1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận nhóm môn kinh tế vĩ mô chính sách tiền tệ của nước việt nam và trung quốc trong giai Đoạn 19xx – 20xx

30 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách tiền tệ của nước Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn 19xx – 20xx
Tác giả Huỳnh Minh Thư, Nguyễn Thị Minh Thư, Ngô Ngọc Anh, Nguyễn Lê Khánh Linh, Đặng Thị Ngọc Tâm, Trần Thị Thuý Huỳnh, Nguyễn Thị Diễm, Quỳnh
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Huyền Thương
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Kinh Tế Vĩ Mô
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 437,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT (8)
    • 1. Chính sách tiền tệ (8)
      • 1.1. Khái niệm (8)
      • 1.2. Vị trí chính sách tiền tệ (8)
    • 2. Các loại chính sách tiền tệ (10)
      • 2.1. Chính sách tiền tệ mở rộng (nới lỏng) (10)
      • 2.2. Chính sách tiền tệ thắt chặt (10)
    • 3. Các công cụ chính của chính sách tiền tệ (0)
  • B. THỰC TRẠNG (11)
    • 1. Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 1997-2005 (11)
    • 2. Chính sách tiền tệ của Trung Quốc từ 1997-2005 (13)
    • 3. Kinh tế thế giới năm 2008 đã tác động rõ nét tới nền kinh tế nước ta (16)
      • 3.1. Nền kinh tế Việt Nam năm 2008 (16)
      • 3.2. Đầu cơ và biến động giá cả (17)
      • 3.3 Mục Tiêu và Lý Do Của Chính Sách Thắt Chặt (20)
      • 3.4 Điều chỉnh tỷ giá (23)
  • C. KẾT LUẬN (28)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (29)

Nội dung

DANH MỤC BẢNGBảng 1: Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc 2002-2007...12 Bảng 2:Tình hình xuất khẩu gạo qua 7 tháng đầu năm 2008...16 Bảng 3:Các chỉ tiê

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một phần quan trọng của kinh tế vĩ mô, được Ngân hàng trung ương xây dựng và thực hiện Mục tiêu chính của chính sách này là ổn định giá trị đồng tiền, tạo ra công ăn việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua các công cụ và biện pháp thích hợp.

Tùy thuộc điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:

Chính sách tiền tệ mở rộng nhằm tăng cung tiền và giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách này có thể dẫn đến tình trạng lạm phát gia tăng, tạo ra những thách thức mới cho nền kinh tế.

Chính sách tiền tệ thắt chặt, bao gồm việc giảm cung tiền và tăng lãi suất, nhằm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần kiểm soát lạm phát Tuy nhiên, chính sách này cũng có thể dẫn đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, trong khi vẫn đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền.

1.2 Vị trí chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng nhất của Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến lưu thông tiền tệ và có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như tài khoá, thu nhập và kinh tế đối ngoại Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

 Mục tiêu của chính sách tiền tệ: o Ổn định giá trị đồng tiền o Tăng việc làm o Tăng trưởng kinh tế

Các loại chính sách tiền tệ

2.1 Chính sách tiền tệ mở rộng (nới lỏng)

Mục tiêu: Tăng cung tiền, giảm lãi suất để kích thích đầu tư, tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế

Công cụ: Giảm lãi suất, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mua vào trái phiếu trên thị trường mở

Rủi ro: Có thể dẫn đến lạm phát cao nếu không kiểm soát tốt

2.2 Chính sách tiền tệ thắt chặt

Mục tiêu: Giảm cung tiền, tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát

Công cụ: Tăng lãi suất, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bán trái phiếu trên thị trường mở

Rủi ro: Có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế

3 Các công cụ chính của chính sách tiền tệ

Lãi suất điều hành: Ảnh hưởng đến lãi suất cho vay và huy động của ngân hàng thương mại

Dự trữ bắt buộc: Quy định về tỷ lệ tiền mà các ngân hàng phải giữ tại Ngân hàng Trung ương

Nghiệp vụ thị trường mở (OMO): Mua/bán trái phiếu chính phủ để điều tiết lượng tiền trong lưu thông

Tỷ giá hối đoái: Kiểm soát tỷ giá để ổn định thị trường ngoại hối

Chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định kinh tế, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

Các công cụ chính của chính sách tiền tệ

1 Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 1997-

Giai đoạn 1997 - 2000: Ổn định sau khủng hoảng tài chính

Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á năm 1997 – 1998 đã gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam, dẫn đến sự chững lại trong tăng trưởng kinh tế, giảm sút hoạt động xuất nhập khẩu và đình trệ đầu tư nước ngoài Hệ thống ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức, trong khi những yếu kém vốn có của nó càng trở nên trầm trọng hơn Áp lực phá giá VND gia tăng liên tục, cùng với sự sụt giảm và đóng băng của thị trường bất động sản Hệ quả là hàng loạt ngân hàng thương mại cổ phần rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, với 17 trong số 53 ngân hàng bị xóa tên trong giai đoạn này.

 Chính sách tiền tệ được ngân hàng trung ương áp dụng lúc này là :

Chính phủ kiểm soát lãi suất bằng cách duy trì cơ chế lãi suất trần, nhằm hạn chế sự cạnh tranh quá mức giữa các ngân hàng Mục tiêu là giảm dần lãi suất huy động và cho vay để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát lạm phát hiệu quả.

Kiểm soát cung tiền: Tăng trưởng cung tiền giảm từ trên 30%

Vào đầu thập niên 90, để giảm áp lực lạm phát, chính phủ đã hạ lãi suất xuống khoảng 20% Đồng thời, họ cũng hạn chế tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro như bất động sản và tập trung vốn cho sản xuất Chính phủ đã duy trì tỷ giá neo với biên độ ±5% nhằm ổn định thị trường sau khủng hoảng, với tỷ giá VND/USD được điều chỉnh từ 11.000 lên 14.000 VND/USD vào cuối thập niên.

THỰC TRẠNG

Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 1997-2005

Giai đoạn 1997 - 2000: Ổn định sau khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 - 1998 đã gây ra tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam, dẫn đến tăng trưởng kinh tế chững lại, hoạt động xuất nhập khẩu giảm sút, và đầu tư nước ngoài bị ngưng trệ Những yếu kém vốn có của hệ thống ngân hàng trở nên trầm trọng hơn, với sức ép phá giá VND gia tăng liên tục, cùng với sự sụt giảm và đóng băng trong lĩnh vực bất động sản Kết quả là nhiều ngân hàng thương mại cổ phần rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, buộc phải sáp nhập vào các ngân hàng thương mại nhà nước, với 17 trong số 53 ngân hàng thương mại cổ phần bị xóa tên trong giai đoạn này.

 Chính sách tiền tệ được ngân hàng trung ương áp dụng lúc này là :

Chính phủ kiểm soát lãi suất bằng cách duy trì cơ chế lãi suất trần, nhằm hạn chế sự cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng Mục tiêu là giảm dần lãi suất huy động và cho vay để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát lạm phát.

Kiểm soát cung tiền: Tăng trưởng cung tiền giảm từ trên 30%

Vào đầu thập niên 90, tỷ lệ lạm phát được giảm xuống khoảng 20% để giảm áp lực kinh tế Chính phủ đã hạn chế tín dụng vào các khu vực rủi ro như bất động sản, đồng thời tập trung vốn cho sản xuất Để ổn định thị trường sau khủng hoảng, tỷ giá VND/USD được duy trì với biên độ ±5%, với điều chỉnh từ 11.000 lên 14.000 VND/USD vào cuối thập niên.

Giai đoạn từ năm 1993-1999: Thực hiện chính sách tỷ giá theo quan điểm “giữ và nâng giá đồng Việt Nam”

Nguồn: Vụ Quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước

Lạm phát tại Việt Nam đã giảm mạnh từ 12,7% vào năm 1995 xuống chỉ còn 0,1% vào năm 2000 Mặc dù hệ thống ngân hàng đã tránh được sự đổ vỡ, nhưng vẫn còn nhiều yếu kém tồn tại, đặc biệt là nợ xấu chưa được xử lý triệt để.

Giai đoạn 2001 - 2007, kinh tế phục hồi mạnh, GDP tăng trung bình 7-8%/năm Việt Nam ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ

(2001) và gia nhập WTO (2007), thu hút mạnh vốn FDI Tăng trưởng tín dụng và cung tiền nhanh chóng để hỗ trợ nền kinh tế

Vào năm 2002, ngân hàng nhà nước đã thực hiện tự do hóa lãi suất bằng cách xóa bỏ lãi suất trần, cho phép các ngân hàng thương mại tự do quyết định lãi suất huy động và cho vay.

Mở rộng tín dụng với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ từ 25-30% mỗi năm đã hỗ trợ đáng kể cho sản xuất và đầu tư Chính sách này giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn, tuy nhiên cũng tiềm ẩn rủi ro về nợ xấu.

Chính sách tỷ giá linh hoạt hơn: Giai đoạn từ năm 2001-2007:

Trong giai đoạn này, cơ chế tỷ giá neo cố định được áp dụng, với Ngân hàng Nhà nước duy trì tỷ giá ổn định Tỷ giá được điều chỉnh dựa trên cung - cầu thị trường, tuy nhiên vẫn có sự can thiệp nhất định từ phía ngân hàng.

Kiểm soát lạm phát: Do cung tiền tăng nhanh, ngân hàng nhà nước vẫn theo dõi sát lạm phát, duy trì chính sách tiền tệ thận trọng

Nhờ những giải pháp nêu trên, VND chỉ giảm giá tổng cộng xấp xỉ 12% trong vòng 8 năm; lãi suất được thả nổi hoàn toàn từ năm

2002 – 2008; lạm phát được giữ ở mức một con số từ năm 1996 (4,5%) đến năm 2006 (6,6%); cao nhất là 9,5% vào năm 2004, thấp nhất (0,1 – 3%) vào năm 2000 – 2003; tăng trưởng GDP bình quân 7% (1996 – 2000), 6,9% (2000 – 2005)

Năm 2007, GDP của Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng cao trên 8%, nhờ vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của tín dụng Tuy nhiên, sự bùng nổ tín dụng này cũng tiềm ẩn rủi ro về bong bóng tài sản, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản và chứng khoán.

Giai đoạn 2001 - 2007: Tăng trưởng mạnh, hội nhập WTO

Nguồn: Tổng cục thống kê

Chính sách tiền tệ của Trung Quốc từ 1997-2005

Từ năm 1997 đến 21/7/2005, đồng CNY bị neo cố định, dẫn đến việc trở nên quá đắt và mất tính cạnh tranh Các nhà phân tích cho rằng sự gia tăng đột biến trong ngân sách quốc gia là minh chứng cho việc Chính phủ Trung Quốc "dìm giá" đồng tiền này Điều này đã giúp Trung Quốc thành công trong lĩnh vực xuất khẩu, trở thành "miếng nam châm" thu hút lượng lớn ngoại tệ.

Từ năm 1997-1998, Trung Quốc duy trì tỷ giá đồng nhân dân tệ ổn định và áp dụng các biện pháp tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng mà không gây ra lạm phát cao Giai đoạn 1998-2003, chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, giảm lãi suất nhiều lần để khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, đồng thời tăng cung tiền (M2) để thúc đẩy phát triển Từ 2003-2005, Trung Quốc bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát và ngăn chặn đầu cơ bất động sản, nâng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại.

Cuối cùng Trung Quốc đã phải điều chỉnh tỷ giá vào năm 2005 chuyển sang cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý

Bảng 1: Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc

Dữ trữ ngoại tệ ( triệu USD)

Chế độ tỷ giá của Trung Quốc đã có sự thay đổi quan trọng từ tháng 7 năm 2005, khi Ngân hàng Trung ương Trung Quốc công bố rằng tỷ giá sẽ được xác định dựa trên một rổ các đồng tiền, mặc dù các thành phần và tỷ trọng cụ thể không được tiết lộ ngay lập tức Đồng thời, ngân hàng cho phép biên độ dao động hàng ngày của các tỷ giá song phương là 0,3% Vào ngày 9 tháng 8 năm 2005, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, Zhou Xiaochuan, đã công bố 11 đồng tiền trong rổ, bao gồm đô la Mỹ, Euro, Yên Nhật và đồng Won Hàn Quốc, cùng với các đồng Bảng Anh, Ruble Nga và Baht Thái với tỷ trọng nhỏ hơn.

Theo nghiên cứu của Guonan và McCauley, tỷ giá đa phương danh nghĩa CNY đã biến động trong biên độ 2% mỗi năm (B – Band) và có mức thay đổi hàng ngày là 0,06% (C – Crawl).

Chế độ tỷ giá của Trung Quốc được xác định là một dạng của chế độ tỷ giá BBC (Basket, Band and Crawl Regime), tức là chế độ tỷ giá dựa vào rổ tiền tệ với biên độ dao động rộng được điều chỉnh định kỳ Mặc dù biên độ dao động của tỷ giá (B-band) chỉ là 2% mỗi năm, tỷ giá CNY/USD đã giảm giá, trong khi tỷ giá đa phương danh nghĩa của CNY lại có xu hướng tăng dần.

Trung Quốc tiếp tục giữ vững lợi thế cạnh tranh trong thương mại quốc tế so với các quốc gia đối tác, điều này đã đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế và cải thiện thặng dư cán cân thương mại của nước này.

Kinh tế thế giới năm 2008 đã tác động rõ nét tới nền kinh tế nước ta

3.1 Nền kinh tế Việt Nam năm 2008

Năm 2008 đánh dấu một giai đoạn khó khăn và thử thách lớn nhất đối với ngành Ngân hàng Việt Nam kể từ sau thời kỳ đổi mới Sau nhiều năm lạm phát được kiểm soát ở mức một con số, vào năm 2004, lạm phát đã bùng nổ với tỷ lệ 9,5% Đến cuối năm 2007, lạm phát tiếp tục gia tăng và đạt 12,6% vào tháng 12, gây ra nhiều áp lực cho ngành ngân hàng trong những tháng tiếp theo.

2008, lạm phát tiếp tục tăng cao, chỉ tính riêng 3 tháng đầu năm

Năm 2008, chỉ số CPI tăng 9,1%, mức cao nhất kể từ năm 1995, vượt xa mục tiêu của Chính phủ về GDP và CPI Lạm phát cao dẫn đến tăng giá hàng hóa, mất giá tiền tiết kiệm, hạn chế đầu tư và tăng trưởng kinh tế, tiềm ẩn nguy cơ xã hội Xu hướng lạm phát không có dấu hiệu dừng lại trong ba tháng đầu năm, buộc Chính phủ xác định chống lạm phát là ưu tiên hàng đầu Từ đầu năm, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm kiềm chế lạm phát, trong đó có Nghị quyết 10/2008/NQ-CP với 8 giải pháp đồng bộ để ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, nhấn mạnh vào chính sách tiền tệ chặt chẽ và linh hoạt để kiểm soát tăng trưởng tín dụng và giá trị đồng tiền Việt Nam.

3.2 Đầu cơ và biến động giá cả

Bối cảnh kinh tế toàn cầu đang biến động mạnh mẽ đã tạo điều kiện cho các hoạt động đầu cơ quốc tế gia tăng, đặc biệt là từ các ngân hàng và tập đoàn đa quốc gia sở hữu tài sản hàng nghìn tỉ USD Họ đang thao túng thị trường giao dịch các hàng hóa thiết yếu như dầu thô, lương thực và vàng, khiến những mặt hàng này trở thành mục tiêu đầu cơ chính Nếu tình hình tiếp tục xấu đi, tiền tệ và tài sản tài chính của các quốc gia có thể trở thành mục tiêu tiếp theo Hệ lụy từ tình trạng này đang ngày càng rõ ràng.

Giá dầu mỏ đã có những diễn biến phức tạp trong nửa đầu năm 2008, chủ yếu do mâu thuẫn địa - chính trị ở các khu vực dầu mỏ nhạy cảm và hoạt động tích cực của các nhà đầu cơ Vào ngày 11-7-2008, giá dầu thô đạt mức kỷ lục 147 USD/thùng, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử kinh tế thế giới giá dầu vượt qua ngưỡng này Sự gia tăng giá nhiên liệu đã khiến các nền kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng báo động về khủng hoảng năng lượng.

Xăng dầu là vật tư thiết yếu cho sản xuất, hiện có giá 19.000 đồng/lít Từ nửa sau tháng 8-2008, thời kỳ tiêu dùng xăng giá cao đã dần qua đi, với giá xăng bán lẻ được điều chỉnh giảm liên tục Từ ngày 21-8 đến 8-12-2008, đã có 10 lần điều chỉnh giảm giá xăng, cuối cùng dừng ở mức 11.000 đồng/lít (xăng A92) Trong thời gian này, giá dầu thô thế giới dao động quanh mức ổn định.

Quan hệ giữa giá dầu mỏ thế giới và giá xăng bán lẻ tại Việt Nam thể hiện rõ ràng, đặc biệt trong giai đoạn tăng giá, khi tốc độ biến thiên giữa giá nội địa và quốc tế tương đối đồng đều Tuy nhiên, khi bước vào giai đoạn điều chỉnh giảm, khoảng cách giữa hai mức giá này nhanh chóng nới rộng, dẫn đến nhiều bức xúc từ người tiêu dùng đối với các đơn vị cung cấp xăng dầu bán lẻ, vì họ cảm thấy giá thế giới giảm mạnh hơn nhiều so với mức điều chỉnh trong nước.

Giá vàng tại Việt Nam biến động mạnh, vừa là hình thức tiết kiệm phổ biến, vừa là phương tiện thanh toán Trong năm 2008, giá vàng có sự tăng giảm đáng kể, với mức tăng lần lượt 11% và 13% trong tháng 2 và 3 Tuy nhiên, hai tháng sau đó, giá vàng giảm tổng cộng 13% Đặc biệt, tháng 7-2008 ghi nhận mức tăng cao nhất trong 10 tháng đầu năm, đạt 220,46% Tuy nhiên, đến cuối tháng 9-2008, chỉ số giá vàng lại giảm xuống còn 200 điểm.

Các sàn giao dịch vàng đã mở ra một kênh đầu tư mới, nhưng loại hình này tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn, với khả năng thua lỗ cao trong thời gian ngắn Trong khi nhiều hàng hóa như chứng khoán, tiền tệ và xăng dầu chịu sự kiểm soát chặt chẽ về giá cả, thì giá vàng lại được thả nổi trên thị trường, tạo ra sự biến động mạnh mẽ.

Giá lương thực tăng nhanh từ tháng 4 đến tháng 6-2008 do nạn đầu cơ, với giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lần lượt tăng 23,6%, 40,4% và 26,7% trong ba tháng So với tháng 1, giá gạo xuất khẩu đã tăng gấp hơn hai lần vào tháng 4-2008, và đạt mức cao nhất vào tháng 6-2008, có lúc lên đến 1.005 USD/tấn.

Trước tình hình giá lương thực tăng cao, nhiều nước xuất khẩu gạo chủ chốt, bao gồm Việt Nam, đã quyết định tạm ngừng xuất khẩu để theo dõi tình hình Đồng thời, các quốc gia nhập khẩu đang nỗ lực tích lũy lương thực nhằm duy trì ổn định giá cả và bảo đảm an ninh lương thực Tình hình này dẫn đến hai hiệu ứng đồng thời: giá lương thực tiếp tục tăng cao và việc các chính phủ “bơm” thêm tiền để mua lương thực làm tình trạng lạm phát ở nhiều quốc gia trở nên nghiêm trọng hơn.

Bảng 2:Tình hình xuất khẩu gạo qua 7 tháng đầu năm 2008

Cuối tháng 4-2008, hiện tượng đầu cơ và khan hiếm giả tạo mặt hàng gạo đã xuất hiện tại thị trường Việt Nam, khiến chính phủ phải có những chỉ đạo mạnh mẽ nhằm bình ổn giá cả và trấn an tâm lý người tiêu dùng Đến tháng 6-2008, xuất khẩu gạo đã được phục hồi, với giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong hai tháng 6 và 7-2008 còn cao hơn mức giá bình quân thế giới.

Chính phủ Việt Nam đã áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát và duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô Để hiểu rõ hơn về quyết định này, cần phân tích từ nhiều khía cạnh, bao gồm các chính sách cụ thể, công cụ thực hiện, và những kết quả đạt được trong thực tế.

3.3 Mục Tiêu và Lý Do Của Chính Sách Thắt Chặt

 Chính sách tiền tệ thắt chặt được áp dụng chủ yếu để đạt được ba mục tiêu chính:

Kiềm chế lạm phát là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ thắt chặt, đặc biệt sau khi lạm phát vượt 20% vào năm 2008, gây khó khăn cho nền kinh tế và giảm sức mua của người dân Chính phủ cần kiểm soát tình trạng này để bảo vệ sức mua và duy trì ổn định giá cả Đồng thời, ổn định thị trường tài chính cũng rất quan trọng, khi thị trường chứng khoán và bất động sản đang có dấu hiệu bị thổi phồng với sự tham gia của nhiều nhà đầu cơ Cần giảm tốc độ tăng trưởng của các thị trường này để tránh nguy cơ bong bóng tài chính.

Duy trì sự ổn định vĩ mô là yếu tố quan trọng để đảm bảo phục hồi bền vững cho nền kinh tế, mặc dù lãi suất cao và tỷ lệ tín dụng thấp có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn Để ứng phó với tình trạng này và ổn định nền kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.

Chính sách tiền tệ thắt chặt năm 2008 đặc biệt chú trọng đến việc 'kiểm soát tín dụng' nhằm ngăn chặn lạm phát trong các lĩnh vực như bất động sản và tiêu dùng Chính phủ đã yêu cầu các ngân hàng thương mại hạn chế cho vay trong những lĩnh vực này, chuyển hướng tập trung vào các ngành sản xuất thiết yếu hơn Biện pháp này không chỉ giảm thiểu nguy cơ "bong bóng" tài chính mà còn đảm bảo giá trị tài sản phản ánh đúng thực tế.

Chính sách kiểm soát tín dụng còn thể hiện ở việc NHNN đưa ra các quy định nhằm hạn chế tình trạng cho vay quá mức đối với

Ngày đăng: 12/03/2025, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Keynes, J.M. (1937), The General Theory of Employment, The quarterly journal of economics, pp. 209 - 223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The General Theory of Employment
Tác giả: J.M. Keynes
Nhà XB: The quarterly journal of economics
Năm: 1937
6. Hồng Anh. (2021), Chủ động, linh hoạt, thận trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, Báo Nhân Dân: https://nhandan.vn/tin-tuc- kinh-te/-chu-dong-linh-hoat- than-trong-trong-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-630767 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động, linh hoạt, thận trọng trong điều hành chính sách tiền tệ
Tác giả: Hồng Anh
Nhà XB: Báo Nhân Dân
Năm: 2021
7.. Vũ Quang Việt (2004), "Lạm phát ở Việt Nam", Thời báo Kinh tế Sài gòn, 713, tr. 42-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Quang Việt
Nhà XB: Thời báo Kinh tế Sài gòn
Năm: 2004
8.. Lê Danh Vinh (2006), "Ngành thương mại: nhìn lại hai mươi năm đổi mới", Tạp chí Cộng sản, số 98-2006 (http://203.162.0.19:8080/ show_content.pl?topic=3&ID=3474 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành thương mại: nhìn lại hai mươi năm đổi mới
Tác giả: Lê Danh Vinh
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2006
10.Đỗ Thị Thủy (2023), Chính sách tiền tệ với kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, truy cập từ https://thitruongtaichinhtiente.vn/chinh-sach- tien-te-voi-kiem-soat- lam-phat-on-dinh-kinh-te-vi-mo-o-viet-nam-44049.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiền tệ với kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Thủy
Năm: 2023
1. Minshkin, F.S. (1996), The Channels of Monetary Transmission: Lession for Monetary Policy, Number Working No.5464 Khác
3. Nguyễn Đức Thành (2011), Lựa chọn để tăng trưởng bền vững, Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.  Khác
4.. ThS. Đinh Tuấn Minh (2010), Ảnh hưởng của chính sách hỗ trợ lãi suất đối với hoạt động của các doanh nghiệp, Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2010 Khác
5.. Takatoshi Ito (2002), Tăng trưởng, khủng hoảng và tương lai phục hồi kinh tế ở Đông Á, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc  2002-2007.....................................................................................................................12 Bảng 2:Tình hình xuất khẩu gạo qua 7 tháng đầu - Tiểu luận nhóm môn kinh tế vĩ mô chính sách tiền tệ của nước việt nam và trung quốc trong giai Đoạn 19xx – 20xx
Bảng 1 Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc 2002-2007.....................................................................................................................12 Bảng 2:Tình hình xuất khẩu gạo qua 7 tháng đầu (Trang 5)
Bảng 2:Tình hình xuất khẩu gạo qua 7 tháng đầu năm 2008 - Tiểu luận nhóm môn kinh tế vĩ mô chính sách tiền tệ của nước việt nam và trung quốc trong giai Đoạn 19xx – 20xx
Bảng 2 Tình hình xuất khẩu gạo qua 7 tháng đầu năm 2008 (Trang 20)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w