của đất trong các quá trình diễn thế, thoái hoá và phục hồi rừng ở Miền Bắc Việt Nam cho thấy rằng độ phì đất thay đổi đáng kể theo từng loại thảm thực vật, nhấn mạnh vai trò quan trọng của thảm thực vật trong việc duy trì độ phì đất.
Nghiên cứu đất rừng tại Việt Nam cho thấy mối quan hệ hữu cơ giữa đất và thảm thực vật rừng, với ảnh hưởng qua lại giữa chúng Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, Việt Nam sở hữu sự phong phú về thực vật Trước đây, rừng chiếm 3/4 diện tích đất nước, với hầu hết các loài thực vật nhiệt đới hiện diện Tuy nhiên, tình trạng tàn phá rừng đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng của nhiều loài thực vật, đặc biệt là các loài quý hiếm có giá trị kinh tế và dược liệu Dù vậy, thành phần và số lượng thực vật trên đất Việt Nam vẫn còn đa dạng.
Năm 1997, chương trình Môi trường Liên hợp quốc đã tiến hành đánh giá thoái hóa đất ở 17 quốc gia Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam, với hai mươi tiêu chí để xác định các kiểu thoái hóa và lập bản đồ khu vực Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào thoái hóa đất do con người gây ra, xem xét quy mô, tốc độ, nguyên nhân và tác động đến sức sản xuất của đất Kết quả cho thấy, bên cạnh xói mòn do nước, thoái hóa hóa học đất ở Việt Nam diễn ra nghiêm trọng hơn so với các nước trong khu vực Nhận thức được tình hình này, trong nhiều thập kỷ qua, lĩnh vực khoa học đất đã phát triển cơ sở khoa học và đề xuất nhiều giải pháp kỹ thuật nhằm khắc phục các vấn đề liên quan đến độ phì nhiêu, từ đó chuyển hóa độ phì nhiêu tiềm năng thành độ phì nhiêu hữu hiệu.
Sự phát triển nông lâm nghiệp gắn liền với việc quản lý và sử dụng đất hiệu quả, đặc biệt trong việc xác định ranh giới giữa đất rừng và đất nông nghiệp Tại các vùng đồi núi, ranh giới này thường không rõ ràng, vì không có loại đất nào chỉ phù hợp với một loại cây trồng duy nhất Đất rừng và rừng tương tác lẫn nhau, do đó, phương thức quản lý đất nông nghiệp và đất rừng tối ưu là áp dụng hệ canh tác nông lâm kết hợp, xen canh và luân canh Phương pháp này không chỉ giúp đa dạng hóa sản phẩm cho nông dân mà còn bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và cung cấp lượng phân xanh từ tàn dư cây trồng, góp phần duy trì và nâng cao độ phì nhiêu của đất.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Thanh và Lê Văn Cường (2015) tại Do Nhân, Tân Lạc, Hòa Bình cho thấy các đặc điểm đất dưới các trạng thái thảm thực vật khác nhau Độ xốp của đất dao động từ 49,62% ở trảng cỏ đến 60,44% ở rừng tự nhiên nghèo Tốc độ thấm nước của đất ở rừng nghèo đạt 9,5 mm/phút, cao hơn so với trảng cỏ (5,4 mm/phút) và rừng Luồng (7,5 mm/phút) Đất ở khu vực này chủ yếu thuộc loại chua mạnh với pHKCl từ 3,45 đến 3,94 Hàm lượng chất hữu cơ thấp nhất ở trảng cỏ (2,22%) và cao nhất ở rừng nghèo (4,08%) Tỷ lệ C/N tại trảng cỏ là 9,89, trong khi ở rừng nghèo là 7,13 Trữ lượng chất hữu cơ lớn nhất được ghi nhận ở rừng nghèo (48,29 tấn/ha) và nhỏ nhất ở trảng cỏ (16,05 tấn/ha) Các chỉ số đạm dễ tiêu, lân và kali dễ tiêu cũng cao nhất ở rừng nghèo, giảm dần ở các khu vực khác, thấp nhất là ở trảng cỏ.
Nguyễn Minh Thanh và Lê Văn Cường (2016) đã nghiên cứu tính chất lý hóa của đất tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, với 12 mẫu đất lấy từ 3 trạng thái rừng: giàu, trung bình và nghèo, ở độ sâu 0 - 40 cm Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc thực vật và đặc điểm đất giữa các trạng thái rừng, với độ xốp biến thiên từ 50,19% - 54,47% và đất có tính axit mạnh (pHKCl từ 3,24-4,19) Hàm lượng chất hữu cơ cao nhất ở rừng giàu (2,24%), tiếp theo là rừng trung bình (2,09%) và thấp nhất ở rừng nghèo (1,98%) Nghiên cứu tiếp theo của Nguyễn Minh Thanh và Lê Văn Cường (2017) tại Sóc Sơn cho thấy sau 5 năm, các trạng thái rừng trồng đã làm tăng đáng kể tính chất đất Cụ thể, ở trạng thái rừng Keo tai tượng, độ xốp và hàm lượng chất hữu cơ đều tăng, cùng với sự gia tăng của đạm, kali và lân, trong khi pH cũng có sự cải thiện Trạng thái rừng Keo tai tượng hỗn giao với Thông nhựa cũng ghi nhận sự tăng trưởng về hàm lượng chất hữu cơ và các chỉ số dinh dưỡng khác, mặc dù độ xốp vẫn giữ ở mức đất chặt.
Trạng thái rừng Thông nhựa cho thấy đất vẫn ở mức chặt với hàm lượng chất hữu cơ tăng 0,43%, đạm dễ tiêu tăng 0,08 mg/100 g, kali tăng 0,64 mg/100 g, lân tăng 0,95 mg/100 g và pH tăng 0,2 Nghiên cứu chỉ ra rằng đặc điểm của trạng thái rừng, lượng vật rơi rụng và lớp cây bụi thảm tươi có ảnh hưởng đến một số tính chất lý hóa học của đất.
Nghiên cứu đặc tính hóa học của đất dưới các trạng thái rừng khác nhau, bao gồm rừng tự nhiên, rừng nhân tạo và trảng cỏ, đã được nhiều chuyên gia trong và ngoài nước thực hiện một cách công phu Những công trình này cung cấp thông tin giá trị cho việc nghiên cứu đất rừng, giúp lựa chọn trạng thái che phủ tốt nhất trong quá trình sử dụng đất, từ đó nâng cao độ phì và tính bền vững của đất.
Cần chú trọng hơn đến nghiên cứu quản lý và bảo vệ rừng, cải thiện độ phì nhiêu của đất, nâng cao hiệu quả kinh tế cây trồng, đồng thời mang lại lợi ích cho người dân và môi trường Khóa luận "Xác định tính chất hóa học của đất dưới một số trạng thái rừng khác nhau tại Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, tỉnh Đồng Nai" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất, đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ của các Ban quản lý rừng phòng hộ.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tính chất hóa học của đất trong các trạng thái rừng khác nhau nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất tại Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Xác định được tính chất hóa học của đất dưới một số trạng thái rừng tại Ban quản lí rừng phòng hộ Tân Phú,Tỉnh Đồng Nai.
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Theo Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT, bài nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các tính chất hóa học của đất tại các trạng thái rừng giàu, trung bình và nghèo Nghiên cứu được thực hiện tại Phân trường 3 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
2.3.1 Đặc điểm cấu trúc rừng tại khu vực
2.3.2 Đặc điểm lớp cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng
2.3.3 Đặc điểm hình thái phẫu diện và một số tính chất hóa học đất dưới tán rừng
2.3.3.1 Đặc điểm hình thái phẫu diện đất
2.3.3.2 Đặc điểm một số tính chất hóa học đất dưới tán rừng
+ Trữ lượng Đạm trong đất (tấn/ha)
+ Trữ lượng chất hữu cơ trong đất (tấn/ha)
+ Đạm dễ tiêu (N, mg/100 g đất)
+ Phốt pho dễ tiêu (mg/100 g đất)
+ Kali dễ tiêu (mg/100 g đất)
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất tại khu vực nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
2.4.1.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Sử dụng phương pháp kế thừa chọn lọc các tài liệu có sẵn về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế, xã hội về khu nghiên cứu.
2.4.1.2 Phương pháp điều tra hiện trường a Lập ô tiêu chuẩn
Tiến hành lập 3 ô tiêu chuẩn/1 trạng thái ở các vị trí có độ dốc khác nhau Mỗi ô có diện tích 1000m 2 (30 × 33 m).
Phương pháp lập ô tiêu chuẩn bao gồm việc sử dụng bản đồ, máy định vị GPS, thước dây và địa bàn cầm tay để xác định vị trí ô tiêu chuẩn Ô tiêu chuẩn có hình chữ nhật, được thiết lập theo định lý Pytago với chiều dài 30 m song song với đường đồng mức và chiều rộng 33 m vuông góc với đường đồng mức Ngoài ra, phương pháp điều tra tầng cây cao cũng được áp dụng trong nghiên cứu này.
Trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành đo đếm các chỉ tiêu:
+ Đo đường kính ngang ngực (D1.3) bằng thước kẹp kính hoặc đo chu vi cây tại vị trí 1,3 m cho tất cả các các cây có đường kính ≥ 6 cm.
+ Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước đo cao Blumeiss của một số cây trong ÔTC theo tiêu chí 5 - 10 cây đo 1 cây, độ chính xác đến 0,1m.
Kết quả điều tra ghi theo mẫu bảng sau:
Bảng 2.1 Phiếu điều tra tầng cây cao
(m) D t (cm) Phẩm chất Ghi chú ĐT NB TB
Độ tàn che của tầng cây cao được xác định bằng phần mềm Gap Light Analysis Mobile App trên thiết bị di động, với mỗi ô tiêu chuẩn chứa 20 điểm và giá trị trung bình đại diện cho độ tàn che (OTC) Phương pháp điều tra bao gồm việc khảo sát cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng.
Trong mỗi ô tiêu chuẩn, thiết lập 5 ô dạng bản (ODB) tại 4 góc và 1 ô ở giữa với diện tích 25 m² mỗi ô Tiến hành điều tra các chỉ tiêu về cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng Để xác định trọng lượng vật rơi rụng tươi, sử dụng cân đĩa cho từng ô dạng bản, sau đó tính trung bình trọng lượng của tất cả các ô cho từng trạng thái.
Số liệu điều tra được ghi vào mẫu bảng 3.2:
Bảng 2.2 Phiếu điều tra cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng
Người điều tra: …… Tọa độ:………
ODBSTT Tên loài cây chủ yếu H tb (m) Độ che phủ(%)
(kg/OTC)Tươi Tươi (kg/ha)
Mỗi ô nghiên cứu có diện tích 1000 m² (30×33 m) sẽ được đào một phẫu diện điển hình với kích thước dài 1,5 m, rộng 0,8 m và sâu 1,25 m Việc mô tả hình thái phẫu diện đất sẽ được thực hiện theo mẫu hướng dẫn của bộ môn Lâm Sinh tại Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp.
- Lấy mẫu đất phân tích: Mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu hóa học được lấy ở độ sâu là 0 – 40 cm.
Để phân tích đất, cần lấy mẫu từ 9 vị trí khác nhau: 1 mẫu từ thành quan sát của phẫu diện chính và 8 mẫu còn lại từ 8 hướng khác nhau (Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam) cách phẫu diện chính từ 8 đến 10 mét.
+ Các mẫu phân tích được cho vào túi nilon riêng biệt có ghi ký hiệu mẫu để phân biệt rõ.
Mẫu đơn lẻ được thu thập với khối lượng bằng nhau và ở cùng một cấp độ sâu, mỗi mẫu đất tổng hợp có khối lượng 1 kg Do đó, số lượng mẫu cần phân tích sẽ được xác định dựa trên các tiêu chí này.
2.4.1.3 Phân tích trong phòng thí nghiệm
Các mẫu đất được phân tích tại phòng thí nghiệm Viện khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ, Tp Hồ Chí Minh cụ thể như sau:
+ pHH2O xác định bằng máy đo chuyên dụng Takemura Electric;
+ Chất hữu cơ (OM%) trong đất bằng phương pháp Walkley-Black; + Đạm tổng số (N%) trong đất bằng phương pháp Kjeldahl;
+ Lân tổng số (P2O5%) trong đất bằng phương pháp Lorentz;
Kali tổng số (K2O%) trong đất được xác định bằng phương pháp quang kế ngọn lửa Để tính trữ lượng Đạm trong đất (tấn/ha), sử dụng công thức: trữ lượng Đạm = 10.000 * Dung trọng * độ dày tầng đất * % đạm tổng số.
Trữ lượng chất hữu cơ trong đất được tính bằng công thức: trữ lượng chất hữu cơ = 10.000 * dung trọng * độ dày tầng đất * % chất hữu cơ Đạm dễ tiêu (N) được xác định theo tiêu chuẩn TCVN 5255:2009, trong khi phốt pho dễ tiêu được đo theo tiêu chuẩn TCVN 5626:2009 Kali dễ tiêu cũng được xác định dựa trên tiêu chuẩn TCVN 8662:2011.
Tất cả dữ liệu đã được xử lý bằng các phương pháp thống kê toán học trong lĩnh vực lâm nghiệp, sử dụng phần mềm Excel 2013 và SPSS Phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp được áp dụng để biên soạn báo cáo tổng hợp.
KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Đặc điểm tự nhiên
Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú thuộc địa bàn quản lý hành chính của hai xã: Gia canh, Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
+ Kinh độ : 107 0 20’ – 107 0 27’30’’ Kinh độ Đông
+ Vĩ độ : 11 0 2’32’’ – 11 0 10’ Vĩ độ Bắc
+ Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận (sông La Ngà)
+ Phía Tây giáp công ty Mía đường La Ngà, xã Phú Ngọc
+ Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận
+ Phía Bắc giáp xã Gia canh, thị trấn Định Quán - Đồng Nai
3.1.2 Địa hình Địa hình đặc trưng của vùng là địa hình núi thấp, có dạng đồi lượn sóng bị chia cắt bởi các khe, suối Độ dốc bình quân từ 5 - 12 o , cá biệt có một số khu vực có độ dốc lớn (20 - 25 o ) Địa hình khu vực dự án có độ chia cắt thấp nên rất thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động lâm sinh của dự án.
Nguồn gốc của Lâm phận BQL đến từ Bazan phún xuất, cùng với trầm tích của sa thạch và phiến thạch lượn sóng, kết hợp với bồi tụ của phù sa cổ Các nhóm đất chính trong khu vực này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ sinh thái và sự phát triển của môi trường xung quanh.
Nhóm đất xám chủ yếu phát sinh từ nền đá Granite và phù sa cổ, trong khi nhóm đất đen được hình thành từ đá Bazan với nhiều đá lẫn Đặc biệt, nhóm đất đỏ cũng có nguồn gốc từ đá Bazan.
+ Nhóm đất gley: hình thành trên nền phù sa cổ
+ Nhóm đất đá bọt: hình thành trên đá bọt núi lửa
Các diện tích đất trong lâm phận BQL thường nhanh chóng bão hòa nước vào mùa mưa và dễ khô kiệt trong mùa khô, dẫn đến tình trạng xói mòn và rửa trôi Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và giá trị kinh tế của hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, đồng thời làm tăng nguy cơ cháy rừng trong mùa khô.
Vùng Đông Nam Bộ có khí hậu đặc trưng với hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau.
Sau 4 năm, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.415 mm, với mức thấp nhất là 600 mm và cao nhất lên đến 2.500 mm Mưa chủ yếu tập trung từ tháng 6 đến tháng 8, trong khi mùa khô hầu như không có mưa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 27°C, với mức cao nhất vào tháng 3 và 4 là 38°C, và thấp nhất vào tháng 12 là 13°C Điều kiện khí hậu thuận lợi cho nông nghiệp và lâm nghiệp, nhưng mùa khô kéo dài có nguy cơ cao về cháy rừng, do đó, công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô là rất quan trọng.
Lâm phận BQL có nhiều khe, suối như Trà My, Cái Bè, Dar Kadna, Dar Rait, Dar Kaya, Da Keapria, Gianlai, La Canh, Dar Benaye, tạo ra sự chia cắt vào mùa mưa, gây khó khăn cho việc tuần tra và bảo vệ rừng Trong khi đó, vào mùa khô, hệ thống này lại không cung cấp nước, ảnh hưởng đến công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Lâm phận của BQL có nhiều Bàu Nước phân bố rải rác và khoảng 35 km sông La Ngà thường có nước vào mùa khô, giúp hỗ trợ cung cấp nước cho công tác chữa cháy rừng.
Khái quát đặc đặc điểm kinh tế - xã hội
- Tổng số hộ sử dụng đất trong lâm phận: 897 hộ Trong đó được thống kê như sau:
Theo thống kê, xã Gia Canh có 524 hộ với 2.253 nhân khẩu, xã Phú Ngọc có 131 hộ và 589 nhân khẩu Các địa phương khác trong và ngoài tỉnh ghi nhận 185 hộ với tổng cộng 894 nhân khẩu.
+ Thống kê số hộ theo dân tộc: Kinh 749 hộ, Hoa 44 hộ, Mạ 45 hộ, Khơ me 02 hộ.
Dân cư tại BQL chủ yếu là những người di cư từ nơi khác, với sự tập trung đông đảo tại Phân trường II và Phân trường VI Dự báo trong thời gian tới, số lượng cư dân tại đây sẽ có xu hướng tăng lên một cách tự nhiên.
Khu vực này chủ yếu có nhà cấp 4 hoặc nhà tạm với diện tích từ 50-200 m² cho mỗi hộ dân Đặc điểm dân cư rất đa dạng với nhiều thành phần dân tộc khác nhau, nghề nghiệp chủ yếu liên quan đến sản xuất nông – lâm nghiệp Sự phát triển này đã gây ra áp lực lớn lên công tác bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là nhu cầu về đất sản xuất, phương thức canh tác trên diện tích đất nhận khoán, cũng như khả năng thu hồi đất và tái trồng rừng.
Trình độ học vấn của người dân trong khu vực rất thấp, với 53,37% chưa hoàn thành cấp trung học cơ sở và chỉ 2,21% có trình độ cao đẳng, đại học Điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong việc tuyên truyền và triển khai các chính sách liên quan đến lâm nghiệp, cũng như công tác giao khoán bảo vệ rừng.
Hệ thống giao thông trong khu vực BQL bao gồm 9,5 km đường nhựa, 15 km đường đá cấp phối, 11 km đường đất lớn và khoảng 145 km đường đất nhỏ cùng đường mòn tuần tra BVR Tuy nhiên, ngoài tuyến đường nhựa, các tuyến đường còn lại đều bị hư hỏng nghiêm trọng, gây khó khăn lớn cho công tác tuần tra BVR và ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển du lịch sinh thái của đơn vị.
- Hệ thống lưới điện Quốc gia: Hiện tại chỉ có trụ sở BQL, Phân trường
Chỉ có các khu vực 2, 5 và 6 có điện, trong khi những điểm quan trọng như DLST Hồ nước sôi, DLST Thác Mai cùng với các phân trường 1, 3 và 4 vẫn thiếu điện lưới sinh hoạt Tình trạng này hạn chế khả năng khai thác và phát triển du lịch sinh thái (DLST), đồng thời gây khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) của các đơn vị.
Hiện trạng tài nguyên rừng
3.3.1 Hiện trạng rừng và tình hình sử dụng đất
Tổng diện tích đất do Ban Quản lý (BQL) quản lý hiện nay là 13.552,6 ha, giảm 305,6 ha so với số liệu kiểm kê rừng năm 2011 là 13.862,2 ha Sự giảm diện tích này chủ yếu là do diện tích đất rừng trồng đã được bàn giao cho xã Phú Ngọc và xã Gia Canh quản lý theo quyết định số 2895/QĐ-UBND ngày 23/09/2015 của UBND tỉnh Đồng Nai.
Tình hình sử dụng đất hiện tại cho thấy có tổng cộng 660 hộ trong diện giao khoán theo Nghị định 135 của Chính phủ, với diện tích 1.120,02 ha, trong đó đã thực hiện được 243 hộ trên 377,68 ha Bên cạnh đó, theo Nghị định 01 NĐ/CP, có 302 hộ nhận khoán công đoạn trồng và chăm sóc rừng phòng hộ, tương ứng với 499,11 ha, và đã thực hiện được 20 hộ trên 36,92 ha.
- Đã thực hiện cắm mốc ranh giới trong năm 2013 với 106 mốc trên chiều dài tuyến 74,26 km.
Tình trạng lấn chiếm rừng và đất rừng hiện nay vẫn diễn ra, đặc biệt ở những khu vực rừng trồng chưa khai thác và rừng tự nhiên giáp ranh với đất canh tác của người dân, tuy nhiên quy mô lấn chiếm còn nhỏ, khoảng vài chục mét vuông Đối với những diện tích rừng trồng trước đây có người dân sản xuất, khi rừng khép tán, hoạt động sản xuất ngừng lại, dẫn đến việc người dân lấn chiếm khi đơn vị tiến hành khai thác và tỉa thưa Hậu quả là QBL không thể tái trồng rừng, hoặc sau khi trồng rừng, người dân lại nhổ phá và thay thế bằng cây điều, xoài, chuối, dẫn đến tổng diện tích rừng bị lấn chiếm lên đến hơn 25,58 ha.
3.3.2 Hiện trạng diện tích các loại đất loại rừng
So với số liệu kiểm kê rừng năm 2011, tỉ lệ và diện tích các loại trạng thái rừng năm 2015 đã có sự thay đổi đáng kể Cụ thể, diện tích đất trống Ib và Ic giảm 16,4 ha, diện tích rừng phục hồi (IIa; IIb) giảm 1,4 ha, và diện tích rừng IIIA1 giảm 7,2 ha Ngược lại, diện tích rừng IIIA2 tăng 22,5 ha, trong khi tổng diện tích rừng tự nhiên cũng tăng 16,4 ha Những thay đổi này cho thấy sự phát triển và cải thiện chất lượng rừng tự nhiên trong khu vực quản lý.
Bảng 3.1 Hiện trạng diện tích rừng và đất lâm nghiệp
Trạng thái rừng trạngHiện KKR2011 (ha)
Diện tích đất lâm nghiệp 13.862,
B Đất trống QH cho LN 274,1 222,7 159,0 63,7 -51,4
3 Cây gỗ rải rác (Ic) 52,1 36,7 28,3 8,4 -15,4
Theo Thông tư 34/2009/TT-BNN và Quy phạm 6-84
Đặc điểm lâm học, trữ lượng các loại rừng
Rừng tự nhiên tại BQL chủ yếu là rừng bị tác động, với chỉ 20,95% diện tích là rừng có trữ lượng trung bình Phần lớn diện tích còn lại, chiếm 62,64%, là rừng non phục hồi IIA, IIB và rừng nghèo kiệt IIIA1.
+ Trạng thái rừng trung bình (IIIA2)
Diện tích rừng của BQL là 2.839,0 ha, chiếm 20,95% tổng diện tích tự nhiên Kết cấu rừng đa dạng với nhiều tầng và tán, chủ yếu gồm các loài cây như Bằng lăng, Bình linh, Trường, Cầy, Cám, Vàng nghệ, Trâm, Máu chó, Bã Trầu, Nhọ nồi, và Trắc, với độ tàn che từ 0,7 đến 0,8 Tầng cây tái sinh có sự hiện diện của các loài như Nhọ nồi, Sầm, Trường, Trâm, Cò ke, và Bằng lăng, với chiều cao trung bình từ 1 đến 2 m, phân bố rải rác trong khu vực.
Các trị số bình quân của lâm phận: Hvn = 17 m, D1.3 = 26,4 cm, N/ha= 433 - 550 cây/ha, M/ha = 140 - 195,2 m 3 , G = 25- 31,5 m 2 /ha.
Trạng thái rừng hiện tại đã đạt được mục tiêu phòng hộ, với một số diện tích có trữ lượng lớn có khả năng khai thác chọn Tuy nhiên, do chính sách đóng cửa rừng của Chính phủ và tỉnh Đồng Nai, cần tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng Khi có quyết định cho phép khai thác rừng tự nhiên, các diện tích này sẽ được đưa vào khai thác chọn.
+ Trạng thái rừng nghèo (IIIA1)
Diện tích rừng quản lý là 1.144,6 ha, chiếm 8,45% tổng diện tích tự nhiên Kết cấu rừng đã bị phá vỡ thành từng mảng lớn, với sự xuất hiện của nhiều dây leo và bụi rậm Tầng trên chỉ còn lại một số cây có phẩm chất kém, sâu bệnh hoặc giá trị thấp, trong khi tầng dưới có một số loài cây gỗ nhỏ như Thị, Cám, Cầy, Thẩu tấu và Sầm Độ tàn che của rừng dao động từ 0,3 đến 0,5 Cây tái sinh và tầng lớp kế cận phân bố không đều, với mật độ cây tái sinh từ 300 đến 870 cây/ha.
Các trị số bình quân của lâm phận: Hvn = 13,9 m, D1.3 = 20,4 cm,
N/ha = 255 - 295 cây/ha, M/ha = 40 - 82,6 m 3 , G = 18 – 22 m 2 /ha.
Trạng thái rừng hiện tại có khả năng tự phục hồi chậm, với giá trị phòng hộ, môi trường và kinh tế không cao Một số diện tích rừng thuộc các khoảnh khác nhau, tổng cộng khoảng 211,7 ha, có số lượng cây tái sinh ít và phân bố không đều (460 cây/ha) Nếu chỉ khoanh nuôi bảo vệ, quá trình phục hồi sẽ diễn ra rất chậm, dẫn đến hiệu quả phòng hộ và kinh tế thấp Những diện tích này nằm trong khu vực rừng phòng hộ xung yếu và có điều kiện tự nhiên xã hội thuận lợi Do đó, cần áp dụng biện pháp làm giàu rừng bằng cách trồng bổ sung các loài bản địa có giá trị, theo Quy phạm ngành 13 - 91.
Bên cạnh đó tại khu vực rừng sản xuất có diện tích 49,83 ha thuộc khoảnh 2; 3 và 6 TK 84 trạng thái rừng IIIA1 có trữ lượng cây có đường từ
Rừng có chiều cao cây từ 8 cm trở lên và số lượng cây tái sinh từ 1m trở lên nhưng phân bố không đều (40 m3/ha và 420 cây/ha) cần được cải tạo thành rừng trồng có giá trị kinh tế cao Việc chỉ khoanh nuôi bảo vệ hoặc áp dụng các biện pháp lâm sinh đơn giản sẽ không đủ để phục hồi rừng, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp hoặc không có Những khu rừng này có điều kiện tự nhiên thuận lợi và gần gũi với diện tích rừng trồng của hộ dân, do đó nguy cơ xâm lấn rất cao Cải tạo rừng sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh, giúp Ban Quản Lý tăng tỷ lệ tự chủ tài chính và giảm áp lực từ ngân sách.
Rừng non phục hồi (IIA, IIB) được đặc trưng bởi lớp cây tiên phong ưa sáng, phát triển nhanh và có cấu trúc gần như một tầng Những loài cây chính trong khu vực này bao gồm Bằng lăng, Bình Linh, Làu táu, Máu chó, Thành ngạnh, Cầy, Cám, Trâm, Cò ke, Vàng nghệ, và Song mã Độ tàn che của rừng đạt từ 0,7 đến 0,8, cho thấy mức độ phát triển và sức sống của hệ sinh thái này.
Các trị số bình quân của lâm phần bao gồm chiều cao trung bình (Hvn) từ 8 đến 13,8 m, đường kính trung bình (D1.3) từ 7 đến 19,4 cm, mật độ cây (N/ha) từ 300 đến 468 cây/ha, khối lượng gỗ (M/ha) từ 30 đến 88,1 m³, diện tích tán cây (G) từ 7 đến 15 m²/ha và số lượng cây tái sinh (Ntái sinh) từ 650 đến 1452 cây/ha Đa phần diện tích rừng trong trạng thái này đều có số lượng cây mục đích và cây tái sinh đủ để đảm bảo quá trình tự phục hồi, do đó, trong thời gian tới, chỉ cần tiếp tục quản lý và bảo vệ.
Có khoảng 286,08 ha rừng thuộc các khoảnh 3, 5, 7 và 8 tiểu khu 81; khoảnh 1, 2, 3 và 4 tiểu khu 80A; khoảnh 1 tiểu khu 82; khoảnh 9 tiểu khu 86; và khoảnh 2, 3, 6 tiểu khu 89 có số lượng cây tái sinh thấp (860 cây/ha) và phân bố không đều, dẫn đến quá trình phục hồi rừng chậm và hiệu quả kinh tế thấp nếu chỉ khoanh nuôi bảo vệ Những diện tích này nằm ở vị trí phòng hộ quan trọng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi, do đó có thể tiến hành làm giàu rừng bằng cách trồng bổ sung theo quy phạm ngành QP 13-91 Ngoài ra, 75,23 ha rừng IIA thuộc khoảnh 1 và 3 tiểu khu 83 có số lượng cây gỗ tái sinh đạt 673 cây/ha với trữ lượng cây gỗ từ 8 cm trở lên đạt 30-45 m3, nhưng nếu chỉ khoanh nuôi hoặc áp dụng biện pháp kỹ thuật đơn giản, rừng sẽ không phục hồi và hiệu quả kinh tế sẽ thấp hoặc không có Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, trong giai đoạn 2016 - 2020, cần cải tạo rừng thành rừng trồng có giá trị kinh tế cao theo TT 23/2013/TT-BNNPTNT để nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm áp lực từ ngân sách.
+ Trạng thái rừng hỗn giao gỗ + Le (IIIA1 + Le)
Kết cấu rừng hiện nay cho thấy tầng tán bị phá vỡ và nhiều tầng tán không rõ ràng Các cây gỗ lớn còn lại chủ yếu là các loài như Bằng lăng, Trâm, Cám, Cầy, Trường, Thị, nằm xen kẽ giữa các trảng le, tre, lồ ô Đáng chú ý, những cây gỗ này thường có phẩm chất kém, cong queo và bị sâu bệnh Mật độ cây tái sinh chỉ đạt từ 100 – 200 cây/ha, với các loài như Cò ke, Trường, Cám, Cầy, Bằng lăng, Bình linh xuất hiện rải rác trong khu vực.
Các trị số bình quân của lâm phần:
N/ha = 150 - 237 cây/ha, Mgỗ/ha = 30 - 50,1 m 3 , G = 7 – 9 m 2 /ha
Le: N = 2000 – 3500 cây/ha; D = 3 - 5 cm; Hvn = 3 - 6m
Lồ ô: N = 1000 – 1500 cây/ha; D = 3 - 5 cm; Hvn: 8 – 11m
Khả năng phục hồi của trạng thái rừng này diễn ra chậm, với sự phân bố của một số loài le và lồ ô Diện tích rừng thường nằm ở khu vực có địa hình phức tạp và độ dốc cao, khiến cho việc khai thác trở nên khó khăn Do đó, cần tiếp tục khoanh nuôi và bảo vệ rừng để duy trì hệ sinh thái.
+ Trạng thái rừng hỗn giao Le, tre + gỗ ( LIIb + Gỗ)
Trạng thái rừng chủ yếu tại khu vực này bao gồm le, tre và lồ ô, chiếm 70% diện tích với độ tàn che từ 0,5 đến 0,7 Xen lẫn trong các trảng le, tre và lồ ô là một số cây gỗ như Bằng lăng, Cầy, Cám, Trường, Bình linh, lành ngạnh, Gòn và Cò ke, tuy nhiên số lượng của chúng không đáng kể.
Các trị số bình quân của lâm phần:
Le: N = 4000 – 6000 cây/ha; D = 3 - 5 cm; Hvn = 3 - 6m
Tre: N = 1000 – 2000 cây/ha; D = 3 - 6 cm; Hvn = 8 – 12m
Lồ ô: N = 1000 – 1500 cây/ha; D = 3 - 5 cm; Hvn = 8 - 10m
Trạng thái rừng hiện tại có giá trị kinh tế thấp và thường nằm ở những khu vực địa hình phức tạp với độ dốc lớn, gây khó khăn trong việc khai thác và tác động Do đó, giải pháp trong thời gian tới là tiếp tục khoanh nuôi và bảo vệ rừng.
Ban QLRPH Tân Phú có tổng diện tích 1.611,5 ha, chủ yếu tập trung tại các tiểu khu 81A, 81, 83, 84, cùng với sự phân bố rải rác ở các tiểu khu khác Trong khu vực này, có hai loại rừng trồng chính được phát triển.
Diện tích 588,2 ha chiếm 4,34% tổng diện tích BQL quản lý, bao gồm các loài cây như: sao, dầu, tếch, keo…
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu lâm phận rừng trồng
- Rừng Tếch thuần loài 220 25,5 11,244 24,5 137,96 16-18 tuổi
- Rừng Keo thuần loài 3 tuổi 1460 10,8 13,424 12,1 94,4 Dự kiến M rừng 6 tuổi là 188,86 m3
Trong tổng diện tích rừng trồng gỗ, có 67,11 ha rừng sản xuất Tếch và Keo lai thuần loài tại các tiểu khu 81, 81B, 83 và 84 đã đạt tuổi thuần thục, sẵn sàng cho khai thác trắng và trồng mới bằng giống keo lai chất lượng cao Thêm vào đó, 125 ha rừng trồng Tếch xen lẫn Sao đen, Dầu dái và Tếch thuần loài, thuộc khoảnh 2, được xác định là rừng phòng hộ.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm cấu trúc rừng tại khu vực
Tổ thành rừng là tỷ lệ của một loài cây hoặc nhóm loài cây trong lâm phận, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc sinh thái của rừng Nó ảnh hưởng đến các yếu tố sinh thái và hình thái khác, đồng thời là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tính bền vững, ổn định và đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng Tổ thành rừng cũng tác động đến định hướng kinh doanh và lợi dụng rừng, phản ánh khả năng bảo vệ và duy trì cân bằng sinh thái Sự phức tạp của tổ thành rừng càng cao thì tính thống nhất, hoàn hảo, cân bằng và ổn định của rừng càng được nâng cao.
Hệ sinh thái rừng tự nhiên được coi là hoàn hảo và mang lại nhiều lợi ích, bao gồm sản xuất sinh khối hiệu quả, kiểm soát sâu bệnh, chống xói mòn đất, duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ môi trường sinh thái.
Nghiên cứu cấu trúc tổ thành rừng là bước khởi đầu quan trọng trong việc phân tích cấu trúc rừng, vì sự khác biệt trong cấu trúc tổ thành sẽ ảnh hưởng đến các đặc trưng của lâm phần Điều này dẫn đến sự khác nhau trong các biện pháp quản lý rừng cũng như giá trị kinh tế, chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái.
Cấu trúc tổ thành của cây có vai trò quan trọng trong kinh doanh rừng tự nhiên, quyết định hiệu quả sản xuất tương lai Các nhà kinh doanh cần hiểu rõ đặc trưng cấu trúc tổ thành của từng bộ phận tài nguyên rừng để áp dụng biện pháp tác động phù hợp, hướng đến trạng thái tổ thành tối ưu cho mục đích kinh doanh Hơn nữa, cấu trúc tổ thành còn ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng, vì mỗi loài cây có đặc điểm và tác dụng riêng Việc khai thác hợp lý sẽ tạo ra tổ thành phù hợp với mục đích bảo vệ Cuối cùng, công thức tổ thành phản ánh mối quan hệ giữa các loài cây trong quần xã thực vật và sự tương tác với điều kiện ngoại cảnh.
Kết quả điều tra trên 9 OTC, trên các lâm phần tại khu vực được tổng hợp ở bảng sau:
Bảng 4.1 Một số đặc điểm cấu trúc rừng tại khu vực
Trạng thái rừng OTC Độ tàn che
Tầng tán Công thức tổ thành theo IVI%
01 0,85 3 37,5Dsn + 14,5Dr + 9,3C + 6,3BLo + 6,0Tc + 6Bl
03 0,90 3 22,2Dsn + 10,2Lmln + 9,74Bli + 9Dn + 7,6Bl +
04 0,65 3 14Blo + 12,8C + 9,3Ca + 8,7Bl + 7,6Lm + 7Dsn
05 0,60 2 19,7Tvd + 14,6Blo + 12,1Bl + 11,2Dsn + 8,9So +
07 0,50 2 17,5Thn + 13,5Tr + 11,1Tc + 10Ck +6,4Blo +
09 0,55 2 20,7Blo + 13,6Tr +7,7Thn+ 7,6Bl + 50,48LK
Ghi chú về các loại dầu và cây cỏ bao gồm: Dr (Dầu con rái), Dsn (Dầu song nàng), Sđ (Sao đen), Sd (Săng đen), Se (Sến), Dl (Dầu lông), Tt (Thẩu tấu), Tc (Trường chua), C (Cầy), Ct (Còng tía), Ck (Cò ke), Ca (Cám), Ctl (Chiếc tam lang), Cl (Chiêu liêu), Bli (Bình linh), Blo (Bằng lăng ổi), Bl (Bời lời), Lm (Lòng mang), Lmln (Lòng mang lá nhỏ).
Dạ nâu; Tvd: Trâm vỏ đỏ; Thn: Thành Ngạnh; So: Săng ớt; Tr: Trâm; Tra: trắc;V: Vừng; LK: Các loài khác.
- Kết quả nghiên cứu cho thấy, rừng tự nhiên tại khu vực ở trạng thái giàu đến nghèo về trữ lượng, dao động từ 44,76 – 297,98 m 3 /ha, độ tàn che
Rừng 3 tầng hiện nay chủ yếu là rừng sau khai thác, đã phục hồi từ 20 - 30 năm với độ tàn che cao từ 0,65 - 0,9 và tỷ lệ phân bố các thế hệ là 1:3:5, trữ lượng bình quân đạt 116,58 – 297,98 m³/ha Trong khi đó, rừng 2 tầng chủ yếu ở giai đoạn trung niên, với tầng trên cao từ 11-21 m và tầng dưới cao từ 6-9 m, bao gồm các loài tái sinh ưa sáng và một số cây đã hồi phục như Dầu song nàng và Sao đen, trữ lượng bình quân từ 44,76 – 113,73 m³/ha.
Tầng cây cao tại khu vực có sự đa dạng loài phong phú, với số lượng loài biến động từ 17 đến 30 Trong đó, chỉ có 3 - 7 loài tham gia vào công thức tổ thành, trong khi 13 - 22 loài không tham gia chính Sến là loài có hệ số tổ thành cao nhất, đạt 50% ở OTC 2 Các loài chiếm ưu thế chính trong tầng cây cao bao gồm Sến, Dầu song nàng, Bằng lăng ổi, và Trâm vỏ đỏ Bên cạnh đó, một số loài cây mục đích như Cẩm liên, Trắc, Bời lời cũng như cây phi mục đích như Thành ngạnh, Cám, Chiết tam lang chiếm tỷ lệ đáng kể Khu vực còn có nhiều loài dây leo bám vào tầng cây cao.
Đặc điểm lớp cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng
Cây bụi thảm tươi đóng vai trò quan trọng trong quần xã thực vật, giúp hình thành tiểu khí hậu và bảo vệ đất Chúng không chỉ chống xói mòn mà còn cung cấp chất hữu cơ, tăng độ phì và độ xốp của đất Lượng vật rơi rụng từ thực vật chết tạo thành thảm mục rừng và mùn, là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho đất và hỗ trợ chu trình sinh địa hóa Đất có nhiều thảm mục và mùn trở nên phì nhiêu, có cấu trúc tốt, giúp giữ nước và khí hiệu quả Thảm mục rừng còn là môi trường sống lý tưởng cho động vật và vi sinh vật, đồng thời điều tiết nguồn nước, ngăn chặn dòng chảy, giảm bốc hơi, từ đó góp phần duy trì nguồn nước và chống xói mòn, lũ lụt.
Bảng 4.2 Đặc điểm cây bụi thảm tươi, lượng vật rơi rụng
(Số liệu trung bình của 3OTC/trạng thái)
Trạng thái rừng Loài cây bụi thảm tươi chủ yếu
Chiều cao trung bình (m) cheĐộ phủ (%) lượng vậtKhối rơi rụng (tấn/ha)
Giàu Nhãn chài, cỏ cương, dương xỉ, trang… 0,6 55 17,9
Nhãn chài, riềng rừng, trang, riềng rừng, dương xỉ… 0,7 67 14,2
Nghèo Cọc rào, trang, nhãn chài, riềng rừng 0,6 70 10,3
Kết quả từ bảng 4.2 cho thấy rằng trong trạng thái rừng giàu, cây bụi thảm tươi có chiều cao trung bình 0,6 m với độ che phủ 55% Ở rừng trung bình, chiều cao trung bình tăng lên 0,7 m và độ che phủ đạt 67% Trong khi đó, dưới tán rừng nghèo, cây bụi thảm tươi có chiều cao trung bình 0,6 m và độ che phủ là 70% Thành phần loài cây bụi thảm tươi rất phong phú, bao gồm các loài như lộc mại, dương xỉ và cỏ cương.
Thảm mục và vật rơi rụng tươi trong các trạng thái rừng có sự khác biệt rõ rệt, phụ thuộc vào tầng cây cao Cụ thể, rừng giàu có khối lượng thảm mục trung bình đạt 17,9 tấn/ha, tiếp theo là rừng trung bình với 14,2 tấn/ha, và cuối cùng là rừng nghèo chỉ đạt 10,3 tấn/ha.
Đặc điểm hình thái phẫu diện đất và một số tính chất hóa học đất dưới tán rừng
4.3.1 Đặc điểm hình thái phẫu diện đất
Hình thái phẫu diện đất phản ánh các tính chất bên trong của đất, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đặc điểm, lịch sử hình thành và sự phát triển của đất Nghiên cứu hình thái này còn cho phép suy đoán về ảnh hưởng của các yếu tố như thực vật, khí hậu và địa hình đối với quá trình hình thành đất.
Dưới đây là một số đặc điểm hình thái của 9 phẫu diện đất điển hình, đại diện cho đất trong khu vực nghiên cứu.
4.3.1.1 Hình thái phẫu diện đất dưới tán rừng giàu a Hình thái phẫu diện 01 (ô tiêu chuẩn 01)
Số hiệu phẫu diện RTN 01: Vị trí sườn giữa
- Trạng thái: Rừng tự nhiên giàu
- Loài ưu thế: Dầu song nàng, Dầu con rái,
- Độ che phủ lớp cây bụi thảm tươi: Lộc mại, Cỏ cương, Sâm cau, Tiểu sim, Nhãn chài… độ che phủ 60%, Chiều cao trung bình 0,65 m
- Nước ngầm: Không xác định
- Không có đá lộ đầu, không xói mòn bề mặt
115 cm Độ dốc: 5 0 ; Hướng dốc: Tây Bắc; độ cao tuyệt đối: 149 m, độ cao tương đối: 65m, đá mẹ: đá hoa cương (Granit).
Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
Tầng A nằm ở độ sâu từ 0 đến 26 cm, có màu nâu đen, độ ẩm cao, với mật độ rễ cây từ 10 đến 14 rễ/dm² Kết cấu của tầng này là viên hạt, tơi xốp, với thành phần cơ giới là cát pha, có xác mối và tỷ lệ đá lẫn ít, chỉ khoảng 5% Tầng A cũng có sự hiện diện của hang mối và chuyển lớp màu sắc rõ ràng Tầng Bk, từ 26 đến 68 cm, có màu nâu xám, vẫn giữ độ ẩm, với mật độ rễ cây từ 8 đến 10 rễ/dm² Kết cấu cũng là viên hạt, tơi xốp, nhưng thành phần cơ giới là thịt trung bình và tỷ lệ đá lẫn rất ít, chỉ khoảng 3%, cũng có hang mối.
Tầng BC có độ sâu từ 68 đến 115 cm, với màu nâu vàng và độ ẩm cao Kết cấu của tầng này là viên hạt, chặt, với thành phần cơ giới thịt trung bình Tỷ lệ đá lẫn trong tầng BC rất ít, chỉ khoảng 1%, và không có sự xuất hiện của hang động vật.
Tên đất: Đất Feralit nâu xám phát triển đá hoa cương, tầng đất dày b Hình thái phẫu diện 02 (ô tiêu chuẩn 02)
Số hiệu phẫu diện RTN 02: Vị trí sườn giữa
- Trạng thái: Rừng tự nhiên giàu
- Loài ưu thế: Sến, Cầy, Còng tía, Cám… độ tàn che 0,75
- Độ che phủ lớp cây bụi thảm tươi: Lộc mại, Cỏ cương, Sâm cau, Dương sỉ, Nhãn chài… độ che phủ 55%, Chiều cao trung bình 0,6 m
- Nước ngầm: Không xác định
- Không có đá lộ đầu, không xói mòn bề mặt
100 cm Độ dốc: 5 0 , hướng dốc: Tây Bắc, độ cao tuyệt đối: 140 m, độ cao tương đối: 58m, đá mẹ: đá hoa cương (Granit).
Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
+ Tầng A: Từ 0 – 25 cm, màu nâu đen, hơi ẩm, rễ cây từ
Trong một diện tích 10 - 14 rễ/dm², đất có kết cấu viên hạt tơi xốp và hơi ẩm, với thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha Đất còn chứa xác mối và lá cây hoai mục, tỷ lệ đá lẫn rất ít, chỉ khoảng 2 - 4% Ngoài ra, đất cũng có sự xuất hiện của hang mối.
Tầng Bk có độ dày từ 25 đến 61 cm, với màu nâu xám và độ ẩm cao Tầng này chứa nhiều rễ cây, khoảng 8 cái trên mỗi dm², có kết cấu viên hạt và tơi xốp Thành phần cơ giới của tầng này là thịt trung bình, với tỷ lệ đá lẫn chỉ khoảng 10%, đồng thời có sự xuất hiện của hang mối và giun Tầng Bk còn được phân chia thành 2 tầng chuyển lớp.
Tầng BC có độ sâu từ 61 đến 100 cm, có màu nâu vàng và độ ẩm cao Kết cấu của tầng này là viên hạt, chặt chẽ, với thành phần cơ giới thịt trung bình Tỷ lệ đá lẫn trong tầng BC đạt khoảng 15%, và không có sự hiện diện của hang động vật.
Tên đất: Đất Feralit nâu xám phát triển đá hoa cương, tầng đất trung bình c Hình thái phẫu diện 03 (ô tiêu chuẩn 03)
Số hiệu phẫu diện RTN 03: Vị trí sườn giữa
- Trạng thái: Rừng tự nhiên giàu
- Loài ưu thế: Dầu song nàng, Lòng mang lá nhỏ, độ tàn che 0,9
- Độ che phủ lớp cây bụi thảm tươi: Cỏ cương, Sâm cau, Dương sỉ, Nhãn chài… độ che phủ 55%, chiều cao trung bình 0,6 m
- Nước ngầm: Không xác định
- Không có đá lộ đầu, không xói mòn bề mặt
97 cm Độ dốc: 5 0 , hướng dốc: Đông Bắc, độ cao tuyệt đối: 169 m, độ cao tương đối: 67m, đá mẹ: đá hoa cương (Granit).
Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
+ Tầng A: Từ 0 – 24 cm, màu nâu đen, hơi ẩm, rễ cây từ
Rễ từ 8 đến 11 rễ trên mỗi dm², với kết cấu viên hạt tơi xốp và thành phần cơ giới là cát pha Đất có chứa phân giun, không lẫn tạp chất và tỷ lệ đá lẫn chỉ khoảng 5% Đặc biệt, đất có sự xuất hiện của hang mối và có sự chuyển lớp rõ ràng về màu sắc.
Tầng Bk có độ sâu từ 24 đến 59 cm, với màu nâu xám và độ ẩm cao Tại đây, mật độ rễ cây lên tới 10 cái/dm², kết cấu đất dạng viên hạt và tơi xốp Thành phần cơ giới chủ yếu là đất cát pha, với tỷ lệ đá lẫn trung bình khoảng 10% Tầng đất này cũng có sự xuất hiện của hang giun và được phân chia thành 2 tầng chuyển lớp.
Tầng BC có độ sâu từ 59 đến 97 cm, mang màu nâu vàng và độ ẩm cao Kết cấu của tầng này là viên hạt, chặt, với thành phần cơ giới thịt trung bình và không có chất lẫn vào Tỷ lệ đá lẫn trong tầng BC lên tới 35%, và không có sự hiện diện của hang động vật.
Tên đất: Đất Feralit nâu xám phát triển đá hoa cương, tầng đất trung bình
4.3.1.2 Hình thái phẫu diện đất dưới tán rừng trung bình a Hình thái phẫu diện 01 (ô tiêu chuẩn 04)
Số hiệu phẫu diện RTN 04: Vị trí sườn giữa
- Trạng thái: Rừng tự nhiên trung bình
- Loài ưu thế: Bằng lăng ổi, Cầy, Cám… độ tàn che 0,65
- Độ che phủ lớp cây bụi thảm tươi: Trang,
Sâm cau, Riềng rừng, Nhãn chài… độ che phủ
- Nước ngầm: Không xác định
- Không có đá lộ đầu, không xói mòn bề mặt
60 cm Độ dốc: 5 0 , hướng dốc: Tây Bắc, độ cao tuyệt đối: 149 m, độ cao tương đối: 59m, đá mẹ: đá hoa cương (Granit).
Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
+ Tầng A: Từ 0 – 17 cm, màu nâu đen, rễ cây trung bình là
Để đạt được điều kiện đất tối ưu cho cây trồng, cần có 15 rễ/dm2, đất hơi ẩm và tơi xốp với kết cấu viên hạt Thành phần cơ giới nên là cát pha, có bổ sung phân giun và tỷ lệ đá lẫn ít hơn 10% Đất cũng cần có tổ mối và chuyển lớp rõ ràng về màu sắc Tầng B1 của đất có độ sâu từ 17 đến 30 cm, với màu nâu vàng và rễ cây trung bình.
13 rễ/dm 2 , đất hơi ẩm, tơi xốp, kết cấu viên hạt, thành phần cơ giới thịt trung
B 2 bình, có phân giun, tổ mối, tỷ lệ đá lẫn nhiều trung bình 10 - 15% Chuyển lớp rõ ràng về màu sắc và tỷ lệ đá lẫn.
Tầng B2 có độ sâu từ 30 - 60 cm, với màu sắc nâu vàng và độ ẩm nhẹ Đất ở đây hơi chặt, có kết cấu viên hạt và thành phần cơ giới thịt trung bình Không có chất mới sinh, nhưng có sự xuất hiện của chất lẫn vào và hang động vật Tỷ lệ đá lẫn trong tầng này khá cao, khoảng 30 - 40%.
Tên đất: Đất Feralit nâu vàng phát triển đá hoa cương, tỷ lệ đá lẫn nhiều (10 - 40%), tầng đất trung bình b Hình thái phẫu diện 02 (ô tiêu chuẩn 05)
Số hiệu phẫu diện RTN 05: Vị trí sườn giữa
- Trạng thái: Rừng tự nhiên trung bình
- Loài ưu thế: Trâm vỏ đỏ, Bằng lăng ổi,
Bình linh độ tàn che 0,6
- Độ che phủ lớp cây bụi thảm tươi: Trang,
Sâm cau, Riềng rừng, Nhãn chài… độ che phủ
- Nước ngầm: Không xác định
- Không có đá lộ đầu, không xói mòn bề mặt
65 cm Độ dốc: 3 0 , hướng dốc: Đông Bắc, độ cao tuyệt đối: 145 m, độ cao tương đối: 47m, đá mẹ: đá hoa cương (Granit).
Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
Tầng A nằm ở độ sâu từ 0 đến 19 cm, có màu nâu đen và kết cấu viên hạt, tạo thành đất tơi xốp với độ ẩm nhẹ Tầng đất này chứa nhiều rễ cây, trung bình khoảng 12 rễ/dm², với thành phần cơ giới chủ yếu là đất cát pha và tỷ lệ đá lẫn chỉ 5% Đặc biệt, không có kết von và đất có sự hiện diện của phân giun cùng xác mối, đồng thời có sự chuyển lớp rõ ràng về màu sắc.
+ Tầng B1: Từ 19 – 30 cm, màu nâu vàng, hơi ẩm, rễ cây nhiều
Đất có cấu trúc hạt chặt, với 7 - 11 rễ trên mỗi dm², giàu dinh dưỡng nhờ vào phân giun và tổ mối Thành phần cơ giới của đất là cát pha, không có kết vón, với tỷ lệ đá lẫn ít hơn 10% Đặc biệt, đất này có hai tầng chuyển lớp rõ rệt.
Tầng B2 có độ sâu từ 30 đến 65 cm, với màu nâu vàng và độ ẩm cao Kết cấu của tầng này là viên hạt, chặt, có thành phần cơ giới thịt trung bình Tỷ lệ đá lẫn trong tầng B2 đạt khoảng 20%, không có kết von và không xuất hiện hang động vật.
Tên đất: Đất Feralit nâu vàng phát triển đá hoa cương, tầng đất trung bình
B 2 c Hình thái phẫu diện 03 (ô tiêu chuẩn 06)
Số hiệu phẫu diện RTN 06: Vị trí sườn giữa
- Trạng thái: Rừng tự nhiên trung bình
- Loài ưu thế: Cám, Dầu song nàng, Trường chua…độ tàn che 0,7
- Độ che phủ lớp cây bụi thảm tươi: Trang,
Sâm cau, Riềng rừng, Nhãn chài… độ che phủ
- Nước ngầm: Không xác định
- Không có đá lộ đầu, không xói mòn bề mặt
95 cm Độ dốc: 3 0 , hướng dốc: Tây Bắc, độ cao tuyệt đối: 144 m, độ cao tương đối: 47m, đá mẹ: đá hoa cương (Granit).
Các tầng phát sinh và đặc điểm của chúng:
Tầng A của đất có độ sâu từ 0 đến 20 cm, màu nâu đen với mật độ rễ cây trung bình từ 7 đến 13 rễ/dm² Đất ở đây hơi ẩm, tơi xốp, có kết cấu viên hạt và thành phần cơ giới thịt trung bình Ngoài ra, tầng đất này có tổ mối, chất mới sinh phân giun và không có chất lẫn vào, với tỷ lệ đá lẫn chỉ khoảng 10% Ranh giới giữa các lớp đất được chuyển đổi rõ rệt về màu sắc.
Kết luận
Từ các kết quả nghiên cứu trên, khóa luận rút ra một số kết luận sau:
1.1 Đặc điểm cấu trúc rừng tại khu vực
Tầng cây cao trong khu vực nghiên cứu thể hiện sự đa dạng với 17-30 loài cây có giá trị kinh tế trung bình Rừng tự nhiên tại đây có trữ lượng gỗ dao động từ 44,76 đến 297,98 m3/ha, với độ tàn che biến động từ 0,5 đến 0,9, cho thấy sự phong phú của hệ sinh thái.
2 – 3 Sự phong phú về loài có giá trị kinh tế của rừng ở khu vực là cần phải bảo vệ rừng bền vững một cách tốt nhất.
1.2 Đặc điểm lớp cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng
Lớp cây bụi thảm tươi trong khu vực nghiên cứu chủ yếu bao gồm các loài như Lộc mại, dương xỉ và cỏ cương Chiều cao trung bình của lớp cây này dao động từ 0,6 đến 0,7 mét, với độ che phủ đạt từ 55% đến 70%.
- Lượng vật rơi rụng có độ dày từ 0,5 - 1,5cm, tương ứng là từ 10,3 - 17,9 tấn/ha.
1.3 Đặc điểm hình thái phẫu diện và một số tính chất hóa học đất dưới tán rừng
- Đất tại khu vực nghiên cứa chủ yếu là đất Feralit nâu vàng và nâu xám phát triển trên đá hoa cương,tầng đất trung bình đến dày.
- Đất ở khu vực nghiên cứu có độ pH từ 5,24 – 5,50 thuộc loại đất chua ít.
Hàm lượng chất hữu cơ trong đất ở trạng thái rừng giàu cao nhất đạt 0,64, tiếp theo là rừng trung bình với 0,40, và thấp nhất là rừng nghèo với 0,32 Kết quả cho thấy đất có hàm lượng chất hữu cơ ở mức trung bình đến nghèo.
- Hàm lượng đạm tổng số ở khu vực nghiên cứu có giá trị từ 0,05 - 0,08% thuộc loại đất có hàm lượng đạm ở mức nghèo.
- Hàm lượng lân tổng số ở khu vực nghiên cứu có giá trị từ 0,03 - 0,13% thuộc loại đất có hàm lượng lân ở mức nghèo đến khá.
- Hàm lượng kali tổng số ở khu vực nghiên cứu có giá trị từ 0,05 - 0,14% thuộc loại đất có hàm lượng kali ở mức rất nghèo kali.
Trữ lượng chất hữu cơ trong đất dưới tán rừng thay đổi theo trạng thái rừng, với mức cao nhất ở rừng giàu đạt 15,05 tấn/ha, tiếp theo là rừng trung bình với 7,75 tấn/ha, và thấp nhất là rừng nghèo chỉ có 4,53 tấn/ha.
Trữ lượng đạm trong đất dưới tán rừng có sự khác biệt rõ rệt giữa các trạng thái thảm thực vật Cụ thể, rừng giàu có trữ lượng đạm cao nhất đạt 1,88 tấn/ha, tiếp theo là rừng trung bình với 1,16 tấn/ha, trong khi rừng nghèo chỉ có 0,71 tấn/ha.
- Hàm lượng đạm dễ tiêu ở khu vực nghiên cứu có giá trị từ 5,37 - 7,35mg/100g đất thuộc loại đất trung bình.
- Hàm lượng lân dễ tiêu ở khu vực nghiên cứu từ 1,13 - 2,50 mg/100g đất thuộc loại đất từ nghèo đến rất nghèo lân.
Hàm lượng kali dễ tiêu trong đất rừng thay đổi đáng kể, với đất rừng giàu đạt cao nhất 8,37 mg/100g, tiếp theo là đất rừng trung bình với 4,30 mg/100g, và đất rừng nghèo chỉ có 2,60 mg/100g Kết quả này cho thấy sự phân hóa rõ rệt về hàm lượng kali dễ tiêu trong đất từ mức nghèo đến mức giàu.
Tồn tại
Do điều kiện nghiên cứu, cũng như thời gian và kinh nghiệm nên khóa luận còn một số tồn tại như sau:
Khóa luận chưa tiến hành nghiên cứu các tầng đất sâu hơn và chưa phân tích được một số chỉ tiêu quan trọng như hàm lượng Ca 2+, Mg 2+ trao đổi, tổng bazơ, cũng như độ no bazơ.
- Đối tượng nghiên cứu được thực hiện ở khu vực hẹp nên những ảnh hưởng của các trạng thái rừng tới đất chỉ là những kết quả bước đầu.
Kiến nghị .57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu một số tính chất hóa học cơ bản của đất trong các trạng thái rừng tự nhiên khác nhau Do đó, cần thực hiện các nghiên cứu tiếp theo về các giải pháp kinh tế - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất theo hướng bền vững.
59 phục vụ cho mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, trong đó đất là một nhân tố cơ bản.
Nghiên cứu ảnh hưởng của trạng thái rừng tự nhiên đến đất là cần thiết để hiểu rõ các tính chất lý hóa học của đất trong các trạng thái rừng hiện có Điều này sẽ cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc đề xuất các định hướng cải thiện tính chất đất, từ đó nâng cao tính thuyết phục của các giải pháp đưa ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
1 Nguyễn Ngọc Bình (1970), Sự thay đổi tính chất đất và độ phì đất qua các quá trình diễn thế thái hóa và phục hồi của các thảm thực vật ở miền Bắc Việt Nam, Báo cáo khoa học viện nghiên cứu Lâm nghiệp, Hà Nội.
2 Nguyễn Ngọc Bình (1996), Giáo trình thực tập - phân tích đất, Đại học Lâm Nghiệp
3 Nguyễn Hữu Đạt (2002),Nghiên cứu đặc tính lý, hóa học cơ bản của đất dưới các trạng thái thực bì khác nhau tại khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, Huyện Kim Bôi, Tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm
Nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội
4 Hà Quang Khải, Đỗ Thanh Hóa, Đỗ Đình Sâm (2002), Giáo trình đất
Lâm nghiệp, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội.
5 Trần An Phong (1995), Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, Đề tài KT 02-09, Nhà xuất bản Nông
6 Ngô Đình Quế (1991), Nghiên cứu đất trồng rừng Thông ba lá (Pinus kesiya) và ảnh hưởng của rừng Thông ba lá đến độ phì đất ở vùng núi Lâm Đồng, Luận án phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Viện khoa học Lâm nghiệp
7 Lê Tâm (1996), Giáo trình thực tập - phân tích đất, Đại học Lâm nghiệp.
8 Trần Công Tấu - Ngô Văn phụ - Hoàng Văn Huây - Hoàng Văn Thế- Văn Huy Hải - Trần Khắc Hiệp (1986), Thổ nhưỡng học tập I và II, Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
9 Ngô Nhật Tiến, Nguyễn Xuân Quát (1967), Giáo trình đất, trường Đại học Lâm nghiệp xuất bản.