PHẦN CƠ SỞ NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾCâu 1: Tác động của CMT10 Nga đến QHQT.
Câu 2: Sự hình thành trật tự TG 2 cực Ianta và việc giải quyết vấn đề các nước phát xít bại trận
Câu 3: Qúa trình vận động đia- chính trị ở Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay
Câu 4: Chủ quyền và sức mạnh quốc gia
Câu 5: Lợi ích quốc gia trong QHQT
Câu 6: Mức độ cùng phụ thuộc giữa các quốc gia trong QHQT
Câu 7: Sự đa dạng hóa các chủ thể QHQT trong QHQT
Câu 8: Các mâu thuẫn cơ bản và mqh giữa các quốc gia trong thời đại ngày nay
Câu 9: Đường lối ,chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Câu 10: Mối quan hệ giữa quan hệ công chúng với báo chí Những điều cần lưu ý khi cung cấp thông tin cho báo chí
Câu 11: Những vấn đề toàn cầu cấp bách hiện nay
Câu 12: Vị trí và tác dụng của ngoại giao trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
Câu 13: Những đặc điểm cơ bản của hệ thống địa- chính trị TG qua các thời kì lịch sử.Câu 14: Sự vận động địa- chính trị Châu Âu từ năm 1945 đến nay
Câu 16 : Ảnh hưởng của đặc trưng loại hình báo chí đến sản phẩm báo chí đối ngoại Tổchức nội dung, hình thức sản phẩm báo chí đối ngoại thuộc các loại hình báo chí khác nhau.Câu 17: Hình ảnh, thương hiệu quốc gia Các phương thức chủ yếu để xây dựng hình ảnh, thương hiệu quốc gia
Trang 2Câu 1: Tác động của CMT10 Nga đến QHQT.
CMT10 Nga (1917) giành thắng lợi với sự ra đời của nước Nga Xô-viết ko chỉ có tác động mạnh mẽ đến tình hình trong nước mà nó còn tác động to lớn tới quan hệ quốc tế thời
- Nó mở ra các mối quan hệ quốc tế mới:
+ Quan hệ giữa nước Nga XHCN và các nước TBCN
Trước CMT10 Nga trên TG chỉ có một hình thái xã hội là TBCN bao trùm lên
cả các nước thuộc địa và phụ thuộc Sau thắng lợi của CMT10 Nga với việc đánh đổ chủ nghĩa tư bản ở một khâu quan trọng của nó là đế quốc Nga đã làm cho chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới Do vậy lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại Cách mạng tháng Mười Nga đã khẳng định sự thiết lập một nền chuyên chính vô sản - đó là Nhà nước dân chủ kiểu mới
CMT10 Nga thành công đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của GCCN các nước TBCN, một số nước đã thành lập đk các Xooviet theo kiểu Nga; ở nhiều nước đã thành lập được ĐCS
+ Quan hệ giữa Nga với các nước thuộc địa
Nước Nga Xô-viết công nhận chủ quyền của các nước thuộc địa và đã giúp giải phóng một loạt các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh
- Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, sự ra đời của Liên bang Xô Viết, những thành quả trong việc xây dựng trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa xã hội… ở Liên Xô đã tạo nên sức mạnh thời đại nhằm bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới, đẩy lùi và ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, thúc đẩy phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội
Kết luận: Dưới góc độ thời đại Cách mạng tháng Mười Nga đã mở đầu cho một thời đại mới- thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn TG, mở ra mối quan hệ QT mới Ngày nay, CNXH gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là từ sau khi hệ thống XHCN sụp đổ ở
LX và các nước Đông Âu, song tư tưởng của CMT10 Nga, của CNXH vẫn là mục tiêu của loài người tiến bộ
Trang 3Câu 2: Sự hình thành trật tự TG 2 cực Ianta và việc giải quyết vấn đề các nước phát xít bại trận
1 Sự hình thành trật tự TG 2 cực Ianta:
-Từ ngày 412/2/1945, Hội nghị Tam cường- LX, Mĩ, Anh đã họp ở Ianta (LX) Hnghị diễn ra gay go, quyết liệt, vì thực chất, nội dung hội nghị là cuộc đấu tranh giành và phân chia thành quả thắng lợi chiến tranh giữa các lực lượng tham chiến Cuối cùng Hnghị đã
đi đến những quyết định sau đây:
+ Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật, nhanh chóng kết thúc CT ở châu Âu, châu Á- Thái Bình Dương LX sẽ tham gia chiến tranh chống Nhật ở châu Á- TBD sau khi chiến tranh kết thúc ở châu Âu 3 tháng
+ Thành lập tổ chức Liên hợp quốc dựa trên nền tảng và nguyên tắc cơ bản là sự nhất trígiữa 5 cường quốc LX, Mĩ, Anh, Pháp và TQ, để giữ gìn hòa bình, an ninh và trật tự thế giới sau chiến tranh
+ Hnghị đã đi đến thỏa thuận việc đóng quân tại các nước chiến bại nhằm giải giáp quân đội phát xít và phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á
Ở châu Âu, quân đội LX sẽ chiếm miền Đông Đức, Đông Becslin và các nước Đông Âu
do Hồng quân LX giải phóng, còn quân đội Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng miền Tây Đức, tây beclin, Italia và một số nước Tây Âu khác Vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của LX,vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ, trong đó Áo, Phần lan trở thảnh 2 nước trunglập
Ở châu Á, hội nghị chấp nhận những điều kiện để đáp ứng việc Lx tham gia chiến tranh chống Nhật, bao gồm:
Bảo vệ nguyên trạng và công nhận nền độc lập của Mông Cổ
Trả lại LX những quyền lợi của đế quốc Nga ở Viễn Đông trước chiến tranh Nga- Nhật 1905
LX chiếm 4 đảo Curin, ngoài ra, 3 cường quốc cũng đã thỏa thuận để quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật Bản, quân đội LX chiếm đóng miền Bắc triều tiên và quân đội Mỹ chiếm đóng Nam Triều Tiên, lấy vĩ tuyến 30 độ làn ranh giới Nhật Bản thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ, các vùng còn lại ở châu Á vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước phương Tây
Những quyết định của HN cấp cao Ianta tháng 2-1945 đã trở thành những khuôn khổ của trật tự TG mới từng bước được thiết lập trong những năm 1945-1947 sau khi chiến tranh kết thúc, thường được gọi là “ trật tự 2 cực Ianta” ( 2 cực chỉ Mĩ và LX phân chia nhau phạm vi thế lực trên cơ sở thỏa thuận Ianta)
2 Việc giải quyết vấn đề các nước phát xít bại trận
Trang 4Sau chiến tranh, việc giải quyết vấn đề các nước phát xít chiến bại có 1 vị trí và ý nghĩa trọng yếu đối với việc thiết lập trật tự TG mới sau CT và giữ gìn hòa bình, an ninh của trật tự mới này.
Các nước phát xít chiến bại gồm: Đức, Nhật bản và Italia là những nước đã gây ra CTTG2 Các nước Bungari, Hunggari, Rumani, Phần Lan là những nước chư hầu của phát xítĐức
- Đức nằm ở giữa Châu Âu và là 1 quốc gia lớn, có tiềm lực mạnh mẽ về kinh tế và quân sự, lại là nơi phát sinh chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phát xít, đã từng gây ra cho nhânloại 2 cuộc chiến tranh TG đẫm máu, Đức trở thành vấn đề trung tâm của tình hình châu Âu sau khi chiến tranh kết thúc
3 cường quốc LX, Mĩ, Anh đã kí hiệp ước Pốtxđam về việc giải quyết vấn đề Đức, nội dung và tinh thần cơ bản là quy định những nguyên tắc và biện pháp nhằm dân chủ hóa và hòa bình hóa nước Đức (như tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa phát xít, xét
xử tội phạm chiến tranh, thực hiện các quyền tự do, dân chủ,…)
Ở Đông Đức, Liên Xô đã giúp đỡ các lực lượng dân chủ tiến hành những cải cách dân chủ, giải tán triệt để các lực lượng vũ trang và các tổ chức phát xít Ở Tây Đức, các nước Mĩ, Anh, Pháp đã dung túng, nuôi dưỡng lực lượng quân phiệt, phát xit dưới những hình thức cheđậy khác nhau Các công ty độc quyền được giải tán 1 cách giả tạo bằng cách phân chia nhỏ
ra, các cơ sở công nghiệp quân sự vẫn được duy trì nguyên vẹn Chính sách của M, A, P đã làm cho vấn đề Đức trở nên khó khăn, phức tạp
- Về vấn đề Nhật bản, Tuyên cáo Pốtxđam của các nước Đồng minh đã quy định những nguyên tắc trong việc giải quyết vấn đề NBản sau chiến tranh: chủ quyền của Nhật giới hạn trên đất Nhật chính thống; trừng trị các tội phạm chiến tranh, thủ tiêu lực lượng vũ trang Nhật; NBản chỉ đk phát triển công nghiệp hòa bình
Dưới sức ép của các lực lượng tiến bộ, Mĩ và các nước Đồng minh đã phải tổ chức Tòa
án Tokyo xét xử các tội phạm chiến tranh, thực hiện nhiều cải cách dân chủ
- Tháng 2/1947, hòa ước với 5 nước phát xít chiến bại Italia, Rumani, Bungari,
Hunggari và Phần Lan đã được kí kết gồm đại diên của 21 nước tham gia cuộc chiến tranh chống phát xít
Nội dung các hòa ước quy định lãnh thổ, biên giới của các nước chiến bại, quy định chế độ chính trị và các khoản bồi thường chiến tranh mà các nước chiến bại phải gánh chịu
do những tổn hại mà họ gây nên cho các nước Đồng minh Nhìn chung, nội dung các bản hòaước là thỏa đáng, đáp ứng đk lợi ích của nhân dân các nước chiến thắng và cũng ko quá khắt khe, nặng nề đối với nhân dân các nước chiến bại
Câu 3: Qúa trình vận động đia- chính trị ở Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay.
Trang 5I.Khái quát KV ĐNÁ:
- Nằm ở phía Đông Nam lục địa Châu Á với tổng S hơn 4,6 triệu km2, bao gồm 10 quốc gia
- Là khu vực có tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên khoáng sản phong phú
- Là khu vực cư trú của các dân tộc có nguồn gốc, tiếng nói, tôn giáo khác nhau
- Có vị trí chiến lược quan trọng: là cầu nối liền giữa Châu Á, Châu Đại Dương với Châu Âu và Châu Phi, rất thuận lợi cho việc khai thác, vận chuyển, đặc biệt là bằng đường biển
II Qúa trình vận động đia- chính trị ở Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc(1989) đồng nghĩa với việc xu thế đối đầu Đông- Tây
ko còn nữa, nhưng ĐNA vẫn là nơi các nước lớn trên TG luôn quan tâm, tìm cách để có mặt tại khu vực này nhằm duy trì, bảo vệ và thúc đẩy lợi ích của họ.ĐNA ngày càng chiếm 1 vị trí quan trọng trên bản đồ chính trị thế giới
- Khu vực dân cư khá lớn:
+ ĐNA có số dân gần 500 triệu người, lại là khu vực dân cư trẻ, năng động, nguồn nhânlực dồi dào Lực lượng lao động ở ĐNA tương đối ổn định, có khả năng thích ứng nhanh với công nghiệp hóa, giá nhân công ko cao
+ Dân số tăng nhanh cũng trở thành một vấn đề kinh tế- xã hội nghiêm trọng ở nhiều nước song cũng là yếu tố kích thích sản xuất Hiện nay trình độ học vấn ở nhiều nước ĐNA
đã đạt mức phát triển cao Những năm gần đây, các nước ĐNA cũng đã nhận thức đk sự cần thiết của việc tiếp nhận công nghệ kỹ thuật cao từ nước ngoài để công nghiệp hóa đất nước.+ Là một trong những khu vực giàu có của thế giới cả về tài nguyên thiên nhiên cũng như lao động, nhưng hàng trăm năm trước đây, ĐNA phải chịu số phận nghèo nàn, lạc hậu
do hậu quả của ách chiếm đóng thực dân Vài thập niên trở lại đây, đặc biệt từ năm 1995, vị trí và vai trò của ĐNA trên trường quốc tế đươc nâng lên rõ rệt Vị trí của các nước ĐNA trong nền KT, CT thế giới đã thay đổi hẳn và khu vực này bước vào thế kỷ XXI hứa hẹn trở thành 1 trung tâm buôn bán và phát triển của châu Á- TBD và thế giới
- Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF)
+Với mục đích để tất cả các quốc gia thành viên của ASEAN có điều kiện tham gia vào các lĩnh vực hợp tác mới về vấn đề an ninh, diễn đàn an ninh KV ASEAN (ARF) đã ra đời vào tháng 7-1993 Đây là diễn đàn đa phương nhằm thúc đẩy chính sách ngoại gioa phòng ngừa và xây dựng sự tin cậy giữa các quốc gia trong khu vực Châu Á- TBD ARF cố gắng tránh né những bất đồng với những nước lớn mà vẫn giữ đk tính độc lập, tự chủ của mình
Trang 6+ Trên thực tế, phạm vi ko gian hoạt động của ARF khá rộng lớn, không chỉ bó hẹp trong phạm vi khu vực Qua một số hội nghị, ARF đã tăng dần thành phần các nước tham gia
từ 18 nước lên 23 nước, trong đó bên cạnh các nước ASEAN còn co sự tham gia của các nước đối thoại: Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, Liên minh Châu Âu,…
+ Qua nhiều lần hội nghị ARF, ARF đã đạt đk những tiến bộ đáng kể, đóng góp vào sự
ổn định của khu vực
+ Bên cạnh đó, ĐNÁ đã chủ động tạo đk sự gắn kết giữa 2 lục địa Á và Âu thông qua hội nghị cấp cao Á-Âu (ASEM) được tổ chức vào tháng 3/1996 tại Băng kok và 3/1998 tại Luân Đôn Bên cạnh những nội dung chính được đề ra trong Hội nghị để thực hiện sự hợp tácbước đầu của 2 lục địa Á-âu, người ta thấy một vấn đề nổi lên hết sức quan trọng là chính quan hệ Á-âu đã trở thành một cạnh của hình tam giác quan hệ mang tính toàn cầu vốn còn
bỏ ngỏ
+ Hiện nay, ASEAN đang đẩy nhanh sự hợp tác trong nhiều lĩnh vực, với nhiều bên tham gia, là tổ chức khu vực thành công nhất trong tổng số 50 tổ chức KV hiện tồn tại trên
TG Như vậy, ĐNÁ là một khu vực chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh
- Những thuận lợi và khó khăn của ĐNÁ hiện nay:
Những thuận lợi:
a Về chính trị:
Xu thê khu vực hóa, quốc tế hóa tiếp tục phát triển Xu thế này đã xuất hiện từ lâu với sự ra đời của những công ty xuyên quốc gia, khối quân sự Bắc Đại Tây Dương
(NATO), Liên minh Châu Âu(EU) cũng như 1 số tổ chức khu vực khác Đặc biệt xu thế này
đã phát triển nhanh chóng ở KV ĐNÁ trong mấy thập niên trở lại đây
+ Sau chiến tranh lạnh, xu thế khu vực hóa, quốc tế hóa phát triển mạnh mẽ giữa các quốc gia có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa và lợi ích là để nhằm cạnh tranh với những thế lực khác: NATO, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
+ Một cuộc chạy đua và cạnh tranh đã, đang và sẽ diễn ra ngày càng quyết liệt về kinh
tế, chính trị giữa các nước, đặc biệt là các nước lớn Trong điều kiện đó, các nước ĐNÁ gồm
Trang 7những nước nhỏ và trung bình, kinh tế chưa phát triển cao, cần phải đoàn kết, phối hợp với nhau thì mới có thể có sức mạnh để cạnh tranh với các tổ chức và cường quốc khác
+ Xu thế khu vực hóa ở ĐNÁ phát triển còn do nhu cầu phát triển kinh tế của KV cũng như của các nước thành viên
+ Xu thế KV hóa ở ĐNÁ phát triển còn do những tương đồng về đặc điểm lịch sử, văn hóa,… Sự gần gũi về phong tục, tập quán, tín ngưỡng và đặc điểm văn hóa cũng giúp các nước dễ liên kết, hợp tác với nhau hơn Các quốc gia ở ĐNÁ đều có sự đa dạng về dân tộc, tôn giáo nhưng không có sự kỳ thị dân tộc cũng như ko có sự xung đột tôn giáo như ở 1 số nơi trên TG
Trên đây là những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi cho xu thế khu vực hóa ở ĐNá phát triển mạnh mẽ từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay
Xu thế đối thoại và hòa bình tiếp tục nổi trội hơn xu thế đối đầu và chiến tranh, chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng phương pháp hòa bình
+ Sau nhiều thập niên ĐNÁ bị chia thành 2 khối ASEAN và Đông Dương đối đầu căng thẳng, các nước ở dây đều mong muốn biến ĐNÁ thành KV hòa bình, hữu nghị và phát triển.Bởi so với các trung tâm KT, các cường quốc KTTG thì ĐNÁ trình độ kinh tế hãy còn thấp mà muốn phát triển kinh tế thì cần có môi trường hòa bình
+ Bên cạnh đó, ở khu vực ĐNÁ còn tồn tại những yếu tố rất phức tạp, nhạy cảm, tiềm
ẩn nguy cơ xung đột nếu như các bên liên quan không bình tĩnh tự kiềm chế Chỉ có môi trường hòa bình hữu nghị thì những vấn đề phức tạp này mới có cơ tháo gỡ
KL: Từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tuy nơi này, nơi khác còn diễn ra những cuộc xung đột về sắc tộc, lãnh thổ, tôn giáo, quyền lực, nhưng nhìn chung trên TG xu thế hòa bình lấn át xu thế chiến tranh, xu thế đối thoại nổi trội hơn xu thế đối đầu, đặc biệt ở KV ĐNÁ Trong điều kiện đó, các nước ĐNÁ có thể tận dụng môi trường hòa bình để tập trung phát triển KT
Đây là KV phát triển năng động nhất của nền KTTG
ĐNÁ là KV kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong 1 thời kỳ dài Điều đó cho thấy địa vị KT gia tăng của các nước ĐNÁ trong nền KTTG
Vị trí của ĐNÁ trong thương mại QT cũng tăng liên tục Tỷ trọng ĐNÁ trong xuất khẩu của TG tăng nhanh hơn nhập khẩu là kết quả của đường lối công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng 1 vai trò đặc biệt quan trọng đối với công nghiệp hóa và phát triển KT của ĐNÁ Sự phát triển KT nhanh chóng của ĐNÁ đi kèm với chính sách cởi mở hơn cho đầu tư nước ngoài
Các nước ĐNÁ đang thực hiện các biện pháp tự do hóa thị trường tài chính nhằm làm cho nền KT của mình hòa nhập với hệ thống KTTG
Trang 8KL: Với đà tăng trưởng nhanh và ổn định, các nước ĐNÁ có nhiều triển vọng về phát triển KT.
c Về văn hóa:
Các nước ĐNÁ có mối liên hệ văn hóa lâu đời và có nhiều nét tương đồng, gần gũi về phong tục tập quán và tín ngưỡng Mấy năm gần đây quan hệ văn hóa giữa các nước trong KV được đẩy mạnh trên các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, điện ảnh, trao đổi khoa học,
… Nó thật sự trở thành chiếc cầu hữu nghị làm cho nhân dân các nước hiểu nhau hơn
Bước sang thế kỷ XXI, trong bối cảnh hội nhập QT ngày càng sâu rộng, văn hóa các nước ĐNÁ có điều kiện giao lưu, tiếp xúc nhiều hơn với văn hóa bên ngoài Đây là dịp để văn hóa các nước ĐNÁ có thể tiếp thu những tinh hoa văn hóa nước ngoài làm giàu thêm nền văn hóa từng nước
d Về an ninh khu vực:
Chiến tranh lạnh kết thúc, sự sụp đổ của LX đã tạo ra những biến động về tương quan lực lượng chính trị-quân sự Chính vì vậy, ĐNÁ đã diễn ra quá trình bố trí, sắp xếp, tập hợp lực lượng giữa các thế lực chính trị trong vùng
Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, quân sự của TQ ảnh hưởng ngày càng lớn đến ĐNÁ Nhân tố NBản cũng đang thực sự tác động mạnh mẽ đến cục diện khu vực ĐnÁ
Đối với Mỹ, sự dính líu quân sự của Mỹ ở Biển Đông biểu hiện rõ hơn sau tuyên bố chung Nhật- Mỹ về an ninh tháng 4/1996, trong đó Mỹ khẳng định lại liên minh Nhật- Mỹ, nhắc lại cam kết của Mỹ đối với hòa bình và ổn định trong khu vực này Do đó, khi quan sát cục diện khu vực ĐNÁ có thể thấy rõ mối quan hệ Mỹ- Nhật- Trung Quốc đang hình thành thế cân bằng mới ở khu vực này
Ngoài ra, 1ĐNÁ thống nhất với thế và lực đang tăng lên, sức mạnh tổng hợp được nâng cao, đã thực sự trở thành 1 lực lượng chính trị tạo thế cân bằng trong tương quan lực lượng giữa các thế lực chính trị trong vùng
Những khó khăn:
a Về chính trị:
ĐNÁ bước vào thế kỷ XXI trong một thế giới chưa có nền hòa bình bền vững
và biến chuyển khó lường Trong khi đó, ĐNÁ cũng tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất
ổn định và an ninh của khu vực:
+ Vấn đề biển Đông nổi lên như là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm và khó giải quyết vì đây là một vùng có vị trí chiến lược quan trọng về KT, chính trị, quân sự Đây là vấn đề có nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định ở khu vực và có thể bùng nổ xung đột nếu như các bên liên quan không bình tĩnh, tự kiềm chế
+ Ngoài ra các vấn đề dân tộc, tôn giáo, sự khác biệt về thể chế chính trị, về lợi ích quốcgia, về trình độ phát triển của các nước ĐNÁ có thể bị các thế lực chống lại xu hướng phát
Trang 9triển lành mạnh của tổ chức ĐNÁ(ASEAN) lợi dụng, gây mất ổn định, làm rạn nứt tổ chức này.
b Về kinh tế:
Phải đối mặt với cuộc cạnh tranh KT ko cân sức với các trung tâm, các cường quốc kinh tế TG như: Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản,…Trong cuộc cạnh tranh này, ĐNÁ thua kém các trung tâm, các cường quốc kinh tế khác về nhiều mặt: trình độ phát triển KT, năng suất lao động, vốn, khoa học công nghệ,…
Sự phát triển không đồng đều về KT, chênh lệch về năng suất LĐ, mức sống,…cũng ảnh hưởng ko ít đến sự phát triển KT của khu vực ĐNÁ
Cuộc khủng hoảng tiền tệ ĐNÁ( diễn ra từ tháng 7/1997) là một cơn chấn động
có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển KT của ĐNÁ Cuộc khủng hoảng tiền tệ lần này buộc các nước ĐNÁ phải nhanh chóng điều chỉnh, cải cách thể chế tiền tệ và cơ cấu kinh tế, áp dụng các biện pháp tích cực để giải quyết vấn đề Song cuộc khủng hoảng tiền tệ vẫn chưa đến nỗi làm cho nền kinh tế ĐNÁ què quặt Bởi ĐNÁ đã có 1 số nhân tố có lợi cho phát triển KT như tỷ lệ dự trữ cao, khả năng trả nợ nước ngoài cao, nguồn LĐ dồi dào,…
Rút được bài học sâu sắc từ khủng hoảng tiền tệ, hiện nay các nước ĐNÁ đang quyết tâm điều chỉnh, cải cách để tiếp tục đạt được sự tăng trưởng kinh tế một cách mạnh mẽ
Vấn đề giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc trong quá trình ngày càng hội nhập sâu vào TG là 1 thách thức ko nhỏ đối với các nước ĐNÁ
Vấn đề bảo vệ môi trường, phòng chống các căn bệnh thời đại nhue SIDA, AIDS, ma túy, tội phạm cũng như hạn chế sự phân hóa giàu nghèo quá mức, gia tăng dân số quá nhanh cũng là những nhiệm vụ không dễ dàng của của các nước ĐNÁ
KL toàn bộ câu: Ngày nay, cả 10 nước ĐNÁ đã là thành viên ASEAN Các nước ĐNÁ đang phấn đấu để xây dựng một KV hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, một đối tác quan trọng trong KV Châu Á-TBD và trên TG Bên cạnh những thuận lợi, ĐNÁ còn gặp phải ko ít những trở ngại, những nhân tố gây mất ổn định, đòi hỏi mỗi nước ĐNÁ phải
Trang 10thường xuyên trao đổi, tiếp xúc, giải quyết mọi vấn đề trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đàm phán hòa bình.
Câu 4: Chủ quyền và sức mạnh quốc gia
1 Chủ quyền quốc gia:
- Chủ quyền quốc gia là khái niệm mang tính chính trị- pháp lý để xác định vị thế của 1quốc gia trong QHQT, nó thể hiện ở quyền tự quyết của quốc gia về chính sách đối nội và đốingoại, không phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài Chủ quyền quốc gia là thuộc tính ko thể tách rời của quốc gia
- Chủ quyền quốc gia thể hiện ở 2 nội dung:
+ CQQG biểu thị tính độc lập, tự quyết, tự khẳng định của 1 quốc gia đối với các chủ thể quốc gia khác CQQG là nền độc lập của 1 nước, một DT không chịu sự phụ thuộc vào quốc gia khác, là quyền tự quyết của 1 quốc gia ko bị chính quyền bên ngoài chi phối Quốc gia chỉ có nghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, các quy định của điều ước QT mà quốc gia ký kết hoặc tham gia, đồng thời tôn trọng các tập quán QT cũng như cácđiều ước QT do các quốc gia khác ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Luật QT.Trong QHQT, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia là 1 trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu và đk thể hiện trong các văn bản pháp lý QT, trong tôn chỉ, mục đích của LHQ và các tổ chức QT khác
+ CQQG thể hiện qua hoạt động tổ chức, quản lý của chính quyền trên các mặt của đời sống XH mà ko bị và ko thể bị chi phối, phụ thuộc vào sự can thiệp, hạn chế của chính quyềnbên ngoài CQQG là quyền tối cao của 1 đất nước, DT được thực hiện toàn bộ quyền của mình trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình
Nhà nước của quốc gia- tổ chức duy nhất của hệ thống chính trị đk coi là chủ thể của công pháp QT- thực hiện quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình Nhà nước thực hiệncác quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Mọi vấn đề về CT, KT, VH, XH của quốc gia phải do nhà nước quyết định, các quốc gia khác cũng như các tổ chức QT không có quyền can thiệp vào; mọi tổ chức , cá nhân cư trú trên lãnh thổ quốc gia phải tuân thủ pháp luật của quốc gia
Hai nội dung của CQQG gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại đối với nhau Nếu
ko có quyền lực tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình, thì quốc gia ko thể độc lập trong QHQT và ngược lại những QHQT trong lĩnh vực chính trị và KT càng làm cho Nhà nước có
Trang 11vai trò nổi bật hơn trong các quan hệ đối nội, giúp nhà nước củng cố và phát triển các mqh
đó trong 1 thể thống nhất
Hiện nay TG chuyển biến theo hướng hòa bình và hội nhập QT trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, mqh giữa các quốc gia ngày càng phong phú và đa dạng, sự phụ thuộc giữa các quốc gia về các mặt ngày càng tăng Tuy vậy, nội dung CQQG vẫn ko thay đổi, bản thân CQQG ko mất đi, các quốc gia vẫn là những thực thể độc lập, có chủ quyền Quốc gia vẫn thực hiện quyền lực tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình và độc lập với các quốc gia kháctrên cơ sở bình đẳng trong các mqh tùy thuộc lẫn nhau
2 Sức mạnh quốc gia
Trong quan hệ chính trị QT, sức mạnh quốc gia được xem xét qua khả năng ảnh hưởng
ra bên ngoài của quốc gia và được so sánh trong sự tương quan với sức mạnh của các quốc gia khác trong khu vực và trên trường QT Sức mạnh quốc gia khác với quyền lực quốc gia Nếu như quyền lực là khả năng chi phối, kiểm soát, ảnh hưởng tới tư duy và hành động của chủ thể khác thì sức mạnh được hiểu là khả năng và công cụ để thực hiện lợi ích quốc
gia.SMQG ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chính sách và thực hiên CSĐN của quốc gia, đến khả năng tác động tới xu hướng phát triển tình hình KV và quốc tế của quốc gia đó
Có 6 yếu tố cơ ản cấu thành SMQG:
+ Vị trí địa lý, điều kiện địa hình của quốc gia có liên quan mật thiết đến khả năng phát triển kinh tế và phòng thủ của quốc gia Tuy nhiên, có lợi cho phòng thủ thì thường lại bất lợicho phát triển, giao lưu KT
+Tài nguyên thiên nhiên luôn là cơ sở cho phát triển kinh tế của 1 quốc gia Tuy nhiên, TNTN có đem lại sức mạnh hay ko còn phụ thuộc vào khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên, vào trình độ kỹ thuật, cơ cấu nền KT
Ngày nay với sự phat triển của KHKT, tầm quan trọng của nhân tố địa lý ko còn mạnh
mẽ như trước nữa, tuy nhiên địa lý vẫn là nhân tố quan trọng trong mọi hoạt động của CSĐN
Trang 12Nằm ở vị trí địa- chính trị quan trọng có thể làm tăng sức mạnh quốc gia, tăng sự lựa chọn trong hoạt động đối ngoại của quốc gia.
Ngoài ra, con người của mỗi quốc gia cũng là sản phẩm của ĐKTN của quốc gia đó và
họ mang dấu ấn rõ nét những yếu tố tự nhiên Khi xem xét các yếu tố cấu thành SMQG, ko thể ko xem xét đến yếu tố con người
+ Tốc độ tăng DS cũng là vấn đề nan giải ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, ở đây có 2 xu hướng trái ngược nhau ở các nước phát triển và các nước chậm phát triển
Các nước phát triển đang đối mặt trước thực trạng dân số tăng quá chậm, ko đáp ứng với yêu cầu KT-XH Điều này dẫn đến khuynh hướng kéo dài tuổi lao động và nhu cầu nhập
cư do thiếu lao động Tuy nhiên lao động nhập cư ko chỉ là vấn đề dân số mà còn là vấn đề của KT và CT
Đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển, vấn đề nan giải hàng đầu hiện nay
là sự gia tăng, bùng nổ DS Sự bùng nổ DS đã dẫn đến những khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách ở các khía cạnh như DS và vấn đề lương thực, mức sống, tiêu chuẩn sống,
DS và vấn đề việc làm, DS và các vấn đề y tế, giáo dục,… Những vấn đề trên ko còn dừng lại là vấn đề trong nước mà trở thành vấn đề của chính trị QT
- Truyền thống và tập quán là những yếu tố góp phần xây dựng SMQG
Truyền thống là những thói quen trong đời sống cùng những nếp suy nghĩ, tư duy về các hành vi, ứng xử trong sản xuất và trong giao tiếp được hình thành lâu đời trong cộng đồng người, gắn với những môi trường tự nhiên và xã hội nhất định
Tập quán cũng là những thói quen định hình ở hành vi của con người trong tín ngưỡng, trong quá trình hoạt động sản xuất với các quan hệ xã hội
Những truyền thống tốt đẹp của DT, của từng thành viên, những tập quán phù hợp với
xu thế phát triển tiến bộ XH cần đk khuyến khích phát triển và trở thành một trong những động lực đối với các quyết sách chinh trị của quốc gia
- Sức mạnh quân sự:
Trang 13+ SMQS thể hiện trước hết ở khả năng phòng thủ bảo vệ lãnh thổ và công dân, bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia chống các lực lượng phá hoại từ bên ngoài và bên trong có bên ngoài hỗ trợ.
+SMQS với nhiều nước lớn còn thể hiện ở hiệu quả các hoạt động quân sự ở bên ngoài, khả năng phát huy ảnh hưởng quân sự trong các QHQT
+ SMQS còn thể hiện qua việc sản xuất, mua sắm vũ khí hiện đại, qua khả năng sử dụng vũ khí hiện đại, ở kinh nghiệm chiến đấu, tổ chức quân đội, qua tinh thần chiến đấu của binh lính
+ SMQS cần đk xem xét trong tổng thể với các yếu tố sức mạnh về vật chất và tinh thầnkhác như: KT-XH, tinh thần yêu nước,…
- Sức mạnh KT
SMKT thể hiện ở tổng sản phẩm kinh tế quốc dân (GDP), ở tỷ trọng ngoại thương, tỷ trọng đầu tư trong khu vưc và quốc tế, ở khả năng sử dụng công nghệ trong sản xuất, ở hạ tần
cơ sở,…
SMKT là cơ sở chủ yếu cho SMQG nói chung
SMKT trước hết phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Chính sách, cơ cấu KT: tỷ trọng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, tỷ trọng và giá trịngoại thương trong nền KT
+Tương quan so với mức tăng dân số: dân số tăng quá nhanh trong khi nền kinh tế tăng
ko kịp sẽ làm giảm sức mạnh của nền KT nói chung
+ Khả năng hội nhập kinh tế QT: vào vị trí, vai trò của nền KT trong hệ thống nền KTQT
+ Khả năng giải quyết các xung đột kinh tế QT: khả năng hạn chế các thiệt hại và giữ vững vị trí của mình trong các tình huống xung đột QT Một trong những thước đo của khả năng này là lượng dự trữ vàng, ngoại tệ của quốc gia
- Khả năng của giới lãnh đạo
SMQG phụ thuộc rất lớn vào khả năng của giới lãnh đạo được thể hiện qua việc nhận thức đúng đắn tình hình KV và TG, qua khả năng hoạch định và tổ chức thực hiện chính sáchphù hợp, qua khả năng tập hợp lực lượng trong nước và QT để thực hiện các mục tiêu đề ra
Câu 5: Lợi ích quốc gia trong QHQT
Các quốc gia khi tham gia vào đời sống chính trị QT đều đặt lợi ích quốc gia lên trên hết và đều hướng tới việc bảo vệ, phát triển lợi ích quốc gia của mình Quan hệ chính trị QT còn đk coi là lĩnh vực tranh chấp, xung đột, hòa giải, hợp tác lợi ích giữa các quốc gia
Trong quan hệ chính trị QT, bên cạnh lợi ích quốc gia còn nhiều nhóm lợi ích khác như lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích nhân loại Lợi ích của các nhóm này đều đk xem xét,
Trang 14nhìn nhận dưới góc độ bảo vệ, phát triển lợi ích quốc gia và đk thúc đẩy phát triển khi nó hài hòa với lợi ích quốc gia.
Lợi ích quốc gia là điểm cơ bản trong vạch định chiến lược phát triển, hoạch định và thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của mỗi quốc gia, là những mục tiêu, biện pháp mà 1 quốc gia theo đuổi thực hiện ở trong nước cũng như trong QHQT Việc xác định lợi ích quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có yếu tố chủ quan, có yếu tố khách quan,có yếu tố trong nước, có yếu tố ngoài nước, có yếu tố liên quan đến QCND, có yếu tố liên quan đến khả năngcủa giới lãnh đạo… Phân tích các yếu tố tác động, ảnh hưởng đó là 1 phần hết sức cơ bản trong việc xác định lợi ích quốc gia
Lợi ích quốc gia trong quan hệ chính trị QT được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống CT- XH, nhưng lợi ích được ưu tiên, lợi ích cơ bản, lâu dài và bất biến là củng cố, bảo vệ và phát triển an ninh, chủ quyền quốc gia
Để thảo mãn nhu cầu gìn giữ và phát triển lợi ích quốc gia của mình, các nước trên TG đều có 2 xu hướng lớn:
- Xu hướng tăng cường tiềm lực quốc phòng thông qua việc củng cố, hiện đại hóa quân đội, tăng cường về quy mô và sự tinh nhuệ của quân đội, mua sắm trang thiết bị hiện đại,… Điều này phụ thuộc rất lớn vào khả năng kinh tế, tài chính các nguồn lực khác của quốc gia
Để một phần giải quyết những khó khăn đó, các quốc gia, nhất là những quốc gia nhỏ và nghèo thường có xu hướng hợp tác quân sự hoặc ở mức độ cao hơn là liên minh quân sự với nhau và với các quốc gia có tiềm lực quân sự lớn hơn, tạo thành 1 thế cân bằng lực lượng tương đối
- Xu hướng phát triển kinh tế, lấy kinh tế làm lĩnh vực trung tâm trong QHQT Nhìn nhận dưới góc độ QHCTQT, vai trò của kinh tế rất lớn, vừa là yếu tố cấu thành sức mạnh, quyền lực, đảm bảo cho an ninh, chủ quyền quốc gia, vừa là yếu tố của sự thịnh vượng, giàu mạnh và là lĩnh vực hợp tác giữa các nước
Đối với hầu hết các quốc gia trên TG, cả 2 xu hướng trên đều là những xu hướng ưu tiên thực hiện nhằm mục tiêu bảo vệ, thỏa mãn và phát triển lợi ích quốc gia trong QHCTQT
Câu 6: Mức độ cùng phụ thuộc giữa các quốc gia trong QHQT
Mức độ cùng phụ thuộc giữa các quốc gia trong QHQT ngày càng gia tăng Đây là sự vận động mang tính quy luật trong QHCTQT hiện nay
- Trước hết, sự cùng phụ thuộc được biểu hiện qua sự cùng chung số phận giữa tất cả mọi nguoi hiện nay trên TG Các nhà khoa học thuộc các trường phái nghiên cứu QHCTQT khác nhau đều có quan điểm thống nhất rằng, trong kỷ nguyên hạt nhân ko có chỗ đứng riêng
Trang 15cho các quốc gia, ngay cả các quốc gia rất hùng mạnh về quân sự Tất cả các quốc gia, các nhóm, các cá nhân trong kỷ nguyên hạt nhân đều chung 1 số phận: đều bị hủy diệt khi có chiến tranh hạt nhân xảy ra Việc bảo vệ cho hiện tại và tương lại chỉ có thể thực hiện được nhờ sự cùng chung hợp tác chống sản xuất, tàng trữ, phổ biến vũ khí hạt nhân, ngăn chặn thảm họa hạt nhân, ngăn chặn cuộc chạy đua hạt nhân và chiến tranh hạt nhân.
- Thứ 2, sự ra đời và ko ngừng lớn mạnh của các tổ chức QT liên chính phủ và phi chính phủ cũng là bằng chứng về sự cùng phụ thuộc hiện nay đang được đẩy mạnh Một mặt,các tổ chức QT được thành lập vì những mục tiêu chung Việc ngày càng có nhiều tổ chức
QT ra đời thể hiện các quốc gia, các nhóm XH ngày càng có nhiều lợi ích chung, bên cạnh lợi ích riêng, lợi ích đặc thù của mỗi quốc gia, mỗi nhóm Mặt khác, sự hoạt động tích cực của các tổ chức QT sẽ góp phần củng cố mối liên hệ, thúc đẩy mức độ quan hệ, mở rộng phạm vi, lĩnh vực quan hệ giữa các quốc gia, các nhóm xã hội Trên cơ sở đó, số lượng, phạm vi những lợi ích chung giữa chúng được mở rộng ko ngừng
- Thứ 3, TG đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu đòi hỏi cần có sự phối hợp giữa cácquốc gia, các tổ chức QT để khắc phục và giải quyết như: giải quyết xung đột, chống khủng
bố, tội phạm QT,bảo vệ môi trường, chữa HIV/AIDS, dịch SARS, dịch cúm H5N1,… Đó là những vấn đề mà ko 1 quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giả quyết 1 cách triệt để và do vậy cần
có sự hợp tác chặt chẽ của các quốc gia và khu vực trên thế giới
- Thứ 4, quá trình toàn cầu hóa, trước hết là TCH về KT, tài chính ,thương mại nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ đang làm cho các quốc gia cùng phụ thuộc vào nhau hơn bất cứ lúc nào khác Sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là về KT, đang phụ thuộc
và chịu ảnh hưởng trực tiếp vào tình hình, diễn biến các sự kiện trên TG, và trước hết là vào tình hình của nền kt toàn cầu
Cùng với quá trình TCH về KT, các giá trị chung về văn hóa, XH và cuối cùng là chính trị đang được phổ biến ngày càng rộng rãi Điều này đòi hỏi quá trình dân chủ hóa đời sống
QT phải được thúc đẩy, làm cơ sở cho sự hợp tác bình đẳng, cùng có lợi giữa các quốc gia
KẾT LUẬN: Trong việc thúc đẩy và củng cố sự cùng phụ thuộc đó, báo chí với
sự trợ giúp của các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng Với sự hỗ trợ của kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là truyền hình kỹ thuật số, truyền hình vệ tinh và mạng internet toàn cầu, báo chí hiện đại có tác động và tầm ảnh hưởng hơn hẳn trước đây Báo chí 1 mặt vẫn tiếp tục đảm nhận thực hiện ngày càng nhiều các chức năng trong nước, nhưng đang thực hiện ngày càng nhiều chức năng trong QHQT Báo chí cung cấp thông tin
QT và trong nước góp phần làm rõ quan điểm, chính sách của các quốc gia, giúp các quốc gia, các DT và mọi người dân trên TG hiểu nhau hơn Báo chí cũng đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch gây chia rẽ hay làm tổn hại các QHQT
Trang 16Câu 7: Sự đa dạng hóa các chủ thể QHQT trong QHQT
Một sự vận động mang tính quy luật khác trong TG hiện nay là sự đa dạng hóa chủ thể QHCTQT Chủ thể của QHCTQT được hiểu là những thực thể chính trị- xã hội có hoạt độngxuyên quốc gia, hoặc có các hoạt động có tác động, ảnh hưởng xuyên quốc gia, làm nảy sinh
và phát triển các mqh chính trị QT
- Quốc gia có chủ quyền là chủ thể chính, đầy đủ nhất của QHCTQT Quốc gia là những thực thể chính trị cao nhất có khả năng và trách nhiệm trực tiếp thừa nhận nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong hệ thống luật pháp QT Quốc gia có vai trò chủ đạo và ko thể phủ định được trong QHCTQT
- Trong TG toàn cầu hóa hiện nay, xuất hiện ngày càng nhiều các chủ thể QHCT mới,
ko truyền thống, chủ thể “ngoài chủ quyền”, ngoài quốc gia tham gia vào đời sống chính trị TG- đó là các tổ chức QT liên chính phủ và phi chính phủ, các tập đoàn KT, tài chính, các công ty xuyên quốc gia, các cộng đồng DT, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức ko chính thức, bất hợp pháp,… Các quốc gia- nhà nước đang mất dần quyền kiểm soát hoạt động xuyên quốc gia của các chủ thể này Nhiều khi hoạt động của các chủ thể này vi phạm nguyên tắc chủ quyền quốc gia và đi ngược lại lợi ích quốc gia- một điều mang tinshn guyên tắc trong QHQT từ trước đến nay Do vậy, sự độc quyền của quốc gia trong QHCTQT đang dần bị phá
vỡ bất chấp các nỗ lực và cố gắng của các chính phủ
- Tuy nhiên, sự cùng phụ thuộc giữa các quốc gia, sự đa dạng hóa các chủ thể QHQT,
sự chuyển biến trong qua n niệm an ninh ko đẩy quốc gia ra khỏi đời sống quốc tế mà chỉ làmthay đổi và phức tạp hóa vai trò của nó trong gìn giữ ổn định và an ninh QT Sự tham gia ngày càng tích cực của các chủ thể ngoài quốc gia vào đời sống chính trị QT, một mặt làm nảy sinh nhiều mqh chính trị QT mới, làm cho nội dung, hình thức quan hệ ngày càng đa dạng, phong phú, mặt khác, làm phức tạp hóa các mqh vốn dĩ đã ko đơn giản, làm cho
QHCTQT ngày càng trở nên khó dự báo, khó lường trước
- Vai trò của các chủ thể phi quốc gia đang ngày càng lớn mạnh và chính sách đối với các chủ thê này ko thể xây dựng trên cơ sở cách suy nghĩ truyền thống về CSĐN, vê ngoại giao Nhà nước Các khái niệm cơ bản gắn với quốc gia như an ninh, chủ quyền, sức mạnh, lực lượng,… cần phải được điều chỉnh và áp dụng 1 cách linh hoạt trong quan hệ với các chủ thể ngoài quốc gia
- Trong số các chủ thể ngoài quốc gia hiện nay, báo chí với sức mạnh to lớn của mình đang trở thành 1 chủ thể quan trọng, có tính độc lập tương đối trong QHCTQT “ Nhánh quyền lực thứ 4”, “ thiết chế chính trị”, “bộ phận ko thể thiếu của hệ thống chính trị”, “công
cụ của chính quyền”- tất cả những cụm từ này được sử dụng để thể hiện sức mạnh của báo chí hiện nay Trong TG toàn cầu hóa, sức mạnh của báo chí đã vượt qua biên giới của quốc gia và tác động, ảnh hưởng xuyên quốc gia Những sự kiện gần đây trong đời sống báo chí
Trang 17QT như việc báo chí Đan Mạch đăng các bức biếm họa đấng tiên tri Mohamamed, báo chí Hàn Quốc đăng phóng sự và ảnh về những cô dâu VN… đã thách thức cách nhìn nhận truyềnthống về vai trò, chức năng của báo chí trong đời sống của quốc gia và trong QHCTQT.
Câu 8: Các mâu thuẫn cơ bản và mqh giữa các quốc gia trong thời đại ngày nay.
I.Các mâu thuẫn cơ bản:
1.Mâu thuẫn cơ bản xuyên suốt thời đại quá độ là mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB.Điều này đã được chứng minh trong thực tiễn lịch sử từ sau CMT10 Nga đến nay Đó làcuộc đấu tranh của nhân dân Nga chống lại sự can thiệp vũ trang của các nước đế quốc; là sự bao vây, phá hoại LX trước đây, là cuộc tiến công của phát xít Đức hòng tiêu diệt LX, là cuộc chiến tranh lạnh hòng làm suy yếu, tiến tới làm sụp đổ LX Đó còn là cuộc chiến tranh của các thế lực đế quốc chống nhân dân Triều Tiên, chiến tranh xâm lược VN… Và hiện nay,các thế lực đế quốc đang lợi dụng sự sụp đổ của CNXH ở 1 số nước để đẩy mạnh cuộc phản kich quyết liêt nhằm xóa bỏ các nước XHCN còn lại
Ngày nay, giữa 1 số nước XHCN và các nước tư bản phát triển đã thiết lập quan hệ chính thức về mặt nhà nước, có quan hệ vừa hợp tác vừa đấu tranh về mọi mặt Mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB ngày nay biểu hiện chủ yếu bằng “DBHB” và “ chống DBHB”
- Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động là mâu thuẫn cơ bản của thời đại
Cuộc đấu tranh giành ĐLDT của hàng trăm nước đã làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của CNĐQ GCCN và NDLĐ trong các nước tư bản đẩy mạnh cuộc đấu tranh vì dân sinh, dân chủ đã buộc CNTB hiện đại phải có sự điều chỉnh nhất định về KT-XH nhằm điều hòa 1 phần những mâu thuẫn trong XH tư bản, tránh những bùng nổ trực tiếp đe dọa chế độ TBCN.Mặt khác, nhờ ứng dụng những thành tựu của CMKH và công nghệ hiện đại, cải tiến phươngpháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách XH, CNTB còn có tiềm năng phát triển KT và làm dịu những xung đột XH
Tuy nhiên, tình hình đó ko làm mất đi mâu thuẫn cơ bản giữa CNTB với GCCN và các tầng lớp khác trong lòng XHTB Sự điều chỉnh ấy ko hề làm giảm đi sự phân cực giữa GCTSngày càng giàu lên nhanh chóng và những người nghèo khổ Cuộc đấu tranh của GCCN và các tầng lớp lao động khác vẫn tiếp tục phát triển, mâu thuẫn giữa họ và CNTB vẫn là một trong những nguyên tăc cơ bản của thời đại
- Mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển và CNĐQ
Từ năm 1989, tất cả các thuộc địa của CNĐQ đều đã giành được độc lập Tuy nhiên, có được độc lập về chính trị ko có nghĩa là có ngay dk sự phát triển phồn vinh Xuất phát từ 1 nền kinh tế,1 nền văn hóa rất thấp kém và lạc hậu, các quốc gia dân tộc độc lập vẫn phải lệ thuộc vào các nước phát triển Sự bòn rút siêu lợi nhuận từ các nước kém phát triển mà CNTB hiện đại giành được trong mấy chục năm qua đã tăng lên gấp nhiều lần về số lượng,
số tỷ lệ cũng như về tốc độ Sự cách biệt giữa những nước giàu và những nước nghèo ngày
Trang 18càng tăng và đang trở thành một mâu thuẫn nổi bật trong giai đoạn hiện nay Cũng còn phải
kể đến sự bòn rút chất xám từ các nước kém phát triển đưa về các nước phát triển, làm cho các nước kém phát triển càng kiệt quệ và khó lòng vươn lên phía trước Hơn nữa, CNTB hiệnđại còn biến các nước lạc hậu, kém phát triển thành những bãi rác của TG, làm hủy hoại ko chỉ môi sinh mà còn phá hủy đời sống XH và con người
Ngày nay, trong QHQT hiện đại còn bộc lộ mâu thuẫn cơ bản giữa các nước đang phát triển, chậm phát triển với các nước lớn, chủ nghĩa bành trướng đế quốc
Mâu thuẫn này thể hiện ở chỗ CNTB đã lợi dụng sự kiện LX sụp đổ để làm mất phươnghướng của các nước đang phát triển, gây mâu thuẫn nội bộ, lợi dụng vấn đề tôn giáo, nhân quyền để kích động những mâu thuẫn DT, sắc tộc, gây nên những cuộc chiến tranh kéo dài Đồng thời, CNTB đã dùng chính sách viện trợ KT để can thiệp vào nội bộ, áp đặt các tư tưởng, lối sống phương Tây và tiếp tục dùng chính sách mua bán ko ngang giá, tạo nên sự chênh lệch quá lớn giữa các DT, gây khó khăn cho cuộc đấu tranh của các nước đang phát triển
- Mâu thuẫn giữa các nước TBCN với nhau
Các nước TB có sự thống nhất với nhau trong việc chống CNXH và tiến bộ XH Trong những năm gần đây, CNTB đã và đang có sự điều chỉnh lợi ích nhất định nhằm làm dịu đi những xung đột giữa TB với TB Xu hướng này còn có thể tiếp diễn do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, song giữa họ vẫn ko tránh khỏi mâu thuẫn , nhiều khi gay gắt Tình trạng “ CNTB chống CNTB, chiến tranh vẫn diễn ra giữa những nước TB phát triển nhất , những mâu thuẫn phức tạp vẫn thường xuyên tồn tại trong lịch sử lẫn hiện tại Ví dụ: sự cạnh tranh quyết liệt giữa Mỹ với Nhật Bản và Tây Âu
- Trong giai đoạn hiện nay của thời đại quá độ lên CNXH còn có mâu thuẫn giữa lực lượng bảo vệ hòa bình và lực lượng gây chiến tranh Nhân dân các nước đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách đòi hỏi sự hợp tác và đấu tranh, là trách nhiệm cao của tất cảcác DT
II Mqh giữa các quốc gia:
Trong các mqh giữa các quốc gia DT trong giai đoạn hiện nay, có 2 loại quan hệ sau đây mang tính đặc trưng:
- Thứ nhất, quan hệ giữa các quốc gia DT nói chung ko phân biệt sự khác nhau về trình
độ phát triển và chế độ chính trị- xã hội
Trình độ phát triển chênh lệch giữa các quốc gia DT cũng như sự tồn tại đan xen giữaCNTB và CNXH trong 1 thời gian dài là hiện tượng khách quan của quá trình phát triển lịch sử
Đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ CT-XH khác nhau là mqh có tính đặc thù trong sự vận động và phát triển của lịch sử XH loài người Hợp
Trang 19tác bình đẳng và bình đẳng cùng có lợi là nhu cầu chi phối mqh giữa các quốc gia DT nói chung trên toàn TG.
Quyền tự quyết của các DT và những nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình là cơ sở lý luận
và nhận thức của mqh này
- Thứ 2, quan hệ giữa các nước XHCN với nhau
Sự ra đời các nước XHCN đã gắn liền với việc hình thành mqh DT kiểu mới Đó là mqh giữa các quốc gia DT cùng 1 bản chất chế độ CT-XH, có chung mục tiêu, lợi ích và cùng phát triển theo quy luật chung của nó
Đặc trưng của mqh giữa các quốc gia DT XHCN là bình đẳng, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, phối hợp hoạt động và bảo vệ nhau cùng phát triển
Chủ nghĩa QT của GCCN là cơ sở lý luận thực tiễn hình thành và phát triển mqh giữa các quốc gia DT XHCN
Tình hình quốc tế hiện nay có những diễn biến phức tạp của thời kỳ quá độ quốc tế Thực tế đó đòi hỏi các lực lượng CM và tiến bộ trên TG phải luôn luôn tỉnh táo và cảnh giác trước mọi luận điệu xuyên tạc của CNĐQ, tìm mọi cách đẩy lùi và đập tan mọi âm mưu và hành động của CNĐQ chống phá hòa bình, độc lập DT, dân chủ và CNXH Trong tất cả các lực lượng CM và tiến bộ ấy, GCCN vẫn là giai cấp đứng ở trung tâm của thời đại, đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ, là GC có lợi ích thống nhất với lợi ích của NDLĐ, giai cấp
có khả năng đoàn kết DT, đoàn kết các giai cấp và tầng lớp XH, giai cấp có Đảng của mình
là ĐCS với hệ tư tưởng của CN M-LN, có khả năng phân tích chính xác thời đại để định ra chiến lược, sách lược đúng đắn, đấu tranh đến cùng cho những mục tiêu của thời đại hiện nay
là hòa bình, độc lập DT, dân chủ và tiến bộ XH
Khúc quanh hiện nay của LS đang làm cho sự quá độ từ CNTB lên CNXH trên TG trở nên phức tạp, lâu dài , nhưng ko thể đảo ngược được xu thế tiến bộ của lịch sử Con đường của thời đại, con đường mà nhân loại đang đi tới chính là con đường thắng lợi của hòa bình, ĐLDT, dân chủ và CNXH
Câu 9: Đường lối ,chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Khái niệm: Chính sách đối ngoại gồm các mục tiêu, biện pháp mà 1 quốc gia theo đuổi thực hiện trong quan hệ với quốc gia hoặc chủ thể khác trong cộng đồng QT, nhằm mục đích thực hiện những lợi ích quốc gia được xác định trong từng thời kỳ lịch sử
Đường lối, CSĐN của Đảng và Nhà nước ta hiện nay:
1 Đặc điểm tình hình TG và trong nước
1.1 Đặc điểm tình hình TG:
Trang 20- Cuộc CMKH-KT và công nghệ hiện đại có bước nhảy vọt, tác động đến tất cả các lĩnhvực của đời sống của các quốc gia và mqh quốc tế.
- TCH là xu thế tất yếu tác động đến mọi quốc gia, đặt ra cả cơ hội và thách thức, cả mặt tích cực và tiêu cực
- Cuộc đấu tranh GC và DT vẫn diễn ra gay gắt, quyết liệt Nguy cơ chiến tranh TG đã
bị đẩy lùi, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang vẫn thường xuyên xảy ra, diễn biến phức tạp, khó lường trước
- Sự sụp đổ của LX và hệ thống XHCN làm cho trật tự TG có sự thay đổi căn bản TG đang chuyển dần về xu thế 1 cực với nhiều trung tâm do Mỹ khống chế, chi phối
1.2 Đặc điểm tình hình trong nước
- VN là nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua chiến tranh ác liệt…
- Các thế lực thù địch âm mưu cô lập, gây mất ổn định trong nước, thực hiện “DBHB” chống lại chế độ
2 Mục tiêu, tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc và nhiệm vụ của CSĐN trong giai đoạn
hiện nay
-Mục tiêu :
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định mục tiêu đối ngoại: “Vì lợi ích quốc gia dân tộc” “một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh.” Hai mục tiêu này thống nhất với nhau, đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc là cơ sở cơ bản để xây dựng một nước Việt Nam XHCN Xây dựng một Việt Nam giàu mạnh là phù hợp lợi ích quốc gia dân tộc và là điều kiện cần đểthực hiện lợi ích đó Việc nêu rõ lợi ích quốc gia dân tộc là mục tiêu đối ngoại có ý nghĩa hết sức quan trọng, là nguyên tắc cao nhất trong hoạt động đối ngoại
- Tư tưởng chủ đạo là: Đảm bảo giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội nhưng phải rất sáng suốt, năng động, linh hoạt, phù hợp với điều kiện và đặc điểm của nước ta, những diễn biến đầy mâu thuẫn của thế giới, đặc điểm và đối tượng mà ta quan hệ
-Nguyên tắc:
+ Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau , không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đối ngoại, là quan điểm nhất quán mà Đảng
và Nhà nước ta đã nhiều lần long trọng tuyên bố với các nước khác VN tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp, ko dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ với các nước khác, đồng thời kiên quyết chống lại sự áp đặt của bên ngoài xâmphạm đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta
Để thực hiện nguyên tắc này, yêu cầu rất cơ bản là phải phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, chủ động đẩy mạnh hợp tác quốc tế và đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh và làm thất bại mọi âm mưu và hành động can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, chống DBHB
Trang 21+ Bình đẳng và cùng có lợi:
Quyền bình đẳng yêu cầu chống chủ nghĩa soovanh nước lớn, chủ nghĩa DT hẹp hòi, bảo đảm quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền phát triển của mỗi DT… Chúng ta tôn trọng quyền của các nước, đồng thời yêu cầu tôn trọng quyền của VN trong QHQT Hoạtđộng đối ngoại phải khẳng định và bảo vệ quyền của VN trong QHQT, thể hiện tư thế và vị trí của VN, tích cực tham gia váo việc giải quyết các vấn đề QT mà chúng ta có thể và có khảnăng
Trong QHQT, vấn đề lợi ích là 1 phạm trù rộng Nguyên tắc cùng có lợi yêu cầu trước hết là phải tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi bên, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, ko làm tổn hại đến quan hệ của mỗi bên với nước thứ 3, thúc đẩy theo hướng “ là đối tác tin cậy”, lâu dàicủa nhau Trong khuôn khổ hơp tác song phương và đa phương cùng có lợi, phải tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, thực hiên jđầy đủ các cam kết, thỏa thuận, chống áp đặt cường quyền
+ Giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hòa bình
Với chính sách yêu hòa bình, tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nước, bảo vệ các nước nghèo, nhỏ yếu, phương châm xử lý QHQT của chúng ta là phát huy những điểm đồng,hạn chế những bất đồng, giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, kiên quyết phản đối dùng vũ lực để giải quyết
+ Làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền
Đây là nguyện vọng, yêu cầu bức xúc của nhiều nước là một nguyên tắc chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và đối ngoại nhân dân
- Nhiệm vụ:
+ Tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triểnKT- XH, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là 2 nhiệm vụ xuyên suốt của CMVN trong thời kỳ quá độ
đi lên CNXH Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định “ phát triển KT là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt” Giwu gìn môi trường hòa bình là điều kiện quantrọng nhất để xây dựng và phát triển đất nước
+ Để có môi trường hòa bình và điều kiện QT thuận lợi, chúng ta phải kiên quyết giữ vững độc lập, tự chủ, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn tiến hành “DBHB”.+ Công tác đối ngoại trong điều kiện đó cần phải thực hiện đường lối đối ngoại độc lập ,
tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, tăng cường hơn nữa những mqh đối tác, hợp tác song phương và đa phương trên cơ sở những nguyên tắc đã được xác định, đồng thời xử lý khôn khéo những vấn đề QT tế nhị, tăng thêm vị thế và uy tín của VN trên trường QT, giảm bớt các yếu tố bất lợi cho việc giữ gìn môi trường hòa bình để dồn sức phát triển KT,xây dựng cuộc sống mới trên đất nước ta
Trang 22+ Bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia :
Độc lập DT và chủ quyền quốc gia là những giá trị cơ bản và thiêng liêng mà ND ta phải đấu tranh lâu dài, gian khổ mới giành đk Trong QHQT, chủ quyền quốc gia được đảm bảo bằng luật pháp QT Các nước trên TG thừa nhận độc lập DT, chủ quyền quốc gia của
VN và mong muốn phát triển quan hệ với nước ta Đây là một thuận lợi rất cơ bản trong hoạt động đối ngoại để bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia Mặt khác, cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia là cuộc đấu tranh rất phức tạp, khó khăn, thường xuyên
và lâu dài, trong đó công tác đối ngoại có vai trò cực kì quan trọng
+ Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân TG vì hòa bình, độc lập
DT, dân chủ và tiến bộ XH
Cuộc đấu tranh của GCCN và NDTG vì hòa bình, độc lập DT, tiến bộ XH mang tính
QT Trung thành với nguyên tắc của chủ nghĩa QT, của GCCN, Chủ tịch HCM và Đảng ta luôn luôn quan tâm xây dựng và phát triển mqh gắn bó giữa CMVN với PTCM toàn TG nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của PTCM và NDTG ủng hộ VN trong sự nghiệp giành độc lập
DT, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, bằng những thắng lợi của những hoạt động QT đúng đắn, những bài học kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của NDTG vì hòa bình, độc lập DT, dân chủ và tiến bộ XH
Cũng như trước đây, ngày nay trong giai đoạn CM mới, chúng ta có trách nhiệm và cầnphải tham gia vào sự nghiệp chung của NDTG Hoạt động đối ngoại phải góp phần tích cựcvào việc thực hiện trách nhiệm đó
Bốn là: Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu
Năm là: Củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với các ĐCS và công nhân,với các đảng cánh tả, các phong trào giải phóng và ĐLDT, với các phong trào CM và tiến bộ trên TG
Sáu là: Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền
Bảy là: Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại của nhân dân
KL: Đường lối, chính sách đối ngoại của Đản ta trong giai đoạn hiện nay là sự tiếp tục và phát triển đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta từ khi thành lập đến nay
Trang 23nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Câu 10: Mối quan hệ giữa quan hệ công chúng với báo chí Những điều cần lưu ý khi cung cấp thông tin cho báo chí.
1 MQH giữa quan hệ công chúng và báo chí:
- Khái niệm quan hệ công chúng: Quan hệ công chúng (tiếng Anh: public relations, viết tắt là PR) là việc một cơ quan tổ chức hay doanh nghiệp chủ động quản lý các quan hệ
giao tiếp cộng đồng để tạo dựng và giữ gìn một hình ảnh tích cực của mình Các hoạt động quan hệ công chúng bao gồm các việc quảng bá thành công, giảm nhẹ ảnh hưởng của các thấtbại, công bố các thay đổi, và nhiều hoạt động khác
+Ở Việt Nam, đến nay có thể nói, quan hệ PR với báo chí cũng đã phát triển ở mức rất sâu rộng Những tin bài có nội dung thông tin lấy từ các buổi họp báo, các thông cáo báo chí, các hoạt động PR chưa ai thống kê được nhưng chắc chắn đã và đang chiếm tỷ lệ đáng kể trên rất nhiều tờ báo Nhiều tờ báo mở ra các trang chuyên đăng các tin, bài PR và những tin, bài đó thường hay đi kèm với các chương trình quảng cáo, tài trợ từ các đơn vị, doanh nghiệpđược đưa tin, bài tuyên truyền
+ Mqh này đem đến cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực:
Tích cực:
Ít nhất có thể coi PR là một kênh thông tin cần thiết với người làm báo Cónhiều thông tin trong các bài PR rất tốt với công chúng, thu hút nhà báo và họ thấy rằngnhững thông tin đó có thể là nguồn đề tài để biến thành những mẩu tin hữu ích (sự kiện khaitrương một đường bay, một hãng hàng không mới; ra mắt các sản phẩm, dịch vụ mới đem lạilợi ích cho người tiêu dùng; các sự kiện kinh tế, văn hoá, lễ hội đặc sắc…)PR và báo chí
hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình hoạt động của mình
PR là một phần hoạt động mang lại nguồn thu cho cơ quan báo chí
Tiêu cực:
Trang 24 PR quá nhiều sẽ phản tác dụng ,khiến cho người đọc nhận ra thủ đoạn PR của các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức mà có sự giúp đỡ của các cơ quan báo chí.
Có những tờ báo vì quá quan tâm đến mục đích lợi nhuận mà bỏ qua tôn chỉmục đích hoạt động của báo mình ,nhận viết thuê cho các doanh nghiệp với nội dung dìm đối thủ ,khi sự việc bị công chúng phát hiện ,họ không còn tin tưởng vào tờ báo nữa
Nhiều thông tin không được kiểm chứng gây tổn hại rất lớn cho xã hội.( một
số bài viết trên nhiều báo chí có nội dung y hệt nhau tẩy chay sữa của Việt Nam mà nguồn thông tin là do các nhà sản xuất nước ngoài cung cấp ,được một số báo đưa lên đánh mất sự tin dùng của người mua hàng)
Ngoài ra ,trên báo chí ,chúng ta còn thấy những bài PR cho các diễn viên ca
sĩ xuất hiện một cách tràn lan ,khiến cho khán giả không biết tin bên nào Các nghệ sĩ muốn nổi tiếng chỉ cần quan hệ tốt với báo chí là sẽ được như ý muốn Làm như vậy ,liệu rằng báo chí có thể làm tốt chức năng thông tin và định hướng công chúng của mình hay không
- Để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong mqh giữa Pr với báo chí đòi hỏi đội ngũ phóng viên, nhà báo cũng như nhân viên PR cần phải:
+ Trug thực, phục vụ BC ở mức cao, ko bưng bít hay bỏ qua những vấn đề tiêu cực + Với người làm PR, cần phải xác định tiêu chí quan hệ rõ ràng, đừng lẫn lộn, áp đặt nhà báo Người làm PR cũng cần phải phát huy tính chuyên nghiệp và trách nhiệm XH trong đạo đức nghề nghiệp của mình
+ Nhà báo cũng ko thể dễ dàng với PR Công chúng cần những tin bài phản ánh đúng bản chất sự kiện hay sản phẩm chứ ko phải các thông cáo báo chí- họ cần nhà báo để xác thực những thông tin này Tạo mqh tốt với PR có thể là 1 điều cần thiết nhưng luôn cần có 1
sự cảnh giác cao độ Chỉ như thế, giới PR mới thật tâm tôn trọng báo chí và làm việc 1 cách cẩn trọng, có trách nhiệm hơn
III Những điều cần lưu ý khi cung cấp thông tin cho báo chí
- Thông tin cung cấp cho báo chí cần phải chính xác, kịp thời và người cung cấp thông tin phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin
- Không được tiết lộ bí mật điều tra, bí mật công vụ, thông tin sai sự thật
- Đối với vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử thì các cơ quan tiến hành tố tụng
có quyền ko cung cấp thông tin cho báo chí, nhưng báo chí có quyền thông tin theo các nguồn tài liệu của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin
Câu 11: Những vấn đề toàn cầu cấp bách hiện nay
Những vấn đề toàn cầu là những vấn đề có tính toàn TG và tính toàn nhân loại, có hậu quả vô cùng nghiêm trọng, đe dọa sự sống còn đối với loài người và là những vấn đề chỉ có thể dựa váo những nỗ lực chung của toàn nhân loại mới giải quyết được