1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

62 87 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 5,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1: Các biến sử dụng trong nghiên cứu Bảng 2: Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo Năng suất CO2 CO2 productivity Bảng 3: Hệ số Cronbach Alpha của thang đo Năng suấ

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI THAM DỰ CUỘC THI “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG NĂM HỌC 2024-2025

TÊN ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG XANH ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA THUỘC DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LĨNH VỰC: KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH

Hà Nội, Tháng 06 Năm 2024

Trang 2

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI THAM DỰ CUỘC THI “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG NĂM HỌC 2024-2025

TÊN ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG XANH ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA THUỘC DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG (APEC) VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM LĨNH VỰC: KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH

Hà Nội, Tháng 06 Năm 2024

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phương pháp nghiên cứu 1

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4.1 Đối tượng nghiên cứu 2 4.2 Phạm vi nghiên cứu 2 5 Kết cấu của đề tài 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG 3

1.1 Tăng trưởng xanh 3

1.2 Phát triển kinh tế bền vững 5

1.3 Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững 6

1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6 1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 12 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 15

2.1 Dữ liệu nghiên cứu 15

2.2 Phương pháp và mô hình nghiên cứu 15

2.3 Giả thuyết nghiên cứu 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha 22

3.2 Kết quả mô hình hồi quy 25

3.2.1 Kiểm định tự tương quan (Correlation) 25 3.2.2 Mô hình hồi quy tuyến tính 26 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 38

4.1 Kết luận 38

4.2 Khuyến nghị 41

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 PHỤ LỤC 48

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Các biến sử dụng trong nghiên cứu

Bảng 2: Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo Năng suất CO2 (CO2 productivity) Bảng 3: Hệ số Cronbach Alpha của thang đo Năng suất năng lượng (Energy

productivity)

Bảng 4: Hệ số Cronbach Alpha của thang đo năng suất vật chất phi năng lượng energy material productivity)

(Non-Bảng 5: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình

Bảng 6: Kết quả chạy mô hình OLS đối với FDI

Bảng 7: Kết quả kiểm định White

Bảng 8: Kết quả hồi quy mô hình FEM đối với FDI

Bảng 9: Kết quả mô hình REM đối với FDI

Bảng 10: Kết quả kiểm định Hausman đối với FDI

Bảng 11: Kết quả chạy mô hình OLS đối với RECON

Bảng 12: Kết quả kiểm định White đối với RECON

Bảng 13: Kết quả hồi quy mô hình FEM đối với RECON

Bảng 14: Kết quả hồi quy mô hình REM đối với RECON

Bảng 15: Kết quả kiểm định Hausman đối RECON

Bảng 16: Tổng hợp kết quả chạy mô hình OLS, FEM và REM đối với GDPG

Bảng 17: Kết quả kiểm định Hausman đối với GDPG

Bảng 18: Chiều hướng tác động của tăng trưởng xanh đến phát triên kinh tế bền vững

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương

9 UNESCAP Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương

Liên Hiệp Quốc

11 WECD Hội nghị Bộ trưởng về Môi trường và Phát triển

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với sự phát triển của khoa học, công nghệ, những đột phá của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền kinh tế thế giới như được thay da đổi thịt với tốc độ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của nhiều quốc gia Tuy nhiên, mọi vấn đề đều có mặt trái của

nó Toàn cầu đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái về môi trường do khai thác tài nguyên bừa bãi, hiệu ứng nhà kính ngày càng gia tăng, sức ép của công nghiệp hóa và thương mại hóa ngày càng lớn, Cũng vì thế, tăng trưởng xanh đang dần trở thành xu hướng phát triển của không chỉ của những nước phát triển mà còn cả những nước đang phát triển như Việt Nam Việt Nam đang liên tục trên đà phát triển, dần dần chuyển đổi

mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, mục tiêu trên hết là chất lượng và hiệu quả Theo

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng Đây là phương thức quan trọng để thực hiện phát triển bền vững, tạo sự ổn định cho nền kinh tế trước tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, và hướng tới phát triển kinh tế xanh Như vậy, tăng trưởng xanh không chỉ nhấn mạnh vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn giữ cân bằng hài hòa với môi trường sinh thái, cụ thể là tránh gây áp lực làm phá vỡ sự cân bằng của môi trường, với mục tiêu cao nhất là duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững

Đề tài “Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” được nhóm tác

giả cân nhắc và lựa chọn cũng vì những lý do trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của bài nghiên cứu khoa học này là đánh giá tác động của xu hướng tăng trưởng xanh đến sự phát triển kinh tế bền vững của 19 quốc gia thuộc diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) trong giai đoạn 2000 – 2021 bằng mô hình kinh tế lượng, qua đó đề xuất một số giải pháp giúp Việt Nam phát triển nền kinh

tế xanh và bền vững trong thời gian tới

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp định lượng dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập từ Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế (OECD)

Phương pháp phân tích dữ liệu:

- Dữ liệu được xử lý các bước: Làm sạch dữ liệu, thống kê mô tả, ma trận tương quan, hồi quy và kiểm định mô hình

Trang 8

- Mô hình hồi quy sử dụng là: mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và các kiểm định White, Hausman nhằm tìm ra mô hình nghiên cứu phù hợp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, các phần Mục lục và Phụ lục, bài nghiên cứu gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế bền vững

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và khuyến nghị

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ BỀN VỮNG 1.1 Tăng trưởng xanh

Khái niệm "tăng trưởng xanh" đã trải qua một quá trình phát triển dài Ban đầu, khái niệm này chỉ áp dụng cho sự tăng trưởng của "công nghiệp sinh thái", tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu gần đây, việc sử dụng thuật ngữ "tăng trưởng xanh" đã

mở rộng và hiện áp dụng trong nhiều trường hợp, không thể không kể đến tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế

Hội nghị Bộ trưởng về Môi trường và Phát triển (MCED) năm 2005 tại Seoul, Hàn Quốc, Tổng thống Lee Myung-Bak đã phát biểu: “Tăng trưởng xanh đề cập đến tăng trưởng bền vững nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính và ngăn ngừa suy thoái môi trường Đây cũng là một mô hình phát triển quốc gia mới tạo ra động cơ tăng trưởng

và việc làm mới thông qua công nghệ xanh và năng lượng sạch Đây cũng là một mô hình phát triển quốc gia mới tạo ra động cơ tăng trưởng và việc làm mới thông qua công nghệ xanh và năng lượng sạch.”

Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (UNESCAP)

định nghĩa: “Tăng trưởng xanh là chiến lược để đạt được phát triển bền vững Tăng trưởng xanh chủ trương tăng trưởng GDP mà duy trì hoặc khôi phục lại chất lượng và tính toàn vẹn của môi trường sinh thái, đồng thời đáp ứng các nhu cầu của tất cả mọi người với mức thấp nhất có thể tác động đến môi trường.”

WB (2012) định nghĩa: “Tăng trưởng xanh là hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, sạch trong việc giảm thiểu ô nhiễm và các tác động môi trường, linh hoạt trong khả năng thích ứng với các hiểm họa thiên nhiên, quản lí môi trường và vốn tự nhiên trong phòng chống thiên tai.” Khái niệm này được sử dụng một cách rộng

rãi và phổ biến nhất

Theo Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế (OECD) (2014), tăng trưởng xanh bao gồm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp tài nguyên và dịch vụ môi trường Để thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho sự

tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới

Reilly (2012) nhấn mạnh rằng việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh phản ánh

ý định hướng nền kinh tế tới các công nghệ và mô hình tiêu dùng tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế, đồng thời giảm thiểu tác động đến môi trường Việc thúc đẩy tăng trưởng xanh tập trung vào những phương pháp hiệu quả về chi phí nhằm giảm áp lực lên môi trường, cho phép chuyển đổi sang các mô hình phát triển mới Điều này giúp tránh vượt

Trang 10

qua các ngưỡng môi trường quan trọng ở cấp địa phương, khu vực và toàn cầu Theo các giả thuyết, chiến lược tăng trưởng xanh được phát triển ở cấp quốc gia sẽ khuyến khích hành vi thân thiện với môi trường của doanh nghiệp và người tiêu dùng, cải thiện việc tái phân bổ tối ưu lao động, vốn và công nghệ theo hướng hoạt động xanh hơn, và tạo động lực cho sự phát triển của các đổi mới sinh thái (Kijek và Kasztelan 2013; OECD 2011b) OECD 2011b)

Thế giới hiện đang phải đối mặt với những thách thức toàn cầu về dân số tăng nhanh và áp lực ngày càng tăng đối với môi trường (Kasztelan, 2017) Những người ủng

hộ khái niệm “tăng trưởng xanh” tin rằng hệ thống kinh tế đang thịnh hành hiện nay là

không hoàn hảo bởi nó là nguyên nhân gây ra những vấn đề về môi trường như biến đổi khí hậu, sa mạc hóa, suy giảm đa dạng sinh học; cạn kiệt vốn tự nhiên; nghèo đói trên diện rộng; thiếu nước ngọt, lương thực, năng lượng; bất bình đẳng giữa người dân và các quốc gia Họ tin rằng sự tồn tại và phát triển của nhân loại đòi hỏi phải chuyển sang

“tăng trưởng xanh”

Năm 2011, chiến lược tăng trưởng xanh được đề cập trong Diễn đàn Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); theo đó, đây được coi là công cụ hữu ích để bổ sung động lực cho tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm xanh, thông qua việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và vật liệu cũng như định giá hợp lý các dịch vụ môi trường (OECD, 2012) Chiến lược tăng trưởng xanh trước hết là góp phần xây dựng và phát triển một khuôn khổ mới giữa các quốc gia

về vấn đề môi trường và phúc lợi xã hội chung; thứ hai, cung cấp các công cụ và khuyến nghị cụ thể để xây dựng các chính sách quốc gia nhằm giúp các chính phủ chuyển đổi hiệu quả nhất sang nền kinh tế bền vững và đạt được sự phát triển bền vững; thứ ba, chiến lược tạo thành một nguồn thông tin quan trọng về các cách hỗ trợ tăng trưởng xanh ở các nước có nền kinh tế mới nổi và đang phát triển; thứ tư, chiến lược tập trung vào các vấn đề việc làm, bao gồm khả năng tạo việc làm mới cả trong ngắn hạn và dài hạn, điều này có ý nghĩa quan trọng xét từ khía cạnh xã hội của phát triển bền vững (OECD, 2009)

Theo OECD (2011) đã chỉ ra sự cần thiết của việc xây dựng và thực hiện các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh do tác động của các quá trình kinh tế và xã hội lên các hệ sinh thái gây ra sự mất cân bằng, gây rủi ro cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Ngoài ra, vốn tự nhiên, bao gồm cả tài nguyên khoáng sản, thường bị đánh giá thấp và do đó được quản lý kém Điều này đã tạo ra chi phí cho nền kinh tế và góp phần làm suy giảm phúc lợi xã hội nói chung Việc thiếu các chiến lược nhất quán để

xử lý những vấn đề như vậy gây ra sự không chắc chắn, khiến đầu tư và đổi mới bị đình trệ, và do đó có thể làm giảm tốc quá trình phát triển bền vững Nói cách khác, mục đích

Trang 11

của các chiến lược quốc gia và chương trình tăng trưởng xanh là thúc đẩy các doanh nghiệp và người tiêu dùng thực hiện các hoạt động thân thiện với môi trường hơn, tạo điều kiện thuận lợi và phân bổ lại công bằng việc làm, vốn và công nghệ và cung cấp các khuyến khích và hỗ trợ phù hợp trong bối cảnh phát triển các đổi mới sinh thái (OECD, 2012)

Như vậy, tăng trưởng xanh nhấn mạnh tới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn giữ cân bằng hài hòa với môi trường sinh thái, mà cụ thể là tránh gây các áp lực làm phá vỡ sự cân bằng của môi trường (EEA, 2016) và, với mục tiêu cao nhất là duy trì bền vững sự tăng trưởng kinh tế

1.2 Phát triển kinh tế bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm đã xuất hiện trong các nghiên cứu khoa học của nhiều lĩnh vực vào cuối những năm 1980; là kết quả của việc công bố báo cáo “Our common future” vào năm 1987 Báo cáo tóm tắt những thành tựu và thất bại của nhân loại trong thế kỷ 20, xác định phát triển bền vững là một phương thức khả thi để cải thiện những vấn đề đang tồn tại

Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) định nghĩa: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai” (WCED, 1987) Khái niệm này đã

được quan tâm nhiều hơn sau khi Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất ở Rio de Janeiro năm

1992 thông qua một chương trình mẫu để thực hiện phát triển bền vững “Chương trình Nghị sự 21”

Ioan và các cộng sự (2020) cho rằng phát triển kinh tế bền vững là sự phát triển liên tục không có biến động lớn của tốc độ tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu đảm bảo các thế hệ tương lai, không phải chịu cảnh suy giảm tài nguyên Ngoài ra, các tác giả ủng hộ rằng phát triển kinh tế bền vững cải thiện thu nhập thông qua việc phản ánh tổng sản phẩm quốc nội, từ đó chuyển thành thu nhập bình quân đầu người và nâng cao mức sống và tiết kiệm Do đó, tổng sản phẩm quốc nội có thể đóng vai trò là đại diện cho sự phát triển kinh tế bền vững Hơn nữa, tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người đã được sử dụng rộng rãi như một chỉ số về phát triển kinh tế bền vững (Arias 2006, Fernández-Portillo và các cộng sự 2019, Vasylieva và các cộng sự 2019)

Có nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế Cuộc tranh luận này chia thành hai phe: một bên cho rằng hai yếu tố này không thể dung hòa, và bên kia tin rằng tăng trưởng kinh tế là yếu tố thiết yếu để đạt được phát triển bền vững Trên thực thế, nhiều quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh nhưng trái lại phải đối mặt với tình trạng tồi tệ khi xét về các chỉ số

Trang 12

như trình độ dân trí, sức khỏe, tuổi thọ và dinh dưỡng trung bình Hơn thé nữa, các tổn hại môi trường do quá trình tăng trưởng kinh tế gây ra cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện sống trước mắt và về lâu dài của con người Nhóm tác giả lấy ví dụ điển hình cho sự tác động ngược chiều này là hai quốc gia Hàn Quốc và Brazil Hàn Quốc kết hợp tăng trưởng với công bằng xã hội (Keun Lee và cộng sự, 2007); kết quả, Hàn Quốc là quốc gia có mức độ bất bình đẳng thấp nhất và duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài Trong khi đó, Brazil lại chỉ tập trung vào phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, sử dụng nhiều vốn, mà ít chú trọng đến các chính sách xã hội; dù có tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, Brazil vẫn không giải quyết được bất bình đẳng, hậu quả gây ra khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên, trên thực tế, tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia không những không mang lại sự bình đẳng cho mọi người dân mà còn ảnh hưởng xấu đến tính bền vững của sự phát triển

1.3 Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững

Sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, công nghệ, cũng như đột phá của cuộc cách mạng 4.0 đã mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho các doanh nghiệp Xu hướng đầu tư cho các hoạt động sản xuất thông minh, xây dựng chính phủ điện tử, sản xuất kinh doanh không gây ô nhiễm môi trường… đã và đang trở nên phổ biến Tăng trưởng xanh ngày càng trở thành một xu thế tất yếu, là mục tiêu đang hướng tới, là một hướng tiếp cận tiến bộ cho sự phát triển kinh tế bền vững của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam Chính vì thế, những tác động của xu hướng tăng trưởng xanh đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế là một trong những vấn đề mà được các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã, đang và sẽ quan tâm trong nhiều năm tới

1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Tăng trưởng xanh xuất hiện và nổi lên như một giải pháp để giới thiệu một mô hình phát triển bền vững mới, ít phát thải cho các quốc gia đang phát triển nhanh chóng

ở châu Á (UNESCAP, 2005) Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu tăng trưởng xanh nhấn mạnh rằng tăng trưởng xanh không phải là một sự thay thế cho phát triển bền vững mà

là một phương tiện để đạt được sự phát triển bền vững (OECD, 2011; UNEP, 2011; WB 2012)

OECD (2015) đã trình bày Chiến lược tăng trưởng xanh của tổ chức cho các nhà lãnh đạo quốc gia và Bộ trưởng từ hơn 40 quốc gia và đã được hoan nghênh như một công cụ hữu ích để mở rộng tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm qua sử dụng tài nguyên

tự nhiên bền vững hơn, hiệu quả hơn trong việc sử dụng năng lượng và đánh giá dịch

vụ sinh thái Hiện đã có 47 quốc gia và vùng lãnh thổ ủng hộ: “Tuyên bố tăng trưởng xanh” của OECD Điều này chứng tỏ tăng trưởng xanh đã vượt xa việc giảm thiểu và

Trang 13

thích ứng với biến đổi khí hậu, tài nguyên, môi trường và hơn thế nữa là nhằm đạt được

sự phát về triển kinh tế một cách bền vững Cũng trong năm đó, OECD (2015) đã đưa

ra mô hình đánh giá tăng trưởng xanh được đo bằng bốn nội dung chính: (1) Hiệu suất tài nguyên và môi trường; (2) Nền tảng tài sản thiên nhiên; (3) Chất lượng cuộc sống về môi trường và (4) Cơ hội kinh tế và phản hồi chính sách Mỗi quốc gia, theo đó, có thể đánh giá tiến trình thực hiện tăng trưởng xanh của mình, đề xuất những chính sách điều chỉnh phù hợp

M Jacobs (2012) chỉ ra khái niệm tăng trưởng xanh và khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế có thể ảnh hưởng đến môi trường Khái niệm này không chỉ là một lý tưởng đạo đức mà còn đòi hỏi yêu cầu kinh tế mạnh mẽ về cả mặt lý thuyết và thực tiễn học Roumasset và cộng sự (2015) đưa ra nguyên tắc vàng cho phát triển kinh tế bền vững, là mỗi quốc gia cần phải sử dụng tài nguyên một cách bền vững để đảm bảo tương lai của con người Cùng năm đó, UNEP (2015) cũng đã trình bày một số tiêu chuẩn và công nghệ có thể được áp dụng để đảm bảo tăng trưởng xanh và phát triển bền vững Nghiên cứu đề cập đến các tiêu chuẩn quản lý chất lượng và hiệu quả sử dụng tài nguyên, cũng như các công nghệ tiết kiệm năng lượng và tài nguyên

Dựa trên chính sách tăng phí nước thải tiêu chuẩn ở Trung Quốc, Cheng và cộng

sự (2022) đã chọn dữ liệu bảng của 30 tỉnh từ năm 2000 đến năm 2018 và áp dụng phương pháp Differences-in-Differences (DID) nhiều lần để kiểm tra thực nghiệm tác động của việc tăng chi phí môi trường đối với Năng suất nhân tố tổng hợp xanh công nghiệp (industrial green total factor productivity - GTFP) Nghiên cứu cho thấy GTFP công nghiệp được tăng lên đáng kể bằng cách tăng phí nước thải tiêu chuẩn Kết luận vẫn có giá trị sau khi giảm bớt vấn đề nội sinh và tiến hành kiểm tra độ tin cậy Các phân tích sâu hơn cho thấy rằng việc tăng chi phí môi trường có thể thúc đẩy tăng trưởng xanh trong công nghiệp, chủ yếu thông qua hiệu ứng công nghệ Do đó, nếu tất cả các tỉnh có thể tối ưu hóa và nâng cấp cơ cấu công nghiệp cũng như nâng cao trình độ đổi mới công nghệ khi phải đối mặt với các quy định về môi trường ngày càng nghiêm ngặt

có thể thay đổi tốt hơn mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện phát triển công nghiệp xanh tại địa phương

Kantor (2021) đã nghiên cứu đánh giá tăng trưởng xanh ở các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu vào năm 2019 Với mục đích này, tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp và phân tích đa chiều về phát triển bền vững Mô hình phi mẫu cùng với các phương pháp Hellwig và Ward đã được triển khai Dữ liệu được lấy từ trang web OECD.stat và sau đó tính toán bằng phần mềm SPSS và Excel Kết quả nghiên cứu cho phép tác giả

so sánh kinh tế giữa các quốc gia và phân loại các quốc gia theo mức độ phát triển tương đương nhau Dựa trên phân tích, tác giả nhận thấy có sự khác biệt lớn về tăng trưởng

Trang 14

xanh ở các quốc gia được khảo sát; sự mất cân đối trong chiến lược tăng trưởng xanh ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển bền vững

Park và cộng sự (2021) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp các dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả dữ liệu chính thống từ các cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế, và dữ liệu từ các cuộc khảo sát và phỏng vấn để nghiên cứu tập trung vào ba vấn đề chính: Mục tiêu phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, và dịch

vụ sinh thái Kết quả của nghiên cứu kết luận Hàn Quốc đã tiến triển trong việc thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh và đạt được kết quả khả quan đối với ba vấn vấn đề trên đề trên đặc biệt là đối với phát triển bền vững

Beata G và các cộng sự (2021) Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững được thực hiện bằng cách áp dụng phương pháp phân tích cụm và phân tích hồi quy để xác định và so sánh các chỉ số tăng trưởng xanh giữa các quốc gia Các bước nghiên cứu chính bao gồm: Thu thập dữ liệu từ các nguồn công khai như cơ sở dữ liệu OECD, bao gồm các chỉ số liên quan đến kinh tế, môi trường và xã hội; pháp phân tích cụm được sử dụng để nhóm các quốc gia có điều kiện tương tự về các chỉ số tăng trưởng xanh Điều này giúp xác định các biện pháp cụ thể cần thực hiện cho từng nhóm quốc gia để cải thiện chiến lược tăng trưởng xanh; phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các yếu tố môi trường, nhằm hiểu rõ hơn về tác động của tăng trưởng kinh tế đến môi trường và ngược lại; đánh giá chỉ số tăng trưởng xanh được đánh giá dựa trên độ liên quan, tính khả thi và khả năng đo lường của chúng đối với các mục tiêu phát triển bền vững Từ đó, nhóm tác giả đưa ra kết luận mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững theo hai chiều hướng: Tích cực: Tăng trưởng kinh tế có thể thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua đầu

tư và đổi mới, đảm bảo bảo vệ các tài sản thiên nhiên, tài nguyên và dịch vụ cho thế hệ tương lai; tiêu cực: Một số quan điểm cho rằng không thể đạt được tăng trưởng xanh mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, và việc duy trì tiêu dùng hàng hóa với tốc độ cao vẫn là một thách thức lớn

Nesterenko và các cộng sự (2021) cho rằng sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu của xã hội với các vấn đề kinh tế Nhưng đồng thời,

sự phát triển này đi đôi với sự suy giảm của môi trường hiện có và sự xuất hiện của các xung đột môi trường mới Kết quả của nghiên cứu cho thấy mỗi năm có một mối liên kết rõ ràng hơn giữa sự phát triển kinh tế (tăng trưởng sản phẩm quốc nội, sự xuất hiện của các công nghệ mới, v.v.) và tác động của nó đối với môi trường (biến đổi khí hậu, v.v.) Đó là lý do vì sao có sự liên quan của sự phát triển bền vững quốc gia và hướng

"xanh" của sự phát triển Nhóm tác giả lập luận cho khái niệm tăng trưởng xanh trong phạm vi của phát triển bền vững thông qua các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường

Trang 15

trong bối cảnh của các thay đổi hội nhập châu Âu Kết quả là đã xác định các đặc điểm của các yếu tố kinh tế, xã hội và sinh thái của phát triển bền vững trong bối cảnh của việc kích hoạt quá trình hội nhập châu Âu Phương pháp khoa học trong việc phát triển

"nền kinh tế xanh" thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ của "tăng trưởng xanh", dựa trên nguyên tắc và phương pháp ổn định hóa phát triển kinh tế-xã hội và sinh thái trong điều kiện các mối đe dọa và thách thức hiện đại, đã được lập luận Nhóm tác giả đã chứng minh rằng việc thực hiện khái niệm "tăng trưởng xanh" tạo ra tiền đề cho sự phát triển bền vững ở cấp quốc gia, quốc gia và doanh nghiệp và dựa trên: tăng cường hiệu quả năng lượng, giảm tiêu thụ năng lượng và khí thải chất độc hại vào môi trường, triển khai các công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, củng cố hạ tầng sinh thái và tạo

ra việc làm mới trong lĩnh vực "tăng trưởng xanh" và đầu tư vào việc làm phục hồi hệ sinh thái

D Prokopowicz (2020) đã đề xuất mô hình kinh tế cổ điển hiện tại nên được biến đổi thành một mô hình kinh tế xanh bền vững trong những năm tới bằng cách thực hiện các nguyên tắc phát triển bền vững và đầu tư vào các sáng kiến sinh thái từ các nguồn tài chính xanh Đây là một chủ đề rất quan trọng Các cải cách pro-môi trường là cần thiết để giảm thiểu các tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường và quá trình làm nóng toàn cầu đang tăng tốc

Nghiên cứu của Q Weng và các cộng sự (2018) bàn về sự cần thiết và cơ hội đối với phát triển xanh ở Trung Quốc Có một số vấn đề đi kèm trong quá trình phát triển xanh ở Trung Quốc như: nghĩa của phát triển xanh không rõ ràng; công chúng và chính quyền địa phương thường hiểu lầm về mô hình phát triển xanh, sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế của họ; việc nghiên cứu về phát triển xanh vẫn còn ở giai đoạn lý thuyết, và thiếu các biện pháp cụ thể; các luật pháp liên quan đến phát triển xanh, hệ thống bảo đảm, Do đó, nhóm tác giả đã trình bày một số kinh nghiệm về chính sách và công nghệ phát triển xanh của nước ngoài, kết hợp với nghĩa của phát triển xanh và định nghĩa, và cuối cùng đưa ra một số đề xuất, như thiết lập hệ thống đổi mới và chính sách bảo đảm phát triển xanh, tạo ra bầu không khí phát triển văn hóa xanh, và cải thiện công nghệ xanh

“Is Economic Growth Sustainable?” (Edesess 2011) đã nghiên cứu sự phân chia

cơ bản tồn tại giữa các nhà kinh tế chính thống và hầu hết các nhà môi trường về việc liệu tăng trưởng kinh tế có thể tiếp tục mãi mãi Bài báo của tác giả chứng minh rằng có thể vì ba lý do: thứ nhất, tiến bộ công nghệ có thể cho phép tăng trưởng tiếp tục vô thời hạn, tiếp theo thước đo tiêu chuẩn về quy mô của nền kinh tế - GDP - được định nghĩa trong một cách mà nó cho phép tăng trưởng kinh tế tiếp tục mãi mãi, và kéo dài tăng

Trang 16

trưởng kinh tế có thể được hiểu tương tự như tăng trưởng bền vững các quá trình tiến hóa của các hệ sinh thái tự nhiên

Kasztelan (2017) chỉ ra rằng tầm quan trọng của tăng trưởng xanh là sự tập trung lại của các nỗ lực toàn cầu để chuyển đổi mô hình kinh tế hiện tại không bền vững theo hướng phù hợp với mục tiêu cấp bách của phát triển bền vững Quan trọng hơn, các nỗ lực của các tổ chức quốc tế, các nhóm lợi ích, các nhóm chuyên gia và các nhà khoa học (cả người ủng hộ và những người phê phán) đã dẫn đến việc phát triển các nguyên tắc hoạt động tăng trưởng xanh cho các chính sách quốc gia Khái niệm "xanh" đã làm sống lại cuộc tranh luận toàn cầu về một định nghĩa mới của mô hình kinh tế của chúng ta để đạt được mục tiêu cấp bách đã được đồng thuận, đó là phát triển bền vững

Cevik và cộng sự (2023) đã xem xét tác động của cải cách cơ cấu trong lĩnh vực năng lượng (điện và khí đốt) đến kết quả môi trường và các chỉ số tăng trưởng xanh trong một nhóm gồm 25 nền kinh tế tiên tiến trong giai đoạn 1970–2020 Kết quả cho thấy: mặc dù các cải cách cơ cấu cho đến nay vẫn thất bại trong việc giảm phát thải khí nhà kính bình quân đầu người, nhưng có một số bằng chứng cho thấy việc giảm phát thải trên một đơn vị GDP có hiệu quả cao hơn; những tác động phi tuyến tính với những cải cách năng lượng thân thiện với thị trường dẫn đến kết quả môi trường tốt hơn và tăng trưởng xanh phát triển hơn ở những quốc gia có quy định môi trường chặt chẽ Do

đó, trong tương lai, các cải cách cơ cấu cần được thiết kế không chỉ vì hiệu quả thị trường mà còn vì tăng trưởng xanh Đồng thời, nhóm tác giả cố gắng thu hẹp một lỗ hổng quan trọng trong nghiên cứu bằng cách xem xét các cải cách cơ cấu trong lĩnh vực năng lượng (điện và khí đốt) có thể góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu như thế nào, giúp chống lại các mối đe dọa liên quan đến biến đổi khí hậu và từ đó thúc đẩy tăng trưởng xanh- nhân tố giúp nền kinh tế phát triển bền vững

Nghiên cứu của Yikun và cộng sự (2023) sử dụng mô hình Cross-sectional Autoregressive Distributed Lag - CS-ARDL để xem xét mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa đổi mới công nghệ xanh, tăng trưởng xanh, hiệu quả chính phủ tác động đến các mục tiêu phát triển bền vững Dữ liệu hàng năm từ năm 2000 đến 2019 cho các nước G7, bao gồm các chỉ số về đổi mới công nghệ xanh, tăng trưởng xanh, hiệu quả chính phủ, và các chỉ số phát triển kinh tế và xã hội khác đã được sử dụng Kết quả cho thấy hiệu quả của công nghệ xanh và tăng trưởng xanh đều có ảnh hưởng tích cực đến việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến môi trường và xã hội; cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa tăng trưởng kinh tế với các mục tiêu phát triển xã hội như tạo việc làm, nhấn mạnh vai trò của tăng trưởng xanh trong việc thúc đẩy một nền kinh tế bao trùm và bền vững

Trang 17

Houssam và các cộng sự (2023) đã tập trung vào mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững bằng cách nghiên cứu các khía cạnh gồm: xã hội, việc làm

và GDP Nhóm tác giả cho rằng tác động của việc chuyển đổi hướng tới tăng trưởng xanh đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi Đầu tiên, không thể tránh khỏi việc đánh đổi giữa kinh tế bền vững và mục tiêu kinh tế" Thứ hai, sự chuyển đổi sang tăng trưởng xanh là đắt đỏ cho các nước đang phát triển Thứ ba, nó cũng có thể đe dọa sự tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển vì các nước phát triển có thể “lợi dụng” tăng trưởng xanh để chi phối của các nước đang phát triển Tuy nhiên, theo báo cáo của UNEP (2011), dự báo của mô hình kinh tế tổng thể đã chỉ ra rằng việc chuyển đổi nền kinh tế tăng trưởng xanh sau vài năm sẽ tạo ra nhiều sự tăng trưởng hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn và giảm nghèo Trong hệ thống tăng trưởng xanh, sự tăng trưởng về thu nhập đầu người và mức độ việc làm phải được quyết định bằng các khoản đầu tư xanh mới của tư nhân và công cộng ít phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên tự nhiên và tài sản môi trường, cũng giảm lượng khí thải carbon, khuyến khích việc sử dụng năng lượng hiệu quả và giảm thiểu sự suy giảm môi trường Do đó, các quốc gia có thể đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững hơn Chính vì thế, nhiều quốc gia đang phát triển đã đặt mục tiêu tăng trưởng xanh là một mô hình tăng trưởng kinh tế mới để đạt được phát triển bền vững, vì nó đóng góp vào việc cải thiện và phát triển nhiều ngành, bao gồm năng lượng tái tạo (N Houssam và các cộng sự (2023))

Tuy nhiên, Resnick và các cộng sự (2012) cho rằng rằng thay vì đôi bên cùng có lợi, tăng trưởng xanh giống với hầu hết các loại hình cải cách chính sách ủng hộ việc chấp nhận chi phí điều chỉnh ngắn hạn với kỳ vọng đạt được lợi ích lâu dài Đặc biệt, các chính sách tăng trưởng xanh thường khuyến khích các nước đang phát triển thiết kế lại chiến lược quốc gia của mình theo những cách có thể không phù hợp với lợi thế so sánh tự nhiên và các khoản đầu tư trước đây Đổi lại, thường có những liên minh chống cải cách lớn mà lợi ích của họ có thể xung đột với chương trình nghị sự Tăng trưởng Xanh Nhóm tác giả lập luận quan điểm này bằng cách sử dụng các nghiên cứu trường hợp của Malawi, Mozambique và Nam Phi, những quốc gia lần lượt tham gia vào các chiến lược phát triển liên quan đến phân bón vô cơ, sản xuất nhiên liệu sinh học và năng lượng từ than Mỗi quốc gia này đang theo đuổi chiến lược dưới mức tối ưu về môi trường nhưng vẫn giải quyết được các nhu cầu phát triển quan trọng, bao gồm an ninh lương thực, nhiên liệu và điện Việc áp dụng cách tiếp cận tăng trưởng xanh sẽ không chỉ tốn kém về mặt kinh tế mà còn tạo ra sự phản kháng đáng kể trong nước, đặc biệt là

ở người nghèo

Trang 18

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Thọ (2013) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp liên quan đến hiệu quả sử dụng năng lượng, mức độ phát thải CO2, và các chỉ số kinh tế khác như GDP thu thập từ các nguồn chính thức quốc tế và trong nước tại Việt Nam, áp dụng phương pháp phân tích định lượng và định tính để đánh giá mối liên hệ giữa tăng trưởng xanh và các chỉ số phát triển bền vững Tác giả không chỉ phân tích các số liệu thống kê mà còn đánh giá các chính sách và cam kết của Việt Nam đối với tăng trưởng xanh Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững Tăng trưởng xanh không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường mà còn hỗ trợ cải thiện hiệu quả kinh tế thông qua việc tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng tăng trưởng xanh như một phần của chương trình tái cấu trúc kinh tế rộng lớn hơn tại Việt Nam, hướng tới một mô hình phát triển bền vững hơn, thân thiện hơn với môi trường

Trong nghiên cứu của Học và Thắng (2015) cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của xu hướng tăng trưởng xanh để ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng bền vững tại Việt Nam Trong nghiên cứu đưa ra 3 thành tựu chính và nổi bật của kinh tế xanh đối với sự phát triển bền vững như góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm nhẹ biến đổi khí hậu và duy trì, tăng cường vốn tự nhiên Tuy nhiên trong nghiên cứu này mới đưa ra được những dự đoán về những thành tựu mà một nền kinh tế xanh có thể đạt được trong tương lai mà chưa đưa ra được những nhân tố cụ thể nào trong mục tiêu tăng trưởng xanh có thể tác động đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta để từ đó đưa ra được những chính sách và giải pháp phù hợp cho nền kinh tế

Đức (2016) nêu bật 4 ưu điểm của việc xây dựng chỉ số tăng trưởng xanh, đặc biệt chú trọng đến hiệu quả giám sát tăng trưởng xanh và coi đó là tiền đề để thực hiện phát triển bền vững Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, bài nghiên cứu cho rằng, bộ chỉ số đánh giá tăng trưởng xanh không chỉ thay thế

mà còn cần được xây dựng phù hợp với bộ chỉ số phát triển xanh Từ góc độ này, bên cạnh việc phân tích thực trạng ở Việt Nam, bài nghiên cứu chỉ ra những tồn tại như bộ chỉ số tăng trưởng xanh của Việt Nam còn hạn chế, chưa chi tiết, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với nhu cầu của đất nước, dẫn đến hiệu quả hạn chế Từ đây, bài viết khuyến nghị cần nâng cao nhận thức, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, điều kiện hỗ trợ và lựa chọn phương pháp bổ sung bộ chỉ số tăng trưởng xanh và tăng cường sử dụng chúng trong đánh giá, giám sát tăng trưởng hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam

Tú (2020) đã đưa quan điểm về việc phát triển hệ thống tài chính xanh để thúc đẩy phát triển bền vững Tác giả đã sử dụng mô hình bảng cân đối liên ngành (I-O) để chỉ ra tác động của các ngành sản xuất xanh và tác động tích cực đến môi trường và tăng

Trang 19

trưởng GDP xanh Thông qua bảng cân đối liên ngành này, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra

cơ cấu kinh tế xanh và các kịch bản khác nhau để đạt được cơ cấu đó, đồng thời chỉ ra

cơ cấu chuyển dịch đầu tư xanh, trong đó có tài trợ của hệ thống ngân hàng cho cơ cấu kinh tế xanh Kết quả nghiên cứu cho phép kết luận các ngân hàng cấp tín dụng nên điều chỉnh các khoản đầu tư dựa trên nền kinh tế thực

Trong khi đó, Hải (2018) đã chỉ rõ bản chất, khái niệm và mối quan hệ tương quan giữa những lý luận về phát triển bền vững và kinh tế xanh Trong nghiên cứu ta có thể thấy rõ được mối quan hệ mật thiết giữa kinh tế xanh và phát triển bền vững, có kinh

tế xanh và ứng phó biến đổi khí hậu thì có phát triển bền vững và có tăng trưởng xanh

và có hệ sinh thái phát triển Từ đó chỉ ra rằng nền kinh tế xanh luôn đi đôi với phát triển bền vững và cũng là phương thức để thực hiện một nền kinh tế phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay Tác giả cũng cho rằng việc đo lường kinh tế xanh đã thay đổi để phản ánh tính chất xanh của nó Một số chỉ tiêu mới như GDP xanh, chỉ số bền vững môi trường, mức tiêu hao năng lượng để sản xuất một đơn vị GDP và mức phát thải khí nhà kính để sản xuất một đơn vị GDP đã được sử dụng để quản lý quá trình xanh hóa nền kinh tế Tuy nhiên trong nghiên cứu này mới chỉ làm rõ bản chất, khái niệm và sự liên hệ giữa kinh tế xanh và phát triển bền vững trên lý thuyết và chưa đưa ra được vậy một nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh, một nền kinh tế xanh sẽ có tác động như thế nào tới sự phát triển bền vững của một quốc gia

Bách và (2024) sử dụng dữ liệu từ năm 1996 đến năm 2020 và áp dụng phương pháp độ trễ phân tán tự hồi quy (ARDL) để phân tích Kết quả kết luận rằng năng lượng tái tạo là chìa khóa thúc đẩy giảm suy thoái môi trường, nhưng nó lại cản trở tăng trưởng kinh tế, trong khi sự tương phản lại xảy ra với công nghệ Nhìn chung, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở Việt Nam chưa thể hiện được định hướng bền vững Những phát hiện của nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm để làm rõ mối quan hệ giữa quá trình chuyển đổi và yếu tố thúc đẩy của tăng trưởng xanh với sự phát triển bền vững Ngoài ra, nghiên cứu này sẽ mang lại những ý nghĩa đáng giá cho các nhà hoạch định chính sách và các học giả về việc liệu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh

có đáp ứng được hay không định hướng bền vững, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế để đạt được tăng trưởng xanh, đi theo con đường phát triển bền vững

Theo Dương (2022), các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bắt đầu có sự dịch chuyển từ nâu sang xanh với sự xuất hiện của các dự án năng lượng sạch, các mô hình khu công nghiệp sinh thái… Dù vậy, Việt Nam còn phải nỗ lực rất nhiều để bảo đảm sẵn sàng phát huy hiệu quả của các dự án đầu tư, kể cả FDI, hướng tới kinh tế xanh, tăng trưởng xanh Đồng thời Nguyên (2023) cũng nhận định chiến lược thu hút FDI mới đang hướng đến việc đa dạng hóa và đa phương hóa nguồn vốn từ các thị trường và đối

Trang 20

tác tiềm năng Để thu hút những nhà đầu tư hàng đầu thế giới, cần khai thác mối quan

hệ hiệu quả với các đối tác chiến lược toàn diện và các tập đoàn xuyên quốc gia nắm giữ công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại Ngoài ra, cần chú trọng đến các nước phát triển hàng đầu thế giới Nhiều địa phương đã thực hiện chuyển đổi khu công nghiệp, khu chế xuất từ sử dụng công nghệ lạc hậu sang sử dụng công nghệ cao thân thiện môi trường và ít thâm dụng lao động Tuy nhiên, để đón những nhà đầu tư xanh, cần có chính sách phù hợp và tháo gỡ các nút thắt thể chế Điều này sẽ giúp chuẩn bị hệ sinh thái cho làn sóng FDI xanh, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững

Qua các nghiên cứu kể trên ta mới thấy được mối quan hệ mật thiết, bổ trợ cho nhau giữa hai khái niệm tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, nhưng chưa có nghiên cứu nào chỉ rõ ra được những yếu tố nào sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh và nó sẽ có tác động như thế nào đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế thông qua các chỉ số như GDP, lượng phát thải CO2 trong không khí

Trang 21

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN

CỨU 2.1 Dữ liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng loại dữ liệu thứ cấp, mẫu nghiên cứu bao gồm 19 quốc gia thuộc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương trong giai đoạn 2000 –

2021 bao gồm Úc, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Singapore, Thái Lan, Mỹ, Việt Nam, Brunei, Chile, Indonesia, Malaysia, Mexico, New Zealand, Papua New Guinea, Peru và Nga Các dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian 22 năm từ năm 2000 đến năm 2021 Tất cả các số liệu được sử dụng đều là dữ liệu thứ cấp

vì đều được lấy theo dữ liệu trên WorldBank, OECD Việc lựa chọn các quốc gia APEC

để nghiên cứu vì đây là nhóm bao gồm các quốc gia phát triển, đang phát triển, trong đó bao gồm cả Việt Nam, vì thế sẽ có ý nghĩa nghiên cứu nhất định khi đưa ra bài học cho Việt Nam có liên quan đến tăng trưởng xanh và phát triển bền vững Theo dữ liệu từ World Bank, nhóm các biến liên quan đến tăng trưởng xanh bao gồm 36 biến, nhóm nghiên cứu sử dụng kiểm định Cronbach’s Alpha để kiểm định độ tin cậy của thang đo, kết quả cho thấy những dữ liệu được chọn lọc bao gồm: năng suất CO2 dựa trên sản xuất, phát thải CO2 dựa trên sản xuất, năng suất CO2 dựa trên nhu cầu (GDP trên một đơn vị phát thải CO2 liên quan đến năng lượng), năng suất CO2 dựa trên nhu cầu (thu nhập khả dụng trên một đơn vị phát thải CO2 liên quan đến năng lượng), phát thải CO2 dựa trên nhu cầu, cường độ phát thải CO2, năng suất năng lượng (GDP trên một đơn vị TPES), tổng năng lượng cung cấp sơ cấp, năng suất vật liệu phi năng lượng, khoáng sản phi kim loại, chất thải đô thị được đốt, chất thải đô thị thải ra bãi chôn lấp Sau đó, nhóm tác giả sử dụng các phương pháp hồi quy OLS, FEM, REM; và các kiểm định White, Hausman nhằm tìm ra mô hình nghiên cứu phù hợp

2.2 Phương pháp và mô hình nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu:

Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp:

(1) Phương pháp kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha

Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha là phép kiểm định phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng một nhân tố Nó cho biết trong các biến quan sát của một nhân tố, biến nào đã đóng góp vào việc đo lường khái niệm nhân tố Kết quả Cronbach’s Alpha của nhân tố tốt thể hiện rằng các biến quan sát

đo lường nhân tố là hợp lý, thể hiện được đặc điểm của nhân tố mẹ Nếu một biến đo lường có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item – Total Correlation) lớn hơn hoặc bằng 0.3 thì biến đó đạt yêu cầu (Nunnally, J 1978)

Trang 22

(2) Phương pháp định lượng, sử dụng phương pháp hồi quy theo mô hình OLS, FEM và REM để lựa chọn mô hình thích hợp;

Phương pháp bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS): Phương pháp này còn được coi là phương pháp hồi quy thông thường khi không xét đến các yếu tố không gian và thời gian của dữ liệu bảng Đây là phương pháp ước lượng được rất nhiều tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu của mình bởi tính đơn giản của nó Trong trường hợp các giả thiết được thõa mãn, phương pháp OLS sẽ thu được các ước lượng tuyến tính không thiên chệch tốt nhất (BLUE – Best Linear Unibias Estimator) Nhược điểm của phương pháp OLS là thường cho ra độ chệch rất lớn trong trường hợp số liệu của mẫu nghiên cứu có các quan sát bất thường và đối với phương pháp OLS chỉ cho thấy một cái nhìn chung về hàm kỳ vọng trung bình của mẫu số liệu mà không thấy được một cái nhìn toàn diện, đặc biệt là trong những trường hợp số liệu của mẫu là bất đối xứng hay bị phương sai không thuần nhất thì phương pháp này càng trở nên thiếu sót Để khắc phục các nhược điểm của phương pháp OLS, mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên được sử dụng

Phương pháp hồi quy tác động cố định (Fixed Effects Model): Với giả định, mỗi đơn vị chéo đều có những đặc điểm riêng biệt và có thể ảnh hưởng đến các biến giải thích; FEM phân tích mối tương quan này giữa sai số của mỗi đơn vị với các biến giải thích qua đó kiểm soát và tách ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) ra khỏi các biến giải thích để có thể ước lượng những ảnh hưởng thực của biến giải thích lên biến phụ thuộc

Phương pháp hồi quy tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model): Điểm khác biệt giữa mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên và mô hình ảnh hưởng cố định được thể hiện

ở sự biến động giữa các đơn vị Nếu sự biến động giữa các đơn vị chéo có tương quan đến biến độc lập - biến giải thích trong mô hình ảnh hưởng cố định thì trong mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên sự biến động giữa các đơn vị được giả sử là ngẫu nhiên và không tương quan đến các biến giải thích Chính vì vậy, nếu sự khác biệt giữa các đơn vị có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc thì REM sẽ thích hợp hơn so với FEM Trong đó, sai số của mỗi thực thể (không tương quan với biến giải thích) được xem là một biến giải thích mới

Mô hình nghiên cứu:

Mô hình nghiên cứu đã được nhóm chọn lọc ra 12 biến tốt nhất từ 36 biến đo ảnh hưởng đến biến phụ thuộc bao gồm: Năng suất CO2 dựa trên sản xuất (CO1), phát thải CO2 dựa trên sản xuất (CO4), năng suất CO2 dựa trên nhu cầu, GDP trên một đơn vị phát thải CO2 liên quan đến năng lượng (CO5), năng suất CO2 dựa trên nhu cầu, thu nhập khả dụng trên một đơn vị phát thải CO2 liên quan đến năng lượng (CO6), phát thải

Trang 23

CO2 dựa trên nhu cầu (CO9), cường độ phát thải CO2 (CO10), năng suất năng lượng, GDP trên một đơn vị TPES (EN1), tổng năng lượng cung cấp sơ cấp (EN4), năng suất vật liệu phi năng lượng (NEMP1), khoáng sản phi kim loại (NEMP3), chất thải đô thị được đốt (NEMP6), chất thải đô thị thải ra bãi chôn lấp (NEMP8) Cụ thể như sau:

Mô hình nghiên cứu 1:

FDIi,t = β0 + β1 CO1 i,t + β2CO4i,t + β3CO5i,t + β4CO6i,t + β5CO9i,t + β6CO10i,t + β7EN1i,t + β8EN4i,t + β9NEMP1i,t + β10NEMP3i,t + β11NEMP6i,t + β12NEMP8i,t +

𝜑𝑖 + 𝜆𝑡 + εi,t (1)

Mô hình nghiên cứu 2:

GDPGi,t = β0 + β1CO1i,t + β2CO4i,t + β3CO5i,t + β4CO6i,t + β5CO9i,t + β6CO10i,t + β7EN1i,t + β8EN4i,t + β9NEMP1i,t + β10NEMP3i,t + β11NEMP6i,t + β12NEMP8i,t +

𝜑𝑖 + 𝜆𝑡 + εi,t

(2)

Mô hình nghiên cứu 3:

RECONi,t = β0 + β1CO1i,t + β2CO4i,t + β3CO5i,t + β4CO6i,t + β5CO9i,t + β6CO10i,t

+ β7EN1i,t + β8EN4i,t + β9NEMP1i,t + β10NEMP3i,t + β11NEMP6i,t + β12NEMP8i,t

Bảng 1: Các biến sử dụng trong nghiên cứu

Biến phụ thuộc

Đầu tư trực tiếp

Logarit tự nhiên của giá trị vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài hàng năm

Kapil (2012); Abdul và Ilan (2007); Sukar và các cộng sự (2006)

Trang 24

Tiêu thụ năng lượng

Tỷ lệ năng lượng tái tạo dựa trên mức tiêu thụ năng lượng cuối cùng

Apergis và Payne (2010); Mannel và các cộng sự (2019)

Tỉ lệ phần trăm tăng trưởng GDP hàng năm theo giá cố định 2015

Wei và các cộng sự (2020)

Biến độc lập

Năng suất CO2 dựa

GDP thực trên một đơn vị CO2 phát thải (USD/kg)

World Bank Data (2022)

Phát thải CO2 dựa

Logarit tự nhiên của khối lượng phát thải CO2 dựa trên sản xuất

World Bank Data (2022)

Năng suất CO2 dựa

trên nhu cầu, GDP

ra trên một đơn vị CO2 phát thải từ nhu cầu cuối cùng (USD/kg)

World Bank Data (2022)

Năng suất CO2 dựa

trên nhu cầu, thu

World Bank Data (2022)

Trang 25

Phát thải CO2 dựa

Logarit tự nhiên của phát thải CO2 dựa trên nhu cầu

World Bank Data (2022)

Cường độ phát thải

Logarit tự nhiên của lượng CO2 được tạo ra trên mỗi đô la GDP

World Bank Data (2022)

Năng suất năng

World Bank Data (2022)

Năng suất vật liệu

phi năng lượng NEMP1

Logarit tự nhiên GDP tạo ra trên một đơn vị vật liệu tiêu thụ (USD/kg)

World Bank Data (2022)

Khoáng sản phi kim

Logarit tự nhiên giá trị tiêu thụ vật liệu trong nước

World Bank Data (2022)

Chất thải đô thị

Tỷ lệ phần trăm chất thải được xử lý

World Bank Data (2022)

Chất thải đô thị thải

ra bãi chôn lấp NEMP8

Tỉ lệ phần trăm của chất thải được xử lý

World Bank Data (2022)

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 19 quốc gia thuộc diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương trong giai đoạn 2000 – 2021 bao gồm Úc, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Singapore, Thái Lan, Mỹ, Việt Nam, Brunei, Chile, Indonesia, Malaysia, Mexico, New Zealand, Papua New Guinea, Peru và Nga

Trang 26

Bài nghiên cứu gồm 15 biến bao gồm 3 biến phụ thuộc là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tiêu thụ năng lượng tái tạo (RECON), tăng trưởng GDP (GDPG) và 12 biến độc lập Sau khi nghiên cứu xong dữ liệu, nhóm sẽ lần lượt đưa ra kết quả của từng biến

2.3 Giả thuyết nghiên cứu

Vincent và các cộng sự (2021) đã sử dụng dữ liệu từ 123 quốc gia phát triển và đang phát triển nhằm xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng xanh ở các nước này, với yếu tố tăng trưởng được đo lường bằng mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển kinh tế bền vững có bị tác động mạnh bởi tăng trưởng xanh Trong khi đó, Abdul và Ilan (2007) cho rằng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một biến quan trọng để đo lường và đánh giá tăng trưởng kinh tế bền vững tại Indonesia; cùng quan điểm này, Sukar và các cộng sự (2006) khi nghiên cứu kinh tế tại quốc gia Châu Phi cũng cho rằng, vốn đầu tư nước ngoài cũng có thể coi là biến quan trọng để đo lường tốc độ tăng trưởng bền vững ở các quốc gia này Thêm vào đó, Kapil (2012) cho rằng, FDI đóng vai trò là chất xúc tác quan trọng để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn ở các nền kinh tế mới nổi, vì thế trong nghiên cứu của tác giả này đã đề xuất một số nguyên tắc đầu tư bền vững đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài để đạt được mục tiêu phát triển bền vững

Một biến số khác cũng được sử dụng để đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, đó là mức năng lượng tái tạo (Apergis và Payne, 2010) Nhóm tác giả cho rằng việc các quốc gia tăng cường đầu tư, sử dụng năng lượng tái tạo chính là biện pháp trực tiếp và gián tiếp tác động đến tăng trưởng bền vững tại các quốc gia này Mannel và các cộng sự (2019) nghiên cứu tác động của việc sử dụng năng lượng tái tạo đến tăng trưởng bền vững tại các quốc gia OECD trong giai đoạn 1990-2013 và đưa đến kết luận rằng, các công nghệ năng lượng tái tạo và việc sử dụng năng lượng tái tạo có tác động đáng

kể và cùng chiều đến mức tiết kiệm của các quốc gia này, đồng thời kết luận sử dụng năng lượng tái tạo có mối tương quan cùng chiều mạnh với tăng trưởng bền vững tại các quốc gia OECD Vì thế trong nghiên cứu này, nhằm có thêm biến phụ thuộc trong nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng biến mức tiêu thụ năng lượng tái tạo là biến đo lường sự tăng trưởng bền vững của các quốc gia APEC Ngoài ra, Wei và các cộng sự (2020) còn sử dụng GDP hàng năm như cách thức đo lường tăng trưởng kinh tế bền vững, cho rằng tỷ trọng sử dụng năng lượng không tái tạo trong GDP truyền thống giảm từ 11,91% xuống 5,31% phản ánh rõ rệt những tiến bộ trong việc thúc đẩy tiết kiệm năng lượng Bên cạnh

đó, trong báo cáo về đánh giá tăng trưởng bền vững của Liên hợp quốc (2009) đưa ra những tiêu chí về chỉ tiêu phát triển bền vững như phát thải khí nhà kính, trình độ học vấn, sự đa dạng về sinh học, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ tiêu thụ năng lượng tái tạo, v.v… Vì thế trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng các biến đại diện cho tăng

Trang 27

trưởng kinh tế bền vững, đó là (1) đầu tư trực tiếp nước ngoài; (2) tiêu thụ năng lượng tái tạo; (3) tốc độ tăng trưởng GDP

Trên cơ sở lý thuyết và số liệu nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:

H0: Tăng trưởng xanh có tác động đến tăng trưởng kinh tế bền vững tại các quốc gia APEC

Trang 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha

Phép kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng một nhân tố lớn Nó cho biết trong các biến quan sát của một nhân tố lớn đó thì biến nào đã đóng góp vào việc đo lường khái niệm nhân tố, biến nào không có sự đóng góp để loại bỏ Hệ số Cronbach Alpha được

sử dụng để loại bỏ biến rác (các biến có hệ số tương quan tổng nhỏ hơn 0,3) Theo Nunnally và Brunstein (1994), tiêu chuẩn để lựa chọn thang đo khi có độ tin cậy Cronbach Alpha >0,6 là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm thang đo lường

là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu, nhóm đã tìm ra 3 nhân tố đo lường khái niệm tăng trưởng xanh, đó là năng suất CO2, năng suất năng lượng và năng suất vật chất phi năng lượng Trong đó có tổng cộng 36 biến đo lường 3 nhân tố này Để có được mô hình ở chương 2, nhóm đã quyết định dùng phép kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha để loại bỏ các biến không đáng tin cậy Kết quả thu được 12 biến độc lập tốt bao gồm năng suất CO2 dựa trên sản xuất, phát thải CO2 dựa trên sản xuất, năng suất CO2 dựa trên nhu cầu (GDP trên một đơn vị phát thải CO2 liên quan đến năng lượng), năng suất CO2 dựa trên nhu cầu (thu nhập khả dụng trên một đơn vị phát thải CO2 liên quan đến năng lượng), phát thải CO2 dựa trên nhu cầu, cường độ phát thải CO2, năng suất năng lượng (GDP trên một đơn vị TPES), tổng năng lượng cung cấp sơ cấp, năng suất vật liệu phi năng lượng, khoáng sản phi kim loại, chất thải đô thị được đốt và chất thải đô thị thải ra bãi chôn lấp.

Bảng 2: Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo Năng suất CO2 (CO2

productivity)

Biến Obs Item-test

correlation

Item-rest correlation

Average interitem covariance Alpha

Trang 29

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Bằng kiểm định qua hệ số Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng cho thấy biến CO1, CO4, CO5, CO6, CO9 và CO10 có hệ số tương quan lớn hơn 0,3 nên được chấp nhận và sẽ được sử dụng trong phân tích nhân tố tiếp theo Các biến còn lại

có hệ số tương quan tổng nhỏ hơn 0,3 nên bị loại bỏ

Bảng 3: Hệ số Cronbach Alpha của thang đo Năng suất năng lượng (Energy

productivity)

Biến Obs Item-test

correlation

Item-rest correlation

Average interitem covariance Alpha

Trang 30

Test

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Kết quả kiểm định từ dữ liệu nghiên cứu cho thấy hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0.6 (0.660) và biến quan sát EN1 và EN4 có hệ số tương quan biến tổng tương ứng lớn hơn 0,3 (bảng 3) Điều đó cho thấy năng suất năng lượng được đo lường bằng hai nhân

tố là EN1 và EN4 là tin cậy và phù hợp Các biến quan sát còn lại bị loại bỏ do có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3

Bảng 4: Hệ số Cronbach Alpha của thang đo năng suất vật chất phi năng lượng

(Non-energy material productivity)

Biến Obs Item-test

correlation

Item-rest correlation

Average interitem covariance Alpha

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Kết quả kiểm định sự tin cậy bằng hệ số Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng cho thấy hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0.6 (0.6874) và hệ số tương quan biến

Trang 31

tổng của biến NEMP1, NEMP3, NEMP6 và NEMP8 lớn hơn 0.3 (bảng 4) nên được

chấp nhận và sẽ được sử dụng trong phân tích nhân tố tiếp theo

3.2 Kết quả mô hình hồi quy

3.2.1 Kiểm định tự tương quan (Correlation)

Để kiểm định mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình, nhóm nghiên cứu đã chọn cách đánh giá hiện tượng tự tương quan Correlation bằng phần mềm

Stata17 Bước đầu, nhóm nghiên cứu lựa chọn 15 biến gồm 3 biến phụ thuộc và 12 biến

tác động lên biến phụ thuộc sau đó dùng công cụ Data Analysis và chọn Correlation để

chạy mô hình kiểm định tự tương quan Mô hình này cho biết mối quan hệ giữa các biến

trong mô hình có chặt chẽ hay không Nếu sự tương quan giữa các biến là lớn thì khi

chạy mô hình sẽ làm kết quả ước lượng không hiệu quả, nhất là các sai số chuẩn ước

lượng của hệ số không còn là bé nhất Sự tương quan của các biến trong mô hình

Correlation phù hợp khi nhỏ hơn 0,80 (80%)

Qua bảng phân tích tương quan ở bảng 5 ta có thể thấy rằng nhìn chung tương quan giữa đa số các biến là khá thấp Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình đa

số đều có giá trị nhỏ hơn 80% nên mô hình có ý nghĩa thống kê

Bảng 5: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình

FDI RECON GDPG CO1 CO4 CO5 CO6 CO9 CO10 EN1 EN4 NEMP1 NEMP3 NEMP6 NEMP8 FDI 1

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả

Với mức ý nghĩa là 5% thì sig <0,05 tương ứng với các dấu (*) được đánh dấu trên hệ số tương quan r

Từ bảng 5 cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệ thuận chiều và có ý nghĩa thống kê với các biến tăng trưởng GDP (GDPG), CO1, CO5, CO6, EN1, NEMP1,

Ngày đăng: 12/03/2025, 02:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các biến sử dụng trong nghiên cứu - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 1 Các biến sử dụng trong nghiên cứu (Trang 23)
Bảng 2: Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo Năng suất CO2 (CO2 - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo Năng suất CO2 (CO2 (Trang 28)
Bảng 3: Hệ số Cronbach Alpha của thang đo Năng suất năng lượng (Energy - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3 Hệ số Cronbach Alpha của thang đo Năng suất năng lượng (Energy (Trang 29)
Bảng 4: Hệ số Cronbach Alpha của thang đo năng suất vật chất phi năng lượng - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 4 Hệ số Cronbach Alpha của thang đo năng suất vật chất phi năng lượng (Trang 30)
Bảng 5: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 5 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình (Trang 31)
Bảng 6: Kết quả chạy mô hình OLS đối với FDI - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 6 Kết quả chạy mô hình OLS đối với FDI (Trang 33)
Bảng 8: Kết quả hồi quy mô hình FEM đối với FDI - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 8 Kết quả hồi quy mô hình FEM đối với FDI (Trang 34)
Bảng 9: Kết quả mô hình REM đối với FDI - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 9 Kết quả mô hình REM đối với FDI (Trang 35)
Bảng 10: Kết quả kiểm định Hausman đối với FDI - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 10 Kết quả kiểm định Hausman đối với FDI (Trang 36)
Bảng 12: Kết quả kiểm định White đối với RECON    chi2(82)  = 83,00 - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 12 Kết quả kiểm định White đối với RECON chi2(82) = 83,00 (Trang 37)
Bảng 12 cho thấy Prob &gt; Chi2 = 0,4484 lớn hơn 0.05 nên chấp nhận giả thuyết  Ho: mô hình không xuất hiện hiện tượng phương sai thay đổi - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 12 cho thấy Prob &gt; Chi2 = 0,4484 lớn hơn 0.05 nên chấp nhận giả thuyết Ho: mô hình không xuất hiện hiện tượng phương sai thay đổi (Trang 38)
Bảng 14: Kết quả hồi quy mô hình REM đối với RECON - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 14 Kết quả hồi quy mô hình REM đối với RECON (Trang 39)
Bảng 15: Kết quả kiểm định Hausman đối RECON - Đề tài nghiên cứu khoa học: Tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế bền vững: Nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia thuộc Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 15 Kết quả kiểm định Hausman đối RECON (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm