1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo

108 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Tác giả Nguyễn Thanh Hương, Vũ Thị Vân Anh, Lưu Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Minh Lý
Người hướng dẫn PGS.TS. Chu Khánh Lân
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Kinh Tế Năng Lượng
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG --- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG NĂM HỌC 2022 - 2023 NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ, TRI THỨC VÀ RỦI RO ĐỊA CHÍNH TRỊ ĐẾN SỰ

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NĂM HỌC 2022 - 2023

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ, TRI THỨC VÀ RỦI RO ĐỊA CHÍNH TRỊ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA

NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ

HÀ NỘI – 2023

Trang 2

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NĂM HỌC 2022 - 2023

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ, TRI THỨC VÀ RỦI RO ĐỊA CHÍNH TRỊ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA

NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Chu Khánh Lân

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thanh Hương – 23A4050184

Vũ Thị Vân Anh – 23A4050054 Lưu Ngọc Huyền – 23A4050169 Nguyễn Thị Minh Lý – 23A4050239

HÀ NỘI – 2023

Trang 3

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG THÔNG TIN SINH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Tên đề tài: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến

sự phát triển năng lượng tái tạo

2 Lĩnh vực: Kinh tế năng lượng

3 Chuyên ngành: Kinh tế

4 Giáo viên hướng dẫn:

Họ và tên: Chu Khánh Lân Học hàm, học vị: PGS.TS Chức vụ: Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng - Học viện Ngân hàng

Điện thoại: 0834120196 Email: lanck@hvnh.edu.vn

5 Sinh viên/nhóm sinh viên thực hiện đề tài:

thanhhuongnguye n.stc@gmail.com

Trang 4

MỤC LỤC

1.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO 12

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NĂNG LƯỢNG

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO, THỂ CHẾ, TRI THỨC

Trang 5

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 74

Trang 6

DANH MỤC MÔ HÌNH VÀ BẢNG BIỂU

Biểu đồ 3.1.1 Sản lượng năng lượng được tiêu thụ và sản xuất trên thế

Biểu đồ 3.1.2 Lượng năng lượng tái tạo được tiêu thụ của các nhóm nước trên thế giới từ năm 1995 đến 2020 32

Biểu đồ 3.1.3 Lượng năng lượng tái tạo được sản xuất của các nhóm nước trên thế giới từ năm 1995 đến 2020 32

Biểu đồ 3.2.1 Trung bình 6 chỉ số thể chế của hai nhóm nước từ 2002 đến 2020 33

Biểu đồ 3.2.2 Trung bình chỉ số quy trình chính phủ được lựa chọn, giám sát và thay thế từ 2002 đến 2020 34

Biểu đồ 3.2.3 Chỉ số quy trình chính phủ được lựa chọn, giám sát và

thay thế của hai nhóm nước từ 2002 đến 2020 34

Biểu đồ 3.2.4 Trung bình chỉ số năng lực chính phủ trong hoạch định

và triển khai chính sách từ 2002 đến 2020 35

Biểu đồ 3.2.5 Chỉ số năng lực chính phủ trong hoạch định và triển

khai chính sách của hai nhóm nước từ 2002 đến 2020 36

Trang 7

Biểu đồ 3.3.1

Số lượng bằng sáng chế thuộc lĩnh vực năng lượng tái tạo của 6 nước tiêu biểu thuộc hai nhóm nước nghiên cứu giai đoạn 2002-2019

39

Biểu đồ 3.3.2 Chỉ số ECI trung bình của hai nhóm nước từ 2002-2020 40

Biểu đồ 3.3.3 Chỉ số ECI của một số quốc gia thuộc hai nhóm nước từ

Bảng 5.2 Kết quả kiểm định phụ thuộc chéo 56 Bảng 5.3 Kết quả kiểm định đơn vị gốc thế hệ thứ hai 56 Bảng 5.4 Kết quả kiểm định đồng liên kết 57

Bảng 5.5 Kết quả mô hình hồi quy phân vị - Trường hợp không có biến điều tiết 58

Bảng 5.6 Kết quả mô hình hồi quy phân vị - Trường hợp có biến điều tiết 70

Bảng 5.7 So sánh các kết quả với giải thuyết 75

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CO2 Carbon Dioxide Mức độ phát thải CO2 COC Control of Corruption Kiểm soát tham nhũng ECI Economic Complexity Index Mức độ phức tạp kinh tế

GOE Government Effectiveness Hiệu quả chính phủ

GDP Gross Domestic Product Thu nhập bình quân

GPR Geo-political Risk Rủi ro địa chính trị

PSA Political Stability and Absence of

Violence/Terrorism

Ổn định chính trị và không

có bạo lực, khủng bố RENC Renewable Energy Consumption Tiêu thụ năng lượng tái tạo

REG Regulatory Quality Chất lượng pháp quy

RENP Renewable Energy Production Sản xuất năng lượng tái tạo

VOA Voice and Accountability Tiếng nói và trách nhiệm

giải trình

RUL Rule of Law Thượng tôn pháp luật

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của nghiên cứu

Trong tình hình như hiện nay, khi chất lượng môi trường đang đi xuống một cách trầm trọng và có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của con người, rất nhiều hiệp ước, cam kết về biến đổi khí hậu đã được thỏa thuận nhằm giảm lượng khí CO2 và những chất gây ô nhiễm độc hại được thải ra ngoài môi trường Bên cạnh đó,

sự bất ổn chính trị giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới như xung đột giữa Hoa Kỳ với các nước Trung Đông, hay gần đây là Nga với châu Âu, đã khiến cho mong muốn độc lập và tự chủ về năng lượng của các nước đang trở nên ngày càng mạnh mẽ Các nguồn năng lượng truyền thống được sử dụng rộng rãi gồm có than đá, dầu mỏ, khí đốt

và đá cháy là những loại năng lượng có hạn và đang dần bị cạn kiệt Mặc dù các loại năng lượng này rất dễ khai thác và tiêu thụ nhưng việc sử dụng chúng lại làm phát thải lượng khí CO2 khổng lồ và gây ra những hệ quả xấu cho môi trường Hiện nay, dân số toàn cầu đã vượt mốc 8 tỷ người và mức sống của người dân được cải thiện dẫn đến nhu cầu năng lượng cũng tăng theo để có thể đảm bảo cho mọi hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người Năng lượng truyền thống có hạn nhưng nhu cầu ngày một tăng cao

đã đặt ra một dấu hỏi lớn cho các nhà chức trách về việc tạo ra những nguồn năng lượng thay thế mới Đây là lý do khiến cho năng lượng tái tạo được sản xuất và tiêu thụ ngày một rộng rãi trên toàn cầu

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển năng lượng tái tạo Ngoài các nhân tố như thu nhập của quốc gia, môi trường hay giá của năng lượng truyền thống, còn có một số nhân tố khác có tác động đáng kể lên năng lượng sạch Ví dụ, ba yếu tố thể chế, tri thức, rủi ro địa chính trị cũng được cho có ảnh hưởng quan trọng đến năng lượng tái tạo Đầu tiên, tầm quan trọng của chất lượng thể chế đối với năng lượng tái tạo

đã được xác định trong các nghiên cứu đi trước Bourcet (2020) đã thực hiện một đánh giá các tài liệu đi trước có hệ thống về các bằng chứng thực nghiệm của sự tiêu thụ năng lượng tái tạo và đề xuất một nghiên cứu bao quát kết hợp các thước đo chất lượng thể chế trong những nghiên cứu đối về phát triển năng lượng tái tạo Các yếu tố thể chế như tính ổn định và trách nhiệm giải trình đã được xác định là quan trọng trong việc thu hút đầu tư vào thị trường năng lượng tái tạo (Sydney và cộng sự, 2021) Omri và cộng sự (2022) đưa ra kết luận rằng thể chế giúp đưa ra những chính sách thích hợp để khuyến khích sự phát triển của năng lượng tái tạo Saidi và cộng sự (2018) khám phá ra rằng

“năng lượng tái tạo có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong các quốc gia MENA Đồng thời, chất lượng thể chế ảnh hưởng tích cực đến mối quan hệ giữa năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế trong khu vực này Cụ thể, các quốc gia có chất

Trang 10

lượng thể chế tốt hơn có xu hướng sử dụng năng lượng tái tạo mức độ lớn hơn và có tăng trưởng kinh tế tốt hơn” Filimonova và cộng sự (2021) đã chứng minh các nhân tố thể chế, gồm có các chính sách hỗ trợ của chính phủ, đầu tư công vào năng lượng tái tạo

và sự đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu thụ năng lượng tái tạo ở châu Âu Do đó, chúng tôi kỳ vọng rằng ảnh hưởng của các yếu tố đối với sự phát triển năng lượng tái tạo sẽ thay đổi dựa trên chất lượng của thể chế

Tính đến nay, năng lượng đã trải qua một tiến trình lịch sử phát triển kéo dài hàng nghìn năm, từ cách duy nhất là chặt cây, lấy gỗ và đốt để tạo ra nhiên liệu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Sau đó, con người tìm ra các mỏ than, biến than thành một nguồn chất đốt chủ lực để sưởi ấm Nếu với gỗ phải chặt cây, đốt lên mới sử dụng được thì than chính là bước tiến mới khi chỉ cần đào lên từ các mỏ Từ than, con người đã tạo ra động cơ hơi nước, giúp cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra Có thể thấy, con người ngày càng nắm được nhiều tri thức, càng đạt được các công nghệ và phát minh mới, giúp cải tiến quy trình sản xuất và hướng dẫn việc sử dụng công nghệ Tri thức đã góp phần vào sự thay đổi to lớn trong nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực năng lượng nói riêng, giúp thúc đẩy sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất và cả các cuộc cách mạng công nghiệp sau này, mở ra kỷ nguyên công nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của nhân loại Qua thời gian, dầu được tìm thấy và thể hiện sự vượt trội rõ hơn so với các nguồn năng lượng trước khi chỉ cần đào và hút lên là hoàn toàn dùng được ngay Sau đó, nhân loại đã tạo ra khí gas như một nguồn nhiên liệu thắp sáng thay cho những ngọn nến cũ tù mù, đồng thời góp phần xóa sổ ngành săn bắt cá voi để lấy mỡ làm nến Tuy nhiên, điểm giống nhau giữa các nguồn năng lượng truyền thống trên là đều có hạn và khi chuyển hóa thành để phục vụ con người thì mức phát thải lượng khí CO2 vô cùng lớn, ảnh hưởng đáng kể đến môi trường sống Năng lượng tái tạo nổi lên như một câu trả lời cho vấn đề an ninh năng lượng nhờ kho tri thức của con người ngày càng tăng lên theo thời gian Bài toán thách thức về sự thay đổi của khí hậu đã cho chúng ta có một cái nhìn tổng quan hơn về những lựa chọn về năng lượng

mà loài người đang theo đuổi Có thể thấy việc khai thác và sử dụng năng lượng hóa thạch tới năng lượng tái tạo đã thể hiện rõ quá trình tiến bộ tri thức và đổi mới công nghệ của loài người

Đại diện cho tri thức là mức độ phức tạp kinh tế - được liên kết với cuộc cách mạng kinh tế cấu trúc, phản ánh những thành tựu của nền kinh tế về kỹ năng, kiến thức

và năng lực công nghệ trong quá trình sản xuất So với các chỉ số đại diện khác cho năng lực sản xuất như phát triển con người, chi phí nghiên cứu và phát triển, chỉ số mức độ phức hợp kinh tế được coi là một chỉ số toàn diện hơn, được chứng minh là có mối liên

hệ đáng kể với các ngành năng lượng và môi trường (Chu, 2021; Li và cộng sự, 2021; Rafque và cộng sự 2021; Zheng, và cộng sự, 2021) Tuy nhiên, không có sự thống nhất

Trang 11

trong các tài liệu về việc liệu sự phức tạp của nền kinh tế là động lực (Rafque và cộng

sự, 2021) hay rào cản (Alvarado và cộng sự, 2021) đối với năng lượng tái tạo Do đó, nghiên cứu này giới thiệu chỉ số mức độ phức tạp kinh tế trong mô hình các yếu tố quyết định năng lượng tái tạo ở nhóm quốc gia thuộc bài nghiên cứu để mở rộng chương trình nghiên cứu về triển khai năng lượng tái tạo Trên thực tế là nhiều quốc gia cả đã phát triển và đang phát triển đều đang xây dựng nền kinh tế tri thức và củng cố khả năng phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, việc cần có nghiên cứu xem xét tầm quan trọng và lợi ích của tri thức phức tạp đối với cả chuyển đổi năng lượng và tính bền vững của môi trường là cần thiết cho việc hoạch định chính sách

Nghiên cứu về mối liên hệ giữa rủi ro địa chính trị và năng lượng tái tạo là cần thiết

vì mối liên hệ này cho thấy những biên giới mới hơn trong nghiên cứu (Overland, 2019) Việc mô hình hóa mối liên hệ giữa hai yếu tố này rất quan trọng vì cả năng lượng tái tạo

và rủi ro địa chính trị đã thay đổi nhanh chóng trong những năm gần đây Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện có tiếp tục bị hạn chế Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng về mức độ rủi ro địa chính trị, khi có các biến số quan trọng khác, ảnh hưởng đến việc triển khai năng lượng tái tạo ở nhóm các quốc gia có thu nhập cao và trung bình Nghiên cứu của Caldara và Iacoviello (2022) mô tả “rủi ro địa chính trị

là rủi ro liên quan đến xung đột vũ trang, khủng bố bên cạnh xung đột giữa các quốc gia

có ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế” Sự bất ổn địa chính trị làm gia tăng sự không chắc chắn và tình trạng bất ổn, khiến các công ty phải hạn chế sản xuất trong tương lai và gạt

bỏ các kế hoạch sang một bên Các công ty dự đoán rằng trong trường hợp không chắc chắn, tiêu dùng sẽ giảm Tương tự như vậy, nghiên cứu của Carney (2016) giải thích rủi

ro địa chính trị và sự không chắc chắn về chính sách kinh tế tạo ra môi trường bất ổn như thế nào Caldara và Iacoviello (2022) cũng nhấn mạnh rằng bất ổn địa chính trị thay đổi động lực của thị trường vốn khi các nhà đầu tư từ bỏ kế hoạch đầu tư của họ Một số nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của năng lượng tái tạo Ví

dụ, Alsagrand van Hemmen (2021) khám phá những bất ổn địa chính trị bên cạnh những hạn chế tài chính ảnh hưởng như thế nào đến việc triển khai năng lượng sạch ở các nước mới nổi Họ tìm thấy tác động tích cực của rủi ro địa chính trị đối với năng lượng tái tạo Sweidan (2021a) nhận thấy tác động tích cực của rủi ro địa chính trị đối với việc triển khai năng lượng tái tạo ở các quốc gia nhập khẩu dầu thô ròng Bài báo kết luận rằng việc sử dụng năng lượng tái tạo tăng lên khi sự bất ổn địa chính trị gia tăng Tương tự như vậy, Sweidan (2021b) nhận thấy rằng ở Hoa Kỳ, việc sử dụng năng lượng tái tạo tăng lên trong thời kỳ bất ổn địa chính trị cao Như vậy, rủi ro địa chính trị đang tăng cường sản xuất sạch hơn Nghiên cứu thực nghiệm này bổ sung vào tài liệu bằng cách thu thập thêm bằng chứng từ nhóm các quốc gia có thu nhập cao cùng với các quốc gia có thu nhập trung bình

về vai trò của rủi ro địa chính trị trong việc triển khai năng lượng tái tạo

Trang 12

Việc sản xuất và tiêu thụ năng lượng tái tạo đang là một vấn đề được các cơ quan chính phủ của các quốc gia chú trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới vị thế cũng như an ninh năng lượng của chính những nước đó Tuy nhiên, giải bài toán về năng lượng này không hề đơn giản bởi có rất nhiều nhân tố từ bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển đó Có rất nhiều nghiên cứu đi trước đã đề cập đến những yếu tố tác động đến việc tiêu thụ và sản xuất năng lượng sạch như theo Bourcet (2020), Can Sener và cộng sự (2018), Darmani và cộng sự (2014) nhắc đến yếu tố năng lượng, kinh tế, môi trường, chính trị, thể chế và nhân khẩu học Tuy nhiên, nghiên cứu kết hợp tác động của các yếu

tố thuộc môi trường vĩ mô như thể chế, tri thức đặc biệt là mối đe doạ địa chính trị là những yếu tố khá mới lạ và chưa có nhiều nghiên cứu khi nghiên cứu về vấn đề này

Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của thể chế, tri

thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển của năng lượng tái tạo”

1.2.2 Yếu tố tri thức

Bên cạnh yếu tố thể chế, đề tài này còn lựa chọn xem xét ảnh hưởng của tri thức tới mức độ phát triển của năng lượng tái tạo Đầu tiên, năng lượng tái tạo là ngành phức hợp đòi hỏi kiến thức đầu vào từ nhiều công nghệ khác nhau (Barbieri và cộng sự, 2020; Malhotra và cộng sự, 2019; Nemet, 2012) Thứ hai, tri thức về công nghệ năng lượng tái tạo được phân bổ không đồng đều giữa các quốc gia (Sbardella và cộng sự, 2018), chỉ ra sự quan trọng của dòng chảy tri thức (D Li và cộng sự, 2020; Verdolini và Galeotti, 2011) Do đó, một phân tích thích hợp về các yếu tố tác động đến sự phát triển của năng lượng tái tạo phải tính đến cả khía cạnh tri thức

Đại diện cho tri thức là mức độ phức tạp kinh tế Mức độ phức tạp kinh tế thể hiện khả năng của một quốc gia trong việc tạo ra các sản phẩm phức tạp hoặc có giá trị gia tăng cao thông qua kiến thức tích lũy được (Lall và cộng sự, 2006) Nó được hình thành dựa trên quan điểm rằng cần phải có kiến thức đa dạng và chuyên sâu để sản xuất những hàng hóa phức tạp mà các quốc gia khác không thể sao chép được Mức độ phức tạp kinh tế có tác động tới năng lượng tái tạo thông qua hai kênh sau: tác động của công nghệ và quy mô nền kinh tế Một mặt, mức độ phức tạp kinh tế cao hơn tạo điều kiện cho việc phát triển và triển khai năng lượng tái tạo được thuận lợi thông qua tiến bộ tri thức và hỗn hợp đầu vào sản xuất Đó là trường hợp kiến thức hướng tới để nghiên cứu

và phát triển, khám phá và triển khai những nguồn năng lượng sạch Ngoài ra, nó có thể làm giảm năng lượng tái tạo thông qua nhu cầu năng lượng cao hơn và cơ cấu kinh tế đòi hỏi nhiều năng lượng (Chu, 2021; Stern, 2004) Hiệu ứng quy mô đóng vai trò của

nó khi việc sản xuất hàng hóa càng ngày tinh vi và cần nhiều năng lượng, buộc các quốc gia phải phụ thuộc hơn vào nguồn năng lượng hóa thạch - dễ dàng khai thác với chi phí sản xuất thấp Ở phạm vi lớn hơn, một nền kinh tế phát triển các ngành công nghiệp phức tạp nhưng sử dụng nhiều năng lượng có xu hướng hỗ trợ cho ngành nhiên liệu hóa

Trang 13

thạch để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng kinh tế (Fouquet, 2016) Vì vậy,

ta có thể thấy tác động của tri thức đối với năng lượng tái tạo là rất phức tạp và cần có

nghiên cứu để làm rõ sự ảnh hưởng này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này hướng tới mục tiêu cung cấp cơ sở khoa học về lý luận và

thực tiễn liên quan đến sự tác động của thể chế, tri thức và bất ổn địa chính trị đến sự

phát triển năng lượng tái tạo Để đưa ra nhận định có độ tin cậy cao về sự tác động này,

đề tài sử dụng dữ liệu mới nhất về bốn biến số trên, đồng thời xem xét thêm những biến

tác động cố định có vai trò kiểm soát như chất lượng môi trường, thu nhập và giá dầu

Đề tài hướng tới một số nhiệm vụ sau:

- Thực trạng về phát triển năng lượng tái tạo của các quốc gia trên toàn cầu

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, bao gồm khái niệm, phương pháp đo lường

và cơ chế tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị tới năng lượng tái tạo

- Đo lường tác động của thể chế, tri thức, rủi ro địa chính trị và ba biến kiểm soát

(chất lượng môi trường, thu nhập, giá dầu) tới mức độ phát triển của năng lượng tái tạo

của các quốc gia trên thế giới (và theo nhóm các quốc gia phân theo thu nhập)

- Đề xuất, đưa ra các khuyến nghị để thúc đẩy quá trình phát triển năng lượng tái

tạo thông qua thể chế, tri thức, rủi ro địa chính trị và các biến kiểm soát

3 Phương pháp nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu: Đề tài áp dụng hai mô hình đo lường các nhân tố ảnh hưởng

tới sự phát triển của của năng lượng tái tạo:

RENC i,t = α 0 + α 1 INS i,t + α 2 ECI i,t + α 3 GPR i,t + α 4 CO2 i,t + α 5 GDP i,t + α 6 OP i,t + ε i,t

(1)

RENC i,t = α 0 + α 1 INS i,t + α 2 ECI i,t + α 3 GPR i,t + α 4 GPR i,t INS i,t + α 5 GPR i,t ECI i,t +

α 6 CO2 i,t + α 7 GDP i,t + α 8 OP i,t + ε i,t

(2) Trong đó, RENCi,t là sản lượng năng lượng tái tạo được sản xuất của quốc gia i

tại thời điểm t; CO2i,t là mức độ thải CO2 từ năng lượng của nước i trong năm t, GDPi,t

là thu nhập bình quân đầu người của nước i trong năm t, OPi,t là giá dầu của quốc gia i

tại thời điểm t;ECIi,t là chỉ số phức tạp kinh tế của nước i trong năm t; GPRi,t là rủi ro

địa chính trị của nước i trong năm t; INSi,t là thể chế của nước i trong năm t Một số biến

tác động cố định có vai trò kiểm soát mô hình đã được chúng tôi sử dụng, bao gồm: mức

độ phát thải CO2, GDP bình quân đầu người và giá dầu thô Bên cạnh đó, i là ảnh hưởng

cụ thể quốc gia không quan sát được và ε i,t là phần dư

Dữ liệu: Dữ liệu mức độ phức tạp kinh tế được lấy từ Atlas of Economic

Complexity Dữ liệu thể chế được lấy từ Worldwide Governance Indicators của The

Trang 14

World Bank Chỉ số rủi ro địa chính trị được lấy từ Matteo Iacoviello’s Homepage Số liệu về các biến còn lại được lấy từ World Development Indicators của The World Bank

và BP Statistical Review of World Energy của British Petroleum

Phương pháp ước lượng: Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng hồi

quy phân vị được phát triển bởi Koenker & Bassett (1978) và Powell (2022)

Đối tượng nghiên cứu: Tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị tới sự

phát triển của năng lượng tái tạo

Phạm vi nghiên cứu: Căn cứ vào khả năng thu thập dữ liệu, mẫu nghiên cứu bao

gồm 38 quốc gia, trong đó 23 nước có thu nhập cao và 15 nước có thu nhập trung bình trong thời kỳ 2002 - 2020

4 Kết cấu đề tài

Đề tài có kết cấu bao gồm 6 chương với những nội dung cụ thể sau:

- Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

- Chương 2: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến năng lượng tái tạo

- Chương 3: Thực trạng năng lượng tái tạo, thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị

- Chương 4: Phương pháp nghiên cứu định lượng

- Chương 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

- Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách

5 Đóng góp mới

Đề tài nghiên cứu này có những đóng góp vào tài liệu kinh tế năng lượng về cả

lý luận và thực tiễn ở những khía cạnh sau:

Đầu tiên, nó bổ sung vào nghiên cứu đang phát triển về ảnh hưởng của ba nhân

tố bao gồm thể chế, tri thức, rủi ro địa chính trị đến quá trình phát triển năng lượng tái tạo Theo hiểu biết của chúng tôi, hầu hết các nghiên cứu đi trước chủ yếu hướng đến tác động của ba yếu tố này đến chất lượng môi trường hơn là năng lượng tái tạo Ví dụ, Sweidan (2021a) điều tra tác động của bất ổn địa chính trị đối với môi trường của BRICS, Khan và cộng sự (2021) và Zhang và Chen (2022) xem xét ảnh hưởng của cả công nghệ liên quan đến môi trường và chất lượng thể chế đối với suy thoái môi trường nhưng không xem xét tác động đối với năng lượng tái tạo Bên cạnh đó, Lin và cộng sự (2022) cũng phân tích ảnh hưởng của việc thực hiện các quy định về môi trường và thúc đẩy tiến bộ công nghệ tới nền kinh tế phát triển Ngoài ra, với tình hình đa dạng về năng lượng tái tạo ở những quốc gia phát triển, nguyên nhân gây ra sự khác biệt đó vẫn chưa được xem xét kỹ lưỡng Sự hiểu biết về các nhân tố tác động có thể hữu ích trong việc giúp các chính phủ xây dựng các chính sách phù hợp để thúc đẩy năng lượng tái tạo

Thứ hai, đề tài phân tích ảnh hưởng ba yếu tố tác động đến năng lượng tái tạo ở

cả hai nhóm quốc gia thu nhập cao và quốc gia trung bình để đưa ra kết luận toàn diện

và nhất quán hơn Các nghiên cứu đi trước chủ yếu tập trung vào ảnh hưởng của một

Trang 15

nhân tố ở một trường hợp các quốc gia đơn lẻ, hoặc một nhóm các quốc gia Châu Á hoặc các nước mới nổi Ví dụ, Filimonova và cộng sự (2021) chứng minh thể chế là yếu

tố quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu thụ năng lượng tái tạo ở châu Âu, Irandoust (2018) nhận thấy trong số bốn quốc gia Bắc Âu, đổi mới công nghệ thúc đẩy tiêu thụ năng lượng tái tạo ở Đan Mạch và Na Uy, Sweidan (2021b) xem xét ảnh hưởng của bất ổn địa chính trị lên quá trình phát triển năng lượng tái tạo ở Hoa Kỳ

Thứ ba, bài nghiên cứu còn so sánh tác động của ba nhân tố đến sự phát triển

năng lượng tái tạo của hai nhóm nước Cụ thể, chúng tôi khám phá ra rằng thể chế, rủi

ro địa chính trị có thể thúc đẩy hoặc cản trở quá trình phát triển năng lượng sạch ở cả hai nhóm nước Tri thức vừa có tác động thúc đẩy và cản trở việc mở rộng năng lượng tái tạo ở nhóm quốc gia thu nhập trung bình nhưng nó chỉ có ảnh hưởng tích cực lên nhóm nước thu nhập cao Hơn nữa, yếu tố bất ổn địa chính trị còn khuếch đại ảnh hưởng của thể chế và tri thức trong việc mở rộng năng lượng tái tạo

Thứ tư, một đóng góp quan trọng khác nằm ở vấn đề phương pháp nghiên cứu

Ở đề tài này, chúng tôi áp dụng phương pháp ước lượng hồi quy phân vị được phát triển gần đây, không sử dụng biến tác động cố định mà sử dụng phương sai nội bộ để ước lượng các biến số trong mô hình do Powell (2022) xây dựng Nó được coi là vượt trội hơn những phương pháp ước lượng trước đây khi được áp dụng trong bối cảnh tồn tại tính không đồng nhất của các biến và phân phối Từ quan điểm về hoạch định chính sách, phương pháp hồi quy phân vị hữu ích cho việc đề ra các khuyến nghị vì nó có thể liên hệ các công cụ chính sách này tới thể chế, tri thức và rủi ro chính trị

Trang 16

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO

Khái niệm: United Nations cho rằng “năng lượng tái tạo là năng lượng có nguồn

gốc từ các nguồn tự nhiên, được bổ sung với tốc độ cao hơn mức tiêu thụ” Mặc dù khi nhắc đến năng lượng tái tạo, chúng ta vẫn thường coi là một công nghệ mới nhưng thực

ra nó đã được khai thác và sử dụng từ hàng ngàn năm trước Từ lâu, loài người đã sử dụng sức mạnh của tự nhiên để làm nhiều việc, chẳng hạn như phơi quần áo dưới nắng

và gió, sử dụng năng lượng gió để ra khơi,…

Phân loại: Nguồn năng lượng sạch rất phong phú và đa dạng Dưới đây là bảy

loại năng lượng sạch được biết đến và tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu

Một là “năng lượng mặt trời” Đây được coi là loại năng lượng dồi dào nhất trong

tự nhiên Nó được hình thành từ bức xạ và nhiệt của mặt trời Nguồn năng lượng này thường được khai thác với mục đích tạo nhiệt, điện hay nguyên liệu cho các hoạt động tiêu thụ và sản xuất khác nhau Dù cho lượng nhiệt và ánh sáng nhận được từ mặt trời

là khác nhau ở từng vị trí, từng thời điểm, các nước cũng có thể đóng góp lớn cho cơ cấu tổng năng lượng thông qua năng lượng mặt trời

Hai là “năng lượng gió” Nó được sinh ra từ động năng của không khí chuyển

động bằng cách sử dụng các tuabin gió đặt trên mặt đất hoặc trên biển Khi tốc độ gió tăng, sản lượng điện cũng tăng theo và dần đạt mức công suất tối đa cho tuabin Mặc dù mỗi vị trí khác nhau sẽ có tốc độ gió khác nhau, nhưng nhờ những tiến bộ công nghệ, năng lượng gió đã trở nên dồi dào và có thể triển khai rộng rãi ở nhiều khu vực

Ba là “thủy điện” Nó được khai thác từ thế năng của nước và có thể được tạo ra

ở các hồ chứa và sông Hiện nay, nó chính là loại năng lượng sạch mang đến sản lượng lớn nhất trong ngành điện Nó dựa vào dòng chảy của nước và có khả năng bị tác động tiêu cực bởi hạn hán hoặc sự thay đổi của hệ sinh thái Không chỉ vậy, những công trình tạo ra thủy điện lại có các ảnh hưởng xấu tới hệ sinh thái Nguyên nhân là nhà máy thủy điện cũng như các con đập này làm giảm dòng chảy tự nhiên, chuyển hướng dòng chảy

và đồng thời cũng ảnh hưởng đến các sinh vật sống ở đó

Bốn là “năng lượng địa nhiệt” Đây chính là nguồn năng lượng đặc biệt đến từ

nhiệt ở sâu trong tâm Trái Đất Nó được sinh ra từ sự hình thành ban đầu của hành tinh

và từ sự phân hủy phóng xạ của các khoáng vật Người ta dùng giếng hoặc các phương tiện khác để tạo thành các hồ chứa địa nhiệt nhằm chiết xuất nhiệt Vì công nghệ để khai thác năng lượng địa nhiệt hiện nay vẫn bị giới hạn ở một vài nơi nên tiện ích của loại năng lượng này cũng bị hạn chế bớt

Năm là “năng lượng hydrogen” Mặc dù không phải là loại năng lượng sạch hoàn

toàn nhưng nó lại dồi dào và khá thân thiện với môi trường khi sử dụng Hydrogen có

Trang 17

thể được đốt làm nhiên liệu, điển hình là các động cơ chạy bằng hơi nước Khi ứng dụng nhiên liệu đốt hydrogen có thể ngăn chặn tình trạng ô nhiễm đáng kể, nhưng nguồn năng lượng này đòi hỏi động cơ nhiệt có sức mạnh vô cùng lớn, khiến các nhà máy sản xuất động cơ hơi nước sẽ xả khí thải nhiều hơn

Sáu là “năng lượng đại dương” Năng lượng đại dương là cách lấy điện và nhiệt

từ các công nghệ sử dụng động năng và nhiệt năng của nước biển Các nhà khoa học vấn đang ở giai đoạn phát triển ban đầu các hệ thống năng lượng đại dương với một số thiết bị nguyên mẫu về sóng và dòng thủy triều Về lý thuyết, tiềm năng của nguồn năng lượng này có thể dễ dàng vượt qua nhu cầu của con người về năng lượng hiện tại

Bảy là “năng lượng sinh học” Nó còn được biết đến với tên năng lượng sinh

khối, có nguồn gốc từ động vật và cây trồng Loại năng lượng này còn được khai thác bằng cách chuyển đổi chất thải thành các chất khác hoặc trực tiếp bằng cách đốt hoặc phương pháp khác Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng năng lượng sinh học sắp không được coi là nguồn năng lượng sạch hoàn toàn bởi khi đốt sinh khối từ thực vật sẽ tạo ra lượng khí thải CO2 vô cùng lớn và có những tác động có hại tới hệ sinh thái

Đặc điểm: Sinh ra từ những thứ có sẵn trong tự nhiên và vô cùng đa dạng như

vậy đảm bảo rằng năng lượng sạch là vô tận và có thể đáp ứng tốt các nhu cầu của con người Cũng chính vì được hình thành từ các nguồn năng lượng sạch do đó sự biến đổi khí hậu hay mức phát thải CO2 và các thành phần khác gây ô nhiễm môi trường như bụi mịn có thể giảm bớt Bên cạnh đó, nếu như năng lượng truyền thống chỉ là nguồn tài nguyên dồi dào ở một số nước, thì năng lượng sạch lại xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Việc mọi nước đều có gió, mặt trời hay địa nhiệt để sản xuất năng lượng sạch

sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống và giúp quốc gia tăng tính độc lập tự chủ về năng lượng Đồng thời, việc chuyển đổi sang năng lượng sạch giúp làm giảm các chi phí về môi trường

Năng lượng đã trải qua một tiến trình lịch sử phát triển kéo dài hàng nghìn năm,

từ gỗ, than củi, đến dầu, khí gas, sau đó là năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân… Bắt đầu từ chặt cây, lấy gỗ và đốt để tạo ra nhiên liệu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày tới đào than từ các mỏ Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng gỗ và than đều gây ra

hệ lụy ô nhiễm vô cùng nghiêm trọng Điểm giống nhau giữa các nguồn năng lượng truyền thống là đều có hạn và khi chuyển hóa thành để phục vụ con người thì mức phát thải lượng khí CO2 vô cùng lớn, ảnh hưởng đáng kể đến môi trường sống Bài toán thách thức về sự thay đổi của khí hậu đã cho chúng ta có một cái nhìn tổng quan hơn về những lựa chọn về năng lượng mà loài người đang theo đuổi Nhờ vậy mà năng lượng tái tạo dần được biết đến rộng rãi và chú trọng phát triển hơn Nhìn chung, những loại năng lượng như gió, mặt trời hay hydro giảm những vấn đề tiêu cực liên quan tới môi trường hơn năng lượng hóa thạch Dù những lợi ích mà năng lượng tái tạo mang đến có

Trang 18

ý nghĩa vô cùng lớn, vẫn còn tồn tại ở đó những rủi ro nhất định là rào cản khiến nó chưa thể thay thế hoàn toàn năng lượng truyền thống Sự thật đã chứng minh rằng cơ sở

hạ tầng để tạo ra loại năng lượng từ các nguồn này không thực sự sạch Quá trình chuyển hóa này yêu cầu tăng mạnh sản lượng khai thác kim loại và đất hiếm với các tác hại gây

ra cho hệ sinh thái và xã hội là rất lớn Ví dụ như để tạo ra tấm pin mặt trời hay tuabin gió, neodymium, bạc, indium, là những kim loại không thể thiếu Số lượng pin mặt trời hay tuabin tăng lên nhằm tạo ra sản lượng lớn hơn đòi hỏi công suất khai thác các loại kim loại và hợp chất này tăng lên theo và gây ra những hệ luỵ xấu cho hệ sinh thái Ngoài ra, các nguồn năng lượng thay thế từ mặt trời và gió còn có một nhược điểm vô cùng lớn là khó lưu trữ Chúng ta biết rằng gió và mặt trời không phải lúc nào cũng có nên nó đòi hỏi một hệ thống pin lưu trữ khổng lồ để lưu trữ Điều này không những cần tới hàng triệu tấn khoáng sản để xây dựng mà còn cần tới hàm lượng tri thức khổng lồ

Có thể thấy việc khai thác và sử dụng năng lượng hóa thạch tới năng lượng tái tạo đã thể hiện rõ quá trình thúc đẩy và đổi mới công nghệ Ai cũng hiểu rằng việc chuyển hóa năng lượng sạch để tiêu thụ không giống như nhiên liệu hóa thạch Nếu như năng lượng truyền thống là sẵn có, chỉ cần khai thác lên và tiêu thụ thì việc chuyển hóa năng lượng sạch thành điện để sử dụng lại vô cùng phức tạp và đòi hỏi những công nghệ hiện đại Điều này chính là rào cản lớn nhất cho những nước kém và đang phát triển bởi các nước này có những khó khăn trong việc tiếp cận với công nghệ hiện đại khi nhân lực của họ không đủ khả năng và mất rất nhiều thời gian để tiếp nhận cũng như chuyển giao công nghệ Có thể thấy rằng mặc dù gió, mặt trời hay địa nhiệt… là miễn phí nhưng chi phí tạo ra, liên kết và phân phối để sử dụng lại rất tốn kém Bởi đặc tính thất thường của gió

và mặt trời, nên các nước cần thêm những bộ dự phòng để giúp duy trì nguồn cung một cách ổn định nhất Những chi phí đặc biệt có thể kể đến như chi phí dự phòng, chi phí kết nối, chi phí tổn thất công suất hiệu dụng hay chi phí không gian là nguyên nhân làm cho việc tiêu thụ năng lượng sạch đắt đỏ hơn nhiên liệu hóa thạch Hơn thế nữa, dù là tiêu thụ năng lượng sạch giúp bảo vệ môi trường tốt hơn nhưng công cụ để đưa năng lượng vào sử dụng lại có thể không thân thiện với môi trường Ví dụ pin năng lượng mặt trời là một nguồn hấp thụ ánh sáng để chuyển hóa thành điện, việc xử lý những tấm pin sau khi hỏng hoặc hết thời gian sử dụng là một vấn đề vô cùng thách thức với mức độ phát triển khoa học công nghệ ngày nay Vì nếu không có cách xử lý đúng, nó sẽ thải ra lượng rác lớn và tác động xấu tới hệ sinh thái

Nhìn chung, năng lượng sạch và năng lượng không thể tái tạo đều phục vụ cuộc sống của con người Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra bảng phân biệt giữa hai loại năng lượng này:

Trang 19

Năng lượng tái tạo Năng lượng không tái tạo Chi phí đầu

tư ban đầu

và giá thành

sản phẩm

Mặc dù sạch và rẻ là hai tính từ được nhắc đến khi nói về năng lượng tái tạo, nó vẫn còn tồn tại mặt trái mà ít người biết là tốn kém về chi phí đầu tư ban đầu Để xây chuyển hóa các nguồn năng lượng từ tự nhiên thành điện để sử dụng không chỉ đòi hỏi hàm lượng kỹ thuật cao mà cơ sở hạ tầng để sản xuất và lưu trữ cũng tiêu tốn rất nhiều tiền của Tuy nhiên, xét về dài hạn, chi phí sản xuất sẽ ổn định bởi nó không bị cạn kiệt và có thể tự tái tạo

Chi phí ban đầu cho năng lượng truyền thống không cố định mà tùy thuộc vào bản chất của các nguồn

đó Nhìn chung, việc khai thác các khoáng sản để sử dụng khá đơn giản nên sẽ giúp tiết kiệm chi phí đầu tư tối đa Thế nhưng do các nguồn này đa phần là có hạn nên khi chúng chúng cạn kiệt sẽ đẩy giá thành tăng lên

hạ tầng phục vụ cho việc chuyển hóa để đưa nguồn năng lượng này vào sử dụng lại để lại những hệ quả tiêu cực đến môi trường

Quá trình tiêu thụ nguồn năng lượng không thể tái tạo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xung quanh Ví dụ như khai thác than, dầu, gỗ… sẽ dẫn đến ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước hay gây ra hiện tượng sạt lở, lũ lụt, Nó còn là lý do chính tạo ra hiệu ứng nhà kính, gây ra hệ quả biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan nghiêm trọng

Tác động

đến xã hội

Cũng theo United Nations, tỷ lệ việc làm được tạo ra nhờ năng lượng tái tạo cao gấp 3 lần so với năng lượng truyền thống

1.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển năng lượng tái tạo Ngoài các nhân tố như thu nhập của quốc gia, môi trường hay giá của năng lượng truyền thống, còn có một số nhân tố khác có tác động đáng kể lên năng lượng sạch Bourcet (2020), Can Sener và cộng sự (2018), Darmani và cộng sự (2014) đã nêu bật và tổng hợp những nhân tố quyết định đến sự phát triển của năng lượng tái tạo Nó gồm có: năng lượng,

Trang 20

kinh tế, môi trường, chính trị, thể chế và nhân khẩu học Mặc dù các động lực đằng sau quá trình phát triển của năng lượng sạch đã được xem xét kỹ lưỡng, nhưng có rất ít thông tin về các động lực thúc đẩy của nó, chẳng hạn như yếu tố thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị Theo hiểu biết của chúng tôi, hầu hết các nghiên cứu đi trước chủ yếu hướng tới ảnh hưởng của ba nhân tố này lên môi trường hơn là năng lượng tái tạo Ví dụ, Sweidan (2021a) điều tra ảnh hưởng của bất ổn địa chính trị tới môi trường của các nước BRICS (Bra-xin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi), Khan và cộng sự (2021) và Zhang và Chen (2022) xem xét ảnh hưởng của công nghệ và chất lượng thể chế đối với suy thoái môi trường nhưng không xem xét tác động đối với năng lượng tái tạo Không chỉ vậy, Lin và cộng sự (2022) phân tích ảnh hưởng của việc áp dụng các chính sách về môi trường và đổi mới công nghệ xanh đối với nền kinh tế phát triển Ngoài ra, với tình hình đa dạng về năng lượng sạch ở các quốc gia phát triển, nguyên nhân gây ra sự khác biệt đó vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng Sự hiểu biết về các động lực như vậy có thể hữu ích trong việc giúp các chính phủ xây dựng các chính sách phù hợp để thúc đẩy năng lượng tái tạo Do đó, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi khám phá ảnh hưởng của

ba yếu tố bao gồm thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị tới quá trình triển khai năng

lượng tái tạo

1.2.1 Yếu tố thể chế

Về yếu tố thể chế, có một số nghiên cứu đi trước cho rằng chất lượng thể chế có mối liên hệ chặt chẽ với năng lượng sạch Đầu tiên, thể chế tác động lên sự chuyển đổi năng lượng từ các nguồn năng lượng truyền thống sang năng lượng tái tạo (Omri và cộng sự, 2022) Hơn nữa, các nước với chất lượng thể chế tốt hơn sẽ tiêu thụ nhiều năng lượng tái tạo hơn (Filimonova và cộng sự, 2021; Saidi và cộng sự, 2018; Wang và cộng

sự, 2022) Vì vậy, một đề tài nghiên cứu về quá trình phát triển của năng lượng tái tạo phải xem xét các tác động liên quan tới yếu tố thể chế Theo quan niệm của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF): “Thể chế có thể là cái tạo thành khuôn khổ trật tự cho các quan

hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác, là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ”

Thể chế có thể ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình phát triển của năng lượng tái tạo Thể chế ảnh hưởng trực tiếp sự phát triển năng lượng tái tạo thông qua ban hành các quy định, chính sách và theo dõi quá trình thực hiện các dự án năng lượng sạch; tăng đầu tư công vào phát triển cơ sở hạ tầng cùng mạng lưới truyền tải điện năng lượng tái tạo; chiết khấu thuế, giảm thuế, giúp giảm giá đầu vào và giá bán ra để ủng hộ các dự án năng lượng sạch; hỗ trợ tài chính và đầu tư cho năng lượng tái tạo, bao gồm các khoản tín dụng, đầu tư trực tiếp và các khoản hỗ trợ tài chính (Appiah và cộng sự, 2022; Khan và cộng sự, 2022; Uzar, 2020; Wang và cộng sự, 2022) Ngoài ra, thể chế

Trang 21

có ảnh hưởng tới năng lượng tái tạo gián tiếp thông qua các tác động đến chính sách thúc đẩy hội nhập quốc tế, giúp tăng cường trao đổi công nghệ và hợp tác đầu tư trong ngành năng lượng, bao gồm năng lượng tái tạo (Li và Shao, 2021); luật pháp trong giải quyết các vấn đề môi trường (Bekun và cộng sự, 2021); chính sách thu hút đầu tư và phát triển thị trường tài chính, chất lượng thể chế có tác động đến sự hấp dẫn của một quốc gia đối với các nhà đầu tư và các công ty quốc tế (Deardorff, 1998) qua đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút các nguồn lực tài chính đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo Chính vì tầm quan trọng và tác động đa chiều của chất lượng thể chế đến năng lượng sạch, đề tài của nhóm nghiên cứu được định hướng sẽ đóng góp một phần giá trị

về mặt lý thuyết để làm rõ các tác động này

1.2.3 Yếu tố rủi ro địa chính trị

Ngoài yếu tố thể chế và tri thức, yếu tố rủi ro địa chính trị cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lượng tái tạo ở từng quốc gia Trước hết, tổng quan tài liệu chỉ ra bất ổn địa chính trị có ảnh hưởng tới quyết định tiêu dùng và đầu tư (sản xuất) của khu vực tư nhân Hơn nữa, nó cũng tác động tới mối quan hệ thương mại và tài chính giữa các nước Quan trọng hơn, rủi ro địa chính trị biện minh cho sự thay đổi của giá dầu, lợi nhuận, nguồn cung và thị trường chứng khoán năng lượng tái tạo Do đó, nó

có giải thích những biến động trong chu kỳ kinh doanh Ví dụ, sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể biến thành một cuộc chiến tranh lạnh mới (Alami và Dixon, 2020; Ciută và Klinke, 2010) Hai cường quốc hiện đang đối đầu trên nhiều vị trí địa lý, bao gồm các khu vực châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ Latinh, và ở nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm thương mại, đầu tư và công nghệ Một

ví dụ rõ ràng hơn là các sự kiện ở vùng Vịnh Ả Rập, căng thẳng địa chính trị với Iran khuyến khích Ả Rập Xê-út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất khởi xướng công nghệ năng lượng hạt nhân của mình, Iran xây dựng chương trình hạt nhân vào đầu những năm 2000 Các quốc gia là các nước công nghiệp rất chú trọng đến việc đảm bảo các loại năng lượng khác nhau tuân thủ các chiến lược và tăng trưởng nền kinh tế dự kiến của họ Rủi ro địa chính trị tạo thêm áp lực buộc họ phải giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và đa dạng hóa các nguồn năng lượng của mình Không chỉ vậy, một số các nước giàu tài nguyên thậm chí còn sử dụng nguồn cung cấp dầu khí như

vũ khí địa chính trị để thực hiện các mục tiêu chính trị của mình Mặc dù dầu khí đóng góp lớn vào việc hỗ trợ tăng trưởng, sự tăng trưởng nhanh chóng của năng lượng tái tạo đang được chú ý nhiều hơn

Ngoài ra, Bloom (2009) khẳng định rằng rủi ro địa chính trị có thể thúc đẩy hoặc phá vỡ hiệu ứng tiết kiệm phòng hộ trên cấp độ vi mô Kết quả là, nó có thể khuyến khích người tiêu dùng trì hoãn mức tiêu dùng hiện tại của họ và buộc các công ty phải trì hoãn khoản đầu tư hiện tại của họ Ở cấp độ vĩ mô, Cheng và Chiu (2018) chứng

Trang 22

minh rằng các cú sốc đối với bất ổn địa chính trị toàn cầu đã gây ra sự suy giảm kinh tế đáng kể ở 38 quốc gia mới nổi Bất ổn địa chính trị khiến nền kinh tế của các nước suy yếu dẫn đến tác động tiêu cực lên người sử dụng và các doanh nghiệp Trước hết, khi nền kinh tế giảm sút, mọi người có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn và tiêu thụ ít hơn Lúc

đó, nhu cầu tiêu thụ năng lượng cũng giảm xuống Ngoài ra, họ sẽ có xu hướng chuyển sang tiêu thụ năng lượng truyền thống nhiều hơn năng lượng tái tạo Đó là do giá của năng lượng tái tạo vẫn còn đắt đỏ trong khi giá của năng lượng truyền thống rẻ hơn nhiều Tương tự, đối với các doanh nghiệp, bất ổn địa chính trị xảy ra dẫn đến sự gián đoạn ngay lập tức của các hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh của họ bị ảnh hưởng, lợi nhuận sụt giảm, họ không còn quan tâm nhiều đến việc bảo vệ môi trường hay chuyển đổi năng lượng tái tạo Họ bắt đầu phải chú ý đến lợi nhuận nhiều hơn và chuyển sang

sử dụng nhiều năng lượng truyền thống do giá thành của nó rẻ hơn năng lượng tái tạo Hơn nữa, lúc này dòng tiền của họ có thể không đủ để tham gia vào các sự án năng lượng tái tạo Vì việc đầu tư vào năng lượng là một quá trình đầu tư dài hạn với nguồn vốn lớn Ngoài ra, rủi ro địa chính trị còn dẫn đến những bất cập cho công nghệ để phát triển Đó là vì việc đầu tư thúc đẩy tiến bộ công nghệ vốn dĩ đã rủi ro và luôn cần nguồn vốn đầu tư lớn trong dài hạn Công nghệ kém phát triển có thể gây cản trở trong quá trình phát triển năng lượng tái tạo

Các nghiên cứu đi trước đã chỉ ra giá dầu nhạy cảm với rủi ro địa chính trị Các cuộc xung đột chính trị giữa Nga và U-crai-na, Hoa Kỳ và Iran đã khiến cho giá năng lượng truyền thống tăng một cách mạnh mẽ Vì bất ổn địa chính trị khiến cho giá năng lượng hóa thạch biến động và thường tăng cao tương đối so với năng lượng tái tạo Khi

đó, năng lượng sạch là một nguồn năng lượng thay thế tiềm năng cho năng lượng hóa thạch Đây chính là cơ hội phát triển của năng lượng tái tạo Vì những lý do trên, chúng tôi tin rằng bất ổn địa chính trị cũng có vai trò quan trọng trong việc triển khai năng lượng tái tạo đối với việc đưa ra quyết định ở cấp quốc gia

Trang 23

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NĂNG LƯỢNG

TÁI TẠO

Dựa trên phạm vi của nghiên cứu này, các cuộc thảo luận trong tài liệu được khám phá theo bốn lĩnh vực như tác động của mức phát thải CO2, tổng sản phẩm quốc nội và giá dầu đến năng lượng tái tạo, ảnh hưởng của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến quá trình năng lượng tái tạo Ở chương 2, chúng tôi đưa ra các kết quả của các nghiên cứu

đi trước liên quan đến mối quan hệ giữa các yếu tố nói trên với năng lượng tái tạo Từ đó, nhóm nghiên cứu có thể kết luận về khoảng trống nghiên cứu và đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu

2.1 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.1.1 Các nghiên cứu về nhân tố tác động tới sự phát triển của năng lượng tái tạo

Trong hai thập kỷ qua, tồn tại rất nhiều tài liệu nghiên cứu về những yếu tố có tác động quan trọng đến sự phát triển của năng lượng tái tạo bằng cách sử dụng các mẫu, phép đo và các phương pháp ước lượng khác nhau Bourcet (2020), Can Sener và cộng

sự (2018), Darmani và cộng sự (2014) đã tổng hợp các nhân tố quyết định tới việc phát triển của năng lượng tái tạo Chúng gồm có: năng lượng, kinh tế, môi trường, chính trị, thể chế và nhân khẩu học Tổng quan nghiên cứu chỉ ra có ít sự đồng tình về cách các nhân tố này ảnh hưởng đến quá trình phát triển của năng lượng tái tạo Ví dụ, một số nghiên cứu như Apergis và Payne (2014) và Sadorsky (2009) đã nhận ra ảnh hưởng tích cực của thu nhập thực tế trong việc mở rộng nguồn năng lượng tái tạo Mặt khác, những nghiên cứu khác, chẳng hạn như Cadoret và Padovano (2016), Marques và cộng sự (2010) đã nhận thấy những ảnh hưởng tiêu cực của nó Sự khác biệt này xuất phát từ phương pháp nghiên cứu và cách lấy mẫu Liên quan đến cách chọn mẫu, một số nghiên cứu kiểm chứng sự phát triển năng lượng tái tạo trên cơ sở quy mô toàn cầu trong khi những nghiên cứu khác tập trung vào các khu vực và nhóm quốc gia (dựa trên mức độ phát triển về kinh tế hay khoảng cách địa lý) Về phương pháp nghiên cứu, các tác giả lựa chọn các chỉ số khác nhau đại diện cho các nhân tố tác động và dùng nhiều phương pháp khác nhau để thu được kết quả và kết luận có các điểm giống và khác nhau Những kết quả gây tranh cãi này lan rộng trên tất cả các yếu tố Do đó, những gì chúng ta biết

về những yếu tố này vẫn còn hạn chế và cần được điều tra thêm (Bourcet, 2020)

Thứ nhất, ngoại trừ nghiên cứu của Marques và Fuinhas (2012), mọi tác giả đều

coi yếu tố kinh tế là biến kiểm soát tác động đến năng lượng tái tạo Bourcet (2020) khi

có đến 98% các bài báo đề cập đến Trong các đề tài nghiên cứu, các tác giả đã chọn yếu

tố thu nhập (GDP bình quân đầu người) để nghiên cứu các ảnh hưởng của nó Họ thường đưa ra kết luận rằng thu nhập tăng có thể dẫn đến mức tiêu thụ năng lượng cao hơn, điều này cũng đúng với nguồn năng lượng tái tạo (Omri và cộng sự, 2022; Shafiei và Salim,

Trang 24

2014) Hơn nữa, Aguirre và Ibikunle (2014), Pfeiffer và Mulder (2013) cho rằng “thu nhập cao hơn cũng góp phần thúc đẩy triển khai năng lượng tái tạo bằng việc huy động các nguồn lực tài chính để đầu tư hoặc hỗ trợ các dự án năng lượng tái tạo cần nhiều vốn” Ở những bài báo tại các quốc gia đang phát triển, dường như thu nhập có tác động tích cực đến sự phát triển của năng lượng tái tạo Nó được ghi nhận bởi các biến đại diện cho mức tiêu thụ bình quân đầu người của các nguồn năng lượng tái tạo hay khi xem xét các nguồn năng lượng tái tạo tạo ra điện Tuy nhiên, vẫn tồn tại song song ở đó tác động tiêu cực đến các nước châu Âu – điều ngược lại với các mẫu của nước đã và đang phát triển trên toàn cầu Một lý giải được đưa ra bởi Cadoret và Padovano (2016) là qua một ngưỡng nhất định, thu nhập có ảnh hưởng tiêu cực đến việc triển khai năng lượng tái tạo

vì các nguồn này có thể không được cung cấp ngay để đáp ứng hết nhu cầu gia tăng bởi hoạt động kinh tế cao đòi hỏi nhiều năng lượng Ngoài thu nhập, các tác giả còn sử dụng các nhân tố khác như giá dầu, giá năng lượng (điện), tài chính và vốn từ bên ngoài để

đo lường mối quan hệ Ngoại trừ giá năng lượng (điện), các đề tài khác đã chỉ ra rằng những nhân tố còn lại tăng đều có ảnh hưởng tích cực tới việc mở rộng năng lượng sạch

Thứ hai, sau kết luận ban đầu của Sadorsky (2009), có đến 67% bài báo được

đánh giá đưa ra yếu tố môi trường (thường liên quan đến mức phát thải khí CO2) như một biến số đại diện cho sự suy giảm chất lượng môi trường Hầu hết, các tác giả kỳ vọng mức độ phát thải CO2 tăng lên, chất lượng môi trường giảm xuống sẽ buộc những nước phát triển tiêu thụ năng lượng sạch hơn hay những loại năng lượng tái tạo có hàm lượng carbon thấp được sử dụng nhiều hơn Tuy nhiên, Marques và Fuinhas (2011) cho rằng ảnh hưởng tiêu cực cũng có thể phản ánh sự thờ ơ của xã hội tới các vấn đề môi trường vì nó chính là nguyên nhân “tạo ra các điều kiện chính trị mà duy trì cam kết với nhiên liệu hóa thạch” Hơn nữa, Valdés Lucas và cộng sự (2016) cho rằng “sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và sức mạnh của các hành lang pháp lý có thể cân bằng các chính sách thân thiện với môi trường và từ đó ủng hộ năng lượng tái tạo” Các loại xung đột này có thể giải thích tại sao lại có những kết luận khác nhau được ghi lại

Thứ ba, sự tác động của các chỉ số năng lượng đã được đề cập rộng rãi trong các

tài liệu từ trước đến nay Trong đó, một nửa số bài báo đã chỉ ra rằng khi lượng tiêu thụ năng lượng tăng đều làm nhu cầu về năng lượng tái tạo và truyền thống tăng theo Tuy nhiên, vẫn chưa có sự ảnh hưởng rõ ràng của nhu cầu năng lượng tác động lên sự mở rộng nguồn năng lượng tái tạo Hơn nữa, vì cường độ carbon thấp nên sự phát triển mạnh

mẽ của năng lượng hạt nhân được dự báo sẽ để lại hậu quả tiêu cực đến quá trình phát triển năng lượng sạch ở tất cả các nền kinh tế (Bourcet, 2020) Bên cạnh đó, những nỗ lực để đạt được khả năng tự cung tự cấp năng lượng có thể sẽ ảnh hưởng tích cực lên năng lượng tái tạo (Marques và cộng sự, 2010) Tuy nhiên, quan điểm này lại không có

Trang 25

được sự đồng thuận trên toàn cầu khi những đề tài trước chưa đề cập biến số này tại các nước đang phát triển

Thứ tư, việc kiểm soát quy mô dân số cũng có tác động tới năng lượng tái tạo

Tuy nhiên, Aguirre và Ibikunle (2014) cho rằng “dấu hiệu về mức độ ảnh hưởng của dân số tới năng lượng tái tạo là không thực sự rõ ràng” Sự gia tăng dân số đồng nghĩa với việc sẽ làm tăng nhu cầu về năng lượng Khi nhu cầu về năng lượng tăng, nó có thể khuyến khích năng lượng tái tạo phát triển khi năng lượng truyền thống không thể đáp ứng hết bởi sự giới hạn của nó Tuy nhiên, nếu như tăng quá cao, nó có thể không khuyến khích triển khai năng lượng sạch mà quay lại dựa vào nguồn năng lượng truyền thống Nhìn chung, quy mô dân số có tác động tích cực tới việc triển khai năng lượng tái tạo,

ngay cả khi điều này không rõ ràng khi xem xét các loại mẫu khác nhau

2.1.2 Các nghiên cứu về thể chế tới sự phát triển của năng lượng tái tạo

Năng lượng tái tạo đang trở thành một phương tiện quan trọng trong việc giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Các nhân tố thể chế quan trọng như chính sách, quy định và các khung pháp lý có thể tác động tới quá trình phát triển của năng lượng tái tạo Vì vậy, những đề tài về ảnh hưởng của các nhân tố thể chế đến phát triển năng lượng tái tạo rất quan trọng để có những cái nhìn tổng quan về tình hình hiện tại và đưa ra các chính sách hiệu quả để thúc đẩy quá trình phát triển của năng lượng tái tạo

Hiện tại, chưa có bất kỳ đề tài nào cho thấy rằng cải thiện thể chế là không cần thiết cho việc mở rộng nguồn năng lượng tái tạo Trong các đề tài liên quan đến năng lượng sạch, việc cải thiện thể chế thường được coi là một yếu tố quan trọng để khuyến khích việc sản xuất và tiêu thụ các nguồn năng lượng sạch Theo đó, nghiên cứu của Sydney và cộng sự (2021) đã chứng minh tính ổn định và trách nhiệm giải trình - hai trong sáu yếu tố thể chế, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thị trường năng lượng tái tạo có thể thu hút thêm đầu tư Nghiên cứu này cũng đưa ra kết luận là việc tăng cường hỗ trợ chính phủ và cải thiện thể chế có thể hỗ trợ cho phát triển năng lượng tái tạo trong khu vực châu Phi Một ví dụ khác từ nghiên cứu của Omri và cộng sự (2022) đưa ra kết luận rằng thể chế giúp đưa ra những chính sách thích hợp để khuyến khích sự phát triển của năng lượng tái tạo Tương tự, Wang và cộng sự (2022) khi xem xét vai trò của chất lượng thể chế và rủi ro chính trị trong việc tiêu thụ năng lượng tái tạo ở những nước OECD, nhiều tác giả đã kết luận rằng “chất lượng thể chế và rủi ro chính trị có tác động mạnh mẽ đến tiêu thụ năng lượng tái tạo” Các nước với chất lượng thể chế tốt hơn và rủi ro chính trị thấp hơn thường tiêu thụ nhiều năng lượng sạch hơn Không chỉ vậy, đề tài cũng chỉ ra rằng những chính sách hỗ trợ đầu tư vào năng lượng tái tạo cũng là yếu tố quan trọng để đẩy mạnh tiêu thụ năng lượng tái tạo trong các nước Saidi và cộng sự (2018) cho rằng “năng lượng tái tạo có tác động tích cực đến tăng

Trang 26

trưởng kinh tế trong các quốc gia MENA Đồng thời, chất lượng thể chế ảnh hưởng tích cực đến mối quan hệ giữa năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế trong khu vực này

Cụ thể, các quốc gia có chất lượng thể chế tốt hơn có xu hướng sử dụng năng lượng tái tạo mức độ lớn hơn và có tăng trưởng kinh tế tốt hơn” Filimonova và cộng sự (2021)

đã chứng minh các nhân tố thể chế, gồm có các chính sách hỗ trợ của chính phủ, đầu tư công vào năng lượng tái tạo và sự đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu thụ năng lượng tái tạo ở châu Âu Vì vậy, cải thiện thể chế được coi là một yếu tố quan trọng để đẩy nhanh sự phát triển của năng lượng tái tạo, hỗ trợ giảm thiểu khí thải nhà kính và bảo vệ hệ sinh thái

Những bài nghiên cứu đi trước đã chỉ ra ảnh hưởng của các nhân tố thể chế đến mức độ phát triển năng lượng tái tạo có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển Các quốc gia phát triển thường có những chính sách hỗ trợ như các chính sách thuế, hỗ trợ tài chính và các quy định về môi trường để thúc đẩy quá trình phát triển năng lượng tái tạo Tuy nhiên, những rào cản thể chế khác như các quy định pháp lý phức tạp, các quy trình giấy tờ khó khăn, và chi phí đầu tư ban đầu cao cũng làm giảm sự phát triển của năng lượng sạch ở một số quốc gia phát triển Cụ thể, những quốc gia phát triển thường đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ, quy định và khung pháp lý tốt hơn, nhất là trong lĩnh vực phát triển năng lượng tái tạo Wang và cộng sự (2022) đã kết luận chất lượng thể chế được xác định là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tiêu thụ năng lượng tái tạo ở các nước thuộc OECD Các nước có chất lượng thể chế tốt hơn thường tiêu thụ nhiều năng lượng tái tạo hơn Bên cạnh đó, những chính sách hỗ trợ đầu tư vào năng lượng sạch rất cần thiết trong việc thúc đẩy quá trình phát triển năng lượng tái tạo ở các nước thu nhập cao

Trong khi đó, các nước đang phát triển có thể đối mặt với các thách thức khác trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng sạch Những nước đang phát triển có thể không có đủ tài nguyên và vốn để đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo, hoặc gặp khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư từ nước ngoài Ngoài ra, những quy định pháp lý chưa được hoàn thiện và hệ thống cơ sở hạ tầng không đầy đủ cũng là những thách thức đối với quá trình mở rộng năng lượng sạch tại những quốc gia đang phát triển Do đó,

có sự khác biệt lớn giữa các nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển trong việc mở rộng nguồn năng lượng sạch và tác động của các nhân tố thể chế Mặc dù vậy, nó cũng phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và các nhân tố khác nhau có thể tác động tới quá trình phát triển năng lượng tái tạo ở các nước khác nhau Ở những quốc gia thu nhập trung bình, một số đề tài đã chứng minh được ảnh hưởng của thể chế tới năng lượng tái tạo Nghiên cứu của Rahman và Sultana (2022) đã cho thấy các nhân tố thể chế có tác động đáng kể lên sản lượng năng lượng tái tạo ở các quốc gia mới nổi Những yếu tố thể chế như biện pháp hỗ trợ năng lượng tái tạo, quản lý hiệu quả và kinh doanh có trách

Trang 27

nhiệm được cho là có ảnh hưởng tích cực tới sản lượng năng lượng sạch tại các nước mới nổi Đề tài của Khan và cộng sự (2019) hướng tới ảnh hưởng của các khung pháp

lý đối với phát triển năng lượng tái tạo ở các nước đang phát triển Các tác giả đã phân tích các khung pháp lý và quy định ở 10 quốc gia đang phát triển và nhận thấy rằng sự thiếu ổn định về chính sách, quy định và hỗ trợ tài chính là những thách thức lớn với việc phát triển năng lượng tái tạo Do đó, để đẩy mạnh quá trình phát triển năng lượng tái tạo ở những quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình và thấp cần sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế thông qua việc cung cấp tài trợ, công nghệ và kinh nghiệm Ngoài

ra, những quốc gia đang phát triển cần thiết kế các chính sách và quy định phù hợp với tình hình địa phương và kinh tế của mình để đạt được hiệu quả tối đa trong việc mở rộng năng lượng tái tạo

Tóm lại, những bài nghiên cứu đi trước đều nhất quán với quan điểm rằng tác động của thể chế đến sự phát triển năng lượng tái tạo ở cả nhóm các quốc gia thu nhập cao và thu nhập trung bình cần được chú trọng Các bài đề tài đã chỉ ra rằng chất lượng thể chế có mối liên hệ mạnh mẽ tới năng lượng tái tạo tại các nước Những nước thu nhập cao thường có nhiều chính sách hỗ trợ năng lượng sạch và các chế tài cho khí thải nhiên liệu hóa thạch mạnh mẽ hơn so với các nước thu nhập trung bình Ngoài ra, các quốc gia mới nổi có thể hưởng lợi từ sự hỗ trợ đầu tư và kinh tế từ các quốc gia phát triển để tăng cường phát triển năng lượng tái tạo (Rahman và Sultana, 2022) Các tác giả cũng cho rằng cần có thêm nghiên cứu đánh giá sự tương quan giữa các yếu tố thể

chế và năng lượng tái tạo

2.1.3 Các nghiên cứu về tri thức tới sự phát triển của năng lượng tái tạo

Đổi mới rất quan trọng trong quá trình phát triển năng lượng tái tạo Vì vậy tri thức nói chung và tiến bộ công nghệ nói riêng đã trở thành chủ đề của nhiều nghiên cứu

Về mặt lý thuyết, người ta kỳ vọng rằng việc phổ biến những công nghệ liên quan đến môi trường sẽ thúc đẩy năng lượng sạch (Chu, 2022; Khan và cộng sự, 2021b; Wang & Wei, 2020; Wang và cộng sự, 2022) Nhiều đề tài đã khẳng định vai trò thiết yếu của nghiên cứu và phát triển đối với việc thúc đẩy đổi mới tái tạo (Bointner, 2014) S Li và Shao (2021) cũng chứng minh chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển trên GDP có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động đổi mới năng lượng tái tạo trong điều kiện xem xét tất cả các biến độc lập và biến kiểm soát Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Hille và cộng sự (2020), Khezri và cộng sự (2021), Lin và Chen (2019); Nicolli và Vona (2016) Lin và Zhu (2019) lập luận rằng chi tiêu công cho nghiên cứu và phát triển có tác động đáng kể hơn so với chi tiêu tư nhân; Subtil Lacerda và van den Bergh (2020) đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực đáng kể của nguồn tri thức bên ngoài trong cả hai loại năng lượng mặt trời và gió Về mặt chính trị, đầu tư vào công nghệ năng lượng hiện đại đem lại lợi nhuận cho cả chính phủ và doanh nghiệp Ý nghĩa của nghiên cứu của họ nằm ở bằng

Trang 28

chứng lý thuyết về tính khả thi của đầu tư năng lượng tái tạo trong bối cảnh năng lượng truyền thống đang chiếm ưu thế Irandoust (2018) thấy rằng, trong số bốn quốc gia Bắc

Âu, do cấu trúc năng lượng khác nhau và nhiều lý do khác, đổi mới công nghệ thúc đẩy tiêu thụ năng lượng tái tạo ở Đan Mạch và Na Uy, trong khi ở Thụy Điển và Phần Lan, mức độ tiêu thụ năng lượng tái tạo thúc đẩy sự đổi mới trong công nghệ

Tuy nhiên, những công nghệ hiện đại có thể không làm tăng, hoặc thậm chí làm giảm mức độ phát triển của năng lượng tái tạo như được lý giải bởi “hiệu ứng phục hồi” (Gillingham và cộng sự, 2016; Gu và cộng sự, 2019; Lin và Liu, 2012) Mua một chiếc

xe tiết kiệm nhiên liệu hơn, lái xe nhiều hơn Đây là minh họa đơn giản nhất về cái được gọi là hiệu ứng phục hồi - là một hiện tượng khi tăng hiệu quả sử dụng năng lượng có thể dẫn đến năng lượng được tiết kiệm ít hơn so với dự kiến Thực tế, hoạt động sản xuất và tiêu dùng ở hầu hết các quốc gia vẫn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch hơn là chuyển đổi sang năng lượng tái tạo So với năng lượng dựa trên nhiên liệu hóa thạch truyền thống, năng lượng tái tạo có những rào cản mạnh mẽ để đưa vào sử dụng ở quy

mô lớn Thứ nhất, mặc dù năng lượng tái tạo có đặc điểm là nguồn năng lượng ít gây ô

nhiễm nhưng đòi hỏi đầu tư quy mô lớn, chi phí tài chính và chi phí sử dụng cao, lại kèm theo sự không chắc chắn vốn có của các dự án như vậy Điều đó có nghĩa là cần phải có một mức độ hỗ trợ tài chính và tích lũy công nghệ mới mang đến hiệu quả cao

trong việc sản xuất và tiêu thụ nguồn năng lượng này Thứ hai, tiến bộ tri thức biểu hiện

qua những phát hiện và áp dụng những công nghệ tiên tiến làm giảm giá năng lượng

hoặc giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực của năng lượng hóa thạch đối với môi trường Thứ

ba, tốc độ cao của tiến bộ tri thức mở ra không gian thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, càng

ngày nền kinh tế có thể sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ phức tạp hơn, dẫn tới nhu cầu về năng lượng tăng để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Đặc tính dễ sản xuất và tiêu thụ của năng lượng truyền thống với là những lợi thế vượt trội hơn so với năng lượng tái tạo

Trong giai đoạn gần đây, dữ liệu về danh mục các sản phẩm mà các quốc gia xuất khẩu đã được dùng để hình thành các thước đo về mức độ phức tạp của nền kinh tế nhằm ước tính lượng tri thức có sẵn trong một nền kinh tế Hausmann (2013) và Hidalgo (2014) đo lường mức độ tri thức tích lũy trong cộng đồng dân cư một quốc gia thông qua khái niệm “mức độ phức tạp kinh tế” (economic complexity) Chỉ số mức độ phức tạp kinh tế thể hiện năng suất định tính của một quốc gia dựa trên nghiên cứu và phát triển để tạo ra các sản phẩm đầu ra phức tạp và tiên tiến hơn, sử dụng năng lượng hiệu quả và phụ thuộc vào các công nghệ ít gây ô nhiễm hơn Đặc biệt, tri thức có thể lý giải những khác biệt trong quá trình phát triển giữa các nước (Mealy và cộng sự, 2018) Các yếu tố của mức độ phức tạp kinh tế của một nước gồm có “tri thức, kỹ năng, sự đa dạng tri thức và tính phổ biến” tạo nên những tác động khác nhau trong việc triển khai năng

Trang 29

lượng sạch Năng lực bên trong được cải thiện thông qua giáo dục, hệ thống đổi mới và

cơ cấu kinh tế Khi tri thức sản xuất phát triển, công nghệ được nâng cấp cũng tạo điều kiện khuyến khích sản xuất và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo; đồng thời

để đảm bảo an ninh năng lượng, giảm chi phí sản xuất, đa dạng hóa tiêu thụ năng lượng, giảm sự phụ thuộc vào sử dụng nhiên liệu hóa thạch Qamruzzaman & Jianguo (2020) chỉ ra mở cửa thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong sử dụng năng lượng tái tạo Toàn cầu hóa, tốc độ cao của tiến bộ tri thức và quá trình thúc đẩy tiến bộ công nghệ

và công nghiệp không ngừng đã mang đến cơ hội chuyển giao kiến thức, mở ra không gian thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo ra tình thế tiến thoái lưỡng nan cho con người trong việc bảo vệ chất lượng môi trường Mặc cho vai trò không nhỏ của nó, sự chú ý đến tầm quan trọng của các công nghệ liên quan đến môi trường trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường còn rất ít Các công nghệ liên quan đến môi trường

và tiêu thụ năng lượng tái tạo, được kết nối với chuyển đổi cấu trúc kinh tế được coi là động lực thúc đẩy phát triển bền vững Tabrizian (2019) cảnh báo rằng nếu không phủ xanh doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ sẽ không thể đạt được mục tiêu môi trường bền vững, mục tiêu này chỉ có thể thực hiện được thông qua khuyến khích các ngành sử dụng các nguồn năng lượng sạch (Kannan và cộng sự, 2014; S A Khan và cộng sự, 2019; Shafiei và Salim, 2014) Đảm bảo quá trình dịch chuyển bền vững từ công nghệ gây ô nhiễm nhiều sang công nghệ ít gây ô nhiễm hơn là một vấn đề ngày càng được các chuyên gia chính phủ quan tâm hơn Bai và cộng sự (2020) nhấn mạnh rằng ô nhiễm môi trường là kẻ giết người hàng loạt đối với nền kinh tế tăng trưởng trong dài hạn Để đạt được chuyển đổi kinh tế xanh, các quốc gia cần khẩn trương phát triển các công nghệ năng lượng tái tạo để chống ô nhiễm môi trường Nghị định thư Kyoto đặt ra các mục tiêu ràng buộc để giảm lượng khí thải, do đó gây áp lực lên chính phủ và các công ty để phát triển môi trường các công nghệ thân thiện với tinh thần, đặc biệt là những đổi mới trong năng lượng tái tạo năng lượng (Miyamoto và Takeuchi, 2019) Cuối cùng, các quốc gia đã bắt đầu dành sự quan tâm tối đa quan niệm về tính bền vững trong đảm bảo phát triển kinh tế Các kỹ thuật về môi trường được kỳ vọng sẽ giúp con người đạt được mục tiêu kép về phát triển kinh tế và bền vững môi trường

2.1.4 Các nghiên cứu về rủi ro địa chính trị tới sự phát triển năng lượng tái tạo

Những nhà nghiên cứu trước đây không chỉ xem xét mối liên hệ giữa thể chế, tri thức và năng lượng tái tạo mà còn xem xét ảnh hưởng của bất ổn địa chính trị tới năng lượng tái tạo Trước hết, Caldara và Iacoviello (2022) định nghĩa bất ổn địa chính trị là

“rủi ro liên quan đến chiến tranh, khủng bố và căng thẳng giữa các quốc gia mà ảnh hưởng đến tiến trình bình thường hóa quan hệ quốc tế” Rủi ro này có thể tác động tới các quyết định kinh tế, xã hội của các bên liên quan, từ hộ gia đình, doanh nghiệp đến chính phủ và các tổ chức quốc tế Việc khám phá tác động của nó đến nhiều biến số

Trang 30

khác đã thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu Rủi ro địa chính trị được cho là

có tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất và tiêu thụ năng lượng tái tạo (Alsagr & van Hemmen, 2021; Osama D Sweidan, 2021) Overland (2019) cho rằng “mối liên hệ giữa rủi ro địa chính trị và năng lượng tái tạo đưa ra một hướng nghiên cứu mới” Ông

đề xuất rằng sự liên hệ giữa hai yếu tố có thể mô hình hóa như một quá trình thay đổi, bởi vì cả rủi ro địa chính trị và năng lượng tái tạo gần đây đều đã thay đổi đáng kể

Antonakakis và cộng sự (2017), Cunado và cộng sự (2020), Liu và cộng sự (2019), Mei và cộng sự (2020), Qin và cộng sự (2020) kết luận rằng “rủi ro địa chính trị

có thể lý do chính của sự thay đổi của giá dầu, lợi nhuận và chuỗi cung ứng” Cheng và Chiu (2018) cho rằng rủi ro địa chính trị toàn cầu dẫn đến tình trạng suy thoái nền kinh

tế ở 38 nước mới nổi Selmi và Bouoiyour (2020) khi nghiên cứu các tác động tài chính của căng thẳng địa chính trị năm 2017, giữa một bên là Ả Rập Xê Út, các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Bahrain và Ai Cập và bên kia là Qatar đã đưa ra kết luận rằng căng thẳng địa chính trị đã gây ra tổn thất tài chính đáng kể cho các nước trong Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh Tương tự, Caldara và Iacoviello (2022) mô tả “rủi ro địa chính trị

là rủi ro liên quan đến xung đột vũ trang, khủng bố bên cạnh xung đột giữa các quốc gia

có ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế” Sự bất ổn địa chính trị làm gia tăng sự không chắc chắn và tình trạng bất ổn, khiến các công ty phải hạn chế sản xuất trong tương lai và gạt

bỏ các kế hoạch sang một bên Các công ty dự đoán rằng trong trường hợp có rủi ro địa chính trị, sự tiêu dùng sẽ giảm Điều này có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến việc phát triển năng lượng tái tạo Đầu tiên, rủi ro địa chính trị dẫn đến việc giảm sự tiêu thụ năng lượng tái tạo Vì giá năng lượng sạch khá đắt đỏ so với nhiên liệu hoá thạch nên họ có sẽ chọn sử dụng năng lượng truyền thống thay vì năng lượng tái tạo Đối với các doanh nghiệp, khi bất ổn địa chính trị tăng dẫn đến tình trạng kinh doanh sa sút, các doanh nghiệp buộc phải trì hoãn hoặc từ bỏ các cam kết bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp có xu hướng ngừng đầu tư vào năng lượng tái tạo để tiết kiệm chi phí và tiêu thụ những nguyên liệu truyền thống Ngoài ra, nghiên cứu của Mark Carney (2016) giải thích các rủi ro địa chính trị và sự không chắc chắn về chính sách kinh tế tạo ra môi trường bất ổn như thế nào Khi xảy ra bất ổn địa chính trị, chính phủ sẽ chú ý và ưu tiên

xử lý những bất ổn đó và có xu hướng ít quan tâm hơn đến việc chuyển đổi năng lượng sạch hay việc bảo vệ môi trường Hơn nữa, khi chiến tranh xảy ra, các quốc gia không còn nguồn lực và không còn dành nhiều nguồn lực cho việc phát triển năng lượng tái tạo Kết quả là họ trì hoãn hoặc từ bỏ những cam kết bảo vệ môi trường Điều này khiến cho sự đầu tư vào phát triển năng lượng sạch cũng giảm xuống Kết quả nghiên cứu của Flouros và cộng sự (2022) cũng cho thấy rủi ro địa chính trị có ảnh hưởng tiêu cực tới việc sản xuất năng lượng tái tạo bất kể dùng công cụ ước tính nào

Trang 31

Mặt khác, một số đề tài gần đây đã dự đoán mối liên quan tích cực giữa rủi ro địa chính trị và việc mở rộng năng lượng sạch Sarker và cộng sự (2023) khám phá những ảnh hưởng bất đối xứng của bất ổn địa chính trị, giá dầu thô và sự không chắc chắn ở cấp độ chính sách khí hậu đối với sự biến động và lợi nhuận của giá năng lượng sạch ở Hoa Kỳ Kết quả thực nghiệm của họ chứng minh rằng bất ổn địa chính trị có tác động quan trọng đến giá năng lượng sạch trong dài hạn cũng như ngắn hạn Khan và cộng sự (2021a) kết luận sự lan tỏa rủi ro địa chính có tác động lớn lên thị trường chứng khoán của năng lượng tái tạo Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, nếu điện ở một quốc gia được tạo

ra từ các nguồn năng lượng tái tạo trong nước, thì bất ổn địa chính trị của quốc gia đó

do thiếu hụt năng lượng nhập khẩu có thể giảm và quốc gia đó sẽ ít phụ thuộc hơn vào các quốc gia giàu năng lượng (Strunz và cộng sự, 2016) Rủi ro địa chính trị tăng sẽ thúc đẩy một nước nhập khẩu năng lượng tìm kiếm năng lượng sạch để đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước Ngoài ra, theo Overland (2019) bất ổn địa chính trị là “một mối quan

hệ nhân quả tất yếu giữa địa lý và quan hệ quốc tế tập trung vào sự cạnh tranh, mở rộng lãnh thổ và chiến lược quân sự của các cường quốc trong dài hạn” Căng thẳng địa chính trị ở một khu vực cụ thể, ví dụ như Trung Đông, dẫn đến rủi ro về dòng nhiên liệu hóa thạch cho nền kinh tế thế giới Điều này là động lực thúc đẩy các nước độc lập hơn về năng lượng và dựa vào các nguồn năng lượng tái tạo của họ để giảm bớt rủi ro về nhiên liệu hóa thạch Tương tự như vậy, Sweidan (2021a, b) lập luận rằng rủi ro địa chính trị thuyết phục các quốc gia độc lập và giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch Alsagr và van Hemmen (2021) nghiên cứu các tác động của rủi ro địa chính trị đến sự tiêu thụ năng lượng tái tạo ở các nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1996 – 2015 Kết quả cho thấy rủi ro địa chính trị có tác động tích cực và đáng kể đến sự tiêu thụ năng lượng tái tạo Rasoulinezhad và cộng sự (2020) nhận thấy rằng mối đe doạ địa chính trị

có ảnh hưởng tích cực đến quá trình chuyển đổi năng lượng Cai và Wu (2021) nhận ra rằng “rủi ro địa chính trị có ảnh hưởng tích cực đến năng lượng tái tạo, vì vậy rủi ro địa chính trị tăng sẽ khuyến khích sự ra đời của năng lượng tái tạo” Gần đây, Zhang và cộng sự (2023) xem xét mối quan hệ cơ bản thay đổi theo thời gian giữa rủi ro địa chính trị và tài chính xanh Đề tài kết luận có sự không đồng nhất về thời gian giữa tình trạng bất ổn địa chính trị và quỹ dành cho phát triển năng lượng sạch Rủi ro địa chính trị có tác động không nhỏ đến doanh thu ngành năng lượng sạch Để giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của việc ưu tiên thúc đẩy phát triển của ngành năng lượng sạch

2.2 KHOẢNG TRỐNG VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự phát triển của năng lượng tái tạo cho thấy đã có một số bài nghiên cứu xem xét tác động của các yếu tố đến việc

mở rộng năng lượng tái tạo Ngày nay, có rất nhiều đề tài xem xét ảnh hưởng của các

Trang 32

nhân tố như thu nhập, môi trường và giá dầu đến năng lượng tái tạo Mặc dù vậy, có khá

ít bài xem xét đến mối liên hệ giữa ba yếu tố bao gồm thể chế, tri thức, rủi ro địa chính trị và năng lượng tái tạo Các bài nghiên cứu đó có ít sự đồng tình về cách các nhân tố này tác động tới sự phát triển của năng lượng tái tạo Sự bất đồng này là do sự khác biệt trong phương pháp nghiên cứu và cách chọn mẫu Về cách chọn mẫu, một số nghiên cứu kiểm chứng sự phát triển năng lượng tái tạo trên cơ sở quy mô toàn cầu trong khi những nghiên cứu khác tập trung vào các khu vực, nhóm quốc gia (dựa trên mức độ phát triển về kinh tế hay khoảng cách địa lý) Về phương pháp nghiên cứu, các tác giả đã chọn các chỉ số khác nhau đại diện cho các yếu tố tác động và áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu được kết quả và kết luận có các điểm giống và khác nhau Những kết quả gây tranh cãi này lan rộng trên tất cả các yếu tố Do đó, những gì chúng ta biết

về các yếu tố này tương đối hạn chế và cần điều tra hơn (Bourcet, 2020) Ngoài ra, các

đề tài liên quan tới mối quan hệ của ba yếu tố rủi ro địa chính trị, thể chế và tri thức còn

ít về số lượng và chưa hoàn thiện về chất lượng Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào phân tích sâu và so sánh mức độ tác động của từng nhân tố đến sự phát triển của năng lượng

tái tạo ở các nhóm nước thu nhập trung bình và thu nhập cao

Thông qua tổng quan nghiên cứu và các lập luận trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu về tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị và ba nhân tố khác bao gồm mức độ phát thải CO2, GDP bình quân đầu người và giá dầu đến mức độ phát triển của năng lượng tái tạo của nhóm các nước thu nhập cao và thu nhập trung bình Ngoài ra, chúng tôi còn xem xét ảnh hưởng của biến điều tiết rủi ro địa chính trị đến thể chế và tri thức lên sự mở rộng năng lượng tái tạo Chúng tôi sử dụng thang đo đầy đủ và số liệu mới nhất về ba biến số này Mẫu số liệu được chúng tôi sử dụng để phân tích trong bài nghiên cứu này được lấy từ 38 quốc gia, trong đó, có 23 quốc gia có thu nhập cao và 15 quốc gia còn lại thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình

Đề tài sẽ cung cấp những hiểu biết quan trọng về các vấn đề còn tồn tại trong tài liệu hiện tại khi có những yếu tố nói trên ảnh hưởng đến việc sản xuất và tiêu thụ năng lượng tái tạo Đề tài của chúng tôi cũng giải quyết một lỗ hổng lớn về tài liệu bằng cách thêm tất cả các biến giải thích vào một mô hình để xem xét tác động của chúng đối với năng lượng tái tạo Đồng thời, chúng tôi cũng xem xét và so sánh ảnh hưởng của từng yếu tố tới sự sản xuất và tiêu thụ năng lượng tái tạo ở cả hai nhóm quốc gia thu nhập cao và thu nhập trung bình Đây là khoảng trống nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cả

về mặt lý thuyết và thực tiễn vì nó giúp đưa ra các khuyến nghị và chính sách cụ thể cho các nhóm nước có trình độ phát triển khác nhau

Không chỉ vậy, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích hồi quy phân vị Nó là một bổ sung có giá trị trong tài liệu vì các nghiên cứu đi trước chủ yếu áp dụng đánh giá dựa trên giá trị trung bình Phương pháp hồi quy phân vị có thể thể hiện tác động của

Trang 33

từng biến đối với biến năng lượng tái tạo ở các phân vị khác nhau của biến năng lượng

tái tạo thay vì chỉ dựa trên giá trị trung bình Lợi thế này giúp làm rõ hơn về ảnh hưởng

của các yếu tố quan trọng tới năng lượng tái tạo

Căn cứ vào tổng quan nghiên cứu và các lập luận trên, đề tài đưa các giả thuyết:

H 1 : “Thế chế có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển năng lượng tái

tạo ở cả hai nhóm nước.”

H 2 : “Tri thức tác động tích cực đến sự phát triển năng lượng tái tạo ở cả hai

nhóm nước.”

H 3 : “Rủi ro địa chính trị có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển

năng lượng tái tạo ở cả hai nhóm nước.”

H 4 : “Rủi ro địa chính trị có tác động điều tiết ảnh hưởng của thể chế và tri thức

đến năng lượng tái tạo Bất ổn địa chính trị có tác động khuếch đại vai trò của thể chế

và tri thức đối với việc mở rộng năng lượng tái tạo ở cả hai nhóm nước.”

Trang 34

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO, THỂ CHẾ, TRI THỨC

VÀ RỦI RO ĐỊA CHÍNH TRỊ

Trước khi đi vào nghiên cứu sâu hơn về đề tài này, chúng tôi nêu ra thực trạng

về năng lượng tái tạo và mối quan hệ giữa ba yếu tố thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị với năng lượng sạch

3.1 THỰC TRẠNG NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO

Thực chất, năng lượng tái tạo không phải là điều xa lạ và mới mẻ mà nó đã xuất hiện từ rất lâu Khi con người chưa biết đến việc khai thác than vào giữa thế kỷ XIX, các nguồn năng lượng chủ yếu mà con người sử dụng đều là năng lượng sạch Năng lượng tái tạo lâu đời nhất được biết đến là năng lượng ở dạng sinh khối truyền thống -

có từ khoảng 790.000 năm trước đây Tuy nhiên, phải vài trăm ngàn năm sau, vào khoảng 200.000 đến 400.000 năm trước, việc sử dụng sinh khối để đốt mới dần trở nên phổ biến (K.Kris Hirst, 2019) Tiếp đến là khai thác gió – nguồn năng lượng tái tạo lâu đời thứ hai để chạy các thuyền buồm trên sông Nin cách đây 7000 năm Vào năm 1873, vấn đề cạn kiệt nguồn than đã thúc đẩy việc thí nghiệm sử dụng năng lượng mặt trời (Bill Kovarik, 2011) Chỉ khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, sự phát triển của các động cơ năng lượng mặt trời mới có dấu hiệu tạm dừng Trong thập niên 1970, các nhà môi trường đã đẩy mạnh quá trình phát triển các nguồn năng lượng tái tạo theo

cả hai hướng là thay thế nguồn dầu đang dần cạn và thoát khỏi sự lệ thuộc vào dầu mỏ

Đó cũng là lúc các tuabin gió phát điện đầu tiên xuất hiện Mặc dù năng lượng mặt trời

đã được tiêu thụ từ lâu nhưng bởi sự đắt đỏ của những tấm pin này nên mãi cho đến năm

1980 mới có thể xây dựng những cánh đồng pin năng lượng mặt trời

Theo số liệu thống kê từ cơ sở BP Statistical Review of World Energy, trong khoảng 20 năm trở lại đây, sản lượng năng lượng tái tạo đã và đang tăng lên đột biến với những con số lên đến 34,80 Exa-jun (EJ) và 30,96 EJ cho mức tổng sản lượng tiêu

thụ và sản xuất trên thế giới vào năm 2020 Dưới đây là Biểu đồ 3.1.1 thể hiện tổng sản

lượng năng lượng tiêu thụ và sản xuất trên thế giới trong giai đoạn 2002 - 2020

Trang 35

Biểu đồ 3.1.1: Sản lượng năng lượng được tiêu thụ và sản xuất trên thế giới từ 2002

đến 2020

Nguồn: BP Statistical Review of World Energy

Những báo cáo thống kê của BP Statistical Review of World Energy còn chỉ ra rằng cuộc chạy đua về năng lượng sạch đã và đang trở nên gay cấn hơn bao giờ hết bởi

sự tăng trưởng này diễn ra không giống nhau ở mọi nhóm quốc gia Sân chơi năng lượng tái tạo không chỉ còn là của các cường quốc kinh tế nữa mà giờ đây còn có sự tham gia tích cực của một số quốc gia có thu nhập trung bình Để có cái nhìn cụ thể hơn về thực trạng của năng lượng tái tạo trên toàn cầu, chúng tôi đã đưa ra những phân tích từ cơ sở

dữ liệu BP Statistical Review of World Energy trên mẫu 38 quốc gia, chia thành hai nhóm quốc gia: nhóm quốc gia có thu nhập cao và nhóm các nước thu nhập trung bình

● Nhóm các nước thu nhập cao: 23 quốc gia

Kể từ khi con người hướng đến việc tiêu thụ năng lượng tái tạo nhiều hơn, nhóm những nước có thu nhập cao luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn trong cả sản xuất và tiêu thụ Với lợi thế là nền kinh tế ổn định, phát triển mạnh, việc các quốc gia này đầu tư vào công nghệ phát triển năng lượng tái tạo là điều dễ hiểu Những con số tăng đều về sản lượng sản xuất và tiêu thụ năng lượng tái tạo từ năm 2002 đến năm 2020 đã thể hiện rõ

sự quan tâm, chú trọng của chính phủ các nước ở nhóm này Sản lượng của Hoa Kỳ chỉ đạt khoảng 1,1 EJ vào năm 2002, nhưng đến năm 2020, con số này đã lên đến 6,5 EJ Mặc dù thuộc cùng một nhóm, sản lượng năng lượng tái tạo của Hoa Kỳ luôn vượt trội hơn các nước còn lại khi số liệu thống kê của Hoa Kỳ luôn gấp khoảng 5 - 10 lần các nước còn lại trong suốt giai đoạn nghiên cứu Tuy có sự tăng trưởng lớn như vậy, nhưng

tỷ lệ của nhóm nước này so với thế giới lại có xu hướng ngược lại, từ khoảng 70% vào năm 2002 và giảm xuống còn xấp xỉ 50% trong 18 năm sau đó

● Nhóm các nước thu nhập trung bình: 15 quốc gia

Từ biểu đồ 3.1.2 và 3.1.3, chúng ta có thể thấy rằng sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất trong việc đầu tư vào năng lượng tái tạo thuộc về nhóm các quốc gia có thu nhập trung

Trang 36

bình Nếu như tỷ lệ đóng góp của nhóm quốc gia thu nhập cao giảm dần trong giai đoạn nghiên cứu thì chiều hướng ngược lại đúng với nhóm các quốc gia này Ở phần đầu giai đoạn, các nước trong nhóm này có sản lượng gần như nhau khi chỉ có khoảng 0,01 EJ được sản xuất và tiêu thụ ở mỗi nước Sự tăng đột biến chỉ thực sự diễn ra sau năm 2010, nổi bật là Trung Quốc khi vào năm 2020 sản lượng của quốc gia này vượt qua Hoa Kỳ Các con số khác cũng chứng minh điều đó khi vào năm 2002 tỷ lệ của nhóm nước này

so với thế giới chỉ khoảng 25% nhưng cuối giai đoạn thì con số này đã lên đến hơn 40% (gần ngang bằng nhóm thu nhập cao) Từ việc phân tích mẫu trên ta có thể thấy rằng, cuộc cạnh tranh về năng lượng tái tạo bây giờ đây không chỉ thuộc về các cường quốc như Hoa Kỳ hay Đức nữa mà đã có sự góp mặt của các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ Không chỉ vậy, những năm gần đây đã có sự vượt mặt về phát triển năng lượng tái tạo của các nền kinh tế mới này so với nhóm các cường quốc kinh tế

Có rất nhiều nguyên nhân lý giải cho sự hoán đổi vị trí này đặc biệt là giữa nhóm E7 (nhóm bảy nước có nền kinh tế mới nổi) và nhóm G7 (nhóm bảy quốc gia có nền kinh tế phát triển lớn nhất thế giới) Trước hết, một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự thay đổi này là sự gia tăng dân số Dân số lớn đồng nghĩa với việc nhu cầu về năng lượng tăng cao Chính điều này đã trực tiếp thúc đẩy các quốc gia nhóm E7 phải tìm kiếm các nguồn năng lượng đáp ứng đủ nhu cầu của người dân Việc năng lượng truyền thống bị giới hạn ở mỗi quốc gia, không phải nước nào cũng có được sự dồi dào về năng lượng truyền thống buộc chính phủ phải tìm kiếm một giải pháp mới về một nguồn năng lượng vô hạn – năng lượng sạch Đây được xem là động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển năng lượng tái tạo tại các quốc gia này Thứ hai là vấn đề về chất lượng môi trường

Từ những thống kê về lượng phát thải CO2 ra môi trường (BP Statistical Review of World Energy, 2020) và bảng xếp hạng về chất lượng không khí ở mức báo động (IQAir, 2022) của các nước thuộc nhóm E7 được xem là động lực để chính phủ các nước hạn chế sự phụ thuộc vào năng lượng truyền thống và dần chuyển sang năng lượng tái tạo Các yếu tố trên đã giúp cho những con số về sản lượng năng lượng tái tạo được sản xuất

và tiêu thụ của nhóm này tăng trưởng mạnh mẽ và dẫn đầu trên thế giới hiện nay

Trang 37

Biểu đồ 3.1.2: Lượng năng lượng tái tạo được tiêu thụ của các nhóm nước trên thế giới từ năm 1995 đến 2020

Nhóm nước thu nhập cao Nhóm nước thu nhập trung bình

Biểu đồ 3.1.3: Lượng năng lượng tái tạo được sản xuất của các nhóm nước trên thế giới từ năm 1995 đến 2020

Nhóm nước thu nhập cao Nhóm nước thu nhập trung bình

Trang 38

Lưu ý: Đây là tính toán riêng từ cơ sở dữ liệu BP Statistical Review of World Energy Lượng năng lượng tái tạo được tính theo đơn vị

EJ Đường màu vàng cam (trục bên phải) biểu thị tỷ lệ tiêu thụ và sản xuất năng lượng tái tạo của nhóm nước so với năng lượng tái tạo toàn cầu

Trang 39

3.2 THỰC TRẠNG THỂ CHẾ

Theo số liệu từ cơ sở dữ liệu Chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators) của The World Bank, chúng tôi đã tính toán từng khía cạnh của thể chế được tính bằng cách lấy bình quân của hai tiêu chí thành phần và biến thể chế tổng quát được tính bằng bình quân của cả sáu tiêu chí Biểu đồ 3.2.1 cho thấy chất lượng thể chế của

hai nhóm nước từ năm 2002 đến năm 2020 thông qua việc lấy bình quân sáu tiêu chí

Biểu đồ 3.2.1: Trung bình 6 chỉ số thể chế của hai nhóm nước từ 2002 đến 2020

Nguồn: The World Bank

Nhóm nước thu nhập cao có chất lượng thể chế tốt hơn so với nhóm nước có thu nhập trung bình ở cả 6 chỉ số Giá trị trung bình của 6 chỉ số thể chế tại nhóm nước thu nhập cao là 1,20 trong khi tại nhóm nước thu nhập trung bình, con số này là -0,32 Cụ thể, chênh lệch trung bình chỉ số giữa hai nhóm nước là 1,5 ở bốn chỉ số: Hiệu quả chính phủ (-0,09 - 1,41), Chất lượng pháp quy (-0,01 - 1,31), Ổn định chính trị ( -0,79 - 0,65)

và Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (-0,22 - 1,11) Mức chênh lệch cao, xấp xỉ 2 tại hai chỉ số: Thượng tôn pháp luật (-0,40 - 1,35), và Kiểm soát tham nhũng (-0,42 - 1,38) Tóm lại, tổng thể cho thấy các chỉ số thể chế tại nhóm nước có thu nhập cao tốt hơn so với nhóm nước có thu nhập trung bình

Trang 40

3.2.1 Quy trình chính phủ được lựa chọn, giám sát và thay thế

Biểu đồ 3.2.2: Trung bình chỉ số quy trình chính phủ được lựa chọn, giám sát và

thay thế từ 2002 đến 2020

Nguồn: The World Bank

Biểu đồ 3.2.3: Chỉ số quy trình chính phủ được lựa chọn, giám sát và thay thế của

hai nhóm nước từ 2002 đến 2020

Nhóm nước thu nhập cao Nhóm nước thu nhập trung bình

Nguồn: The World Bank

Chỉ số “Quy trình chính phủ được lựa chọn, giám sát và thay thế” của nhóm nước thu nhập cao có giá trị trung bình là 0,89 trong khi nhóm các quốc gia thu nhập trung bình có kết quả âm với giá trị trung bình là -0,48 Các nước thu nhập cao có ngân sách lớn cho phép chính phủ đầu tư vào các quy trình tốt hơn Chỉ số của nhóm quốc gia thu nhập cao đang có xu hướng giảm dần trong khi nhóm nước thu nhập trung bình lại có tín hiệu cải thiện Khi các nước thu nhập trung bình muốn tăng cường khả năng cạnh tranh, chính phủ sẽ đầu tư nhiều hơn vào các quy trình giám sát và thay thế chính phủ Trong khi đó, các quốc gia thu nhập cao đã đầu tư nhiều vào các cơ chế quản lý chính phủ và phải đối mặt với các thách thức để cải tiến và duy trì hiệu quả

Ngày đăng: 12/03/2025, 02:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2: Biến, viết tắt và nguồn dữ liệu - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 4.2 Biến, viết tắt và nguồn dữ liệu (Trang 57)
Hình 4.1: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Hình 4.1 Kết quả kiểm định phân phối chuẩn (Trang 60)
Bảng 5.1 thống kê dữ liệu các biến số cho từng nhóm quốc gia theo thu nhập. - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 5.1 thống kê dữ liệu các biến số cho từng nhóm quốc gia theo thu nhập (Trang 63)
Bảng 5.2 - Kết quả kiểm định phụ thuộc chéo - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 5.2 Kết quả kiểm định phụ thuộc chéo (Trang 64)
Bảng 5.2 trình bày các phát hiện thực nghiệm chứng minh rằng dữ liệu thể hiện - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 5.2 trình bày các phát hiện thực nghiệm chứng minh rằng dữ liệu thể hiện (Trang 64)
Bảng 5.3: Kết quả kiểm định đơn vị gốc thế hệ thứ hai  Phần A: Nhóm nước thu nhập cao - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 5.3 Kết quả kiểm định đơn vị gốc thế hệ thứ hai Phần A: Nhóm nước thu nhập cao (Trang 65)
Bảng 5.3 trình bày kết quả của kiểm định Dickey-Fuller tăng cường cắt ngang do - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 5.3 trình bày kết quả của kiểm định Dickey-Fuller tăng cường cắt ngang do (Trang 66)
Bảng 5.4: Kết quả kiểm định đồng liên kết - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 5.4 Kết quả kiểm định đồng liên kết (Trang 67)
Bảng 5.5 trình bày kết quả ước lượng mô hình (1) khi không có biến điều tiết - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 5.5 trình bày kết quả ước lượng mô hình (1) khi không có biến điều tiết (Trang 69)
Bảng 5.6 trình bày kết quả ước lượng mô hình (2) – khi có biến điều tiết. - Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu tác động của thể chế, tri thức và rủi ro địa chính trị đến sự phát triển năng lượng tái tạo
Bảng 5.6 trình bày kết quả ước lượng mô hình (2) – khi có biến điều tiết (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w