1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á

81 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải cacbon tại châu á
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tiễn xã hội cũng như nhận thấy những bất cập và sự cấp thiết của vấn đề, nhóm tác giả đã lựa chọn “Nghiên cứu tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Carbon

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuật ngữ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở nên rất phổ biến và gắn liền với tiến trình phát triển Đây Là một trong những nhân tố quan trọng giúp nâng cao vị thế kinh tế của một quốc gia Nếu đem so đầu tư trực tiếp nước ngoài với các loại hình đầu tư khác thì FDI được chú trọng hơn rất nhiều Hơn thế nữa, nhân tố này ngày càng khẳng định được tầm quan trọng cũng như sức hấp dẫn mạnh mẽ của nó do tính ổn định với tỷ suất sinh lời cao trên cơ sở khai thác các tiềm năng về thị trường, lao động, tài nguyên thiên nhiên, tại quốc gia nhận đầu tư FDI còn góp phần thúc đẩy GDP của quốc gia, tích lũy vốn, mở rộng cơ hội tiếp xúc với công nghệ kỹ thuật tiên tiến, mở ra cơ hội việc làm cho lao động địa phương, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, và rất nhiều lợi ích mà FDI đem lại cho quốc gia sở tại

Nhưng như “mặt trái của tấm huy chương”, FDI làm cho các vấn đề nhức nhối cũng bắt đầu nảy sinh tại quốc gia nhận đầu tư: vấn đề chuyển giá làm hao hụt nguồn thu, phân hóa giàu nghèo sâu sắc và chênh lệch mức sống giữa các vùng miền, trong đó nghiêm trọng nhất là những vết tích nặng nề của chúng tác động tới môi trường Thực tiễn cho thấy rằng FDI tác động đáng kể tới môi trường và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường tại nhiều quốc gia hiện nay

Nhìn dưới góc độ môi trường có thể dễ dàng nhận ra khí hậu có sự biến đổi rất lớn trong các thập kỷ trở lại đây và đi theo chiều hướng tiêu cực khi hàng ngàn khu công nghiệp được xây dựng, nhà cao san sát, xe cộ chật kín đường, Theo báo cáo của Uỷ ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2019 nồng độ CO2 trong khí quyển ở mức cao nhất trong vòng hai triệu năm qua đạt 36,8 tỷ tấn nguyên nhân phần lớn đến từ việc tiêu thụ nhiều nhiên liệu hóa thạch, quá trình sản xuất công nghiệp xả lượng phát thải CO2 chưa qua

xử lý ra môi trường CO2 - kẻ giết người thầm lặng, phá hủy nghiêm trọng sức khỏe, tinh thần của con người; hơn thế nữa sự gia tăng khí thải CO2 còn là nguyên nhân làm cho cuốn “sách đỏ” của Thế giới ngày một dày thêm do tốc

Trang 2

độ phá hủy những thảm thực vật xanh, động thực vật quý hiếm tuyệt chủng và

hệ sinh thái mất cân bằng ngày càng trầm trọng hơn Biến đổi khí hậu quy mô toàn cầu đặc biệt là khí thải CO2 gây ra thêm những hệ lụy tiêu cực bởi các hoạt động đầu tư của con người mang lại cho nền kinh tế quốc gia

Từ thực tế đó có thể thấy rằng FDI và CO2 là hai nhân tố có mối quan hệ mật thiết với nhau Hơn thế nữa, bất kể nước nào trên thế giới cũng đều bị ảnh hưởng đồng thời của hai nhân tố trên Khu vực châu Á cũng không phải ngoại

lệ Châu Á bao gồm 48 quốc gia, để phát triển kinh tế thì phần lớn các quốc gia đều tận dụng nguồn lực có sẵn như tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, và việc tận dụng công nghệ và quy trình sản xuất chưa được tối ưu hoàn toàn Dù hiện tại, quá trình đổi mới công nghệ sản xuất đã được đẩy mạnh, song các quốc gia khu vực này vẫn có xu hướng khai thác khoáng sản như than đá, dầu

mỏ, khí đốt, quặng thiếc,…Do đó, tình trạng môi trường bị tác động tiêu cực bởi hoạt động này vẫn đang diễn ra (Britannica, 2020) Nền kinh tế đang phát triển là tình trạng chung của đa số quốc gia Châu Á vì mục tiêu chính của những quốc gia này đang là đẩy mạnh phát triển kinh tế bền vững Mục tiêu cắt giảm lượng phát thải CO2 nhằm bảo vệ môi trường vẫn chưa được chú trọng

Lý do vì nếu đặt mục tiêu cắt giảm khí thải CO2 lên hàng đầu thì quá trình phát triển kinh tế - xã hội có thể bị ảnh hưởng Vì vậy, theo Aronsson & cộng sự, 2010; Hübler & cộng sự, 2012) và Solow (1957), giải pháp cần thiết để giải quyết thách thức về chất lượng môi trường là phải gắn với hoạt động phát triển kinh tế cùng với nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất Không những thế, hoạt động đổi mới trở thành chủ đề trong thảo luận về các chính sách biến đổi khí hậu của quốc gia (Metz & cộng sự, 2007), vì nó có thể giúp các quốc gia cân bằng giữa mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo chất lượng môi trường

Từ khía cạnh kinh tế - chính trị cho thấy, các quy định và luật của chính phủ về chất lượng dự án và trách nhiệm giải trình đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa FDI và ô nhiễm không khí ở hầu hết các quốc gia Mỗi quốc gia đều có đặc điểm kinh tế chính trị khác nhau nên việc điều chỉnh chính sách và cân bằng giữa kinh tế và môi trường là vấn đề nan giải Việc thu hút

Trang 3

các dòng vốn FDI là phải đưa ra những chính sách hấp dẫn và có lợi cho nhà đầu tư nhưng đồng thời chính phủ phải nới lỏng một số biện pháp về môi trường, giảm nhẹ mức phạt Từ đó dấy lên lo ngại rằng việc hi sinh môi trường sinh thái đổi lấy thu hút các dự án đầu tư nước ngoài liệu có phải là một giải pháp hiệu quả? Sau khi nền kinh tế châu Á đã đạt tới mức tăng trưởng cao thì

có thể khôi phục lại môi trường tự nhiên nguyên vẹn như ban đầu được nữa hay không? Trong số 48 quốc gia Châu Á, mỗi quốc gia đều phải đối mặt với những vấn đề khác nhau và đang có trình độ phát triển khác nhau Do đó việc lấy được dữ liệu của tất cả các yếu tố ở các quốc gia là khó thực hiện, nhóm tác giả đã lựa chọn một số quốc gia tiêu biểu đại diện cho cả hai nhóm nước: phát triển và đang- kém phát triển Trong nhóm những quốc gia này đã bao gồm những quốc gia có kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội khác nhau nên có thể nêu lên vấn đề một cách khách quan cho bài nghiên cứu

Vì vậy, một bài toán cấp thiết được đặt ra là phân tích, làm rõ tác động giữa FDI và CO2 bằng mô hình phù hợp Dựa trên kết quả nghiên cứu mô hình

để từ đó các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những chiến lược cụ thể,

phù hợp với tình trạng thực tiễn của Việt Nam Từ thực tiễn xã hội cũng như

nhận thấy những bất cập và sự cấp thiết của vấn đề, nhóm tác giả đã lựa chọn

“Nghiên cứu tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Carbon tại châu Á” làm đề tài nghiên cứu

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Tổng quan nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Với việc mở cửa thị trường và hội nhập với kinh tế toàn cầu, nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào khu vực Châu Á đang ngày càng gia tăng Theo Báo cáo đầu tư thế giới 2022 của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đại diện Savills Đông Nam Á cho biết, châu Á là nơi nhận 40% vốn FDI toàn cầu và đã tăng trong năm thứ ba liên tiếp vào năm

2021 đạt ngưỡng 619 tỷ USD Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc tăng 21% và ở Đông Nam Á tăng 44%

Trang 4

Theo Blomstrom Teals (1994), FDI có tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người theo kết quả trong một nghiên cứu có đối tượng là 78 nước phát triển và 23 nước kém phát triển Nghiên cứu cho thấy, các nước kém phát triển ít được hưởng lợi từ các công ty đa quốc gia Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp trong nước so với các doanh nghiệp ngoài nước để mà có thể theo kịp hoặc trở thành nhà cung cấp của doanh nghiệp đa quốc gia

Ngoài ra, Globerman và cộng sự (2001) còn chỉ ra mối liên hệ giữa FDI

và trình độ giáo dục Kết quả cho thấy, giáo dục góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng thông qua cơ chế lan tỏa FDI Tuy nhiên, nghiên cứu trên vướng phải một số tranh cãi khi chỉ tiếp cận dưới góc độ vi mô và chỉ ứng dụng được vào một số ngành cụ thể Trái ngược lại, nhiều nghiên cứu trong đó tiêu biểu của Carkovic (2005) không tìm thấy minh chứng nào chứng minh cho vai trò của giáo dục đối với FDI Giải thích cho hiện tượng mâu thuẫn giữa các thực nghiệm, theo Wang (2011) nhận định rằng việc lựa chọn biến số đại diện cho giáo dục tại các nghiên cứu trước không có sự khác biệt mà trên thực tế thì trình độ giáo dục giữa các quốc gia là khác nhau Do đó tác động của trình độ giáo dục đến FDI là khác nhau tại các quốc gia khác nhau

Bộ đôi tác giả Chakraborty và Basu (2002) khi nghiên cứu về Ấn Độ trong giai đoạn 1975- 1997 phát hiện có mối liên hệ nhân quả ngắn hạn hai chiều giữa GDP và FDI FDI làm giảm chi phí lao động theo tác động lan tỏa

đã được Borensztein và cộng sự (1998) chỉ ra trước đó Kết quả tương tự cũng được Li và Liu nghiên cứu vào năm 2005 với dữ liệu bảng của 84 quốc gia giai đoạn 1970 – 1999 Như vậy có thể thấy FDI không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn lao động mà còn ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng kinh tế Pradhan (2009) nghiên cứu 5 quốc gia trong khu vực ASEAN là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thailand giai đoạn 1970- 2007 cho thấy có giữa FDI và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn có mối liên hệ qua lại, ngoại trừ Malaysia Tác giả nhận định rằng FDI rất quan trọng với các nước

Trang 5

đang phát triển Đây là nguồn vốn quan trọng bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong nước

Bài nghiên cứu của Juan Du (2011) cho biết hai trong số các nhân tố tác động tới thu hút FDI tại thị trường Việt Nam là quy mô thị trường và tốc độ phát triển của thị trường có ảnh hưởng cùng chiều tới việc phát triển nguồn vốn đầu tư tại Việt Nam Ngoài ra nhân công giá rẻ dồi dào và độ mở thị trường cao cũng có tác động đáng kể tới FDI Tuy vậy, nghiên cứu này cũng có một số điểm hạn chế khi chưa có minh chứng rõ ràng mối quan hệ giữa phát triển cơ

sở hạ tầng và FDI Đồng thời, bài viết cũng chưa chỉ ra được tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng tại nước chủ nhà là cần thiết trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Một nghiên cứu khác về FDI được tác giả Nguyễn Thị Thái Hưng và cộng

sự (2019) cung cấp cái nhìn khách quan dưới góc độ thu nhập của người dân Việt Nam Số liệu được thu thập từ các tỉnh thành của Việt Nam, nghiên cứu chỉ ra dòng vốn FDI có ảnh hưởng đáng kể đến bất bình đẳng thu nhập của người dân theo đường cong hình chữ U ngược Nghĩa là, thời gian đầu khi FDI vào Việt Nam làm tăng mức độ bất bình đẳng thu nhập, nhưng về sau mức độ này sẽ dần dần giảm xuống Tuy nhiên, ngoài FDI thì bài nghiên cứu phân tích nhiều biến số khác như GDP, chi thường xuyên, độ mở thương mại, chất lượng quản lý nhà nước Do vậy mà bài nghiên cứu chưa tập trung hoàn toàn vào tác động trực tiếp giữa bất đầu tư trực tiếp nước ngoài và bình đẳng thu nhập Dựa trên cơ sở số liệu thống kê trong thời gian 1995 - 2019 của nền kinh

tế Việt Nam, bài nghiên cứu của Lê Tài Thu (2021) đã phân tích mối quan hệ giữa nguồn vốn FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn này bằng mô hình định lượng VAR Kết quả ước lượng cho thấy, đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong ngắn hạn Theo đó, về dài hạn biến số FDI có tác động lớn nhất trong trung hạn và dài hạn Ngoài ra, nghiên cứu còn chứng minh được chiều ngược lại của mối quan hệ này, tăng trưởng kinh tế cũng có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến vấn đề thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 6

2.2 Tổng quan nghiên cứu về khí thải Carbon (CO2)

Trong những năm gần đây, phát triển bền vững và phát triển kinh tế xanh

đã trở thành mục tiêu hàng đầu đối với các quốc gia trên thế giới Bởi lẽ do tác động nghiêm trọng của phát thải CO2 đến môi trường CO2 chính là viết tắt của khí cacbonic, còn được biết đến với các tên gọi khác là cacbon dioxit, đioxit cacbon hay anhydrit cacbonic Ở dạng thể rắn khí CO2 còn được gọi là băng khô Nếu hàm lượng CO2 tăng cao sẽ gây nên hiệu ứng nhà kính, tác động xấu đến khí hậu trên toàn cầu Nền kinh tế xanh hay nền kinh tế carbon thấp đặt việc cắt giảm phát thải khí CO2 là nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình phát triển ở mỗi quốc gia

Để kiểm tra tác động của lượng phát thải CO2 và mức thu nhập ở quốc gia phát triển, Moomaw và Unruh (1997) đã chọn 16 nước OECD để điều tra

và sử dụng số liệu 4 mảng Trong mô hình nghiên cứu, biến được giải thích là phát thải CO2 bình quân đầu người, biến giải thích là GDP thực tế bình quân đầu người Mô hình mô tả hầu hết những nước được chọn đều có đường cong Kuznet chữ U ngược giữa thu nhập và chất lượng môi trường sống tại quốc gia Kết quả này hoàn toàn khác với các nghiên cứu trước đây về EKC về CO2 Cụ thể, tại 16 nước có sự chuyển đổi đột ngột, không liên tục chứ không phải là sự thay đổi dần dần

Báo cáo nghiên cứu của Phạm Hồng Mạnh (2014) đánh giá tăng trưởng xanh của Việt Nam từ mảng sử dụng năng lượng và mức phát thải CO2 giai đoạn 1985 - 2014 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ sử dụng nhiên liệu hóa thạch tăng từ mức 29,75% năm 1985 lên mức 71,05% năm 2011 Qua kiểm định mô hình kinh tế lượng kết luận rằng có mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và lượng khí thải CO2 tại Việt Nam Một số chính sách nhằm phát triển tăng trưởng xanh tại Việt Nam cũng được đề ra trong nghiên cứu Bằng chứng từ hồi quy số lượng tử của Panel, Zhu và công sự (2016) tập trung nghiên cứu tác động của FDI đến ô nhiễm không khí tại 5 quốc gia ASEAN Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các biến độc lập tác động lên lượng khí thải carbon là không đồng nhất Tại các quốc gia có lượng phát thải

Trang 7

cao, tăng trưởng kinh tế và quy mô dân số dường như làm giảm lượng khí thải

Họ cũng tìm thấy rất ít bằng chứng hỗ trợ đường cong chữ U ngược ở các nước ASEAN Mặc dù, FDI tác động tiêu cực tới các nước có mức phát thải trung bình và cao, thì lại không có sự rõ rệt tại quốc gia có mức phát thải thấp Một phát hiện quan trọng khác là ở các nước lượng phát thải thấp, tăng trưởng kinh

tế cao hơn, dân số đông hơn cũng không làm giảm lượng khí thải CO2 Do đó, biện pháp kiểm soát khí thải CO2 được đưa ra nên được điều chỉnh khác nhau giữa quốc gia có phát thải thấp và phát thải cao

Còn theo nghiên cứu của Neagu và Teodoru (2019) nhận thấy rằng mối liên hệ giữa chỉ số phức tạp kinh tế và phát thải CO2 được biểu thị đường cong hình chữ U ngược tại 25 quốc gia trong Liên minh Châu Âu từ năm 1995-

2017 Ô nhiễm sẽ gia tăng khi các quốc gia gia tăng mức độ phức tạp của sản phẩm xuất khẩu trong ngắn hạn Và ở dài hạn, sự gia tăng này sẽ ngăn cản mức

độ ô nhiễm Do đó, sự phức tạp của nền kinh tế không phải lúc nào cũng tốt hơn cho môi trường

Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Hoàng Nam (2021) làm rõ tốc độ gia tăng khí thải CO2 trong giai đoạn 2000-2020 Cho thấy mức phát thải CO2 giai đoạn 2010-2020 cao gấp hai lần so với tốc độ tăng năm 2000-2010 trước đó

Từ 2010 đến 2020 là khoảng thời gian mà Việt Nam mở cửa thương mại sâu rộng đến mức 200% với việc ký kết thành công các hiệp định thương mại thế

hệ mới song phương và đa phương Việc này đã thúc đẩy tăng trưởng GDP và đẩy mạnh phát triển trong các lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ môi trường không được quan tâm do đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa làm cho CO2 tăng với tốc độ cao Đồng thời nhóm tác giả đã đưa ra các khuyến nghị trong nước nhằm giảm phát thải CO2 và khắc phục những hậu quả của ô nhiễm môi trường

2.3 Tổng quan nghiên cứu về tác động của FDI đối với lượng khí thải CO2

“Bảo vệ và giữ gìn môi trường”, “biến đổi khí hậu”, “hiệu ứng nhà kính”

và “sự nóng lên toàn cầu” là những cụm từ được nhắc đến nhiều nhất mỗi khi môi trường bắt đầu trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu song song với

Trang 8

việc phát triển kinh tế trong vòng ba thập kỷ qua Khí thải carbon được coi là nguyên nhân chính gây ra những thảm họa này Chính vì vậy, kìm hãm sự nóng lên của hiệu ứng nhà kính cụ thể hơn là hạn chế gia tăng phát thải CO2 đã trở thành đích đến hàng đầu của các cuộc hội nghị, các tổ chức môi trường trên Thế Giới như Hội đồng Liên chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC, Khí thải CO2 đã và đang cướp đi tính mạng của hàng triệu người trên Thế giới mỗi năm, chúng được kích hoạt thông qua nhiều cách khác nhau như các vụ cháy rừng, núi lửa phun trào Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động lâu dài và trực tiếp ảnh hưởng tới môi trường Theo các tài liệu nghiên cứu trên toàn Thế giới về mối tương quan giữa FDI và CO2 được chia thành ba luồng ý kiến trái ngược nhau

Luồng ý kiến thứ nhất nhận định rằng FDI có tác động dương đến CO2, điều này có nghĩa là nếu đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên làm gia tăng tiềm lực kinh tế đồng nghĩa với việc CO2 tại quốc gia nhận đầu tư tăng theo Được gọi là giả thuyết thiên đường ô nhiễm (PHH) Các bài nghiên cứu ủng hộ giả thuyết này như:

Dựa vào phương pháp tiếp cận sử dụng mở rộng của mô hình STIRPAT

để giảm độ chệch, phân tích ảnh hưởng của FDI và ngoại thương đến môi trường của Trung Quốc từ 1997 đến 2014 do Yuan Huang và các cộng sự (2019) tiến hành Giai đoạn này Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên Thế giới với tốc độ tăng trưởng hàng năm vượt mốc 10% /năm nhưng đất nước này cũng nằm trong top các quốc gia xả thải nhiều khí CO2 ra môi trường nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của FDI đến CO2 là không đồng nhất, phụ thuộc vào lượng phát thải của từng khu vực: thấp, trung bình hoặc cao FDI có vai trò dẫn dắt hơn trong việc giảm thiểu phát thải CO2 ở các tỉnh

có lượng phát thải cao Còn các tỉnh có lượng phát thải thấp và trung bình thì FDI và CO2 là quan hệ cùng chiều Tuy nhiên, bài nghiên cứu còn gặp nhiều hạn chế do ô nhiễm môi trường có thể có các đặc điểm phụ thuộc vào không gian giữa các tỉnh lân cận của Trung Quốc Do đó, các nghiên cứu trong tương

Trang 9

lai cần phân tích sâu hơn để xem xét tác động không gian của FDI và lượng khí thải CO2

Bài nghiên cứu của Mohsin Shabir và cộng sự (2022) đóng góp công lao

to lớn vào công cuộc tìm ra sự phụ thuộc của FDI đối với lượng khí CO2 khi nhận thấy tác động lẫn nhau của hai yếu tố này ở mỗi quốc gia là khác nhau Lấy dữ liệu từ năm nước ASEAN giai đoạn 1980-2019 Thông qua việc kết hợp sử dụng đường cong Kuznets môi trường (EKC) và mô hình độ trễ phân phối tự động hồi quy phi tuyến (NARDL) tác giả đã quan sát thấy có bốn trên tổng số năm quốc gia cho kết quả ủng hộ giả thuyết thiên đường ô nhiễm là Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines Điều này ngụ ý rằng, các quốc gia này đang trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, khi tận dụng mọi cơ hội để tăng trưởng kinh tế được ưu tiên trên hết , theo đuổi các chính sách tăng trưởng

và dường như hàng rào pháp lý đối với môi trường tại các quốc gia này chưa cao Đối với Singapore- một đất nước được mệnh danh là thành phố xanh thì ngược lại, FDI và tiêu thụ năng lượng vận tải tăng sẽ làm giảm khí thải CO2 Kết quả cũng nhấn mạnh một thực tế rằng, mặc dù Singapore là điểm đến chính của các dòng vốn FDI quốc tế những các khoản đầu tư đó chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dịch vụ, cũng như chính sách luôn đề cao và ưu tiên các dự án FDI xanh của Singapore

Nhóm tác giả Yuan Wang và Yingjun Huang (2022) cũng đóng góp không nhỏ cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng lẫn nhau của các yếu tố thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh tế đối với lượng khí thải Carbon trong giai đoạn 2011-2022 các nước Đông Á trong ngắn hạn và dài hạn Dựa trên mô hình độ Trễ phân tán tự động hồi quy (ARDL) tác giả chứng minh tác động trước mắt, sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người tác động tiêu cực tới lượng khí thải carbon dioxide, tương tự FDI và độ mở cửa thương mại tăng cũng sẽ dẫn tới sự gia tăng của khí thải CO2 Nhưng về dài hạn thì FDI, GDP hay độ mở cửa thương mại lại không tác động đáng kể đến phát thải CO2

Trang 10

Khawaja Asif Mehmood và cộng sự (2022) đã phân tích ảnh hưởng của sản xuất công nghiệp và FDI trong bối cảnh kinh tế và môi trường của Pakistan

từ 1980 - 2020 Nghiên cứu đưa ra các bằng chứng chứng minh rằng sản xuất công nghiệp, đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có tác động dương với sự gia tăng khí thải carbon dioxide tại Pakistan Đây là công trình nghiên cứu quan trọng, giúp các nhà hoạch định chính sách chiến lược Pakistan có cái nhìn sâu hơn và thực tiễn hơn để đưa ra các biện pháp về bảo vệ môi trường Do đất nước này

có điều kiện tự nhiên, đất đai và khí hậu đa dạng , dễ xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như động đất, bão lũ, hạn hán, sóng thần, số liệu gần đây nhất

về những thiên tai mà người dân Pakistan phải hứng chịu là trận động đất Kashmir năm 2005 đã khiến 73.000 người thiệt mạng, hơn 1,5 triệu người bị ảnh hưởng; hay trận lũ lụt năm 2010 làm hơn 20 triệu người bị chết và mất nhà cửa

Luồng ý kiến thứ hai lại cho rằng FDI và CO2 ngược chiều nhau Khi FDI tăng thì CO2 giảm và ngược lại Được các chuyên gia nghiên cứu gọi là giả thuyết vầng hào quang ô nhiễm Một số bài nghiên cứu chứng minh sự ủng

hộ dưới đây:

Nghiêng về giả thuyết vầng hào quang ô nhiễm được thể hiện trong nghiên cứu của Binyam Afewerk Demena và cộng sự (2020), sử dụng bảng dữ liệu từ 65 quốc gia và khu vực trên Thế giới giai đoạn 1970-2015 kết hợp với phương pháp phân tích hồi quy đa biến (MRA) tác giả đã kết luận có mối quan

hệ nghịch đảo giữa FDI và phát thải, sự gia tăng của FDI giúp cải thiện kinh tế

và giảm ô nhiễm môi trường Có thấy tác động nghịch đảo giữa FDI và CO2 ở các nước phát triển đáng kể hơn so với các nước đang phát triển

Trong nghiên cứu các quốc gia G20, Yanyan Huang và các cộng sự (2022) cho rằng gia tăng FDI làm giảm thiểu CO2, phát thải có dấu hiệu giảm dần Giải thích cho điều này là do G20 là tập hợp các nền kinh tế lớn trên Thế giới, chiếm hơn 80% kinh tế toàn cầu Phần lớn các quốc gia trong nhóm là quốc gia phát triển và đang phát triển cao, đồng nghĩa với việc công nghệ máy móc trang thiết bị hiện đại được đưa vào quá trình sản xuất, khai thác, trang bị

Trang 11

công nghệ xử lý khí thải hiện đại và đồng thời pháp luật ở các quốc gia này có quy định và cơ chế xử phạt rất nghiêm ngặt, chi phi xử lý các hành vi tác động xấu tới môi trường cực kỳ nặng Vì vậy, FDI giữ một vai trò quan trọng trong việc vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa giảm thiểu CO2 tại các nước G20 Ngoài ra một số nghiên cứu lại cho thấy tác động của FDI và CO2 là mối quan hệ phi tuyến tính Có nghĩa là ban đầu tác động này là âm, những quốc gia phát triển thì FDI sẽ làm giảm CO2 Minh chứng cho mối quan hệ trên đều dựa trên mô hình đường cong Kuznet chữ U ngược (EKC) Lý giải về hình dạng của đường EKC Selden và Song (1994), Lindmark (2002) chia làm ba giai đoạn: (i) giai đoạn tiền công nghiệp, (ii) giai đoạn công nghiệp hóa, (iii) giai đoạn hậu công nghiệp Cụ thể trong giai đoạn tiền công nghiệp, nền kinh tế quốc gia chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lao động chân tay được tận dụng thay

vì máy móc, do đó sự ràng buộc với môi trường chưa có nhiều tác động đáng

kể Đến giai đoạn công nghiệp hóa được coi là giai đoạn trên đà tăng trưởng, khi tăng trưởng kinh tế toàn diện ở mọi lĩnh vực, nhu cầu sống của con người ở mức cao hơn được chú trọng trên hết Khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày một gia tăng; các cuộc cách mạng công nghiệp dần nổ ra, bài trừ và cải tiến cái cũ lỗi thời Cũng chính từ đó mà đáp ứng được những đòi hỏi cao của con người, đẩy mức sống quốc gia lên một giá trị cao mới cùng với sự xuống cấp của môi trường Lúc này, sức khỏe, nhu cầu sống trong môi trường trong lành với chất lượng không khí tốt hơn mới thực sự được chú ý đến

Các nghiên cứu đã góp phần tạo ra cái nhìn sâu rộng hơn về sự thay đổi các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và khí nhà kính Đồng thời cung cấp nhiều cách thức nghiên cứu khác nhau để đánh giá tác động một

cách khách quan nhất

2.4 Tính mới của đề tài nghiên cứu

Tính đến hiện tại, đã có một số bài nghiên cứu của các tác giả trên khắp thế giới quan tâm về vấn đề tác động của FDI đến phát thải CO2, tuy nhiên có nhiều kết luận được đưa ra là khác nhau Và cụ thể, các kết luận thay đổi phụ thuộc vào tình trạng nền kinh tế, trình độ phát triển của đất nước và giai đoạn

Trang 12

mà tác giả nghiên cứu Thực tế, trong những năm gần đây châu Á là khu vực thu hút lượng lớn dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nên việc nghiên cứu về khu vực này ở giai đoạn mới nhất là cần thiết Dựa trên cơ sở của những bài nghiên cứu trước, nhóm đưa ra những đóng góp mới của đề tài như sau:

Thứ nhất, nhóm tập trung nghiên cứu sâu và chỉ ra rõ mối quan hệ nhân quả của FDI và CO2 từ đó có thể thấy những tác động mà nguồn vốn đầu tư trực tiếp ảnh hưởng tới lượng phát thải tại khu vực châu Á

Thứ hai, nhóm sử dụng số liệu trong giai đoạn (1986-2021) và tập trung vào 10 năm gần đây, vì đây là giai đoạn mà dòng FDI nhiều sự thay đổi vào khu vực châu Á, thời gian này Châu Á cũng xảy ra nhiều sự kiện có mối liên hệ với đề tài mà nhóm nghiên cứu

Thứ ba, nhóm nghiên cứu tập trung vào 22 quốc gia tiêu biểu nhất tại Châu Á, đại diện cho hai nhóm quốc gia chính: phát triển và đang-kém phát triển Theo đó nhóm dựa trên các chỉ số của các khu vực tập trung nhiều FDI

và cũng thuộc top các nước châu Á có chất lượng không khí kém

Thứ tư, phân tích cụ thể về tác động của FDI đến CO2 của từng nhóm quốc gia, từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm một góc nhìn mới

Và là tiền đề, cơ sở cho các giải pháp phù hợp được đưa ra ở từng quốc gia

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu tác động của FDI đối với lượng khí thải Carbon tại các nước châu

Á, thông qua đó đưa ra khuyến nghị chính sách để thu hút FDI nhưng đồng thời giảm lượng khí thải CO2

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể

Tìm hiểu tình hình đầu tư các dòng vốn FDI tại các nước châu Á Đồng thời, chỉ rõ sự đánh đổi về môi trường giữa tăng trưởng kinh tế do thu hút vốn đầu tư FDI lẫn khí thải carbon ở khu vực này

Trang 13

Xây dựng các mô hình kinh tế lượng để phân tích cũng như đánh giá tác động của FDI khí carbon tại các nước châu Á

Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng FDI nhằm giảm thiểu tác động của nguồn vốn này đối với lượng khí thải carbon tại các nước châu Á

3.3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Thu hút vốn đầu tư FDI tác động như thế nào đến lượng khí thải

carbon tại các nước châu Á?

Câu hỏi 2: Thực trạng của tác động của vốn đầu tư nước ngoài FDI đến lượng

khí thải carbon của các nước châu Á?

Câu hỏi 3: Khuyến nghị chính sách để cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế do

thu hút vốn đầu tư FDI và giảm thiểu khí thải carbon do nguồn vốn này gây ra?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung chuyên sâu tìm hiểu và nghiên cứu tác động của FDI đối với lượng khí thải Carbon

Phạm vi không gian: Đề tài tập trung phân tích và đánh giá thực trạng các tác động của FDI đối với lượng khí thải Carbon tại 22 quốc gia châu Á

Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1986 – 2021

5 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Để xử lý các thông tin, dữ liệu đã được thu thập, bài viết sử dụng các phương pháp phân tích định tính: (i) Tổng hợp các nghiên cứu trước nhằm làm

rõ thực trạng của FDI tại 22 quốc gia Châu Á; (ii) Phương pháp so sánh (bao gồm so sánh chuỗi) Từ đó làm cơ sở đề xuất các gợi ý giải pháp

Để xem xét tác động giữa FDI và lượng khí thải carbon, chúng tôi dựa vào mô hình tác động cố định FEM kết hợp với mô hình tác động ngẫu nhiên REM với dữ liệu dạng bảng

5.2 Dữ liệu nghiên cứu

Trang 14

Từ những số liệu có sẵn trong báo cáo hàng năm của các Tổ chức thế giới về thông số lượng khí thải Carbon cũng như các thông số về tăng trưởng FDI từ 1986 – 2021

Các nguồn cung cấp dữ liệu nghiên cứu: Ngân hàng Thế giới World Bank (WB); Quý tiền tệ quốc tế (IMF); Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), Tổ chức Y tế Thế giới, Cơ quan Năng lượng Quốc tế, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO), Cục Đầu tư nước ngoài- Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

6 Cấu trúc bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu được chia làm chương như sau:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) ĐỐI VỚI LƯỢNG KHÍ THẢI CARBON

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN LƯỢNG KHÍ THẢI CO2 TẠI CHÂU Á

CHƯƠNG 4: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP (FDI) VỚI LƯỢNG KHÍ THẢI CARBON

1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI đã trở thành một xu thế tất yếu và là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế của mọi nước trên toàn cầu Mặc dù bản chất của hoạt động này là một nhưng có nhiều khái niệm khác nhau tùy theo từng góc độ mà ta xem xét

Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển - UNCTAD xác định đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là khoản đầu tư mang tính dài hạn phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay doanh nghiệp mẹ cư trú tại một nền kinh tế trong một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác

Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (2004), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư được thực hiện bởi chủ đầu tư ở nước sở tại nhằm đạt được những lợi ích lâu dài và giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp tại quốc gia nhận đầu tư

Ngoài ra, tổ chức Thương mại Thế giới - WTO (1996) còn đề cập tới hai khái niệm nước chủ nhà và nước sở tại Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy

ra khi một nhà đầu tư có trụ sở tại một quốc gia (nước chủ nhà) mua một tài sản

ở một quốc gia khác (nước sở tại) với ý định quản lý tài sản đó Khía cạnh quản

lý là yếu tố phân biệt FDI với đầu tư gián tiếp vào cổ phiếu, trái phiếu nước ngoài

Theo đó, nhóm xin đề xuất một khái niệm cụ thể nhất Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đầu tư dài hạn xuyên biên giới mà trong đó chủ đầu tư là đối tượng cư trú hoặc có trụ sở tại nước chủ nhà, trên cơ sở dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, theo đó chủ đầu tư sẽ đầu tư toàn bộ hay phần vốn đủ lớn thiết lập doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất kinh doanh tại một

Trang 16

quốc gia khác Và chủ đầu tư nước chủ nhà có quyền quản lý, kiểm soát, điều hành và ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động của doanh nghiệp đó

1.1.2 Đặc điểm của FDI

Thứ nhất, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là

tìm kiếm lợi nhuận và tối đa lợi ích trong dài hạn Các chủ đầu tư khi tham gia hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đều đặt mục tiêu tìm kiếm những thị trường mới, tài nguyên mới, nguồn lực phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy họ thường tìm tới các quốc gia khác nơi mà họ

có thể tối thiểu hóa các loại chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Thứ hai, chủ đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu toàn bộ vốn đầu tư hoặc

một tỷ lệ vốn nhất định trong tổng nguồn vốn Các quy định về vốn góp, mua lại phần vốn góp hay hợp đồng kinh doanh là khác nhau ở mỗi quốc gia Tỷ lệ vốn mà các chủ đầu tư nắm giữ sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư

đó trong hoạt động quản lý doanh nghiệp

Thứ ba, lợi nhuận sau mỗi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc

hoàn toàn vào quyết định của chủ đầu tư, sẽ được phân chia giữa các chủ sở hữu dựa vào phần trăm góp vốn của họ trong công ty hoặc có thể giữ lại để tái đầu tư

Thứ tư, FDI chủ yếu là hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa

quốc gia Các doanh nghiệp FDI thường là doanh nghiệp với 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh giữa chủ thể nước ngoài và các doanh nghiệp bản địa Tuy nhiên, phải chịu sự điều tiết của các chính sách vĩ mô của chính phủ nước nhận đầu tư tuân theo các luật định, chủ trương, chính sách Nhà nước có liên quan được đặt ra tại quốc gia sở tại

1.1.3 Vai trò của FDI đối với nền kinh tế

1.1.3.1 Nước đầu tư

Trang 17

Thứ nhất, đầu tư ra nước ngoài thường mang lại lợi nhuận nhiều hơn nhờ

vào việc giảm thiểu chi phí liên quan đến lao động và nguồn nguyên vật liệu sản xuất Đồng thời, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào ngành khai thác, họ

sẽ có nguồn nguyên liệu giá rẻ hơn so với nhập từ nước ngoài Việc sử dụng lao động giá rẻ, dồi dào của nước nhận đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí hàng hóa nhập khẩu và các chi phí phát sinh

Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy việc cải tiến và hiện đại hóa

các máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất Thực tế, hầu hết hoạt động kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp nhận nguồn vốn FDI đều nhận được chuyển giao công nghệ hiện đại, tiên tiến từ công ty mẹ

Thứ ba, đầu tư ra nước ngoài giúp cân bằng cán cân thương mại giữa các

quốc gia vốn là điều kiện để hợp tác phát triển lâu dài

1.1.3.2 Nước nhận đầu tư

Thứ nhất: FDI kích thích phát triển kinh tế do lợi ích từ việc tạo ra việc

làm Đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung vào việc thúc đẩy việc làm trong các ngành khai thác, sản xuất và dịch vụ của quốc gia; làm giảm thiểu sự gia tăng

tỷ lệ thất nghiệp Khi khả năng kiếm tiền của người dân tăng lên dẫn đến thu nhập khả dụng nhiều hơn trong tay người dân Thu nhập khả dụng càng nhiều, sức mua càng cao, điều này mang lại sự thúc đẩy tổng thể cho điều kiện kinh tế của quốc gia

Thứ hai: FDI giúp phát triển nguồn nhân lực Mọi thực thể có ý định phát

triển kinh doanh thông qua đầu tư nước ngoài đều đầu tư một phần vốn của mình vào việc phát triển nguồn nhân lực cần thiết Các kỹ năng khác nhau của nhân viên đạt được thông qua các khóa đào tạo và thực hành khác nhau có thể thúc đẩy hệ thống giáo dục và nguồn nhân lực của một quốc gia cụ thể Thông qua một tác động kéo dài, nó giúp đào tạo các nguồn lực cá nhân

Thứ ba: FDI giúp gia tăng xuất khẩu Nhiều sản phẩm do công ty FDI sản

xuất được trao đổi trên thị trường toàn cầu chứ không chỉ phục vụ cho tiêu dùng trong nước Điều này dẫn đến một lượng lớn hàng hóa được thông qua

Trang 18

qua cửa khẩu mỗi năm, giúp gia tăng kim ngạch xuất khẩu tại quốc gia tiếp nhận đầu tư

Thứ tư: FDI cung cấp công nghệ cho nước nhận đầu tư Để rút ngắn thời

gian sản xuất sản, nâng cao hiệu suất máy móc, công nghệ đóng vai trò quyết định đến chất lượng và số lượng sản phẩm Các công ty tại nước nhận đầu tư thu được lợi ích to lớn từ FDI thông qua công nghệ và công cụ được cải tiến Các phương thức hoạt động mới hơn và cải tiến được áp dụng để biến tầm nhìn thành hiện thực

Thứ năm: FDI tạo ra một thị trường cạnh tranh Tạo điều kiện thu hút các

doanh nghiệp nước ngoài cả về số lượng lẫn chất lượng và thúc đẩy các công ty khác thay đổi và cải tiến Khi môi trường cạnh tranh lành mạnh được xây dựng

sẽ góp phần phá bỏ các thế lực độc quyền trong nước Khi các sản phẩm mới hơn và có giá trị hơn được giới thiệu trên thị trường, người tiêu dùng được tiếp cận với chất lượng tốt hơn và nhiều loại sản phẩm có giá cạnh tranh

1.1.4 Các nhân chính tố ảnh hưởng tới đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.4.1 Nhóm nhân tố kéo

Các nhân tố kéo bao gồm các yếu tố nội sinh của nước nhận đầu tư, là những yếu tố vĩ mô về kinh tế, chính trị, xã hội, Đây đều là những đặc điểm của thị trường thể hiện sự phát triển của nền kinh tế tạo ra sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài

1.1.4.1.1 Quy mô thị trường

Quy mô thị trường là số lượng khách hàng và số lượng người bán một loại sản phẩm hay dịch vụ trên một thị trường và nó xác định doanh thu tiềm năng mà doanh nghiệp có thể tạo ra trên thị trường đó Đây là một trong những yếu tố quan trọng để doanh nghiệp đưa ra chiến lược kinh doanh và xác định được một lượng tiêu thụ từ đó biết được số lượng sản phẩm, dịch vụ cần sản xuất là bao nhiêu Một thị trường có quy mô lớn sẽ là thị trường mục tiêu của các doanh nghiệp với nhiều cơ hội và khả năng sinh lời lớn hơn thị trường có quy mô nhỏ Đơn giản có thể hiểu rằng, nơi nào có nhiều người mua thì nơi đó

Trang 19

sẽ tập trung lượng lớn người bán Thực tế cho thấy, các quốc gia có dòng vốn FDI đổ vào nhiều nhất là các quốc gia có quy mô thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ Nghiên cứu của Khchoo và Khan (2012) đã phân tích dữ liệu bảng về các nước đang phát triển và đưa ra kết luận, FDI và GDP có mối quan

hệ cùng chiều, trong đó GDP là yếu tố đại diện cho quy mô thị trường Bên cạnh đó, nghiên cứu của S Parashar (2015) cũng chỉ ra rằng, quốc gia nào có GDP càng cao thì dòng vốn FDI chảy vào càng lớn, kết quả này là phù hợp với giả thuyết tìm kiếm thị trường và tìm kiếm tài nguyên Tác giả cũng đưa ra biện pháp, đối với các quốc gia muốn thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trước tiên cần phải tăng trưởng kinh tế để cải thiện quy mô thị trường

1.1.4.1.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng mức sản lượng mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian Có ba chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế: sự tăng lên của tổng sản phẩm trong nước (GDP) hay tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc quy

mô sản lượng quốc gia tính bằng bình quân đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được đo bằng chỉ tiêu GDP đã được nhiều nhiều bài nghiên cứu đề cập Tuy nhiên, mối quan hệ này lại có sự không đồng nhất giữa các bài nghiên cứu Có nghiên cứu cho rằng

có tác động hai chiều, có nghiên cứu chỉ ra có tác động một chiều, và cũng có nghiên cứu chỉ ra không có mối liên hệ nào giữa vốn FDI và tăng trưởng kinh

tế

Thứ nhất, mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (thông qua chỉ tiêu GDP) Trong ngắn hạn, Chakraborty và Basu (2002) nghiên cứu tại quốc gia Ấn Độ giai đoạn 1975 - 1997 thấy có mối liên hệ nhân quả hai chiều tác động của GDP lên FDI Borensztein và các cộng sự (1998) thấy rằng vốn FDI có xu hướng làm giảm chi phí lao động theo tác động lan tỏa FDI tác động trực tiếp và tương tác với nguồn lao động, gây ra ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng kinh tế Trong dài hạn, Pradhan (2009) đã chọn 5 quốc gia khu vực Asean bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thailand giai đoạn 1970 - 2007 để nghiên cứu về mối quan hệ FDI và tăng trưởng kinh tế

Trang 20

Kết quả cho thấy rằng, trừ Malaysia thì 4 quốc gia còn lại đều thể hiện mối quan hệ hai chiều của hai nhân tố này và FDI đóng vai trò quan trọng với các nước đang phát triển, bù đắp thiếu hụt tiết kiệm trong nước dành cho nhu cầu đầu tư Điểm chung của các bài báo cáo về tác động hai chiều của FDI và GDP

là FDI là nguồn vốn quan trọng để bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong nước, nâng cao chất lượng lao động, công nghệ… Đây chính là những yếu tố tác động góp phần làm tăng sản lượng

Thứ hai, mối quan hệ một chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (thông qua chỉ tiêu GDP) Trong bài nghiên cứu của Nair - Reichert và Weinhold (2001) có bộ dữ liệu là 24 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1971 - 1995, cho thấy có một số bằng chứng thể hiện hiệu quả của FDI trong việc nâng cao tốc

độ tăng trưởng trong tương lai Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của 24 quốc gia trong nghiên cứu là không đồng nhất, nhưng nhân tố này có tác động mạnh

mẽ hơn ở các nền kinh tế có độ mở hơn Tuy nhiên, ở một số nghiên cứu khác, kết quả lại cho thấy tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia thì FDI và GDP

có thể có mối quan hệ một chiều hay hai chiều Cụ thể, trong nghiên của bộ đôi tác giả Moudatsou và Kyrkilis (2011) trên mẫu các quốc gia châu Âu và ASEAN giai đoạn 1970 - 2003 cho thấy: Các quốc gia châu Âu có quan hệ tác động một chiều giữa GDP và FDI Nhưng các quốc gia ASEAN (trừ Việt Nam

và Campuchia) thì lại cho ra quan hệ nhân quả hai chiều

Cuối cùng, ở chiều hướng ngược lại, DE Mello (1990) nghiên cứu 32 quốc gia lại cho ra kết quả rằng có ít bằng chứng thể hiện tác động của FDI đến việc làm tăng sản lượng Ngoài ra, Athukorala (2003) với bài nghiên cứu lấy bộ

dữ liệu là Sri Lanka (1959 - 2002) chỉ rõ những nguyên nhân làm giảm tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế như bất ổn chính trị, sự yếu kém của cơ

sở hạ tầng…

1.1.4.1.3 Độ mở thương mại

Theo Fischer (2003), độ mở thương mại là quá trình phụ thuộc liên tục lẫn nhau về mặt sinh thái giữa các quốc gia được phản ánh trong việc ngày càng có nhiều hàng hóa và dịch vụ thương mại xuyên biên giới, các dòng chảy

Trang 21

tài chính ngày càng tăng Độ mở thương mại là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo World Bank (2020), chỉ số này được tính bằng tỷ lệ hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu và nhập khẩu trên GDP Độ mở thương mại làm tăng cường hội nhập kinh tế, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và phát triển nền kinh tế của các quốc gia Tỷ trọng này càng lớn thấy rằng quốc gia đó càng có động thái cởi mở trên thị trường thương mại quốc tế, và ngược lại Mối quan hệ giữa độ mở thương mại và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được nhiều bài nghiên cứu chú ý đến Sichei & Kinyondo (2012) thực hiện nghiên cứu với số liệu của 45 quốc gia châu Phi, kết quả chứng minh rằng FDI tác động làm tăng độ mở thương mại Theo Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014) với nghiên cứu các nhân

tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại những quốc gia đang phát triển bằng phương pháp FGLS cho thấy độ mở thương mại có tác động cùng chiều lên dòng vốn FDI tại các quốc gia đang phát triển Điều này hàm ý rằng môi trường tại quốc gia nhận đầu tư có độ mở thương mại càng lớn, sẽ càng dễ dàng giao thương với các nước trên thế giới mà ít bị rào cản, các nhà đầu tư rất chú trọng điều này vì giúp hàng hóa, sản phẩm dễ dàng tiêu thụ qua thị trường nước ngoài Kết quả này mâu thuẫn với nghiên cứu thực nghiệm của Ab Quyoom Khachoo và Mohd Imran Khan (2012) cho thấy độ mở quốc gia không có ảnh hưởng đáng kể đến FDI

1.1.4.1.4 Tham nhũng

Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức

vụ, quyền hạn đó của mình để đạt được lợi ích vật chất hoặc phi vật chất không chính đáng của cá nhân Để đánh giá mức độ tham nhũng tồn tại trong các giới công chức và chính trị gia của một quốc gia, Tổ chức Minh bạch Quốc tế đã sử dụng chỉ số nhận thức tham nhũng đó là CPI – Corruption Perceptions Index ở hơn 170 quốc gia như một tiêu chí đáng tin cậy Tham nhũng xuất phát từ sự tha hóa quyền lực mà nguyên nhân sâu xa là xuất phát từ hệ thống tổ chức, thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa Dựa trên kết quả nghiên cứu của Lê Thị Phương

Vy, Lê Văn Hòa, Đặng Văn Cường (2018) về đánh giá ảnh hưởng của tham

Trang 22

nhũng và chênh lệch tham nhũng đến việc thu hút dòng vốn FDI của 31 nước Châu Á từ 2005 – 2014 cho thấy tham nhũng gây cản trở tới việc thu hút dòng vốn FDI Hơn nữa, đối với các nước tiếp nhận vốn FDI nếu có mức độ tham nhũng cao hơn so với các nước đầu tư sẽ dẫn đến dòng vốn FDI giảm xuống Các doanh nghiệp FDI thường dè chừng và cân nhắc kĩ khi đầu tư vào các quốc gia có mức độ tham nhũng cao do lo sợ những ảnh hưởng nghiêm trọng trong việc phân phối tài sản và thu nhập một cách minh bạch

1.1.4.1.5 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những điều kiện về mặt vật chất, kỹ thuật, tồn tại trong xã hội nhất định Có thể hiểu cơ sở hạ tầng là khái niệm chung để chỉ đường bộ, đường sắt, bệnh viện, trường học, hệ thống thủy lợi, cấp nước… Cơ sở hạ tầng được xem là một nhân tố quan trọng tạo nên sự hấp dẫn trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trên thực tế cho thấy, các quốc gia có cơ sở hạ tầng được cải thiện và tốt hơn sẽ có lợi thế cạnh tranh so với các nước khác trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, khi đã thu hút được đầu tư nước ngoài thì khả năng tạo cơ sở hạ tầng cũng rất lớn Các nghiên cứu gần đây

đã làm sáng rõ vai trò của phát triển cơ sở hạ tầng tới FDI Jayasekara S.D (2014) cho rằng cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng tích cực đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài Hay như Dupasquier & Osakwe (2006) xác định cơ sở hạ tầng còn khiêm tốn và chưa được đầu tư ở châu Phi khiến cho thu hút FDI của các quốc gia khu vực này thấp hơn khi so sánh với các quốc gia đang phát triển khác Như vậy, việc đầu tư, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng là rất cần thiết đối với quá trình thu hút FDI Nếu những chính sách đầu tư vào lĩnh vực này không hợp lý hay không đúng phương hướng sẽ làm mất đi động lực trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Để không rơi vào tình huống này và làm cho dòng dòng chảy FDI được liên tục và ngày càng tăng, Chính phủ mỗi quốc gia cần chú trọng, nắm bắt được thực trạng hiện nay của các công trình hạ tầng, những thành tựu đã đạt được và những hạn chế của lĩnh vực cũng như các yêu cầu của FDI đối với kết cấu cơ sở hạ tầng

1.1.4.1.6 Mức độ ổn định chính trị

Trang 23

Ổn định chế độ chính trị là một hình thái đặc biệt của sự vận động xã hội - vận động trong trật tự, kỷ cương, đảm bảo rằng các cấu trúc, chức năng cấu thành bản chất chế độ chính trị được giữ vững, tăng cường, không dẫn tới rối loạn, bất ổn, tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy vận động xã hội theo khuynh hướng đi lên Sự ổn định chính trị - xã hội là điểm mẫu chốt được các nhà đầu

tư đưa vào các yếu tố xem xét hàng đầu khi đầu tư trực tiếp, tạo được niềm tin mạnh mẽ với các nhà đầu tư , khiến các nhà đầu tư tin tưởng vào quá trình sản xuất kinh doanh ổn định tại quốc gia nhận đầu tư, sẵn sàng huy động vốn để gia tăng đầu tư, mở rộng sản xuất

Trong nghiên cứu của Francis và cộng sự (2009) đã sử dụng lý thuyết thể chế để nghiên cứu về thể chế chính trị tác động đến FDI và chỉ ra rằng môi trường chính trị mới là yếu tố quan trọng hàng đầu có ảnh hưởng đáng kể đến nguồn vốn FDI và tác động tới quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư FDI, trong khi Dupasquier và Osakwe (2006) nghiên cứu về thị trường châu Phi và Ấn Độ lại chỉ ra rủi ro chính trị mới là động lực quan trọng của dòng vốn FDI Bên cạnh đó, Mamunur Rashid (2017) đã nghiên cứu dựa vào dữ liệu của 15 quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương về ảnh hưởng của mức độ ổn định chính trị đối với 15 quốc gia trên và kết quả các chỉ số của mô hình cho thấy sự ổn định chính trị có tác động trong lâu dài đối với FDI

Như vậy, ta có thể thấy ổn định chính trị là động cơ quan trọng thúc đẩy dòng chảy của đầu tư trực tiếp nước ngoài Để có thể phát triển, tăng cường được dòng vốn đầu tư trực tiếp, Chính phủ cần quan tâm đến việc xây dựng hình ảnh của quốc gia, đảm bảo và duy trì môi trường chính trị ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài

1.1.4.1.7 Lạm phát

Lạm phát là sự tăng giá của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian và là sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi lạm phát xảy ra liên tục ở mức độ cao gây ảnh hưởng đến mọi hoạt động của con người, đặc biệt là đối với nền kinh

tế, nó tác động đến sự ổn định giá trị của đồng tiền, hoạt động kinh doanh, Tỷ

lệ lạm phát còn được coi là thước đo mức độ ổn định kinh tế vĩ mô của một

Trang 24

quốc gia Tỷ lệ lạm phát của một nền kinh tế cao sẽ làm giảm lợi tức đầu tư và kinh tế vĩ mô có những dấu hiệu bất ổn Trong môi trường này, chính phủ sẽ không thể cân bằng ngân sách và RBI sẽ hạn chế nguồn cung tiền và dẫn đến dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào thấp cũng phản ánh mức độ của sự không chắc chắn về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Demirhan và Masca (2008), tỷ lệ lạm phát có một dấu hiệu tiêu cực đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài Bên cạnh đó, nghiên cứu của Azam và cộng sự (2010) cũng đưa ra kết luận rằng ở một nước có tỷ lệ lạm phát thấp sẽ thu hút nguồn vốn FDI hơn là ở nước có tỷ lệ lạm phát cao Mặt khác, có một số nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ lạm phát không có tác động đáng kể lên dòng vốn FDI như là nghiên cứu của Nurudeen & Wafure (2010) Vì vậy, chưa thể kết luận được rằng lạm phát và dòng vốn FDI có mối quan hệ như thế nào, điều này còn phụ thuộc vào điều kiện cũng như đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia

1.1.4.1.8 Chi phí lao động

Chi phí lao động là phần chi phí phải trả cho người lao động tham gia vào quá trình vận hành, sản xuất để tạo ra thành phẩm của doanh nghiệp Theo lý thuyết kinh tế, chi phí lao động là chi phí chính chiếm hơn 50% tổng chi phí kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Đối với các nhà đầu tư, để đạt được lợi nhuận ở mức tối đa thì chi phí phải bỏ ra cần được tối thiểu hóa Vì vậy, không thể phủ nhận chi phí lao động thấp là động cơ của các công ty đa quốc gia khi tìm kiếm quốc gia đầu tư Thực tế có thể chứng minh, Trung Quốc cung cấp lao động dồi dào khi đạt số dân là 1,41 tỷ người trong đó số dân trong độ tuổi lao động chiếm 63,35% vào năm 2021 và chi phí lao động thấp hơn so sánh với quốc gia khác (207 USD/ người/ tháng) nên dòng chảy FDI vào Trung Quốc rất đáng kể, cụ thể theo Bộ Thương mại Mỹ, trong 11 tháng đầu năm 2021, vốn FDI đổ vào Trung Quốc đã tăng 15,9% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt qua ngưỡng quan trọng 1.000 tỷ nhân dân tệ để đạt mức 1.040 tỷ nhân dân tệ (157,2

tỷ USD) Con số này cao hơn mức tăng 999,98 tỷ nhân dân tệ (144,37 tỷ USD) vào năm 2020 Nghiên cứu của Wheeler và Mody (1992) đã chỉ ra rằng, khi chi phí lao động càng thấp thì dòng vốn FDI chảy vào càng tăng Hay theo SY Lee

Trang 25

và cộng sự (2021) đã chứng minh rằng việc tăng lương tối thiểu đã làm giảm sức cạnh tranh về thu hút FDI tại một quốc gia, các công ty đa quốc gia luôn có

xu hướng tìm kiếm thị trường có chi phí lao động thấp Vì vậy, mối quan hệ giữa chi phí lao động và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là ngược chiều

1.1.4.2 Nhóm nhân tố đẩy

Những nhân tố đẩy là yếu tố xuất phát từ tình hình kinh tế thế giới nói chung hay nền kinh tế của quốc gia đi đầu tư nói riêng Những yếu tố đẩy làm cho các nhà đầu tư của nước này phải đưa ra quyết định đầu tư ở một quốc gia khác có nhiều lợi thế hơn và thu được lợi nhuận tốt nhất

1.1.4.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế của nước ngoài là nhân tố đẩy đầu tiên làm cho dòng vốn FDI chảy từ khu vực này sang khu vực khác Tăng trưởng kinh tế là thước

đo phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng kinh

tế tăng chậm thể hiện nhu cầu của nền kinh tế đang bị giảm dần thị trường đó được coi là kém hấp dẫn đối với nhà đầu tư Tăng trưởng kinh tế chậm lại ở nước sở tại sẽ làm các nhà đầu tư nản lòng vì không mang lại lợi ích và cơ hội kinh doanh Không có lý do nào làm cho các nhà đầu tư dồn vốn vào một nền kinh tế tăng trưởng chậm và tỷ lệ lợi nhuận thấp cũng như thời gian để lấy lại vốn kéo dài trong khi họ có thể đầu tư vào một nền kinh tế khác có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn với khả năng sinh lời cao hơn Từ đó, yếu tố đẩy chính là tăng trưởng kinh tế của nước sở tại Tóm lại, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước sở tại bị chững lại sẽ đẩy các nhà đầu tư đến nền kinh tế có mức độ tăng trưởng lớn hơn

1.1.4.2.2 Lãi suất

Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền gốc khi mượn tiền hay đi đầu tư tiền Lãi suất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia, nó ảnh hưởng đến các yếu tố về cung- cầu tiền tệ, lạm phát, mức độ ổn định kinh tế,

Về khía cạnh đầu tư, khi lãi suất tăng, nhà đầu tư sẽ có xu hướng tăng lượng tiền gửi để được hưởng lãi suất cao và từ đó làm giảm lượng vốn đầu tư, mà

Trang 26

khi tất cả các nhà đầu tư đều theo chiều hướng này thì tổng lượng vốn đầu tư giảm và kéo theo đó lợi nhuận cũng bị giảm Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư sẽ e ngại về việc đầu tư ở nước có lãi suất cao và thay vào đó, họ sẽ tìm kiếm những thị trường có lãi suất thấp để lợi nhuận của họ được tăng Lãi suất cho vay thấp có thể cho phép các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ có cơ hội tìm kiếm được đối tác tốt hơn với đủ vốn đầu tư trong nước để bổ sung mà còn tối đa hóa lợi tức đầu tư cho họ Cũng có thể nói rằng, lãi suất của nước sở tại tác động mạnh đến dòng vốn, dòng vốn đầu tư sẽ

có xu hướng chảy từ nơi có lãi suất cao đến nơi có lãi suất thấp Thực tế, có thể hiểu như sau, khi lãi suất ở Mỹ cao hơn lãi suất ở Việt Nam thì các nhà đầu tư của Mỹ sẽ có xu hướng đầu tư tại Việt Nam để đạt mức tối đa hóa lợi nhuận Nghiên cứu của RashmiBanga (2003) cũng đã chứng minh rằng lãi suất chính

là yếu tố thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài

1.1.4.2.3 Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là mức giá cả mà đồng tiền của một quốc giá này có thể chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia khác tại một thời điểm nhất định Tỷ giá được tính bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ Khi tỷ giá hối đoái giữa ngoại tệ so với nội tệ tăng thì tức là đồng nội tệ bị giảm giá và ngược lại, khi tỷ giá giữa ngoại tệ so với nội tệ giảm tức là đồng nội tệ tăng giá Yếu tố này sẽ làm chi phối quyết định của nhà đầu tư khi tính toán chi phí phải bỏ ra

và lợi nhuận thu về, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn đầu tư Các nhà đầu tư sẽ không thích đầu tư vào quốc gia có tỷ giá hối đoái cao, do giá trị tiền tệ cao làm giảm vốn đầu tư Bên cạnh đó, cũng có lý thuyết cho rằng các nhà đầu tư có khả năng đầu tư vào các thị trường mục tiêu có đồng tiền yếu

vì họ tin rằng lợi nhuận đạt được sẽ cao hơn tại thị trường đó Điều này cũng có thể thấy trên thực tế, những nền kinh tế lớn thường có đồng tiền mạnh và những nhà đầu tư của nước này sẽ đi đầu tư tại quốc gia có đồng tiền yếu Điều này là phù hợp với kết quả nghiên cứu của Hara và Razafimahefa (2005), trong đó tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng tích cực đến dòng vốn FDI

1.2 Tổng quan về khí thải CO2

Trang 27

1.2.1 Khái niệm

Khí thải CO2 hay khí cacbonic là một hợp chất hóa học với công thức CO2 Một số tên gọi khác như: cacbon đioxit, cacbon oxit, carbon dioxide, thán khí, anhydrit cacbonic Khi ở điều kiện bình thường loại hợp chất này có dạng khí trong khí quyển Trái Đất, gồm một nguyên tử cacbon cùng hai nguyên tử oxy Hiệu ứng nhà kính là hiệu ứng làm cho không khí dần dần nóng lên tạo ra bức xạ với bước sóng dài vào khí quyển để CO2 hấp thụ mạnh, những tia bức

xạ này không thoát ra được mà bị giữ lại trong khí quyển làm cho Trái đất nóng lên CO2 có tác dụng như tấm kính nó làm trái đất nóng lên khi được tia sáng mặt trời chiếu vào Vì vậy, chúng là nhân tố chủ yếu giải thích cho hiện tượng nóng lên toàn cầu, càng tồn tại nhiều khí thải CO2 trong khí quyển thì hiện tượng nóng lên toàn cầu, băng tan ở hai cực càng trở nên trầm trọng Lượng khí thải CO2 phản ánh mức độ ô nhiễm không khí trên một khu vực nào đó Khi không khí bị ô nhiễm, yếu tố đầu tiên được nhắc đến chính là ô nhiễm môi trường góp phần gây ra hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động của con người, đặc biệt là đối với nền kinh tế Khi lượng CO2 của một khu vực tăng cao, đồng nghĩa với ô nhiễm môi trường ở khu vực đó xảy ra nghiêm trọng và làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống cũng như hoạt động sản xuất của con người Sự thay đổi này làm cho các hoạt động thương mại kém hiệu quả và lâu dần, nên kinh tế sẽ phát triển chậm thậm chí bị chững lại

1.2.2 Các tác động của khí thải CO2

Lượng phát thải CO2 tăng gây ra các hiện tượng cực đoan cho trái đất như hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, mưa axit Những hiện tượng này đều ảnh hưởng nghiệm trọng đến đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh của con người Lượng khí thải CO2 đại diện cho chất lượng của môi trường, do đó khí thải CO2 là một trong những tác động chính ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Theo nghiên cứu của Eunho Choi, IZA DP Almas Heshmati và Cho Yongsung (2010), sự tăng lên của lượng phát thải CO2 trong ngắn hạn và dài hạn đều làm ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế quốc gia và đưa ra nhận định rằng giảm lượng khí thải CO2 là yêu cầu thiết yếu cho mỗi quốc gia có xu

Trang 28

hướng phát triển, cần thực hiện các chính sách môi trường để tăng trưởng kinh

tế bền vững đồng thời đảm bảo cho môi trường Đối với tăng trưởng kinh tế, khi chất lượng môi trường giảm sút kéo theo các hậu quả về sức khỏe con người, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực Hơn nữa, các quốc gia phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường, không thể tập trung để phát triển kinh tế từ đó sự phát triển của nền kinh tế bị chững lại Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng môi trường cũng có ảnh hưởng lớn đến quyết định của nhà đầu tư Một phần vì các nhà đầu tư lớn sẽ không muốn đầu

tư tại một nước có môi trường kém vì phải bỏ ra nhiều chi phí hơn và lợi nhuận thu về cũng thấp hơn Một phần do khi chất lượng môi trường bị suy thoái, chính phủ các nước sẽ thắt chặt các điều kiện cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, sẽ có các chính sách nhằm bảo vệ môi trường kèm theo Ví dụ như các can thiệp về thuế môi trường, nghĩa vụ môi trường, các thủ tục liên quan và giấy phép để hạn chế những dòng vốn gây hại cho môi trường

1.2.3 Các nguồn phát thải CO2 chủ yếu

1.2.3.1 Nguồn gốc tự nhiên

Trước tiên, phải kể đến những nhân tố có nguồn gốc từ tự nhiên Khí CO2 được thoát ra thông qua những vụ phun trào núi lửa và các sinh vật sống hiếu khí, thực vật, động vật và bao gồm cả con người Theo cơ quan Khảo sát địa chất Mỹ (USGS), tất cả các ngọn núi lửa hoạt động mỗi năm sinh ra khoảng 0,13 đến 0,44 tỷ tấn phát thải CO2

Thực vật hấp thụ một phần CO2 qua quang hợp, đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng CO2 của bầu khí quyển Nhưng do hiện nay thảm thực vật đang ngày càng mất dần đi, một phần nguyên nhân khách quan đến từ tự nhiên khi những đợt núi lửa phun trào thiêu rụi cả khu rừng, hay những trận mưa axit, hạn hán gây ra cháy rừng diện rộng, Nếu thảm thực vật, nhất là thực vật rừng ngày một giảm sút sẽ dẫn tới sự mất cân bằng giữa lượng CO2 thải ra và CO2 được thực vật sử dụng để quang hợp, từ đó làm cho CO2 trong bầu khí quyển tăng lên Thực vật hấp thụ CO2 để quang hợp để tạo thành cacbonhydrat và giải phóng khí oxy Các sinh vật dị dưỡng sử dụng oxy để hô hấp rồi thải khí CO2,

Trang 29

tạo thành một chu trình Ngoài ra, CO2 còn là kết quả của quá trình phân hủy xác động vật Tuy nhiên những yếu tố này đều tuân theo quy luật của thiên nhiên, nên việc sản sinh ra cacbon đioxit là hoàn toàn không mang đến ảnh hưởng quá lớn cho môi trường cũng như hoạt động sống của con người Ngược lại, nó còn làm cân bằng hệ sinh thái để thế giới phát triển theo một cách tự nhiên nhất

Những nhân tố trên là do sự vận động của địa chất theo chu trình vốn có của tự nhiên, chúng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định tác động tới môi trường đặc biệt là góp phần vào sự gia tăng lượng khí thải CO2 trong bầu khí quyển Tuy nhiên chúng chỉ được đánh giá là một phần nhỏ so với những tác động do con người gây ra

1.2.3.2 Nguồn gốc nhân tạo

Theo dữ liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), lượng khí thải trong quá trình sinh hoạt của con người, quá trình công nghiệp, đốt cháy năng lượng đã đạt con số kỷ lục là 36,3 tỷ tấn tính riêng trong năm 2021 Qua đó có thể thấy sự tác động của con người làm tăng khí thải CO2 toàn cầu mới là nguyên nhân chính gây ra hàng loạt hậu quả về biến đổi khí hậu như ngày nay

Hình 1.1 Các nguồn phát thải khí CO2 chủ yếu trên thế giới

Trang 30

Nguồn: Climate Change 2014: Mitigation of Climate Change Contribution of Working Group III to the Fifth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC, 2014)

Carbon dioxide xảy ra tự nhiên trong khí quyển Nó là một thành phần thiết yếu trong quang hợp, quá trình thực vật tạo ra thức ăn và năng lượng Nguyên nhân chính là nạn phá rừng và đốt nhiên liệu hóa thạch như than đá Khi nồng độ carbon dioxide tăng lên, ảnh hưởng đến mức độ ô nhiễm không khí Carbon dioxide chiếm ít hơn 1 phần trăm của khí trong khí quyển Theo chu trình carbon, quá trình quang hợp sẽ sử dụng CO2 như nguồn nguyên liệu chính và sản phẩm chính là khí O2 Con người và động vật khi hít thở sẽ hấp thụ O2 và thải ra CO2 Bên cạnh đó, khi cây cối và động vật chết đi, xác thực vật và động vật phân hủy cũng tạo ra CO2 Chu trình carbon cho thấy khi cây cối chết đi, chúng sẽ tạo ra CO2 nhưng khi bị dùng làm chất đốt, lượng CO2 tạo ra còn nhiều hơn Vì thế lượng CO2 trong khí quyển sẽ tăng lên khi con người gia tăng việc đốn hạ cây xanh làm chất đốt, cùng với việc thiếu hụt thảm thực vật có khả năng quang hợp tái tạo O2 từ CO2 Một nguồn phát thải CO2 lớn nữa đến từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch Bản chất của nguyên liệu hóa thạch là các cơ thể sống không phân hủy hoàn toàn và lượng các bon chưa phân giải được lưu trữ trong lòng đất hàng triệu năm Việc đốt nhiên liệu hóa thạch làm giải phóng lượng các bon bị tồn trữ và phát thải mạnh CO2 vào không khí Qua Biểu đồ, ta có thể thấy ngành sản xuất điện và nhiệt phát thải ra nhiều khí CO2 nhất với tỷ trọng 25% của tổng lượng khí CO2 phát thải

Trang 31

Nguyên nhân do quá trình sản xuất điện và nhiệt này cần phải đốt cháy nhiều nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên

Xếp thứ hai là ngành nông nghiệp với 24% lượng phát thải khí CO2 toàn cầu.Sản xuất nông nghiệp được xác định là nguồn gây phát thải, tập trung ở các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, quản lý đất, sử dụng phân bón, quản lý đất , trong đó, phần lớn phát thải CO2 đến từ các hoạt động trồng trọt

Xếp thứ ba là ngành công nghiệp chiếm 21% lượng phát thải CO2 toàn cầu năm 2010 Khí nhà kính sinh ra trong quá trình sử dụng nhiên liệu trong nhà máy, các khu công nghiệp với mục đích là tạo ra năng lượng phục vụ sản xuất

Ngành giao thông vận tải chiếm 14% lượng phát thải CO2 toàn cầu chủ yếu do phương tiện cũ, lạc hậu, tuổi đời cao; mạng lưới kết cấu hạ tầng có chất lượng kém, kết nối chưa thuận lợi dẫn đến nhiều điểm ách tắc giao thông; tổ chức vận tải chưa hiệu quả, vận tải đường bộ chiếm thị phần cao, tỷ lệ xe chạy rỗng lớn, giao thông công cộng chiếm tỷ trọng khiêm tốn tại các đô thị

Ngành xây dựng chiếm 6% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu.Trong

đó, phần lớn lượng phát thải CO2 do sản xuất xi măng

Các nhân tố khác trong đó tiêu biểu là nạn phá rừng: từ trước đến nay, đây vẫn được coi là vấn đề nan giải khó khi dữ liệu từ vệ tinh cho thấy, năm

2021, có 3,75 triệu ha rừng đã bị phá hủy trên toàn thế giới Theo Viện Tài nguyên thế giới (WRI) có khoảng 253.000 km2 rừng đã bị mất vào năm 2021 Ước tính sự mất mát này đã giải phóng 2,5 tỷ tấn khí thải carbon - ngang bằng với lượng khí thải hàng năm của Ấn Độ Rừng là tài nguyên thiên nhiên mang đến rất nhiều tác dụng và giữ cân bằng sinh thái Trong quá trình trao đổi chất, cây có thể hấp thụ lượng CO2, tạo là khí Oxi Rừng được coi như lá phổi xanh,

vì vậy rừng bị chặt phá đồng nghĩa với việc gây hại đến lá phổi của nhân loại

1.2.4 Các nhân tố chính tác động tới lượng phát thải CO2

Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) tuyên bố trong bài báo cáo đánh giá khí hậu lần thứ sáu năm 2021 rằng với lượng khí thải CO2

Trang 32

ngày càng tăng thì con người là “thủ phạm” chính gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu Nhiều bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, con người thông qua các hoạt động cải tạo thiên nhiên, sản xuất chế biến, hiện đại hóa cuộc sống, mà tác động tới môi trường

1.2.4.1 Tiêu thụ năng lượng

Cùng với sự tiến bộ công nghệ trong thập kỷ qua, việc sử dụng các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí đốt tự nhiên và than đá đã được tăng lên ở các quốc gia khác nhau Như vậy có thể nói, năng lượng là cơ sở hạ tầng nền tảng,

cơ bản cho các hoạt động công nghiệp, kinh tế của mỗi quốc gia Năng lượng là yếu tố sản xuất quan trọng, thực chất là động lực của tăng trưởng kinh tế

Tiêu thụ năng lượng là quá trình sử dụng, đốt cháy các loại nhiên liệu trong công nghiệp để cho phục vụ sản xuất và đời sống con người Không thể phủ nhận những lợi ích mà năng lượng đem lại cho cuộc sống con người; than, xăng, dầu là những ví dụ điển hình nhất cho những hàng hóa năng lượng mà ta vẫn tiêu thụ hàng ngày Theo cơ quan thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) Năm 2020 mức tiêu thụ năng lượng hàng năm trên toàn thế giới đã vượt mức

575 triệu đơn vị nhiệt Anh (BTU) và dự kiến còn tăng cao hơn nữa trong tương lai Chỉ tính riêng nước Mỹ mỗi năm tiêu thụ 7,2 tỷ thùng xăng (tương đương với 35,9 triệu BTU); 27,5 nghìn khối khí tự nhiên (tương đương 28,4 triệu BTU); 729,5 triệu tấn than đá (tương đương 14,2 triệu BTU) Tuy nhiên con số

đó mới chỉ chiếm 13,6% tổng mức tiêu thụ năng lượng toàn cầu Có thể nói, Thế giới tiêu thụ năng lượng một cách đáng kinh ngạc

Trong hai thập kỷ qua, sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống đã tạo ra mối lo ngại lớn Một trong số đó là việc sử dụng các nguồn năng lượng thay thế các nguồn năng lượng truyền thống và nhiên liệu hóa thạch còn hạn chế và chưa hoàn thiện Hai là tác động xấu đến môi trường, phát thải khí nhà kính và sự nóng lên toàn cầu Khí thải CO2 chủ yếu sinh ra từ quá trình sản xuất công nghiệp có sử dụng các loại nhiên liệu trong số đó 90% khí thải được sinh ra từ nhiên liệu hóa thạch Lượng cacbon được lưu trữ trong nhiên liệu hóa thạch được chuyển hóa thành CO2 qua quá trình đốt cháy để tạo

Trang 33

ra năng lượng Tổng lượng khí thải từ các nguồn khác nhau than- than đá, dầu

mỏ, khí đốt và xăng- phần lớn phản ánh bởi mức độ khai thác, sản xuất và sử dụng nhiên liệu ở mỗi quốc gia nhất định Ví dụ, ở Mỹ hoặc Anh, dầu theo sau

là khí đốt là những nguồn đóng góp lớn nhất Ở Trung Quốc và Ấn Độ, than chiếm ưu thế hơn nhiều Ở Nga, khí đốt là nguồn nhiên liệu cấp thiết hàng đầu

Hình 1.2: lượng khí thải CO2 được tạo ra từ sử dụng các loại nhiên liệu trong giai đoạn 1986- 2021

(Nguồn: Global Carbon Project 2022)

Dựa vào biểu đồ có thể thấy các loại nhiên liệu hóa thạch sản sinh ra nhiều khí thải carbon nhất là than, khí tự nhiên và xăng dầu, tuy xi măng và khí đốt là nhiên liệu sử dụng ở cấp độ toàn cầu nhưng mức khí thải thải ra tương đối thấp so với nhiên các loại nhiên liệu chính Châu Âu và Bắc Mỹ có quá trình công nghiệp hóa ban đầu tương tự nhau đều bắt đầu thông qua việc tiêu thụ chủ yếu nhiên liệu rắn Ngược lại lượng khí thải của Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe chủ yếu đến từ nguồn nhiên liệu lỏng, vì vậy mức tiêu thụ than ở đây còn rất nhỏ Năng lượng của châu Á vẫn chiếm ưu thế trong tiêu thụ nhiên liệu rắn và đáng chú ý là việc sử dụng xi măng ở đây cao hơn so với các khu vực khác Châu Phi cũng có lượng khí thải đáng chú ý hơn từ xi măng và ống đốt; tuy nhiên, các nguồn phát thải chính của nó là sự pha trộn đa dạng giữa chất rắn, chất lỏng và chất khí

Trang 34

Việc đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra 21,3 tỷ tấn CO2 mỗi năm và làm tăng lượng phát thải này trong khí quyển lên mức 10,65 tỷ tấn Than là nguồn nhiên liệu chứa nhiều hoạt chất cacbon và hơn hết, một mỏ than trung bình sản xuất khoảng 6.500 tấn CO2 tương đương với 8.000 chiếc xe cùng lúc thải CO2 ra môi trường Chính vì vậy than đá được coi là nguồn gây ô nhiễm nhất, thải ra lượng CO2 gấp đôi khí tự nhiên và nhiều hơn 30% so với xăng CO2 là một loại khí nhà kính làm tăng năng lực phóng xạ, theo đánh giá của IPCC việc sử dụng năng lượng hóa thạch đóng góp 56,6% tổng lượng khí nhà kính do hoạt động của con người tạo ra mỗi năm

Nghiên cứu của tác giả Zhu và cộng sự (2016) cũng trên dữ liệu của các quốc gia ASEAN, cho đồng kết quả với nghiên cứu trên của nhóm tác giả Đại học Lampung khi chứng minh mức tiêu thụ năng lượng và khí thải CO2 có mối quan hệ cùng chiều

Giữ mức tăng nhiệt độ lên 1,5°C liên quan đến việc thay đổi cơ bản các quy trình tạo ra nhiều khí thải nhà kính nhất, quan trọng là đốt nhiên liệu hóa thạch cho năng lượng, công nghiệp và giao thông vận tải Quá trình chuyển đổi toàn cầu để sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, tạo ra năng lượng từ các nguồn tái tạo (chẳng hạn như năng lượng mặt trời và gió) và giao thông vận tải bằng điện sẽ giảm lượng khí thải từ than, dầu và khí đốt tự nhiên Điều này đặc biệt phù hợp với các khu vực ô nhiễm cao như Hoa Kỳ, Châu Âu và Trung Quốc Ngăn chặn mất rừng, trồng rừng mới và quản lý đất để bảo tồn carbon trong đất

là những bước quan trọng bổ sung để hạn chế sự nóng lên cho cả các nước công nghiệp và đang phát triển

1.2.4.2 Dân số

Thế giới đang trong giai đoạn bùng nổ dân số, với số dân đạt 8 tỷ người (11/2022), Dự báo của Liên hợp quốc cho thấy dân số toàn cầu có thể tăng lên 8,5 tỷ vào năm 2030, 9,7 tỷ vào năm 2050 và 10,9 tỷ vào năm 2100 Về mặt lý thuyết, gia tăng dân số được cho là làm tăng phát thải khí nhà kính, đặc biệt là phát thải CO2 thông qua việc gia tăng các hoạt động của con người và tốc độ tăng trưởng Dân số tăng nhanh làm trầm trọng thêm tác động của biến đổi khí

Trang 35

hậu dẫn tới cạn kiệt các nguồn tài nguyên và khiến nhiều người gặp rủi ro liên quan đến tăng khí thải carbon rộng hơn là biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại Sự nóng lên của hành tinh đe dọa an ninh lương thực, nguồn cung cấp nước ngọt và sức khỏe con người Tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm mực nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt và tất cả các hiện tượng thời tiết cực đoan đều có mối liên quan chặt chẽ tới sự việc khí thải CO2 tăng trên toàn cầu, sẽ còn nghiêm trọng hơn nếu không có những hành động nhằm giảm đáng kể lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào bầu khí quyển

Những năm ấm nhất của Trái đất được ghi nhận là từ năm 2015 đến năm

2019, dấu mốc mới bắt đầu xu hướng ấm lên toàn cầu trong tương lai Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) ước tính rằng lượng khí thải nhà kính do con người thải ra, bao gồm carbon dioxide (CO2), metan và oxit nitơ,

đã làm tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu lên gần 1°C (gần 2°F) so với mức trung bình trước đó

Mặc dù mối liên hệ giữa hành động của con người và sự nóng lên gần đây của hành tinh vẫn là một sự đồng thuận khoa học gần như nhất trí, nhưng mối liên hệ giữa gia tăng dân số và gia tăng khí thải CO2 đáng được khám phá thêm Theo Hamilton và Turton(2002), sự gia tăng dân số là một trong hai nguyên nhân chính dẫn tới gia tăng khí thải carbon ở các nước OECD Về cơ cấu dân số, tỷ lệ dân số trong từng độ tuổi cũng ảnh hưởng tới lượng CO2 được sinh ra Trên thực tế cũng có thể dễ dàng nhận thấy điều này, khi lượng dân số càng đông đồng nghĩa với việc nhiều hoạt động tác động đến môi trường, sử dụng nhiều năng lượng và từ đó tạo ra nhiều CO2 hơn Vì vậy, mối quan hệ giữa dân số và lượng khí thải CO2 là rất rõ ràng

Dân số tăng nhanh làm cho việc xóa nghèo, chống đói và suy dinh dưỡng, tăng độ bao phủ của hệ thống y tế và giáo dục trở nên khó khăn hơn Ngược lại, đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), đặc biệt là những mục tiêu liên quan đến y tế, giáo dục và bình đẳng giới, sẽ góp phần làm chậm tốc độ tăng dân số toàn cầu

Trang 36

Như tổ chức từ thiện People Matters có trụ sở tại Vương quốc Anh tóm tắt: “Cứ thêm một người thì lượng khí thải carbon tăng lên và làm tăng số nạn nhân của biến đổi khí hậu” Với lượng khí thải trung bình của người dân sống ở các nước công nghiệp hóa và các quốc gia sản xuất dầu chủ chốt đứng đầu bảng xếp hạng Lối sống tiêu thụ cao và tập quán sản xuất ở các nước có thu nhập cao nhất dẫn đến tỷ lệ phát thải cao hơn nhiều so với ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, nơi phần lớn dân số thế giới sinh sống

Điển hình là Hoa Kỳ chỉ chiếm hơn 4% dân số toàn cầu nhưng sử dụng 17% năng lượng của thế giới Lượng khí thải carbon trên mỗi người là một trong những mức cao nhất trên thế giới Những người sống ở Hoa Kỳ, Úc và Canada có lượng khí thải carbon lớn hơn gần 200 lần so với những người ở một số quốc gia nghèo nhất và tỷ lệ tăng dân số nhanh nhất ở châu Phi Ở giữa

là các nền kinh tế có thu nhập trung bình, nơi sinh sống của 75% dân số thế giới Ở những nơi này, công nghiệp hóa sẽ nâng cao mức sống và mô hình tiêu dùng trong những thập kỷ tới Nếu không có những thay đổi đối với xu hướng phát triển của các nền kinh tế, lượng khí thải carbon sẽ tăng lên nhanh chóng Một giả thuyết đặt ra rằng: nếu dân số toàn cầu đạt đỉnh vào giữa thế kỷ

và sau đó giảm xuống còn 7,1 tỷ người vào năm 2100, thì lượng khí thải carbon

có thể thấp hơn tới 41% so với nếu dân số tiếp tục tăng lên 15 tỷ người Điều này có nghĩa là làm chậm tốc độ tăng trưởng dân số thông qua những đổi mới dựa trên quyền về sức khỏe sinh sản có thể góp phần giảm hơn một phần tư lượng khí thải cần thiết vào năm 2050 để tránh những tác động nguy hiểm nhất của biến đổi khí hậu

Kết quả chỉ ra rằng dân số không phải là yếu tố quyết định lượng phát thải CO2 tăng trong dài hạn, điều này thể hiện trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa dân số và khí thải CO2 của tác giả Chindo Sulaiman và cộng sự (2018), dựa trên số liệu nghiên cứu ba giai đoạn 1971-2000, 1971-2005 và 1971-2010 của nước Nigeria sử dụng mô hình độ trễ phân tán tự hồi quy Nghiên cứu kiểm tra tác động của các dự báo dân số khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế và sử dụng năng lượng trong tương lai cho thấy tốc độ tăng dân số chậm lại có thể

Trang 37

làm giảm đáng kể lượng khí thải nhà kính trong tương lai Kết hợp các dự báo dân số khác nhau vào các mô hình khí hậu cho thấy mức tăng dân số cao hơn dẫn đến lượng khí thải cao hơn

Tăng trưởng kinh tế được phát hiện là yếu tố duy nhất quyết định phát thải CO2 trong dài hạn trong các giai đoạn nghiên cứu Tuy nhiên, trong ngắn hạn, hầu như tất cả các biến giải thích và độ trễ của chúng, chẳng hạn như tăng trưởng dân số, tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng, đều có ý nghĩa trong việc xác định lượng khí thải CO2

Việc đưa các biến động dân số vào giáo dục và vận động chính sách liên quan đến biến đổi khí hậu có thể giúp làm rõ lý do tại sao nên đưa việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản, các lựa chọn kế hoạch hóa gia đình, giáo dục trẻ

em gái và bình đẳng giới vào các can thiệp khí hậu Tăng cường đầu tư vào y tế

và giáo dục, cùng với những cải thiện về cơ sở hạ tầng và sử dụng đất, sẽ tăng cường khả năng phục hồi khí hậu và xây dựng năng lực thích ứng cho người dân trên toàn thế giới

Tuy nhiên, ngay cả trong các kịch bản tăng trưởng dân số thấp, tăng trưởng kinh tế sử dụng nhiều carbon và các lựa chọn công nghệ có thể dẫn đến lượng khí thải cao Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc làm chậm tốc độ tăng dân số toàn cầu thông qua các biện pháp dựa trên quyền, chẳng hạn như tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình tự nguyện, có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu

1.2.4.3 Mức độ Đô thị hóa

Đô thị hóa được hiểu là quá trình mở rộng, phát triển thể hiện qua các mặt: chất lượng cuộc sống, dân số, mật độ dân số… tính theo tỷ lệ phần trăm giữa diện tích hoặc số dân đô thị trên tổng diện tích hoặc số dân của một khu vực hoặc vùng Việt Nam là một đất nước đang phát triển có tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh.Theo kết quả của các cuộc nghiên cứu, tỷ lệ đô thị hóa ở

nước ta đã tăng nhanh từ 30.5% lên khoảng 40% từ năm 2010 đến năm 2020

Việc xây mới, cải tạo, nâng cấp đô thị đã làm phát sinh lượng bụi lớn trong môi

Trang 38

trường; bên cạnh đó, mật độ phương tiện cá nhân ngày càng tăng đã gây ra tình trạng ùn tắc giao thông, kèm theo chất lượng phương tiện kém, nhất là nhiều phương tiện cũ đã qua sử dụng… đang là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí không ngừng gia tăng Thực tế và các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, tất cả các hoạt động phục vụ cho tăng trưởng kinh tế cũng như quá trình đô thị hóa đều ghi dấu ấn nhất định lên môi trường sinh thái

thông qua các phát thải, đặc biệt là khí carbon dioxide (CO2)

Churkina (2016) cho rằng các khu vực đô thị chiếm đến hơn 70% lượng khí thải CO2 từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch Việc mở rộng đô thị hóa ở vùng nhiệt đới chịu trách nhiệm cho 5% lượng khí thải hàng năm từ thay đổi sử dụng đất Do đó, trong nghiên cứu của mình, Churkina (2016) tiến hành định lượng

sự đóng góp của đô thị hóa đến sự thay đổi của lượng phát thải CO2 Nghiên cứu này chứng minh rằng đô thị hóa đang trở thành một nhân tố quan trọng trong chu trình carbon toàn cầu Ảnh hưởng của các thành phố đối với chu trình carbon vượt ra ngoài giới hạn và những đóng góp của chúng đối với lượng khí thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch và thay đổi sử dụng đất Cư dân đô thị hiện kiểm soát ~22% tổng lượng hấp thụ các-bon trên đất liền và ~24% lượng phát thải trên toàn cầu Đô thị hóa đã tạo ra hai bể carbon mới như các tòa nhà và bãi chôn lấp, chiếm ~1,6% tổng số thảm thực vật và bể đất trên toàn cầu

Theo Zhang và cộng sự (2020), đô thị hóa có thể ảnh hưởng đến cấu trúc dân số, cơ cấu nghề nghiệp, kinh tê và các ngành công nghiệp Dựa trên lập luận đó, nhóm tác giả này thực hiện khám phá động lực phát triển năng lượng không hóa thạch của Trung Quốc Đồng thời tiến hành phân tích xác suất về các quỹ đạo khác nhau của tiêu thụ năng lượng và phát thải CO2 cho đến năm

2050 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô kinh tế đóng vai trò quan trọng, cùng với đô thị hóa được xác định là yếu tố cần thiết trong việc thúc đẩy phát triển năng lượng không hóa thạch Việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch sẽ tiếp tục tăng với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, dẫn đến lượng khí thải CO2 cao hơn

Để chứng minh mối quan hệ giữa mức độ đô thị hóa và lượng phát thải CO2 đã có nhiều nghiên cứu thực hiện, dưới đây là mô hình nghiên cứu của

Trang 39

Inma Martinez-Zarzoso (2008) Nghiên cứu sử dụng mô hình STIRPAT để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của đô thị hóa cùng các yếu tố liên quan tác động đến lượng phát thải CO2 theo thời gian và giữa các quốc gia đang phát triển Nghiên cứu dưới đây nhằm mục đích ước tính mối quan hệ giữa lượng khí thải CO2 do Mức độ đô thị hóa và các tác nhân chính của nó tại Malaysia bằng cách sử dụng kỹ thuật Độ trễ phân tán tự hồi quy (ARDL) Khoảng thời gian mà nghiên cứu đề cập kéo dài từ năm 1978 đến năm 2018 Nghiên cứu tiếp tục điều tra phản ứng của lượng khí thải CO2 đối với các cú sốc về giá trị của các biến số khác bằng cách sử dụng phương pháp phản ứng xung tổng quát Kết quả cho thấy đô thị hóa là nguyên nhân chính làm tăng lượng khí thải CO2, sau đó là cường độ carbon của năng lượng trong thời gian dài Cường độ carbon của năng lượng, GDP trên mỗi công nhân vận tải và quá trình đô thị hóa góp phần đáng kể vào sự gia tăng lượng khí thải CO2 trong vận tải trong ngắn hạn và dài hạn

1.2.4.4 Độ mở thương mại

Độ mở thương mại của nền kinh tế phản ánh mức độ giao thương và tầm quan trọng của giao dịch quốc tế liên quan đến giao dịch trong nước, được giao dịch bởi tỷ số giữa tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch

vụ so với GDP của quốc gia đó Theo đó, một mối quan hệ được hình thành giữa độ mở thương mại và khí thải CO2 và được chứng minh bằng các nghiên cứu dưới đây:

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thanh Mai trong phân tích ảnh hưởng mối quan hệ giữa độ mở thương mại và CO2 tại Việt Nam Năm 1986, chính phủ Việt Nam bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế thị trường tự do Kể từ đó, nền kinh tế Việt Nam đã có sự đổi mới đột phá về độ mở thương mại Mặt khác, Việt Nam chứng kiến mức độ phát thải CO2 ngày càng tăng Tốc độ tăng trưởng hàng năm về phát thải CO2 trong giai đoạn này là 7,26% và khối lượng thương mại là 16,11% Kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ giữa phát thải CO2 và độ mở thương mại, rộng hơn là với thu nhập bình quân đầu người

có dạng hình chữ U ngược, phù hợp với giả thuyết EKC

Trang 40

Nghiên cứu của Yue Dou và cộng sự (2020) Sử dụng bộ dữ liệu bảng cân bằng cho 76 quốc gia từ năm 1990 đến năm 2019, nghiên cứu này điều tra thực nghiệm mối quan hệ phi tuyến tính giữa độ mở thương mại và lượng khí thải CO2 Kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ hình chữ U ngược giữa độ

mở thương mại và lượng phát thải CO2, cho thấy lượng phát thải CO2 ban đầu tăng khi độ mở thương mại mở rộng, sau đó giảm xuống sau khi độ mở thương mại vượt qua điểm ngoặt Ngoài ra, tác động của độ mở thương mại không đồng nhất giữa các khu vực khác nhau

Nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa lượng khí thải carbon dioxide (CO2), độ mở thương mại, thu nhập thực tế và mức tiêu thụ năng lượng trong

10 quốc gia phát thải CO2 hàng đầu trong số các nước đang phát triển; cụ thể là Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Brazil, Mexico, Indonesia, Nam Phi, Thổ Nhĩ

Kỳ, Thái Lan và Malaysia trong giai đoạn 1971-2011 Kiểm định nghiệm đơn

vị Zivot-Andrews với sự phá vỡ cấu trúc, kiểm định giới hạn cho sự đồng liên kết khi có sự phá vỡ cấu trúc và phương pháp nhân quả VECM Granger được

sử dụng Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng thu nhập thực tế, tiêu thụ năng lượng

và mở cửa thương mại là những yếu tố chính quyết định lượng khí thải carbon

ở các quốc gia này Độ co giãn thương mại của hiệu ứng phát thải vẫn mạnh

mẽ khi phân tích cho các nhóm quốc gia khác nhau, tuy nhiên, hàm lượng phát thải trong thương mại rõ rệt hơn đối với các nước phát triển so với các nước đang phát triển

Các nhóm nghiên cứu khoa học cũng sử dụng các mô hình hồi quy để chứng minh sự tồn tại mối quan hệ giữa độ mở thương mại và CO2 Theo bài nghiên cứu của nhóm tác giả Bùi Thái Diệu Thảo dựa trên số liệu 7 quốc gia đang phát triển của ASEAN Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự tồn tại của đường cong Kuznets và có sự tác động đáng kể trong ngắn hạn và dài hạn giữa

độ mở thương mại OPEN và khí thải CO2

1.3 Tổng quan về tác động của đầu tư nước ngoài đến phát thải CO2

1.3.1 Cơ sở lý thuyết

Ngày đăng: 12/03/2025, 02:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1.2:  lượng  khí  thải  CO2  được  tạo  ra  từ  sử  dụng  các  loại  nhiên  liệu - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á
nh 1.2: lượng khí thải CO2 được tạo ra từ sử dụng các loại nhiên liệu (Trang 33)
Hình 1.3 : Đường cong Kuznets thể hiện sự tác động của FDI và ô nhiễm  môi  trường  thông  qua  sự  phát  triển  nền  kinh  tế  và  thu  nhập  bình  quân  đầu người - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á
Hình 1.3 Đường cong Kuznets thể hiện sự tác động của FDI và ô nhiễm môi trường thông qua sự phát triển nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người (Trang 45)
Bảng 2.2. Thống kê mô tả các biến số trong mô hình - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á
Bảng 2.2. Thống kê mô tả các biến số trong mô hình (Trang 58)
Bảng 2.3. Giả thuyết nghiên cứu của mô hình - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á
Bảng 2.3. Giả thuyết nghiên cứu của mô hình (Trang 59)
Hình  3.1:  Lượng  khí  thải  CO2  từ  các  ngành  sản  xuất  và  xây  dựng  trên - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á
nh 3.1: Lượng khí thải CO2 từ các ngành sản xuất và xây dựng trên (Trang 63)
Bảng 3.2. Các kết quả của phương pháp hồi quy nhóm các quốc gia phát - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á
Bảng 3.2. Các kết quả của phương pháp hồi quy nhóm các quốc gia phát (Trang 65)
Bảng 3.3. Các kết quả của phương pháp hồi quy nhóm các quốc gia đang  phát triển - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á
Bảng 3.3. Các kết quả của phương pháp hồi quy nhóm các quốc gia đang phát triển (Trang 66)
Bảng 3.4. Các kết quả mô hình tối ưu sau khi đã sửa lỗi của các quốc gia - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng khí thải Cacbon tại Châu Á
Bảng 3.4. Các kết quả mô hình tối ưu sau khi đã sửa lỗi của các quốc gia (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm