Nội dung câu hỏi 1 2 3 4 5 6 7 1 Trong trường hợp thị trường giảm sút mạnh, tôi dễ bị ảnh hưởng và quyết định bán ra tài sản mặc dù có kế hoạch đầu tư dài hạn 2 Trong quá trình đầu tư,
Trang 1
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NĂM HỌC 2023-2024
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH VI BẦY ĐÀN VÀ NỖI SỢ
BỎ LỠ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU VIỆT NAM
Hà Nội – 2024
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH VI
1.1.1 Khái niệm và sự phát triển của các lý thuyết nỗi sợ bỏ lỡ 12
1.1.2 Biểu hiện hành vi của nỗi sợ bỏ lỡ 13
1.2.1 Khái niệm và sự phát triển của các lý thuyết hành vi bầy đàn 14
1.2.2 Biểu hiện hành vi của hiệu ứng bầy đàn 15
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm về thị trường cổ phiếu 18
1.3.3 Các nhân tố tác động đến thị trường cổ phiếu 22
1.4 Tác động của nỗi sợ bỏ lỡ và hành vi bầy đàn tới thị trường cổ phiếu 23
1.4.2 Tác động tới khối lượng giao dịch 24
Trang 3CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1.1 Quy trình và phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp 27
2.1.2 Quy trình và phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp thông qua khảo
3.1 Tác động của hành vi bầy đàn lên thị trường chứng khoán Việt Nam 40
3.1.5 Kiểm định Granger xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bầy
3.2 Tương quan giữa hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ 44
3.2.1 Phân tích độ tin cậy của khảo sát bằng hệ số Cronbach’s Alpha 44
3.2.3 Đánh giá tương quan giữa tâm lý bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ thông qua
Trang 4DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam 21
Bảng 2.1: Biến và mô tả biến .35
Biểu đồ 3.1: Thống kê về giớitính 45 Biểu đồ 3.2: Thống kê về nhóm tuổi và nghề nghiệp 45 Biểu đồ 3.3: Thống kê về mức độ đầu tư và thu nhập 46 Biểu đồ 3.4: Thống kê về thời gian duy trì đầu tư mã cổ phiếu 46 Biểu đồ 3.5: Giá trị trung bình của các câu trả lời trong khảo sát về mức độ ảnh hưởng của Hành vi bầy đàn và Nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) đến nhà đầu tư trên thị
Biểu đồ 3.6: Độ lệch chuẩn của các câu trả lời trong khảo sát về mức độ ảnh
hưởng của Hành vi bầy đàn và Nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) đến nhà đầu tư trên thị
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FOMO Fear of missing out - Nỗi sợ bỏ lỡ
Trang 6PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI ĐỊNH TÍNH - KHẢO SÁT
PHẦN GẠN LỌC Câu 1: Giới tính người làm khảo sát
Câu 3: Nghề nghiệp hiện đang công tác
● Đang là học sinh - sinh viên
● Đã tốt nghiệp - chưa có việc làm
Trang 7Nội dung câu hỏi 1 2 3 4 5 6 7
1 Trong trường hợp thị trường giảm sút mạnh, tôi dễ bị
ảnh hưởng và quyết định bán ra tài sản mặc dù có kế
hoạch đầu tư dài hạn
2 Trong quá trình đầu tư, tôi dễ bị ảnh hưởng và cảm
thấy áp lực từ quyết định đầu tư của người khác
3 Tôi thường coi hành động của các nhà đầu tư khác là
yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư của mình
hơn là tiến hành nghiên cứu độc lập
4 Nếu một sự kiện hoặc một thông tin xảy ra một cách
chắc chắn, tôi luôn giao dịch theo tín hiệu riêng của
mình
5 Tôi thích đầu tư vào những cổ phiếu mà đồng nghiệp
và người thân của tôi đã đầu tư
6 Tôi thường phân tích sở thích từ những khách hàng
của công ty trước khi đầu tư vào cổ phiếu của họ
7 Khi mua bất kỳ mã cổ phiếu nào tôi đều theo dõi diễn
8 Khi chỉ số thị trường tăng mạnh, tôi cảm thấy áp lực
về việc tham gia đầu tư ngay lập tức
9 Đưa ra những quyết định đầu tư khác với người xung
MỤC II - ẢNH HƯỞNG CỦA NÔI SỢ BỎ LỠ (FOMO) ĐẾN NHÀ ĐẦU TƯ
Trang 81 Tôi từng quyết định mua vào một cổ phiếu chỉ vì lo sợ
sẽ bị bỏ lỡ cơ hội sinh lời, mà không có nghiên cứu kỹ
lưỡng về tiềm năng và rủi ro của nó
2 Tôi đã từng phải đối mặt với việc mất kiểm soát và
mua vào các tài sản với giá cao chỉ vì sợ bị bỏ lỡ cơ
hội
3 Tôi cảm thấy khó cưỡng lại được sự thôi thúc kiểm tra
danh mục đầu tư của mình thường xuyên, ngay cả khi
tôi biết có thể không có bất kỳ thay đổi đáng kể nào
4 Khi không cập nhật những tin tức, xu hướng mới nhất
trên thị trường chứng khoán, tôi cảm thấy lo lắng
5 Tôi muốn được nhận những thông tin mang tính cập
nhật ngay lập tức về hiệu suất và xu hướng của các cổ
phiếu tôi đã đầu tư vào
6 Tôi sợ không được thông báo về những tin tức hoặc
diễn biến có thể ảnh hưởng đến danh mục đầu tư của
tôi
7 Việc bỏ lỡ cơ hội đầu tư khiến tôi thấy khó chịu
8 Tôi có xu hướng "bán tháo" cổ phiếu khi những tin tức
tiêu cực xảy ra ảnh hưởng đến việc giảm điểm của thị
trường chứng khoán
Trang 9
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH 15 CỔ PHIẾU ĐƯỢC LỰA CHỌN TRONG DỮ LIỆU THỨ CẤP
ST
1 PET Tổng Công ty cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí Bán buôn
2 FPT Công ty cổ phần FPT Công nghệ và thông tin
3 PVD Tổng Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ
khoan Dầu khí Khai khoáng
4 TCM Cong ty cổ phần Dệt may - Đầu tư - Thương mại Thành Công Sản xuất
5 SAM Công ty cổ phần SAM HOLDINGS Sản xuất
6 KDC Công ty cổ phần Tập đoàn KIDO Sản xuất
7 HPG Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát Sản xuất
8 ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Tài chính và bảo
hiểm
9 SSI Công ty cổ phần chứng khoán SSI Tài chính và bảo hiểm
10 VIP Công ty cổ phần Vận tải Xăng dầu Vipco Vận tải – kho bãi
Trang 1011 VSC Công ty cổ phần Container Việt Nam Vận tải – kho bãi
12 CII Công ty cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Xây dựng và bất động sản
13 REE Công ty cổ phần Cơ Điện Lạnh Xây dựng và bất động sản
14 NTL Công ty cổ phần Đô thị Từ Liêm Xây dựng và bất động sản
15 ITA Công ty cổ phần Đầu tư và công nhiệp Tân Tạo Xây dựng và bất động sản
Trang 11khoán Việt Nam
Xác định việc hệ số hồi quy của biến tỷ suất lợi nhuận bình phương có giá trị âm và
có ý nghĩa thông kê
Chấp nhận giả thuyết H1: Có tồn tại hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam 2008-2022
Kiểm định nghiệm
đơn vị ADF
Xác định tính dừng và độ trễ phù hợp theo các tiêu chí Thông tin của Akaike (AIC), Tiêu chí Thông tin Schwarz (SBIC), Tiêu chí Hannan-Quinn (HQIC) trước khi tiến hành kiểm định Granger
Chấp nhận giả thuyết H1: Hai chuỗi dữ liệu CSAD và tổng khối lượng giao dịch có tính dừng
Kiểm định Granger Xác định tác động của tổng
khối lượng giao dịch lên hành vi bầy đàn
Không xác định
Kiểm định Granger Xác định tác động của hành
vi bầy đàn lên khối lượng giao dịch
Chấp nhận giả thuyết H1: Hành
vi bầy đàn, thể hiện qua sự biến động của CSAD có tác động lên khối lượng giao dịch
sợ bỏ lỡ
Trang 121
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh kinh tế và chính trị toàn cầu ngày càng phức tạp và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, thị trường cổ phiếu trở nên cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia Thị trường cổ phiếu phản ánh tình hình tài chính của quốc gia đó Nếu thị trường chứng khoán ổn định, điều đó cho thấy nền kinh tế tốt Ngược lại, nếu thị trường giảm, nó phản ánh kinh tế gặp khó khăn Khi kinh tế phát triển, lợi nhuận của các công ty tăng lên Tuy nhiên, khi kinh tế suy thoái, thị trường chứng khoán cũng sẽ giảm (Ah Mand, A và cộng sự, 2023)
Tại Việt Nam, thị trường cổ phiếu cũng đóng vai trò then chốt trong quá trình phát triển kinh tế Kể từ khi thị trường chứng khoán được thành lập vào năm 2000, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển cũng như thách thức, đáng chú ý là trong những giai đoạn thị trường biến động như thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và đại dịch COVID-19 Trong năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục giảm điểm, đến mức VN-Index chỉ còn 288 điểm vào ngày 11-12-2008 Trong khoảng thời gian này, mặc dù VN-Index đã phục hồi từ 370,55 điểm lên 561,85 điểm vào ngày 27-8-2008 nhờ vào sự can thiệp của các tổ chức lớn, nhưng thị trường vẫn chứng kiến sự trái ngược trong hoạt động đầu tư giữa nhà đầu
tư trong nước và nước ngoài Khi thị trường sụt giảm mạnh do hoạt động giải chấp
ồ ạt, nhà đầu tư trong nước bán tháo trong khi nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục giải ngân đều đặn Đến năm 2020, dưới tác động của đại dịch COVID-19, thị trường chứng khoán trong nước bị ảnh hưởng nặng nề, khiến VN-Index giảm từ 1.000 điểm cuối năm 2019 xuống còn 645 điểm vào cuối tháng 3-2020 Sự biến động này có thể được giải thích bởi nhiều lý do, nhưng phần lớn ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân chính là tâm lý đầu tư theo đám đông và nỗi sợ bỏ lỡ cơ hội (FOMO)
Trên thực tế, theo VnEconomy (2013) [12], nếu những bài báo như “Bóng ma” Lehman Brothers: Đừng quá hoảng loạn” hỗ trợ chỉ số VN-Index tăng trở lại hơn 15% thì sự kiện Lehman phá sản và thị trường quốc tế giảm mạnh thì chỉ số VN-Index giảm khoảng 4,4%, tương ứng giảm 20,81 điểm Điều này cho thấy rằng
Trang 13nhà đầu tư thường không dựa vào phân tích cá nhân mà thường dễ bị ảnh hưởng bởi hành động của những nhà đầu tư khác Nói cách khác, tâm lý bầy đàn và nỗi sợ bỏ
lỡ đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến TTCP Việt Nam
Thị trường cổ phiếu Việt Nam hiện nay phát triển mạnh mẽ nhưng đa phần nhà đầu tư vẫn là nghiệp dư, thiếu sự đa dạng hóa trong danh mục đầu tư, quy mô
và khối lượng giao dịch nhỏ do vốn ít và thiếu kiến thức, kinh nghiệm để theo dõi biến động thị trường Họ thường không có chiến lược đầu tư dài hạn và dễ bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng tâm lý như hành vi bầy đàn hay nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) Nếu các nhà đầu tư cùng hành động đúng đắn, thị trường vẫn hiệu quả Tuy nhiên, nếu đầu tư vào tài sản không đúng giá trị, các hiện tượng tâm lý này có thể gây ra bong bóng thị trường Ví dụ như phong trào đầu tư chứng khoán tại Việt Nam (2016-2017) và sự sụt giảm giá quá mức cho thấy các nhà đầu tư không phải lúc nào cũng luôn hành động một cách sáng suốt như kết quả dự tính
Trước tình hình này, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán từ cận biên lên mới nổi trước năm 2025 thông qua Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025” Mục tiêu này cũng được đưa vào dự thảo “Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030” nhằm thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển TTCP ổn định, an toàn và bền vững Điều này sẽ giúp tăng số lượng nhà đầu tư có tổ chức và quy mô lớn, tăng tính chuyên nghiệp và bền vững trong đầu tư, đồng thời giảm thiểu biến động do tâm lý của nhà đầu tư cá nhân, hiện chiếm hơn 90% trên thị trường
Do đó, việc nghiên cứu tác động của tâm lý hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ trên thị trường cổ phiếu toàn cầu và Việt Nam là rất cần thiết Nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất giải pháp, góp phần tăng tính chuyên nghiệp và bền vững trong đầu tư, đồng thời giảm thiểu các biến động mạnh do tâm
lý của nhiều nhà đầu tư cá nhân gây ra Nhóm tác giả nhận thấy rằng, các nghiên cứu về tác động của hai hành vi này đã được thực hiện ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở
Trang 14việc đánh giá cơ hội, thách thức và thực trạng chung, có rất ít đề tài nào tiến hành đánh giá tác động của hai hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ trên TTCP Việt Nam
Nắm rõ được tầm quan trọng và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu này, đồng thời dựa trên nghiên cứu của một số nhóm tác giả trước đây đã thúc đẩy việc
thực hiện nghiên cứu về đề tài “Nghiên cứu tác động của hành vi bầy đàn và nỗi
sợ bỏ lỡ đến thị trường cổ phiếu Việt Nam”
2.Tổng quan nghiên cứu
2.1 Tổng quan nghiên cứu về hành vi bầy đàn
Trên thế giới, đã có nhiều phương pháp nghiên cứu thực nghiệm về hành vi bầy đàn Những phương pháp này, đặc biệt là phương pháp dựa vào mô hình giao dịch của một nhóm nhà đầu tư cụ thể trên thị trường và phương pháp sử dụng độ phân tán trong tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán so với tỷ suất sinh lợi của thị trường, đã được áp dụng để kiểm định hành vi bầy đàn trong lĩnh vực tài chính
● Phương pháp dựa vào mô hình giao dịch của một nhóm nhà đầu tư cụ thể trên thị trường
Năm 1992, Lakonishok, Shleifer và Vishny đã tiến hành nghiên cứu về các hành vi giao dịch của các nhà đầu tư tổ chức, tập trung vào hiện tượng bầy đàn và giao dịch có tích cực phản hồi Bài nghiên cứu sử dụng một tập dữ liệu mới về danh mục cuối quý của 769 quỹ hưu trí có toàn bộ cổ phiếu từ năm 1985 đến 1989, được quản lý bởi 341 quản lý tiền tệ tổ chức khác nhau nhằm đánh giá tác động tiềm năng của giao dịch đối với giá cổ phiếu Kết quả cho thấy, ở mức độ của từng cổ phiếu ở tần suất quý, nhóm tác giả không tìm thấy nhiều bằng chứng về hiện tượng bầy đàn hoặc giao dịch có tích cực phản hồi đáng kể từ các quỹ hưu trí, trừ những cổ phiếu nhỏ Đồng thời, không có mối tương quan mạnh mẽ giữa thay đổi danh mục cổ phiếu của quỹ và lợi nhuận bất thường
● Phương pháp tiếp cận sử dụng sai số chuẩn chéo giữa lợi tức của các loại cổ phiếu (cross-sectional standard deviation of return, CSSD)
Trang 15Nghiên cứu của Christie và Huang (1995) đề xuất phương pháp tiếp cận sử dụng sai số chuẩn chéo giữa lợi tức của các loại cổ phiếu (cross-sectional standard deviation of return, CSSD) trong giai đoạn thị trường có những biến động mạnh về giá Nhóm tác giả đã nghiên cứu hành vi bầy đàn trong lợi nhuận vốn cổ phần bằng cách sử dụng dữ liệu hàng ngày của các công ty NYSE và Amex (tháng 7 năm 1962 đến tháng 12 năm 1988) và dữ liệu hàng tháng của các công ty NYSE (tháng 12 năm 1925 đến tháng 12 năm 1988) Họ đề xuất sử dụng CSSD (Cross-sectional Deviation) để đo lường mức độ lợi nhuận của mỗi cổ phiếu, được biểu thị như sau:
trong đó, ri,t là lợi suất của cổ phiếu quan sát được tại công ty i ở thời điểm
t và rm,t là lợi nhuận cổ phiếu quan sát được trên danh mục thị trường tại thời điểm
t
Mô hình này phản ánh hiệu quả toàn diện của thị trường và đánh giá mức độ phân tán của lợi nhuận để xem liệu các đánh giá cá nhân có bị ảnh hưởng và làm giảm sự đồng thuận của thị trường hay không Mô hình này đánh giá mức độ phân tán của lợi nhuận để xem liệu các đánh giá cá nhân có bị ảnh hưởng và làm giảm sự đồng thuận của thị trường hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mức độ phân tán cao hơn quanh lợi nhuận thị trường thường xuyên xuất hiện trong những biến động giá đáng kể, và điều này phản đối quan điểm về hành vi bầy đàn Ngoài
ra, nghiên cứu cũng tìm hiểu về khả năng lợi nhuận tập trung vào các công ty có đặc điểm chung thay vì trung bình của toàn bộ thị trường
● Phương pháp độ lệch tuyệt đối dữ liệu chéo (Cross-sectional Absolute Standard Deviation, CSAD)
Nghiên cứu của Chang, Cheng và Khorana (2000) (sau đây được viết tắt là CCK (2000)) đề xuất 1 biến thể khác được mở rộng từ phương pháp của Christie và Huang (1995), đó là mô hình độ lệch tuyệt đối mặt cắt ngang của lợi nhuận (Cross-sectional Absolute Deviation, được viết tắt là CSAD) để kiểm tra hành vi bầy đàn
Trang 16bằng cách xem xét mối quan hệ phi tuyến tính giữa độ phân tán lợi nhuận tài sản cá nhân và lợi nhuận danh mục đầu tư thị trường và quan sát toàn bộ quá trình phân tán lợi suất thị trường trong khoảng thời gian nhất định để tìm cách loại bỏ trở ngại khi lựa chọn các tiêu chí nhằm phát hiện những biến động lên xuống đáng kể của thị trường
Để tiến hành thử nghiệm phát hiện hoạt động bầy đàn, Thomas C Chiang và Dazhi Zheng (2010) đã sửa đổi thông số kỹ thuật của CCK (2000) và viết lại như sau:
trong đó CSADt là thước đo độ phân tán lợi nhuận, Rm,t là giá trị lợi nhuận thực hiện có trọng số bằng nhau của tất cả các chỉ số ngành vào ngày t và Rm,t là thuật ngữ tuyệt đối
Phương trình của họ có sự khác biệt so với phương trình gốc của CCK (2000)
ở chỗ họ đã thêm vào số hạng Rm,t ở vế phải của phương trình, cho phép mô phỏng hành vi không đối xứng của nhà đầu tư trong các điều kiện thị trường khác nhau
Họ sử dụng dữ liệu hàng ngày từ 1988 đến 2009 và phát hiện ra dấu hiệu của hành
vi bầy đàn ở các thị trường chứng khoán tiên tiến và châu Á, nhưng không ở Mỹ Latinh Họ cũng nhận thấy sự xuất hiện của tâm lý bầy đàn cả trong thị trường tăng giá và giảm giá, đặc biệt là ở châu Á trong thời kỳ tăng trưởng Cuộc điều tra của
họ cũng chỉ ra rằng các cuộc khủng hoảng có vai trò quan trọng trong việc kích thích hành vi bầy đàn và lan truyền sang các quốc gia láng giềng
Tại Việt Nam, để nhận diện hành vi bầy đàn trên thị trường, Tô Trung Thành (2011) đã phát triển mô hình dựa trên phương pháp của CCK (2000) để nghiên cứu sâu hơn đặc điểm của hành vi bầy đàn trong những điều kiện thị trường khác nhau, tác giả đã sử dụng thêm 2 mô hình phía dưới khi nghiên cứu 8 mã cổ phiếu ngẫu
Trang 17nhiên (bao gồm: BBC, REE, GIL, SAM, TRI, TS4, SAV và AGF) giai đoạn 10/09/2002 - 23/03/2011 với tổng số khoảng 2000 quan sát trên sàn HOSE đã cho thấy ở những thời kỳ thị trường biến động mạnh hoặc trong thời kỳ khủng hoảng, tâm lý bầy đàn xuất hiện trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là ở những ngày thị trường tăng điểm mạnh
Hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam càng được biểu hiện
rõ hơn trong bài nghiên cứu của Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương (2016) Sử dụng mô hình CCK (2000) và ước lượng phương trình hồi quy bằng mô hình GARCH, tác giả đã thực hiện hồi quy độ phân tán trung bình của tỷ suất sinh lợi các chứng khoán giao dịch trên HOSE từ ngày 01/06/2007 đến 30/11/2015 dựa trên tỷ suất sinh lợi tuyệt đối của thị trường và tỷ suất sinh lợi thị trường bình phương trong cùng giai đoạn Kết quả thực nghiệm cho thấy hệ số hồi quy đạt giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức cao (mức 1%) và đã chứng minh sự tồn tại của hành vi bầy đàn trên cả hai sàn HOSE và HNX của thị trường chứng khoán Việt Nam Hơn nữa, kết quả phân tích hồi quy cho thấy hành vi bầy đàn thể hiện mạnh mẽ hơn trong thị trường giảm điểm so với thị trường tăng điểm
Trang 18Điều này cũng được chứng minh trong bài nghiên cứu của Võ và Phan (2016) khi sử dụng kết hợp hai phương pháp CSSD và CSAD với dữ liệu từ các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (2005-2015) Thông qua ước tính bình phương tối thiểu tiêu chuẩn và hồi quy lượng tử mạnh mẽ, với ý nghĩa thống kê (ở mức 1%) và hệ số bầy đàn âm (𝛾2) đối với dữ liệu hàng ngày và hàng tuần trong thị trường suy thoái ngụ ý sự hiện diện của hành vi bầy đàn vào những ngày thị trường đi xuống Điều này phần nào xuất phát từ sự thiếu minh bạch thông tin trong cơ cấu tổ chức tại Việt Nam, góp phần làm tăng cảm giác lo lắng về rủi ro thị trường suy thoái Hậu quả là những nhà đầu tư cá nhân thường dựa vào sự đồng thuận của thị trường thay vì thông tin họ sở hữu Hơn nữa, nghiên cứu
mở rộng của họ vào năm 2017, bao gồm 299 công ty (2005-2015), đã xác nhận sự tồn tại của hành vi bầy đàn ở nhiều giai đoạn khác nhau, đặc biệt là trong thị trường khủng hoảng, và làm nổi bật tác động không cân xứng trong điều kiện thị trường và mức độ thương mại
2.2 Tổng quan nghiên cứu về nỗi sợ bỏ lỡ
Năm 2019, Kang và cộng sự đã thực hiện một cuộc khảo sát sơ bộ dành cho
25 sinh viên tốt nghiệp ở Seoul, Hàn Quốc Họ thu thập 203 câu hỏi và sử dụng 187 câu hỏi để phân tích, loại bỏ 16 câu trả lời không đầy đủ Kết quả cho thấy FOMO
có thể được phân biệt dựa trên hai loại đặc điểm tâm lý: sự mong muốn thuộc về một nhóm và lo lắng về cảm giác bị cô lập
Trang 19Gupta và Shrivasta (2020) thu thập dữ liệu từ 323 nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Ấn Độ và phân tích bằng SmartPLS để khám phá mức độ ảnh hưởng của tâm lý sợ mất mát và tâm lý bầy đàn đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư bán lẻ, đồng thời xem xét vai trò trung gian của nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) trong các mối quan hệ này Kết quả cho thấy sự hiện diện của FOMO tăng cường tác động của sự
sợ mất mát và hành vi bầy đàn đối với quyết định đầu tư của họ
Trong nghiên cứu của Güngör và cộng sự (2022) Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng hình ảnh làm câu hỏi thay vì câu hỏi dạng văn bản và kết quả cho thấy rằng những người tham gia được kích thích bởi hình ảnh sẽ thường gặp phải hiệu ứng FOMO Tuy nhiên, khi họ tiếp xúc với dữ liệu tài chính, họ thường loại bỏ hiệu ứng này, có thể thấy rằng sử dụng dữ liệu và thông tin tài chính
sẽ giảm bớt hiệu ứng FOMO Điều này là một minh chứng cho sự ảnh hưởng của thông tin tài chính trong giảm bớt hiệu ứng FOMO Hiệu ứng này có thể gây ra áp lực đẩy giá cổ phiếu lên cao và tạo ra hành vi bầy đàn
2.3 Tính mới của nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu về “Tác động của hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) trên thị trường cổ phiếu Việt Nam” nhóm tác giả muốn nêu ra hai tính mới trong đề tài nghiên cứu khoa học trên là:
Thứ nhất, kiểm định sự xuất hiện của hai hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ
(FOMO) trong bối cảnh mới khi nền kinh tế đi từ “chạm đáy” đến phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng khi đối mặt với đại dịch Covid-19, đồng thời kết hợp so sánh với các giai đoạn trước từ 2008 đến 2022
Thứ hai, kiểm định cường độ và hướng liên kết giữa hai hành vi bầy đàn và
nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) đo lường trên thang đo thứ tự xếp hạng Spearman (Spearman’s rho)
3.Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 20Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là nghiên cứu về hành vi bầy đàn, nỗi
sợ bỏ lỡ và tác động của hai hành vi đến TTCP nhằm đưa ra đề xuất đối với các NĐT, doanh nghiệp niêm yết trên TTCP và khuyến nghị đối với các cơ quan quản
lý nhà nước để giúp phát triển thị trường tài chính lành mạnh và bền vững hơn
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài như sau:
Một là, xây dựng cơ sở lý luận chung về hành vi bầy đàn, nỗi sợ bỏ lỡ và tác
động của hai hành vi đến TTCP
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng của TTCP và sự xuất hiện của hai hành
vi này tác động đến TTCP tại VN trong giai đoạn 2008-2022
Ba là, thiết lập, xây dựng mô hình đánh giá tác động này với phương pháp
định lượng, định tính
Bốn là, đề xuất kiến nghị đối với NĐT, giải pháp cho ai nhằm phát triển thị
trường một cách bền vững
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Nghiên cứu kiểm định sự xuất hiện và mối quan hệ tương quan
giữa hai hành vi bầy đàn và Nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) trên thị trường cổ phiếu Việt Nam?
Câu hỏi 2: Giải pháp nâng cao tính chuyên nghiệp và hạn chế tác động tiêu
cực của nhà đầu tư trên TTCP Việt Nam là gì?
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tác động của hiện tượng tâm lý hành vi bầy đàn, nỗi sợ
bỏ lỡ trên TTCP Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 21Về phạm vi không gian: Thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua khối lượng giao
dịch một số mã cổ phiếu tiêu biểu diễn ra trên sở giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh (HOSE) và thu thập dữ liệu sơ cấp qua khảo sát nhóm tác giả nghiên cứu
Về phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn từ tháng 01/2008 đến tháng
12/2022, kết hợp với khảo sát thu thập từ 212 NĐT để phục vụ cho mô hình từ 15/3/2024 đến 21/4/2024
5.Đóng góp của nghiên cứu
5.1 Khoảng trống nghiên cứu
Từ tổng quan nghiên cứu, nhóm nhận thấy một số khoảng trống nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, trong hầu hết các nghiên cứu trước, kết quả định lượng đều cho
thấy tác động tiêu cực của hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ trên thị trường cổ phiếu, chưa có nhiều nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của hai hành vi này mang lại cho thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn thị trường biến động mạnh
Thứ hai, các bài nghiên cứu về nỗi sợ bỏ lỡ trên TTCP thường được thực
hiện Hàn Quốc, Ấn Độ hoặc phạm vi thế giới, hiếm có bài nghiên cứu về hành vi này trên TTCP tại Việt Nam
5.2 Đóng góp của nghiên cứu
Bài nghiên cứu này kiểm định sự tồn tại của hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) của các nhà đầu tư trên thị trường cổ phiếu Việt Nam, thông qua phương pháp đo lường khối lượng giao dịch trên thị trường cổ phiếu Cụ thể, tập trung phân tích và kiểm định sự tồn tại của hành vi nỗi sợ bỏ lỡ và hành vi bầy đàn trên sàn giao dịch chứng khoán niêm yết HOSE, đồng thời đi sâu phân tích, xác định mối tương quan hai chiều giữa khối lượng trao đổi và tác động của hai hành vi đến tâm
lý nhà đầu tư xảy ra trong các giai đoạn của thị trường
Trang 22Nội dung nghiên cứu mang lại những cơ sở khoa học quan trọng, không chỉ hữu ích cho các nhà đầu tư và nhà tạo lập thị trường mà còn hỗ trợ đáng kể cho các nhà quản lý nhà nước trong lĩnh vực cổ phiếu Đồng thời, việc nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trên nhằm hướng đến mục tiêu đưa ra được các dự đoán về hiệu ứng trên thị trường, giúp các nhà đầu tư phỏng đoán được hoạt động thị trường, quản lý rủi ro và có chiến lược đầu tư chính xác nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho các cá nhân tham gia thị trường Và tiến đến tiến đến sự phát triển bền vững, minh bạch trên thị trường cổ phiếu Việt Nam
6.Kết cấu đề tài
Bài nghiên cứu có kết cấu chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tác động của hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ
lỡ đến thị trường cổ phiếu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
Trang 23CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH
VI BẦY ĐÀN VÀ NỖI SỢ BỎ LỠ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU
1.1 Lý thuyết về hành vi nỗi sợ bỏ lỡ
1.1.1 Khái niệm và sự phát triển của các lý thuyết nỗi sợ bỏ lỡ
Khái niệm này lần đầu tiên được nhắc đến vào năm 1996 bởi Tiến sĩ Dan Herman in trên một bài báo học thuật có tên là “Tạp chí Quản lý thương hiệu”, nhưng nó có thể đã tồn tại trong nhiều thế kỷ trước Trong một nghiên cứu trước đây, tác giả đã đề cập tới cuộc khủng hoảng hoa Tulip ở Hà Lan vào thế kỷ 16 Người châu Âu gần như chưa biết tới loài hoa này cho đến năm 1562, quốc vương Suleiman tặng cho vua Hà Lan chiếc rương đựng củ tulip Những bông hoa tulip đã thu hút sự chú ý lớn và việc sở hữu chúng nhanh chóng trở thành biểu tượng của sự giàu có, thu hút mọi tầng lớp ở Hà Lan, và họ chấp nhận mua củ tulip bằng tất cả những gì họ có Nhu cầu ngày càng tăng khiến một củ tulip có giá trị gấp 65 lần thu nhập trung bình Hành vi này có thể gọi là “nỗi sợ bỏ lỡ” Năm 2004, từ viết tắt FOMO đã được Patrick Mcginnis đặt ra trong một ý kiến xuất bản trên tạp chí Mỹ
"The Harbus"
Cụm từ FOMO dần trở nên phổ biến và được đưa vào từ điển Oxford năm
2013 với định nghĩa là biểu hiện sự lo lắng hoặc nỗi sợ bỏ lỡ những sự kiện, trải nghiệm hoặc cơ hội quan trọng nào đó (“A feeling of worry that an interesting or exciting event is happening somewhere else”) Przybylski và cộng sự (2013): Mô tả FOMO như là "sự lo lắng hoặc căng thẳng xuất phát từ việc một người tin rằng những trải nghiệm mà họ không tham gia vào đang diễn ra ở nơi khác, thường do
sự so sánh với những người khác” Rose (2015) cũng đưa ra định nghĩa tương tự về FOMO - "một lo lắng hoặc căng thẳng xuất phát từ cảm giác rằng mọi người khác đang có trải nghiệm tuyệt vời hơn và bạn đang bỏ lỡ điều đó." Nghiên cứu của Dennison (2018) lại nhấn mạnh rằng FOMO có thể dẫn đến việc đưa ra các quyết định tiêu dùng thiếu lý trí và mô tả nó như là một lo lắng không lý do về việc bỏ lỡ
cơ hội hoặc trải nghiệm quan trọng
Trang 24Hiện nay, FOMO không chỉ được xem xét từ góc độ tâm lý học, mà còn từ góc độ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và hành vi chứng khoán Các nghiên cứu tiếp tục khám phá cơ cấu tâm lý của FOMO và ảnh hưởng của nó đối với thị trường tài chính Việc theo đuổi cơ hội tiềm năng và sự lo ngại về việc bỏ lỡ làm cho họ thường xuyên bỏ qua giá trị thực của cổ phiếu Điều này có thể dẫn đến những quyết định đầu tư không cân nhắc và thiếu lý trí, ảnh hưởng đến sự ổn định của thị trường chứng khoán Đồng thời, FOMO cũng đánh bại những nhà đầu tư cảm nhận được
sự không chắc chắn của thị trường Sự gia tăng về số lượng nhà đầu tư và việc sử dụng quỹ tương hỗ là những biểu hiện rõ ràng của FOMO Điều này đặt ra thách thức lớn cho việc quản lý rủi ro và ổn định thị trường, khi mà quyết định đầu tư thường dựa trên cảm xúc hơn là thông tin và phân tích kỹ thuật
Tóm lại, FOMO trong thị trường chứng khoán là một hiện tượng tâm lý có thể ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư Nó biểu thị cảm giác lo lắng khi mọi người thấy người khác đang thu được lợi nhuận từ việc đầu tư và sợ bỏ lỡ các cơ hội sinh lời tiềm năng Tình trạng này thường xuất hiện khi thị trường chứng khoán
có xu hướng tăng, với nhiều cổ phiếu tăng giá mạnh, khiến nhà đầu tư cảm thấy áp lực phải tham gia đầu tư để không bỏ lỡ cơ hội kiếm lời Điều này có thể dẫn đến các quyết định đầu tư vội vàng và gây ra những hậu quả tài chính nghiêm trọng
1.1.2 Biểu hiện hành vi của nỗi sợ bỏ lỡ
Theo Gupta & Shrivastava (2022), nghiên cứu đã chỉ ra rằng nỗi sợ bỏ lỡ (Fear of Missing Out, FoMO) ảnh hưởng lớn đến các nhà đầu tư, thúc đẩy họ thực hiện hành vi bầy đàn và lòng tham Dennison (2018) cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của FoMO đối với nhà đầu tư, khiến họ ra quyết định bốc đồng và thiếu cân nhắc, gây ra các quyết định phi lý và rủi ro Đồng thời, Kang và cộng sự (2019) phát hiện rằng quyết định của các cá nhân thường thay đổi dưới áp lực của người khác, từ đó theo đuổi hành vi bầy đàn
Luca Sabia và đồng nghiệp (2021) đã phân tích 15 cuộc phỏng vấn với nhà đầu tư theo đám đông ở Châu Âu và Bắc Mỹ, sử dụng nhiều nền tảng đầu tư khác nhau từ Seedrs đến Wefunder Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đầu tư không chỉ liên quan đến việc tối ưu hóa tài sản, mà còn là một phần của việc xây dựng địa vị
Trang 25trong xã hội Trong quá trình này, FOMO không chỉ kích thích quyết định đầu tư,
mà còn thúc đẩy sự tham gia vào cộng đồng với những lợi ích tích cực liên quan đến việc tham gia vào các dự án khởi nghiệp
1.2 Lý thuyết về hành vi bầy đàn
1.2.1 Khái niệm và sự phát triển của các lý thuyết hành vi bầy đàn
Theo nghiên cứu của Lao & Singh (2011), hành vi bầy đàn đã tồn tại trong
xã hội loài người từ xa xưa, khoảng năm 1200 trước Công nguyên Điều này đã khẳng định rằng tâm lý bầy đàn được coi là bản năng của con người và luôn luôn hiện diện trong quá trình đưa ra quyết định
Banerjee (1992) định nghĩa rằng: “Hành vi bầy đàn- mọi người hành động theo những gì mà những người khác đang làm, thậm chí ngay cả khi thông tin của
họ cho thấy nên hành động một cách khác đi” Những ví dụ đơn giản thể hiện cho hành vi này đến từ cuộc sống hằng ngày: học sinh lựa chọn nghề nghiệp dựa trên lựa chọn của bạn bè hay sự quảng bá của ngành nghề đó trên các phương tiện truyền thông, hay con người thường đưa ra quyết định theo số đông.Bên ngoài thế giới học thuật, thuật ngữ “hành vi bầy đàn” thường được sử dụng mà không có định nghĩa thích hợp Nó bắt nguồn từ việc so sánh giữa hành vi của nhà đầu tư và đặc điểm của động vật, suy ra rằng các nhà đầu tư sẽ theo dõi nhau một cách mù quáng giống như những con cừu hoặc những con vượn cáo làm khi hành vi bầy đàn (Bikhchandani và Sharma, 2001) Trong các nghiên cứu hàn lâm, các định nghĩa thay thế thường được ưa chuộng hơn Banerjee (1992) định nghĩa cụ thể hơn về hành vi bầy đàn trên thị trường tài chính: “các nhà đầu tư đưa ra quyết định bằng cách bắt chước các nhà đầu tư khác thay vì dựa vào thông tin cá nhân” Choi và cộng sự (1999) đưa ra mô tả về hành vi bầy đàn như là "các nhà đầu tư sẽ mua hoặc bán chứng khoán một cách đồng loạt dựa trên quan sát của họ về hành vi mua bán của những người khác” Vào năm 2000, Cont và Bouchaud định nghĩa về hành vi bầy đàn là "sự tập trung của các nhà đầu tư vào một số lượng lớn các giao dịch giống nhau, thường dựa trên sự thụ động và mù quáng, thay vì dựa trên thông tin cơ bản của thị trường" Ở khía cạnh khác, Nguyễn Đức Hiển và cộng sự (2012) lại cho rằng, hành vi bầy đàn có thể hiểu được là sự hội tụ của hành vi khi các cá nhân đưa
Trang 26ra quyết định đầu tư cùng một chiều hướng trong một thời điểm nhất định Nhà đầu
tư tổ chức hay nhà đầu tư cá nhân đều có thể gặp phải hành vi bầy đàn và hành vi này cũng là nguyên nhân chính gây ra những “bong bóng” hoặc khủng hoảng của thị trường chứng khoán Các định nghĩa này đều giống nhau và đề cập đến ý tưởng chung là các nhà đầu tư bỏ qua thông tin thu được để hành động dựa trên hành động của người khác
Nhìn chung, hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán nói chung và thị trường
cổ phiếu nói riêng mô tả việc nhà đầu tư sao chép quyết định đầu tư của nhà đầu tư khác và sẵn sàng từ bỏ quyết định đầu tư của mình cho dù quyết định đó có hợp lý
Thực tế, những quyết định theo bầy đàn sẽ đem lại cho nhà đầu tư nhiều rủi ro do
sự thiếu hụt về thông tin Theo Hwang và Salmon (2004) hành vi bầy đàn đẩy giá tài sản ra khỏi trạng thái cân bằng do lý thuyết tài chính truyền thống đề xuất, chẳng hạn như mô hình định giá tài sản vốn, dẫn đến giá không còn phản ánh giá trị thực của các công ty Đây là lý do tại sao hành vi bầy đàn thường được sử dụng trong bối cảnh thị trường có hành vi cực đoan, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng và bong bóng Do đó, những hậu quả nghiêm trọng trên thị trường chứng khoán có thể hình thành như bong bóng chứng khoán, sự sụp đổ của thị trường hay thiệt hại lớn đối với nhà đầu tư
Kết luận lại, hành vi bầy đàn không chỉ là một đặc điểm hiện đại mà còn là bản năng của con người, xuất hiện từ thời xa xưa Nó không chỉ đóng vai trò trong cuộc sống
xã hội mà còn tác động lớn đến quyết định đầu tư chứng khoán Hành vi này có thể tăng nguy cơ xuất hiện bong bóng thị trường và khủng hoảng tài chính, và nó thường được thể hiện qua việc bắt chước thông tin, danh tiếng, hoặc thù lao Có thể thấy rằng hành vi bầy đàn mạnh mẽ trong tâm lý và quyết định của nhà đầu tư, có thể tạo
ra ảnh hưởng lớn đối với thị trường chứng khoán, đặt ra những thách thức cần giải quyết để giảm thiểu tác động tiêu cực của nó trong quyết định đầu tư
1.2.2 Biểu hiện hành vi của hiệu ứng bầy đàn
Trên thị trường tài chính, hiệu ứng bầy đàn được xác định là xu hướng hành
vi của một nhà đầu tư đi theo sự dẫn dắt của người khác Nhận thấy khủng hoảng từ các sự kiện mà hiệu ứng bầy đàn gây ra, điển hình như sự kiện Thứ Hai Đen (1987), ngày càng tăng và tác động đáng kể của chúng đối với nền kinh tế Vì thế, trong
Trang 27suốt khoảng hai thập kỷ gần đây, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để khảo sát hành vi bầy đàn của cả nhà đầu tư tổ chức và cá nhân Theo Devenow và Welch (1996), hành vi bầy đàn được chia ra thành 2 nhóm chính:
Thứ nhất, hành vi bầy đàn phi lý (Irrational Herding) xảy ra khi nhà đầu tư
thiếu thông tin và không đánh giá rủi ro đầy đủ, mù quáng theo đuổi hành động của những người khác mà không xem xét niềm tin, quan điểm trước đó của họ Hành động này dẫn đến việc định giá tài sản không chính xác và có thể dẫn đến mất hiệu quả của thị trường (Froot và cộng sự, 1992; Hirshleifer và cộng sự, 1994) Trong nhóm hành vi này, William và cộng sự (2013) đề xuất hai dạng hành vi bầy đàn: hành vi bầy đàn hợp lý của nhà đầu tư tổ chức (nhà đầu tư có thông tin) và hành vi bầy đàn không hợp lý của nhà đầu tư cá nhân (nhà đầu tư không có thông tin) Hành
vi bầy đàn ở các tổ chức đầu tư, đặc biệt là ở các tổ chức nước ngoài giảm bớt giao dịch nhiễu trong tương lai, bất kể là trong thời kỳ khủng hoảng hay không Ngược lại, hành vi bầy đàn của nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức trong nước có tính bầy đàn thông tin sẽ làm giao dịch nhiễu duy trì ở mức cao, đặc biệt là trong các giai đoạn bình thường
Thứ hai, nhóm hành vi bầy đàn hợp lý (Rational Herding) được chia thành
hai nhóm, đó là :
● Hành vi bầy đàn theo thông tin (Information-based Herding and Cascades)
Theo Banerjee (1992), hành vi bầy đàn theo thông tin hay hành vi bầy đàn theo tầng thông tin (Informational Cascades) được biểu hiện qua việc nhiều người lựa chọn theo đám đông thay vì lựa chọn dựa vào thông tin của mình Trong đó, các
cá nhân bắt chước hành động của người khác một cách mù quáng ngay cả khi họ được đề xuất một quyết định khác Mặc dù có những thông tin cá nhân khác nhau, hành vi này vẫn xảy ra khi các nhà đầu tư chọn giao dịch tương tự trên thị trường, đồng thời nắm giữ các mã chứng khoán giống nhau
Bikhchandani, Hirshleifer và Welch (1992) cũng nhấn mạnh vai trò của hiệu quả thông tin trong việc thúc đẩy hành vi bầy đàn hợp lý Các nhà đầu tư dựa vào hành động của người khác như những tín hiệu về sự khôn ngoan của thị trường, đặc biệt trong tình huống thông tin không đảm bảo sự chắc chắn hoặc bất cân xứng Để
Trang 28mở rộng khía cạnh về tính không chắc chắn của thông tin, Avery và Zensky (1998) giả định rằng có hai kiểu nhà đầu tư: Nhà đầu tư sở hữu đầy đủ thông tin và nhà đầu
tư không có thông tin Trong thị trường ít thông tin, những nhà đầu tư có thông tin đầy đủ thường tin rằng những người khác cũng có thông tin tương tự và do đó họ sao chép hành vi của nhóm này với niềm tin rằng nhóm đó sở hữu thông tin chính xác
Tuy nhiên, Khanna và Mathews (2010) cho rằng hành vi bắt chước này có thể dẫn đến việc đưa ra các quyết định không tốt dựa trên thông tin kém chất lượng
và sai lệch (Bikhchandani, Hirshleifer, và Welch, 1992, và Banerjee, 1992) Nhóm tác giả đã đề xuất một quy trình quyết định mới, gồm hai giai đoạn, khác biệt so với các mô hình truyền thống Trong quy trình này, các yếu tố đại diện không chỉ xác định quyết định gia nhập mà còn giám sát quyết định đó mà không cần dựa vào thông tin sẵn có Kết quả cho thấy rằng trong những điều kiện nhất định, đặc biệt là
ở các thị trường có sự đổi mới sản phẩm quan trọng, hành vi bầy đàn có thể thực sự cải thiện chất lượng thông tin tổng hợp và chất lượng của quyết định
● Hành vi bầy đàn theo danh tiếng (Reputational/ Principal-agent Model)
Danh tiếng hoặc mối quan ngại về vị thế chuyên môn của một người ảnh hưởng do sự không chắc chắn về năng lực của người quản lý Theo Scharfstein và Stein (1990), các nhà quản lý có trình độ cao thường nhận ra những tín hiệu chung
về các dự án đầu tư, trong khi những người có trình độ thấp hơn chỉ nhìn thấy các tín hiệu ngẫu nhiên Những người này có thể sao chép hành động của đồng nghiệp nếu họ thiếu tự tin vào khả năng của mình, đồng thời bỏ qua thông tin cá nhân để duy trì hình ảnh tích cực trong thị trường
Từ mô hình của Scharfstein và Stein (1990), Graham (1994) đã mở rộng mô hình và tìm ra rằng các nhà phân tích thông minh thường nhận được các tín hiệu hữu ích về thị trường chứng khoán Các nhà phân tích thông minh thường hành động giống nhau khiến hành vi đi theo đám đông trở nên phổ biến hơn
Trong nghiên cứu của Trueman (1994), tác giả nghiên cứu cách danh tiếng ảnh hưởng đến hành vi của các nhà phân tích khi dự đoán về lợi nhuận trong tương lai Họ thường đưa ra dự báo gần giống với mong đợi của các nhà đầu tư, trong khi
Trang 29các nhà phân tích kém thành thạo hơn thường sao chép dự báo của người khác để bảo vệ danh tiếng của mình Hành vi này của các nhà phân tích kém thành thạo được xem là hành vi bầy đàn, nhằm thu hút sự đánh giá tích cực từ phía các nhà đầu tư khác về khả năng của họ
1.3 Tổng quan về thị trường cổ phiếu
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm về thị trường cổ phiếu
1.3.1.1 Khái niệm
Thị trường cổ phiếu là một phần của hệ thống tài chính trong đó các công ty
cổ phần, tổ chức tài chính và cá nhân có thể mua và bán các loại cổ phiếu Cổ phiếu đại diện cho một phần vốn của công ty và được giao dịch trên thị trường cổ phiếu thông qua các sở giao dịch chứng khoán Việc mua bán này được diễn ra ở thị trường
sơ cấp, khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành cổ phiếu, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các cổ phiếu đã được phát hành từ thị trường sơ cấp
Đây là nơi cung cấp nguồn vốn quan trọng cho các doanh nghiệp để mở rộng hoạt động kinh doanh, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ Đồng thời, thị trường cổ phiếu cũng là nơi mà các nhà đầu tư có thể tham gia giao dịch và tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động giao dịch này
Tuy nhiên, thị trường cổ phiếu tồn tại nhiều rủi ro và biến động Những biến động này có thể xuất phát từ nhiều yếu tố như tin tức kinh tế, chính trị, thay đổi lãi suất và các sự kiện toàn cầu Vì vậy, để đầu tư thông minh trên thị trường cổ phiếu, các nhà đầu tư cần có kiến thức và kinh nghiệm để hiểu và quản lý rủi ro một cách hiệu quả
1.3.1.2 Đặc điểm
Thị trường cổ phiếu nổi bật với bốn đặc điểm chính
Thứ nhất, thị trường cổ phiếu là một thị trường liên tục Sau khi các chứng
khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, chúng có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp Điều này cho phép các nhà đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt bất kỳ lúc nào họ muốn
Trang 30Thứ hai, thị trường cổ phiếu gần như là một thị trường hoàn hảo Tại đây,
mọi người đều có quyền tự do tham gia mà không bị áp đặt về giá cả Giá cả trên thị trường này được xác định dựa trên quan hệ cung cầu giữa người mua và người bán
Thứ ba, tính công khai trong giao dịch là một đặc điểm quan trọng của thị
trường cổ phiếu, giúp duy trì sự minh bạch trong các hoạt động tài chính Nhờ tính minh bạch này, các nhà đầu tư đều có thể tiếp cận thông tin về giá cổ phiếu và thực hiện các giao dịch một cách hiệu quả
Cuối cùng, khả năng thanh khoản cao làm cho thị trường cổ phiếu trở nên
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Sự tự do và minh bạch trong kinh doanh trên thị trường này, dựa trên quan hệ cung cầu, cho phép nhà đầu tư dễ dàng chuyển đổi cổ phần thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác theo nhu cầu của họ thông qua
cơ chế định giá hiện hành
1.3.2 Các chủ thể tham gia thị trường cổ phiếu
Các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán bao gồm các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ, các nhà đầu tư tổ chức (chẳng hạn như các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, quỹ chỉ số, quỹ hưu trí, quỹ giao dịch, quỹ phòng hộ, các ngân hàng, các nhóm nhà đầu tư và các định chế tài chính khác), cũng như các công ty đại chúng thực hiện giao dịch mua bán cổ phiếu do chính họ phát hành Bên cạnh đó, các nhà môi giới trung gian và những người tự động hóa các khoản đầu tư cho cá nhân cũng là những thành phần quan trọng tham gia vào thị trường chứng khoán
1.3.2.1 Các nhà phát hành
Chính phủ và doanh nghiệp chính là chủ thể phát hành chứng khoán nói chung và cổ phiếu nói riêng để giao dịch trên thị trường Mục tiêu của các chủ thể này khi tham gia vào thị trường cổ phiếu là tăng cường tài chính, gọi vốn để tăng trưởng, mở rộng kinh doanh phục vụ quá trình sản xuất hay đầu tư vào dự án mới, hoặc để giảm nợ Họ huy động vốn bằng việc phát hành và bánh cổ phần cho các nhà đầu tư qua các kênh trực tiếp, hoặc qua các kênh trung gian như các công ty chứng khoán Các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tốt và có danh tiếng sẽ được nhà đầu tư lựa chọn để đầu tư
Trang 311.3.2.2 Các nhà đầu tư
Nhà đầu tư chính là những người cung cấp vốn cho thị trường chứng khoán Mục tiêu của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán là đầu cơ, giao dịch và kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu tư cổ phiếu Nhà đầu tư chủ yếu tham gia thị trường cổ phiếu để đầu tư tiền của họ và huy động vốn cho các doanh nghiệp Bằng cách mua
và bán cổ phiếu, họ giúp duy trì sự linh hoạt và khả năng giao dịch trên thị trường, giúp tăng cường sự mạnh mẽ và tính minh bạch của thị trường Có 3 loại nhà đầu tư
mà bạn cần biết: nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài
Thứ nhất, các nhà đầu tư cá nhân chiếm phần lớn thị trường và có lợi thế là
có thể thay đổi hoàn cảnh một cách dễ dàng ngay cả với số vốn ít và có quyền tự chủ trong các quyết định đầu tư của mình
Thứ hai, nhà đầu tư tổ chức lại có lợi thế mạnh về thông tin bởi họ có hệ
thống các chuyên gia tài chính lớn mạnh, cũng như tiềm lực tài chính vững chắc và chiến lược đầu tư cụ thể, dài hạn hơn từ đó có tầm ảnh hưởng lớn và có khả năng dẫn dắt trong thị trường
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trên thị trường chứng
khoán Việt Nam với tiềm lực tài chính dồi dào và hiểu biết sâu rộng nhờ đó tăng tính cạnh tranh và tạo sức hút cho bất cứ loại cổ phiếu nào họ lựa chọn để đầu tư Mỗi doanh nghiệp nói chung hay cổ phiếu nói riêng được giao dịch bởi các nhà đầu
tư nước ngoài sẽ có ảnh hưởng lớn đến danh tiếng và lợi nhuận của công ty đó
Có thể nói, NĐT có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và thị trường cổ phiếu nói, đặc biệt là NĐT nước ngoài và các tổ chức Hành vi mua bán của nhà đầu tư nước ngoài và nhà tổ chức có thể tạo ra tâm
lý đám đông cũng như hành vi bầy đàn, khiến cho nhiều NĐT cá nhân cũng muốn tham gia theo để không bị bỏ lỡ cơ hội khi thị trường tài chính có các sự kiện kinh
tế bất ngờ diễn ra Khi một lượng lớn nhà đầu tư mua cổ phiếu do những tin tức tích cực từ thị trường, giá cổ phiếu thường tăng do tăng cầu và thậm chí liên tiếp lập đỉnh Ngược lại, khi một số lượng lớn nhà đầu tư bán cổ phiếu dẫn theo hiệu ứng đám đông do tin đồn thất thiệt hay sự kiện tiêu cực diễn ra, giá có thể giảm do cung cầu không cân đối Và điều này ảnh hưởng không tốt đến thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng
Trang 321.3.2.3 Công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa nhà đầu tư và thị trường cổ phiếu, hay còn gọi là người môi giới trung gian Họ thực hiện nhiệm vụ môi giới mua bán cổ phiếu như: cung cấp dịch vụ môi giới để nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán, trong lĩnh vực ngoại hối và các sản phẩm tài chính khác Ngoài ra còn có nhiệm vụ nghiên cứu, phân tích, nghiên cứu và phân tích về các doanh nghiệp và các mã cổ phiếu tiềm năng Bên cạnh đó, công ty chứng khoán cung cấp thông tin trên thị trường cổ phiếu giúp nhà đầu tư hiểu rõ hơn về hiệu suất của các cổ phiếu, xu hướng thị trường và các yếu tố khác ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Qua đó, tư vấn đầu tư cho khách hàng, giúp họ xây dựng danh mục đầu tư phù hợp với mục tiêu và chiến lược đầu tư của
họ Ngoài ra các công ty chứng khoán cũng tư vấn và cung cấp một số dịch vụ khác
hỗ trợ như nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán như: quản lý tài khoản, quản lý IPO và phát hành cổ phiếu, hay cung cấp dịch vụ margin và cho vay,
Có thể thấy những nhiệm vụ cũng như vai trò trên của công ty chứng khoán
đã đóng góp vào sự phát triển và hoạt động của thị trường chứng khoán, đồng thời
hỗ trợ nhà đầu tư và doanh nghiệp trong việc quản lý và tối ưu hóa tài sản tài chính của họ
1.3.2.4 Cơ quan quản lý
Hình 1.1: Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam
Cơ quan quản lý là chủ thể đảm bảo cho thị trường hoạt động theo đúng quy định nhà nước Tại Việt Nam, , Chính phủ, Quốc hội thực hiện chức năng quản lí thông qua việc ban hành hoặc đề nghị các cơ quan cấp trên ban hành các văn bản
Trang 33pháp luật định hướng và điều tiết hoạt động của thị trường Ngoài ra, các cơ quan này có thể sử dụng những hình thức khác để can thiệp vào thị trường trong các trường hợp cần thiết, khẩn cấp Tiếp đến là Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Dưới đó là Uỷ ban chứng khoán nhà nước và cuối cùng là 2 cơ quan chuyên môn gồm: sở giao dịch chứng khoán và trung tâm lưu ký chứng khoán Sở Giao dịch Chứng khoán là một tổ chức tài chính nơi mà các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu,
và các công cụ tài chính khác) được giao dịch giữa các bên tham gia thị trường Trung tâm lưu ký chứng khoán có nhiệm vụ chính là quản lý và giữ lưu trữ các giấy
tờ và thông tin liên quan đến chứng khoán một cách an toàn và hiệu quả Các trung tâm này thường chịu trách nhiệm đối với việc xác nhận quyền sở hữu, giải quyết thanh toán và giao dịch chứng khoán giữa các bên tham gia thị trường
1.3.3 Các nhân tố tác động đến thị trường cổ phiếu
Một yếu tố đơn lẻ không thể gây biến động lớn đến thị trường chứng khoán Thay vào đó, nhiều yếu tố cùng lúc kết hợp có thể tạo nên một môi trường đầu tư tổng thể và tác động tới thị trường chứng khoán Trong đó bao gồm 5 nhân tố nổi cộm mà nhà đầu tư đặc biệt cần chú ý để có thể dự đoán tương lai thị trường cổ phiếu
Thứ nhất, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Một công ty hoạt
động thuận lợi, sẽ đem lại cổ tức và lợi nhuận cao cho nhà đầu tư Mặt khác, nếu doanh nghiệp thua lỗ, nhà đầu tư sẽ mất niềm tin và gián tiếp làm giá cổ phiếu suy giảm Nhìn chung, nhà đầu tư đa phần dựa vào kết quả kinh doanh của các công ty
để đánh giá giá trị thực của cổ phiếu, nên đây chính là nhân tố gây ảnh hưởng lớn nhất đến thị trường
Thứ hai, ảnh hưởng của nền kinh tế đối với thị trường chứng khoán có thể
nhận thấy thông qua tác động của chúng với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi nền kinh tế hoạt động hiệu quả, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng, dẫn đến giá trị mã cổ phiếu tăng mạnh Trái lại, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn suy thoái thì lợi nhuận của doanh nghiệp giảm mạnh, đồng thời nguồn tiền
Trang 34“rót” vào thị trường sụt giảm đáng kể Sự giảm sút này có xu hướng sẽ đưa giá cổ phiếu về mức thấp nhất và cuối cùng dẫn đến sự thất bại của thị trường cổ phiếu
Thứ ba, đó là cung cầu chứng khoán Thị trường cổ phiếu, giống như bất kỳ
thị trường hàng hóa nào khác, phụ thuộc vào quy luật cung cầu Khi có nhiều người mua cổ phiếu, giá của chúng thường tăng lên, và ngược lại, khi có nhiều người bán
ra, giá cổ phiếu thường giảm Việc bán ra cổ phiếu một cách đột ngột có thể dẫn đến một sự suy giảm đáng kể trong giá cả, làm cho những người bán phải chấp nhận giá thấp hơn cho cổ phiếu của họ
Thứ tư, một nhân tố cũng có ảnh hưởng rất lớn, đó là chính sách và quyết
định của các cơ quan quản lý và tổ chức, đặc biệt về chính sách tiền tệ Nếu chính phủ tạo điều kiện cho vay với lãi suất thấp thì doanh nghiệp hay cá nhân có thể dễ dàng mở rộng hoạt động kinh doanh, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh của thị trường
cổ phiếu Trái lại, khi chính sách tiền tệ bị thắt chặt, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp cũng giảm, thị trường chứng khoán ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực
Cuối cùng, tâm lý nhà đầu tư có xu hướng trở thành nhân tố chính gây ảnh
hưởng tới thị trường cổ phiếu hay quyết định đầu tư của họ Thị trường chứng khoán được biết đến với sự nhạy cảm, nơi mà một tin tức chỉ cần hiện diện có thể gây ra biến động lớn Vì vậy, nhà đầu tư cần giữ tinh thần mạnh mẽ để lọc thông tin và đưa
ra các quyết định đầu tư đúng đắn Trong đó, 2 nhân tố hành vi là nỗi sợ bỏ lỡ và hành vi bầy đàn đang xuất hiện khá phổ biến trên thị trường cổ phiếu hiện nay
1.4 Tác động của nỗi sợ bỏ lỡ và hành vi bầy đàn tới thị trường cổ phiếu 1.4.1 Tác động tới giá cổ phiếu
FOMO và hành vi bầy đàn đều có ảnh hưởng lớn tới giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán FOMO đóng vai trò thúc đẩy nhà đầu tư mua cổ phiếu với mong muốn không bỏ lỡ cơ hội sinh lời khi giá liên tục tăng, tạo ra một áp lực mua mạnh mẽ Điều này trực tiếp thúc đẩy cầu mua và đẩy giá cổ phiếu lên tới đỉnh điểm
Tương tự, hành vi bầy đàn xảy ra, khi một số lượng lớn nhà đầu tư bắt đầu mua một cổ phiếu cụ thể, nhà đầu tư khác có thể kích hoạt bản năng bầy đàn và theo
Trang 35đuổi cùng hướng Sự tập trung mạnh mẽ của các nhà đầu tư này có thể dẫn đến một
đà tăng giá nhanh chóng và mạnh mẽ
Tuy nhiên, cả hai yếu tố này cũng có thể gây ra những biến động không ổn định trên thị trường Khi cảm xúc thống trị quyết định đầu tư hơn là thông tin và phân tích các thông số kỹ thuật, thị trường có thể trở nên dễ bị dao động và khó đoán trước được hướng đi Điều này có thể dẫn đến những đợt bán tháo đột ngột khi nhà đầu
tư thất vọng về kết quả đầu tư hoặc lo sợ bị bỏ lại Do đó, việc hiểu và kiểm soát cẩn thận những yếu tố tâm lý này là rất quan trọng để đảm bảo tính ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán
1.4.2 Tác động tới khối lượng giao dịch
FOMO và hành vi bầy đàn đều có ảnh hưởng lớn tới giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán FOMO đóng vai trò thúc đẩy nhà đầu tư mua cổ phiếu với mong muốn không bỏ lỡ cơ hội sinh lời khi giá liên tục tăng, tạo ra một áp lực mua mạnh mẽ Điều này trực tiếp thúc đẩy cầu mua và đẩy giá cổ phiếu lên tới đỉnh điểm
Tương tự, hành vi bầy đàn xảy ra, khi một số lượng lớn nhà đầu tư bắt đầu mua một cổ phiếu cụ thể, nhà đầu tư khác có thể kích hoạt bản năng bầy đàn và theo đuổi cùng hướng Sự tập trung mạnh mẽ của các nhà đầu tư này có thể dẫn đến một
đà tăng giá nhanh chóng và mạnh mẽ
Tuy nhiên, cả hai yếu tố này cũng có thể gây ra những biến động không ổn định trên thị trường Khi cảm xúc thống trị quyết định đầu tư hơn là thông tin và phân tích các thông số kỹ thuật, thị trường có thể trở nên dễ bị dao động và khó đoán trước được hướng đi Điều này có thể dẫn đến những đợt bán tháo đột ngột khi nhà đầu tư thất vọng về kết quả đầu tư hoặc lo sợ bị bỏ lại Do đó, việc hiểu và kiểm soát cẩn thận những yếu tố tâm lý này là rất quan trọng để đảm bảo tính ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán
1.4.3 Tác động tới số lượng nhà đầu tư
FOMO và hành vi bầy đàn đều có ảnh hưởng lớn tới giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán FOMO đóng vai trò thúc đẩy nhà đầu tư mua cổ phiếu với mong muốn không bỏ lỡ cơ hội sinh lời khi giá liên tục tăng, tạo ra một áp lực mua
Trang 36mạnh mẽ Điều này trực tiếp thúc đẩy cầu mua và đẩy giá cổ phiếu lên tới đỉnh điểm
Tương tự, hành vi bầy đàn xảy ra, khi một số lượng lớn nhà đầu tư bắt đầu mua một cổ phiếu cụ thể, nhà đầu tư khác có thể kích hoạt bản năng bầy đàn và theo đuổi cùng hướng Sự tập trung mạnh mẽ của các nhà đầu tư này có thể dẫn đến một
đà tăng giá nhanh chóng và mạnh mẽ
Tuy nhiên, cả hai yếu tố này cũng có thể gây ra những biến động không ổn định trên thị trường Khi cảm xúc thống trị quyết định đầu tư hơn là thông tin và phân tích các thông số kỹ thuật, thị trường có thể trở nên dễ bị dao động và khó đoán trước được hướng đi Điều này có thể dẫn đến những đợt bán tháo đột ngột khi nhà đầu
tư thất vọng về kết quả đầu tư hoặc lo sợ bị bỏ lại Do đó, việc hiểu và kiểm soát cẩn thận những yếu tố tâm lý này là rất quan trọng để đảm bảo tính ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán
Trang 3726
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Như vậy, chương 1 đã cho thấy được tổng quan tình hình nghiên cứu về lý thuyết và biểu hiện của hành vi bầy đàn và nỗi sợ bỏ lỡ Từ đó đưa ra tác động của hai hành vi này đến thị trường cổ phiếu thông qua giá cổ phiếu, khối lượng giao dịch và số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường