Các nhà nghiên cứu thường đánh giá yếu tố môi trường thông qua việc đo lường phát thải khí nhà kính hay CO2 khí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong KNK và tăng trưởng kinh tế thì được thể hiện
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI THAM DỰ CUỘC THI “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG NĂM HỌC 2023-2024
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA KHÍ NHÀ KÍNH TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC NƯỚC CHÂU Á VÀ DỰ BÁO MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA KHÍ NHÀ KÍNH TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
LĨNH VỰC: KINH TẾ-MÔI TRƯỜNG
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2024
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 7
1.1 Phát thải khí nhà kính 7 1.1.1 Khái niệm 7 1.1.2 Tác động của phát thải khí nhà kính tới các vấn đề kinh tế - xã hội 8 1.1.3 Cách thức đo lường phát thải khí nhà kính 10 1.2 Tăng trưởng kinh tế 12 1.2.1 Khái niệm 12 1.2.2 Phân loại tăng trưởng kinh tế 12 1.2.3 Đo lường tăng trưởng kinh tế 14 1.3 Mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế 15 1.3.1 Lý thuyết mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế 15 1.3.2 Nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát thải KNK và tăng trưởng kinh tế 19 CHƯƠNG 2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Dữ liệu nghiên cứu 22 2.3 Phương pháp nghiên cứu 25 2.3.1 Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa phát thải KNK và tăng trưởng kinh tế GDP các nước châu Á 25 2.3.2 Mô hình ‘tách rời kim cương’ (The Decouling Diamond) 27 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC MÔ HÌNH GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ KHÍ NHÀ KÍNH DỰ BÁO TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP BÌNH QUÂN TỪNG THỜI KỲ CHO VIỆT NAM 31
3.1 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế 31
3.1.3 Hồi quy theo mô hình OLS, REM và lựa chọn mô hình phù hợp 33
3.1.4 Hồi quy theo mô hình REM, FEM và lựa chọn mô hình phù hợp 34
3.1.5 Kiểm định phương sai sai số thay đổi và tự tương quan của mô hình FEM 34
Trang 33.1.6 Kết quả ước lượng các nhân tố theo GDP 35
3.1.7 Phân tích các kết quả đạt được từ mô hình hồi quy phù hợp 36
3.1.8 Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng tới GDP tại Châu Á giai đoạn 1990-2022 38
3.2.1 Mô hình tách rời kim cương của các nước Đông Nam Á 39
3.2.2 Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm theo thời kỳ 2021-2025 và 2026-2030 45 3.2.2.1 Thực trạng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2014-2021 45
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1.2.2 1 Bản đồ các quốc gia theo bình quân đầu người năm 2021 theo IMF 17
DANH MỤC BẢNG
Trang 5Bảng 3.1.4 1 Kiểm định Hausman 37
Bảng 3.1.8 1 Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng tới GDP tại châu Á 1990-2022 41
Bảng 3.2.1 2 Tốc độ tăng trưởng GDP và phát thải KNK bình quân năm theo 6 thời kỳ từ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 3.2.1 1 Biểu diễn tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm và tốc độ gia tăng phát thải bình quân năm theo 6 thời kỳ từ năm 1991-2020 các quốc gia Đông Nam Á 47
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BAU: Kịch Bản Phát Triển Thông Thường
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCC: Hội đồng Hợp tác Vùng vịnh
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
IMF: Qũy Tiền tệ Quốc tế
IPCC: Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
KNK: Khí Nhà Kính
NDC: Đóng góp quốc gia tự quyết định
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
UNCED: Hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường và phát triển UNDP: Chương trinh Phát triển của Liên hợp quốc
UNFCCC: Công ước khung của Liên hợp quốc tế về biến đổi khí hậu World Bank: Ngân hàng Thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Từ xa xưa, con người đã biết tận dụng tài nguyên thiên nhiên xung quanh để phục vụ cuộc sống của mình Rồi từ khai thác đến tàn phá, thiên nhiên dần bị đào rỗng và môi trường trở nên kiệt quệ, song mặt khác là đời sống sinh hoạt đầy đủ của con người lại được đảm bảo Và với sự phát triển kinh tế nhanh chóng, các quốc gia cũng lo ngại về mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng của việc tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm môi trường, sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu toàn cầu do lượng khí thải carbon tăng lên đã thu hút sự chú ý rộng rãi của công chúng (Qing Guo, Wenlan You, 2023) Chính vì vậy mà ô nhiễm môi trường được xem là vấn đề cấp thiết toàn cầu, nó đã gây ra những thiệt hại đáng kể cho môi trường sống của các sinh vật cũng như con người trên Trái Đất
Các nhà nghiên cứu thường đánh giá yếu tố môi trường thông qua việc đo lường phát thải khí nhà kính hay CO2 (khí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong KNK) và tăng trưởng kinh tế thì được thể hiện qua chỉ số GDP Đối với kinh tế học, mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế trong quá khứ và hiện tại vẫn luôn được xem xét để đưa ra kiến nghị kiểm soát phát thải KNK và đảm bảo bền vững phát triển kinh tế Nghiên cứu của Wen-Cheng Lu (2017) về mối quan hệ giữa phát thải KNK, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế của 16 quốc gia Châu Á giai đoạn 1990-2012 đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả hai chiều: tiêu thụ năng lượng và phát thải KNK, GDP và phát thải KNK, GDP và tiêu thụ năng lượng Theo nghiên cứu của Feriansyah và cộng sự về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 (2022), các quốc gia Đông Nam Á có GDP tăng 1% thì phát thải CO2 tăng 0,617% cho thấy sự tác động của khí thải CO2 đến tăng trưởng kinh tế tương đối lớn, trong khi đó, ở các nước phát triển lại xuất hiện xu hướng giảm tác động của CO2
với chỉ số đàn hồi trung bình Bên cạnh đó, nghiên cứu tại các nước châu Âu của Our World
in Data chỉ ra quốc gia có GDP bình quân đầu người cao đang có sự tách rời tích cực giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 Các nước phát triển cao ở EU như Bỉ, Đan Mạch, Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển và Anh ở vị trí phần thứ hai với đường cong dốc xuống của đường cong môi trường Kuznets: KNK giảm khi GDP bình quân đầu người tăng (Giedre LAPINSKIENE, Manuela TVARONAVICIENE, Pranas VAITKUS, 2014) Và với sự lo ngại của World Bank (1992) và một số nhà nghiên cứu như Arrow và cộng sự (1995) và Ayres (1995) về việc duy trì đà tăng trưởng kinh tế trong một thế giới hữu hạn là không thể, và việc khai thác tài nguyên vật chất để tạo ra tăng trưởng không thể duy trì mãi thì
Trang 8việc tách rời hai nhân tố tăng trưởng kinh tế và phát thải khí nhà kính là cần thiết để hướng tới sự bền vững
Các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường và biến đổi khí hậu đang xảy ra tại Việt Nam chủ yếu là do các hoạt động phát triển kinh tế và xã hội của đất nước được thúc đẩy với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Theo Tạp chí Năng lượng Việt Nam do Nam (2022) trình bày về tình hình phát thải khí CO2 từ việc sử dụng năng lượng trên phạm vi toàn cầu, châu lục, khu vực và các quốc gia vào năm 2011 vào giai đoạn 2020 – 2022, tổng phát thải khí CO2 năm 2021 của Việt Nam
từ tất cả các nguồn (gồm từ ngành năng lượng và phát thải CO2 từ các quá trình công nghiệp) là 339,8 triệu tấn (chiếm 0,9% của thế giới) và bình quân đầu người là 3,447 tấn/người, cao hơn 24,61% so với riêng tổng phát thải khí CO2 từ sử dụng năng lượng Theo dữ liệu được lấy từ Ngân hàng thế giới (World Bank), tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thường được đo bằng sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP - theo phương pháp ngang giá sức mua chuyển đổi sang biểu thị bằng USD) và ngang giá sức mua (PPP -
tỷ giá thường được chuyển đổi sang USD) tính theo đô la liên tục tăng lên kể từ năm 1990 đến năm 2022 khoảng trên 1,242 nghìn tỷ Bên cạnh đó, sự phát thải CO2 - nguyên nhân chính gây nên hiệu ứng nhà kính cũng tăng dần trong cùng kỳ 33 năm với con số đáng kinh ngạc là gấp 14,5 lần so với thời điểm năm 1990, được nhóm nghiên cứu thu thập thông tin
từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Từ thực tế trên cho thấy rằng, việc phát triển kinh tế luôn đi đôi với ô nhiễm môi trường, cụ thể là khi nền kinh tế chuyển mình sang một bước tiến nhảy vọt, các nhà máy và phương tiện lưu thông sẽ xuất hiện ngày càng nhiều, cùng với đó là khí thải và bụi mịn được sinh ra Điều này minh chứng cho việc phát triển kinh tế sẽ luôn tác động đến môi trường dù nhiều hay ít
Thực tiễn, cũng như những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nguyên nhân gia tăng lượng phát thải khí nhà kính chủ yếu bắt nguồn từ hoạt động của con người và trực tiếp tác động đến sự thay đổi của GDP, hay có thể hiểu là chúng có sự tương quan qua lại với nhau Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Hà (2020), tác giả sử dụng phương pháp đồng liên kết ARDL bất đối xứng và đã chứng minh rằng Việt Nam trong giai đoạn năm 1971 đến năm
2017 tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và lượng khí thải CO2 Vậy liệu mối quan hệ này còn đúng trong thời điểm hiện tại không? Hay tác giả Vân Thị Vẩm Nguyệt và cộng sự (2021) cũng đã nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam trong giai đoạn
20 năm kể từ 1990 đến 2019 về các hoạt động tiêu thụ năng lượng, lượng phát thải CO2 đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Và kết quả cho thấy lượng khí thải CO2 trong thời gian dài đã làm giảm GDP của quốc gia Các bài nghiên cứu đã làm rõ được sự
Trang 9tương quan của hai nhân tố trên nhưng chưa chỉ ra được mức độ tác động của chúng và bài nghiên cứu này sẽ khắc phục được nhược điểm đó
Bài nghiên cứu dưới đây, một là, nghiên cứu mối quan hệ phát thải KNK và tăng trưởng kinh tế trên quy mô mẫu lớn (châu Á) giúp tìm ra mối quan hệ và đưa ra cái nhìn kịp thời giữa hai nhân tố này Hai là, áp dụng phương pháp tách rời kim cương để dự báo kịch bản tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam trên cơ sở mẫu là các quốc gia Đông Nam Á do sự tương đồng với Việt Nam về GDP, tình trạng phát thải KNK Từ đó, hướng tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đồng thời cũng phải nâng cao tinh thần bảo vệ môi trường với mục tiêu giảm thiểu tác động tiêu cực của lượng phát thải khí nhà kính đến tăng trưởng GDP Với tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay, nếu không có các biện pháp cần thiết để tách rời việc tăng trưởng kinh tế “gắn liền” với ô nhiễm môi trường sẽ gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai dài Đề tài: “Nghiên cứu tác động của khí nhà kính tới tăng trưởng kinh tế tại các nước Châu Á và dự báo mức
độ tác động của khí nhà kính tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” dựa vào kết quả của
quá trình nghiên cứu sau đó nhóm tác giả sẽ đề xuất một số chính sách tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới
2 Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế
Đầu những năm 1990, mối quan hệ giữa suy thoái môi trường và tăng trưởng kinh tế được giải quyết rộng rãi với sự phát hành của các ấn phẩm nổi tiếng và đặc biệt là nghiên cứu về sự tác động giữa phát triển kinh tế và môi trường của Grossman và Krueger (1991) với sự công bố về khái niệm “đường cong môi trường” (EKC) Giả thuyết “đường cong Kuznets môi trường” (EKC) dựa trên nghiên cứu của Simon Kuznets về những thay đổi dài hạn trong phân phối thu nhập cá nhân, đặc biệt tìm ra mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập với tăng trưởng kinh tế (Kuznets, 1955) Từ mối quan hệ giữa thu nhập và chất lượng môi trường xây dựng được đường cong có hình dạng chữ U ngược với trục hoành biểu diễn cho GDP và chỉ số môi trường được thể hiện thông qua trục tung Theo giả thuyết EKC, việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế làm suy giảm chất lượng môi trường có sự tương quan cùng chiều tăng với thu nhập tức là nếu thu nhập tăng lên thì đồng nghĩa với chất lượng môi trường đang bị suy giảm, điều này thường xuất hiện ở giai đoạn phát triển đầu của các quốc gia Nhưng đến một ngưỡng nhất định, thu nhập đủ lớn, vấn đề môi trường được chú trọng, chất lượng môi trường cùng với đó được cải thiện theo sự phát triển của quốc gia Ngoài ra, từ hình dạng đường cong chữ U ngược, các nhà nghiên cứu đã
mở rộng ra dạng đường cong hình chữ N Nó bổ sung cho bước chuyển đổi thứ hai của nền
Trang 10kinh tế rằng nếu việc phát triển càng cao thì môi trường bị thiệt hại càng nghiêm trọng (Trần Hữu Tuyến, Phạm Đức Anh, 2021)
Dựa vào lý thuyết EKC, phương pháp phân tích tách rời được Tapio (2005) đề xuất khi phân tích mức độ tách rời giữa các yếu tố lưu lượng giao thông, GDP và lượng CO2 từ lĩnh vực giao thông vận tải tại 15 nước Liên minh châu Âu Sự tách rời đề cập đến vấn đề tác động của môi trường trong đó nguồn tài nguyên được sử dụng là thước đo tác động tới môi trường có mối quan hệ gì tới chỉ số kinh tế
Năm 2012, “tách rời kim cương” được Finel và Tapio sử dụng dựa trên khung nghiên cứu tách rời của Tapio (2005) và một phần từ công trình nghiên cứu của Vehmes và cộng
sự (2003) về phân tích sự hủy liên kết giữa các chỉ số tác động môi trường, dòng nguyên liệu và tăng trưởng kinh tế (Finel, Tapio, 2012) Cốt lõi của phương pháp này là tính toán được chỉ số đàn hồi dựa vào sự thay đổi của chỉ số suy giảm môi trường (ví dụ phát thải
CO2/KNK) và tăng trưởng kinh tế (GDP) Tapio và Finel (2012) mở rộng số lượng quốc gia và thời gian đến 2005 so với bài nghiên cứu cũ của Tapio (2005) để tìm ra ví dụ minh chứng cho sự tách rời mạnh mẽ (điều mà bài nghiên cứu cũ chưa tìm được)
Kế thừa kết quả nghiên cứu về mô hình “tách rời kim cương”, Vavrek và Chovancova (2016) phân tích sự tách rời phát thải khí nhà kính và GDP của các nước V4 (có nhiều đặc điểm chung về kinh tế, chính trị) trong các giai đoạn kéo dài từ 1991-2012 và phát hiện phần lớn có sự tách rời mạnh Qing Guo, Wenlan You (2023) nhận thấy mối quan hệ giữa
cả ba nhân tố phát thải CO2, tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng ít khi được các nhà nghiên cứu phân tích để giải thích cho mức độ tách rời Trong nghiên cứu của họ về phân tích mức độ tách rời cả ba nhân tố trên trong lĩnh vực công nghiệp của tỉnh Quảng Đông đã đặt biến tiêu thụ năng lượng là biến trung gian và đưa chỉ số tách tổng thể thành chỉ số tách riêng tiết kiệm năng lượng và chỉ số tách riêng giảm phát thải, từ đó thấy rõ hơn nguyên nhân và cơ chế của sự thay đổi các chỉ số tách rời giữa tăng trưởng kinh tế và CO2 (Qing Guo, Wenlan You, 2023)
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là xác định mối quan hệ giữa KNK và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, trong đó, các nhiệm vụ cụ thể là:
● Xác định mối quan hệ giữa hai nhân tố KNK và tăng trưởng kinh tế
● Xác định mức độ tách rời giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Trang 11● So sánh mức độ tách rời giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực
● Dự báo kịch bản tương lai mức độ tách rời giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế Việt Nam nào có thể xảy ra
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa tăng tưởng kinh tế và phát thải KNK với quy
mô khu vực châu Á, mức độ tách rời giữa KNK và tăng trưởng kinh tế trên khu vực Đông Nam Á đặc biệt là Việt Nam, song dự báo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm thời kỳ Việt Nam trong tương lai
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Bài nghiên cứu này sử dụng các dữ liệu về lượng KNK cùng với tổng
sản phẩm quốc nội (GDP, PPP), năng lượng sử dụng, tổng hình thành vốn, đô thị hóa từ năm 1990 đến 2022 Đối với Việt Nam, thu thập thêm dữ liệu về phát thải KNK theo BAU (kịch bản phát triển thông thường) 2021-2030 để thực hiện tính toán dự đoán
Phạm vi không gian: Bài nghiên cứu này sẽ thu thập dữ liệu từ các quốc gia Châu Á để
kiểm định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải KNK trong giai đoạn
1990-2022 Đặc biệt đối với các nước Đông Nam Á, nghiên cứu tiến hành phân tích mức độ tách rời nhằm so sánh về dữ liệu tính toán, từ đó rút ra nhận xét và đánh giá cho Việt Nam Sự tương đồng trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á sẽ giúp nghiên cứu trở nên khách quan hơn
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định lượng
Để nghiên cứu sự tương quan giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế từ năm 1990-2022, một vài mô hình hồi quy được sử dụng để chọn ra mô hình phù hợp nhất theo hướng nghiên cứu giúp cho việc nghiên cứu trở nên khách quan và đạt hiệu quả cao hơn Các mô hình hồi quy được sử dụng:
* Mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Pooled OLS
* Mô hình tác động cố định FEM
* Mô hình tác động ngẫu nhiên REM
Nghiên cứu sử dụng các kiểm định
* Kiểm định VIF đa cộng tuyến
Trang 12* Kiểm định Hausman lựa chọn giữa mô hình FEM và REM
* Kiểm định tính dừng, tự tương quan, phương sai sai số thay đổi,…
Cụ thể quá trình thực hiện các phương pháp sẽ được trình bày chi tiết ở sau
Phương pháp định tính
Thông qua dữ liệu thu thập được, tác giả sử dụng thêm bảng biểu, biểu đồ để tổng hợp,
kế thừa, quan sát,… để phân tích, so sánh, đánh giá các giả thiết, kết quả của các bài nghiên cứu khoa học cùng lĩnh vực, bài báo trước Qua đó tạo cơ sở lý luận về đối tượng nghiên cứu và lựa chọn các biến phù hợp để thực hiện mô hình kiểm định mối quan hệ giữa phát thải KNK và tăng trưởng kinh tế thể hiện qua GDP Tiến hành tổng hợp, phân tích, giải thích kết quả đạt được từ mô hình Bài nghiên cứu còn có sự cập nhật tham khảo từ các tài liệu, bài báo, nghiên cứu để có nguồn dữ liệu đa dạng đảm bảo tính khách quan và chính xác
Ngoài ra, do phương pháp định lượng nghiên cứu mối quan hệ ở các quốc gia châu Á không nghiên cứu cụ thể cho Việt Nam vì không đủ quan sát nên tác giả bổ sung thêm phương pháp định tính dựa trên mô hình tách rời kim cương để phân tích dự báo cho Việt Nam trên cơ sở mẫu các nước Đông Nam Á
7 Đóng góp của nghiên cứu
Ý nghĩa lý thuyết: Nghiên cứu chứng minh mối quan hệ cùng chiều của phát thải KNK
tới tăng trưởng kinh tế, đồng thời hệ thống hóa lại phương pháp phân loại mức độ tách rời phát thải KNK và tăng trưởng kinh tế
Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu chỉ ra thực trạng mức độ tách rời phát thải KNK với GDP
tại Việt Nam và so sánh với các quốc giá khác cùng khu vực Đông Nam Á, bên cạnh đó còn đề cập đến các đặc điểm của sự tách rời trong khu vực Với việc xác định một kịch bản phù hợp và đi tìm ngưỡng tối thiểu cho tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm theo kỳ tương lai cụ thể, nghiên cứu dưới đây có thể giúp đưa ra các kiến nghị hợp lý với bối cảnh tách rời tăng trưởng kinh tế và phát thải KNK của Việt Nam hiện tại Nhờ vậy nỗ lực phát triển bền vững có thể được định hướng rõ ràng hơn khi không chỉ đơn thuần tăng trưởng kinh tế, giảm phát thải mà là tăng bao nhiêu là hợp lý, giảm như nào là phù hợp
Trang 13CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Phát thải khí nhà kính
1.1.1 Khái niệm
Có nhiều chỉ số để đo lường mức độ ô nhiễm môi trường, kết quả khảo sát thì phụ thuộc vào chỉ tiêu được chọn Phần lớn, các bài nghiên cứu đều sử dụng chỉ số môi trường đó là lượng khí thải CO2 và lượng khí thải nhà kính để tính toán chất lượng môi trường Và hầu như hai chỉ số này có thể thay thế được cho nhau khi đánh giá sự ô nhiễm
Theo bách khoa toàn thư Britannica định nghĩa, “Khí nhà kính là bất kỳ loại khí nào có đặc tính hấp thụ bức xạ hồng ngoại (năng lượng nhiệt ròng) phát ra từ bề mặt Trái đất và bức xạ lại bề mặt Trái đất, do đó góp phần vào hiệu ứng nhà kính.”
Theo EPA (2022) “Các loại khí giữ nhiệt trong khí quyển được gọi là khí nhà kính”, các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước, CO2, Metan (CH4), N2OO, các khí florua
Carbon dioxide (CO2) là loại khí nhà kính chiếm tỷ trọng lớn nhất Các nguồn CO2 tự nhiên trong khí quyển bao gồm khí thoát ra từ núi lửa, quá trình đốt cháy và phân hủy tự nhiên của chất hữu cơ và quá trình hô hấp của các sinh vật hiếu khí (sử dụng oxy) Nhưng nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng 50% kể từ khi Cách mạng Công nghiệp bắt đầu vào những năm 1800, do các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch và nạn phá rừng quy mô lớn Do hàm lượng dồi dào nên CO2 là tác nhân chính gây ra biến đổi khí hậu Metan (CH4) được sản xuất tự nhiên thông qua quá trình phân hủy CH4 mạnh hơn CO2
vì lực bức xạ được tạo ra trên mỗi phân tử lớn hơn Ngoài ra, cửa sổ hồng ngoại ít bão hòa hơn trong phạm vi bước sóng bức xạ được CH4 hấp thụ, do đó có thể có nhiều phân tử lấp đầy vùng này hơn
Hơi nước là loại khí nhà kính mạnh nhất trong bầu khí quyển Trái đất, nhưng hành vi của nó về cơ bản khác với các loại khí nhà kính khác Vai trò chính của hơi nước không phải là tác nhân trực tiếp gây ra lực bức xạ mà là phản hồi khí hậu - tức là một phản ứng trong hệ thống khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động liên tục của hệ thống Sự khác biệt này phát sinh do lượng hơi nước trong khí quyển nói chung không thể được điều chỉnh trực tiếp bởi hành vi của con người mà thay vào đó được thiết lập bởi nhiệt độ không khí Bề mặt càng ấm thì tốc độ bay hơi của nước trên bề mặt càng lớn Kết quả là, sự bốc hơi tăng lên dẫn đến nồng độ hơi nước cao hơn ở tầng khí quyển thấp hơn, có khả năng hấp thụ hồng ngoại và phát xạ trở lại bề mặt
Trang 14Các khí bổ sung được tạo ra bởi hoạt động công nghiệp có đặc tính nhà kính bao gồm Oxit nito (N2O) và khí florua (halocacbon), sau này bao gồm CFC, lưu huỳnh hexafluorua, hydrofluorocarbon (HFC) và perfluorocarbon (PFC) Các oxit nito có nồng độ nền nhỏ do các phản ứng sinh học tự nhiên trong đất và nước, trong khi các khí flo hóa tồn tại gần như hoàn toàn nhờ các nguồn công nghiệp
Tóm lại, phát thải khí nhà kính (KNK) là khí thải được thải ra từ các hoạt động của con người, đặc biệt là việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và một số quá trình tự nhiên, có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại Khí thải này được giải phóng vào bầu khí quyển của Trái Đất, giữ nhiệt không thể thoát ra ngoài không gian và gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính
1.1.2 Tác động của phát thải khí nhà kính tới các vấn đề kinh tế - xã hội
Khí nhà kính có tác động lớn đến các vấn đề kinh tế xã hội, trong đó tác động rõ nét nhất
là những ảnh hưởng từ hiện tượng hiệu ứng nhà kính Bản chất hiện tượng này là chuyển hóa năng lượng bức xạ Mặt Trời thành nhiệt, giúp sinh vật trên Trái Đất tồn tại Nhưng phát thải quá nhiều khiến tăng nhiệt độ tăng đột biến, dẫn đến biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến các lĩnh vực khác nhau
1.1.2.1 Tác động của phát thải khí nhà kính tới các vấn đề kinh tế
Theo số liệu từ Worldbank cập nhật năm 2024 cho thấy, các nguồn phát thải chính gây
ra khí nhà kính bao gồm việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và nguồn phát thải từ các ngành công nghiệp lớn trên thế giới như công nghiệp nặng, dệt may, nông nghiệp, và các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người Các lĩnh vực nêu trên đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia nói riêng và toàn thế giới nói chung do chiếm lĩnh phần lớn thị phần trong nền kinh tế Do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cần gia tăng sản xuất nhiều hơn, dẫn đến việc tạo ra khí nhà kính
Tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu do chịu ảnh hưởng từ phát thải KNK lên kinh tế
có thể được nhìn nhận qua các khía cạnh khác nhau, như việc thay đổi về các chính sách và quy định kinh tế Các hiện tượng khí hậu có thể dẫn đến những tổn thất không thể khắc
phục được về con người và vật chất, có thể gây ra bẫy nghèo - poverty traps (Abdulmalik
M Yusuf, 2020) Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng trực tiếp đến các rủi ro tài chính thông qua hai kênh chính là rủi ro vật chất và rủi ro chuyển tiếp (DMEF, 2020) Rủi ro vật chất là các thiệt hại liên quan đến tổn thất tài sản, cơ sở hạ tầng và đất đai … Trong khi đó, rủi ro chuyển tiếp là kết quả từ những thay đổi trong chính sách, công nghệ, tâm lý của người tiêu dùng và thị trường trong một nền kinh tế các bon thấp hơn Theo kết quả nghiên cứu của Vòng Mỹ Vân (2023) những rủi ro này ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của đối tượng đi
Trang 15vay như giảm thu nhập dòng tiền người đi vay, gây tổn thất về tài sản thế chấp của khách
hàng Những thay đổi trong chính sách của Chính phủ, các quy định mới, và các sự kiện
bất ngờ…gây ra các rủi ro không mong muốn đối với ngân hàng Trong nghiên cứu này,
tác giả tiến hành phân tích tác động và đánh giá thực trạng tác động của biến đổi khí hậu đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng Việt Nam Đồng thời tác giả trình bày kinh nghiệm của các tổ chức tài chính và ngân hàng quốc tế về các giải pháp quy trình, định hướng chính sách, và đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và năng lực quản trị của ngân hàng tại Việt Nam nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng trước tác động biến đổi khí hậu ngày một gia tăng Từ các chứng minh trên, các ảnh hưởng từ phát thải khí nhà kính lên kinh tế
là rõ ràng và đã được chứng minh
1.1.2.2 Tác động của phát thải khí nhà kính tới các vấn đề xã hội
Những ảnh hưởng bất lợi nhất được dự đoán là ở các nước đang phát triển do ảnh hưởng
về mặt địa lý và các yếu tố như khí hậu, thu nhập thấp và khả năng thích ứng kém (Nick Brooks, W Neil Adger , P Mick Kelly , 2005) Theo báo cáo của WenJun Zhang (2012)
có ý kiến cho rằng, mặc dù những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu do ảnh hưởng từ phát thải KNK lên kinh tế xã hội nhìn chung chưa được hiểu rõ ràng nhưng chắc chắn sẽ tác động đến con người thông qua nhiều khía cạnh khác nhau như qua con đường trực tiếp hoặc gián tiếp, một trong số đó là tác động lớn tới xã hội- vấn đề di cư và tái định cư hiện nay
Theo UNDP (2014), Việt Nam đặc biệt dễ bị tổn thương trước tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Nhiều người Việt Nam cả nam giới, phụ nữ và trẻ em đều bị tổn thương và bị tác động bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan như mưa bão, lũ lụt và các hậu quả của nó như sạt lở bờ sông và lở đất Mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu, di cư và tái định cư do động lực thúc đẩy từ khó khăn trong sinh kế và môi trường sống dẫn đến làn sóng di cư tại một
số vùng thuộc miền Trung Việt Nam Các hình thức phát triển không bền vững cộng với tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng là nguyên nhân làm suy thoái môi trường
và đây chính là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng di cư Từ vấn đề di cư này có thể kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như dịch chuyển lao động (H.N.Chuong, N.C.Hai, 2022), cơ hội việc làm (UNDP, 2014), áp lực về hạ tầng hay phát triển giáo dục,
Trong nghiên cứu của Keenan và cộng sự (2012) về việc thích ứng với nguy cơ lũ lụt dưới điều kiện biến đổi khí hậu tại Victoria, Úc, các phản ứng quan sát được đối với biến đổi khí hậu được tìm thấy trên nhiều hệ thống, khu vực trên thế giới Những thay đổi do hiện tượng nóng lên đã được ghi nhận chủ yếu ở các hệ thống sinh học trên cạn, hệ thống
Trang 16băng quyển và thủy văn Những thay đổi đáng kể liên quan đến sự nóng lên của trái đất cũng đã được nghiên cứu ở các vùng ven biển, hệ thống sinh học biển và nước ngọt, nông nghiệp và lâm nghiệp Những hộ gia đình dễ bị ảnh hưởng nhất từ sự nóng lên toàn cầu là những hộ có ít tài sản hay sinh kế gắn liền với thời tiết như những người làm trong nông nghiệp hoặc ngư nghiệp Những người sống phụ thuộc vào nông nghiệp (đặc biệt là nhờ nước mưa), chăn nuôi chăn nuôi gia súc, và những người sống ở các vùng nông thôn hoặc các vùng có thu nhập thấp khác đều có nguy cơ cao đối mặt với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Thiên tai do các hiện tượng khí hậu cực đoan liên tục xóa sạch những
thành quả phát triển, hủy hoại cuộc sống, đe dọa trực tiếp tới an ninh lương thực Nạn đói,
như Sen (1981) đã chỉ ra, là những thảm họa do con người gây ra do rủi ro về khí hậu và
sự thất bại của con người trong việc ứng phó với sự suy giảm sản xuất lương thực
Như vậy, có thể khẳng định rằng khí nhà kính và biến đổi khí hậu có tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của con người và các vấn đề kinh tế xã hội Những tác động này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sinh kế của chúng ta, mà còn tác động gián tiếp thông qua các hiện tượng khí hậu cực đoan, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và gây ra những khó khăn cho việc phát triển bền vững Đây là một thách thức lớn đòi hỏi sự quan tâm và hành động của toàn xã hội, từ các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học, đến từng công dân, để tìm ra các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ hiệu quả, nhằm bảo vệ hành tinh xanh của chúng
ta và tương lai của con người
1.1.3 Cách thức đo lường phát thải khí nhà kính
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) 2006 công bố hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính quốc gia, được biên soạn theo lời mời của Công ước khung của Liên hợp quốc
tế về biến đổi khí hậu (UNFCCC) - một hiệp ước quốc tế liên quan đến môi trường được đàm phán tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường và phát triển (UNCED) về việc cập nhật Hướng dẫn sửa đổi năm 1996 và Hướng dẫn thực hành tốt với mục đích cung cấp các phương pháp được quốc tế thống nhất Các nước sẽ ước tính lượng tồn kho khí nhà kính để
báo cáo cho UNFCCC Các tổ chức nghiên cứu trên thế giới như IMF có thể sử dụng các
dữ liệu công khai này để thực hiện tính toán lại lượng phát thải khí hàng năm dựa trên số liệu từ Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) nhằm mục đích giảm thiểu tối đa lượng khí thải nhà kính nhưng vẫn duy trì phát triển kinh tế
Cụ thể, cách thức đo lường cơ bản lượng phát thải khí nhà kính của quốc gia theo quy ước chung của IPCC:
Trang 17𝐿ượ𝑛𝑔 𝑝ℎá𝑡 𝑡ℎả𝑖 𝑘ℎí 𝑛ℎà 𝑘í𝑛ℎ = 𝐷ữ 𝑙𝑖ệ𝑢 ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 × 𝐻ệ 𝑠ố 𝑝ℎá𝑡 𝑡ℎả𝑖
Trong đó:
Dữ liệu hoạt động: Thước đo về mức độ diễn ra hoạt động của từng nguồn phát thải khí nhà kính trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ: kWh điện được sử dụng, số km đã
đi, lượng xăng đã sử dụng, )
Hệ số phát thải: Các hệ số định lượng lượng phát thải hoặc loại bỏ trên mỗi đơn vị hoạt động
(Các khí nhà kính phổ biến đều được quy đổi sang đơn vị CO2 để phù hợp cho việc tính toán)
Các nguyên tắc thu thập dữ liệu hoạt động theo tiêu chuẩn:
Đầu tiên, cần thiết lập các quy trình thu thập dữ liệu phù hợp để có thể sử dụng chúng vào việc kiểm kê
Thứ hai, ưu tiên việc cải thiện quá trình thu thập dữ liệu nhằm ước tính các danh mục chính - có tiềm năng thay đổi lớn nhất hoặc không có độ tin cậy nhất
Thứ ba, liên tục xem xét các lĩnh vực về hoạt động thu thập dữ liệu và phương pháp luận
để cải thiện công việc kiểm kê một cách hiệu quả nhất
Cuối cùng, muốn nhất quán về thông tin thì cần làm việc với các nhà cung cấp dữ liệu Việc thu thập dữ liệu là một phần không thể thiếu trong việc kiểm kê KNK, đó là việc thu thập dữ liệu hiện có, tạo ra nguồn dữ liệu mới và điều chỉnh chúng sao cho có thể sử dụng được trong tính toán Dữ liệu hoạt động có thể được thu thập từ nhiều kênh khác nhau như: Các cơ quan chính phủ và cơ quan thống kê, báo cáo kiểm kê KNK của quốc gia, các bài báo khoa học và viện nghiên cứu, các trường đại học, tạp chí về môi trường, hay các chuyên gia trong ngành và các bên liên quan
Để lấy được nguồn dữ liệu hoạt động tốt nhất, các đơn vị cần lưu ý những thông tin sau: Thứ nhất, cần định nghĩa và mô tả tập dữ liệu theo dạng chuỗi thời gian, phân tích rõ ràng từng ngành, các giả thiết và nêu rõ sự không chắc chắn về thông tin đang gặp phải Thứ hai, chú ý đến tần suất và khoảng thời gian thu thập dữ liệu hoạt động (hay xuất bản vào giai đoạn nào?)
Thứ ba, tên các tổ chức hay nhóm nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu
Các quốc gia đã báo cáo lượng khí thải nhà kính trong NDC theo chỉ dẫn và được IMF
sử dụng để tính toán và lưu giữ số liệu trên hệ thống Và bài nghiên cứu dưới đây đã thu
Trang 18thập dữ liệu KNK sẵn có của khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng từ IMF để thực hiện
1.2 Tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế theo từ điển Cambridge (2011) được định nghĩa là sự gia tăng trong nền kinh tế của một quốc gia hoặc khu vực, đặc biệt là giá trị hàng hóa và dịch vụ mà quốc gia hoặc khu vực đó sản xuất Investopedia đưa ra một khái niệm nhấn mạnh hơn đến thời gian là sự gia tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ kinh tế trong một thời kỳ so với thời kỳ trước Định nghĩa của Amadeo (2022) cũng gần tương tự là sự gia tăng hàng hóa và dịch
vụ trong một khoảng thời gian cụ thể Một định nghĩa khác đề cập tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là sự gia tăng lâu dài về khả năng cung cấp hàng hóa kinh tế ngày càng đa dạng cho người dân, khả năng này ngày càng tăng dựa vào khoa học công nghệ tiến bộ và những điều chỉnh về thể chế và hệ tư tưởng quốc gia đó yêu cầu (Kuznets, 1973)
Tăng trưởng kinh tế thường được đánh giá thông qua chỉ số GDP (Gross domestic product) hoặc GNI (Gross National Income) GDP là thước đo giá trị gia tăng được tạo ra thông qua sản xuất hàng hóa dịch vụ ở một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (OECD) Còn GNI được định nghĩa là tổng sản phẩm quốc nội, cộng với khoản thu nhập ròng nước ngoài từ tiền thù lao cho người lao động, thu nhập tài sản và thuế ròng trừ đi trợ cấp sản xuất (OECD)
1.2.2 Phân loại tăng trưởng kinh tế
Hiện nay, chưa có cách thức phân loại tăng trưởng quốc gia cụ thể Vì vậy, để phân loại tăng trưởng kinh tế, có thể tham khảo, hoặc dựa trên cách thức phân loại các quốc gia trên thế giới Theo “Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 06 (154) vào tháng 06/2028, bàn luận về đề tài “Ứng dụng phân loại các quốc gia vào nghiên cứu kinh tế”, tác giả (H.K.Lịch, 2018)có 3 cách phân loại quốc gia trên thế giới
Đầu tiên, phân loại quốc gia theo vị trí địa lý_đây là một cách phân chia đơn giản và dễ dàng áp dụng vào nghiên cứu Cách phân loại này cũng là một cách phân loại của Ngân hàng Thế giới (World Bank), và được sử dụng với mục đích quản lý World Bank chia các quốc gia thành từng khu vực như sau: Đông Á và Thái Bình Dương, Nam Á, Trung Á và Châu Âu, Mỹ Latinh và Caribe, Bắc Mĩ, Bắc Phi và Trung Đông, Châu Phi Hạ Sahara Cách phân chia này dựa trên nền tảng là những đặc điểm kinh tế tương đối giống nhau của các quốc gia trên từng khu vực địa lý Tuy nhiên, khi phân chia các quốc gia theo khu vực
Trang 19địa lý, có nhiều điểm chưa được xem xét đến như trình độ phát triển của kinh tế xã hội do quá trình phát triển lịch sử khác nhau giữa các quốc gia (H.K.Lịch, 2018)
Thứ hai, phân loại quốc gia dựa theo mức thu nhập Đây là một tiêu chí khác để phân loại các quốc gia là dựa theo mức thu nhập Chỉ số thường được sử dụng là chỉ số Thu nhập quốc dân (Gross national income – GNI) bình quân đầu người Chính chỉ số này được World Bank dùng để phân loại các quốc gia theo nhóm thu nhập vì là một chỉ số hữu ích
và dễ dàng có được liên quan với các yếu tố phi vật chất Cách phân loại này giúp đánh giá chính xác nguồn lực kinh tế của các quốc gia Tuy nhiên, với cách thức phân loại này vẫn
có hạn chế nhất định vì chỉ số GNI hay GNI bình quân đầu người là thước đo bao quát nhất các hoạt động kinh tế của một quốc gia nhưng chỉ số này có thể mất chính xác trong nền kinh tế có thu nhập thấp với những hoạt động kinh tế nhỏ, không chính thức Và chỉ số này cũng không phản ánh chênh lệch thu nhập hay xem xét đến những điều kiện xã hội ảnh hưởng đến trình độ phát triển (H.K.Lịch, 2018)
Thứ ba, phân loại dựa theo mức độ phát triển Bên cạnh hai cách trên, còn có thể phân loại các quốc gia dựa theo phát triển trình độ kinh tế xã hội Cách phân loại này mang tới góc nhìn đa chiều hơn Cụ thể hơn, có thể phân loại theo các khoản vay_ ví dụ cụ thể là World Bank_đây là tổ chức tài chính quốc tế cung cấp những khoản vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho những quốc gia đang phát triển trên thế giới Theo như World Bank, sự phân loại này giúp phân loại các quốc gia thành ba nhóm: IBRD, IDA, Blend Ngoài cách trên,
ta còn có thể phân loại theo chỉ số HDI (Human Development Index) Tuy nhiên, cách này
có hạn chế là chỉ dừng lại ở việc dùng những chỉ số kinh tế xã hội chứ chưa xét đến sự ảnh hưởng của chính trị xã hội để tính sự phát triển của con người Chỉ số này còn bỏ qua một
số yếu tố hiển nhiên như khó khăn tiếp cận sử dụng các yếu tố như quốc gia, thực phẩm hay bị ảnh hưởng bởi sự bất bình đẳng của một quốc gia, sự bất bình đẳng về giới tính, tôn giáo, thu nhập Cuối cùng, ta có thể phân loại theo mục đích, cụ thể với IMF các nước được phân loại theo nhiều tiêu chí như thu nhập, tiêu chí về đặc điểm kinh tế IMF đóng vai trò như một trung tâm thu thập và xử lý các dữ liệu tài chính của một quốc gia thành viên Ưu điểm của cách phần loại này là tương đối đảm bảo liên kết theo thời gian, tính cập nhật, mới của các nhóm và phương pháp có thể linh hoạt áp dụng với các dữ liệu và các nhóm
đã cho Các quốc gia sẽ được chia thành nhiều nhóm rõ ràng và minh bạch hơn hệ thống phân loại của các kinh tế tổ chức khác (H.K.Lịch, 2018)
Qua tìm hiểu trên cũng như phân tích ưu và nhược điểm của từng cách phân loại, nhóm nghiên cứu nhận thấy tăng trưởng kinh tế có thể phân loại dựa trên cách thức phân loại các
Trang 20quốc gia theo GDP vì tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính từ số liệu GDP do cơ quan thống
kê các nước ước tính Số liệu của GDP các quốc gia lấy dữ liệu của IMF Cụ thể, theo IMF chỉ số GDP bình quân đầu người của các quốc gia được thể hiện qua biểu đồ sau:
Hình 1.2.2 1 Bản đồ các quốc gia theo bình quân đầu người năm 2021 theo IMF
Chú thích biểu đồ:
Từ bản đồ phân loại trên và chú thích biểu đồ theo IMF, ta có thể nhận thấy GDP bình quân đầu người có thể chia thành 3 nhóm nước: GDP cao, GDP trung bình, GDP thấp theo các khoảng giá trị nhất định Qua đó, lấy căn cứ để chia các nhóm nước có mức tăng trưởng kinh tế phù hợp dựa theo các nhóm quốc gia đã được phân ở trên
1.2.3 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Trong các nghiên cứu về liên quan đến tăng trưởng kinh tế và môi trường, các nhà nghiên cứu thường sử dụng dữ liệu GDP, GNI của các quốc gia để đại diện cho nhân tố tăng trưởng kinh tế Shaojian Wang và cộng sự (2016), Md Mahmudul Alam và cộng sự (2016), Chaido DRITSAKI và Melina DRITSAKI (2014) khi phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng
Trang 21kinh tế, phát thải CO2 và một số nhân tố khác như thiêu thụ năng lượng, dân số hay Tapio (2005), Finel và Tapio (2012), Vavrek và Chovancova (2015), Qing Guo và Wenlan You (2023) nghiên cứu vấn đề tách rời tăng trưởng kinh tế và phát thải đều sử dụng GDP làm một trong những dữ liệu chính cho nghiên cứu của mình Hầu hết các bài nghiên cứu được
đề cập phía trên đều lấy dữ liệu GDP từ World Bank, công thức tính chung tính GDP của
tổ chức này cụ thể như sau:
𝐺𝐷𝑃 = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑔𝑖𝑎 𝑡ă𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑡ấ𝑡 𝑐ả 𝑐á𝑐 𝑛ℎà 𝑠ả𝑛 𝑥𝑢ấ𝑡 𝑡ℎườ𝑛𝑔 𝑡𝑟ú 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑛ề𝑛 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑡ế
+ 𝑇ℎ𝑢ế 𝑠ả𝑛 𝑝ℎẩ𝑚 − 𝑇𝑟ợ 𝑐ấ𝑝 𝑘ℎô𝑛𝑔 đượ𝑐 𝑡í𝑛ℎ 𝑣à𝑜 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ả𝑛 𝑝ℎẩ𝑚 Tuy nhiên tùy mục đích sử dụng mà các nhà nghiên cứu sẽ lấy loại dữ liệu về GDP khác nhau Ví dụ, Md Mahmudul Alam và cộng sự (2016) sử dụng GDP bình quân đầu người
từ World Development Indicators (WORLD BANK) – tính bằng tổng giá trị gia tăng của tất cả các nhà sản xuất thường trú trong nền kinh tế cộng với thuế sản phẩm (trừ trợ cấp) không được tính vào giá trị sản lượng, chia cho dân số giữa năm, Finel và Tapio (2012) sử dụng GDP thực đo lường bởi ngang giá sức mua và được biểu thị bằng đô la Mỹ năm 2000 – chỉ số này cung cấp cấp các giá trị về GDP được biểu thị bằng đô la quốc tế năm 2000, được quy đổi theo hệ số chuyển đổi ngang giá sức mua mang ý nghĩa là một công cụ giảm phát giá và chuyển đổi tiền tệ theo không gian giúp loại bỏ tác động của sự khác biệt về mức giá giữa các quốc gia
Với mô hình khác nhau các nhà nghiên cứu sẽ xử lý dữ liệu GDP thu thập được để đo lường tăng trưởng kinh tế riêng Tuy nhiên, với lý thuyết ‘tách rời kim cương’ mà nghiên cứu này áp dụng chỉ số được đề cập tới là phần trăm thay đổi GDP theo các giai đoạn để đo lường tăng trưởng kinh tế
%∆𝐺𝐷𝑃 = 𝐺𝐷𝑃𝑛− 𝐺𝐷𝑃0
𝐺𝐷𝑃0
1.3 Mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế
1.3.1 Lý thuyết mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế 1.3.1.1 Đường cong môi trường EKC dạng chữ U phần thứ nhất
Trang 22Hình 1.3.1.1 1 Đường cong EKC
Nguồn: Bùi Trinh và cộng sự (2020)
Theo sơ đồ trên, nhận thấy mối quan hệ giữa GDP và suy thoái môi trường Cụ thể, khi GDP bình quân đầu người tăng sẽ dẫn đến môi trường bị suy thoái Nhưng, khi cả GDP và suy thoái môi trường cùng tăng tới một ngưỡng nhất định, thì GDP bình quân đầu người lại làm giảm suy thoái môi trường Dựa vào lý thuyết này, có thể thấy trong giai đoạn đầu tăng trưởng kinh tế thì sự tăng ô nhiễm là không thể tránh khỏi
Lý thuyết đường cong Kuznets môi trường được phát hiện từ năm 1955 và sau đó được sửa đổi lại năm 1991 Nó được các nhà nghiên cứu dựa vào để thực hiện các kiểm chứng liên quan đến sự tác động giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường Cụ thể những bài nghiên cứu của các tác giả như Grossman và Krueger (1991), Selden và Song (1995), Rothman (1998) cho ra kết quả tương đồng và nêu ra nhận định ủng hộ mối quan hệ hình chữ U ngược giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái môi trường Đặc biệt, với bài nghiên cứu gần đây của Thanh và cộng sự (2019) đã sử dụng sử dụng phương pháp ước lượng PMG để kiểm tra mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế và ô nhiễm môi trường của 8 nước quốc gia ASEAN giai đoạn 1986–2014 Kết quả cho thấy nền kinh tế càng hội nhập thì càng gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường, đồng thời bằng chứng thống kê cũng khẳng định mạnh mẽ sự tồn tại của giả thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC)
1.3.1.2 Đường cong môi trường EKC dạng chữ U phần thứ hai
Trong lịch sử, lượng khí thải CO2 có mối tương quan chặt chẽ với số tiền chúng ta có Điều này đặc biệt đúng với những người sống tại các quốc gia khác nhau có thu nhập từ
Trang 23thấp đến trung bình Chúng ta càng giàu thì chúng ta càng thải ra nhiều CO2 Điều này đến
từ việc chúng ta tiêu thụ nhiều năng lượng hơn - thường đến từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch Tuy nhiên, ở các nước thu nhập cao, tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm thiểu suy thoái môi trường; ngược lại, thu nhập thấp áp lực giảm tới suy thoái môi trường sẽ thấp hơn (Qiang Wang, 2024)
Nhiều quốc gia phát triển hiện nay đã đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế đồng thời giảm lượng khí thải Nghiên cứu của Hongying Liu và cộng sự (2022) lấy dữ liệu từ cuộc khảo sát 21 quốc gia Châu Âu từ năm 2006 đến năm 2018 điều tra mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và lượng khí thái carbon dioxide Nghiên cứu sử dụng phương pháp Hoechle nhận thấy rằng thu nhập, việc sử dụng tài nguyên, công nghiệp hóa, đô thị hóa, đầu tư trực tiếp nước ngoài và hệ thống ngân hàng dường như đều góp phần làm tăng lượng khí thải carbon dioxide trong khu vực Tuy nhiên khả năng tiếp cận kinh tế phát triển hơn dường như đã dẫn đến việc giảm phát thải khí nhà kính
Có hai lí do chính dẫn tới mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng GDP không còn tồn tại mối tương quan Đầu tiên, một số quốc gia đã tìm cách tách rời, GDP tăng trong khi tổng năng lượng sử dụng không thay đổi, thậm chí giảm Thứ hai, các quốc gia đang dần thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng năng lượng ít carbon như sử dụng năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, thủy điện ) hay phát triển kinh tế xanh, công nghệ tiên tiến để sản xuất nhiều năng lượng hơn mà không tạo ra lượng khí thải đi kèm với nó Cùng với đó việc chi phí của các công nghệ carbon thấp tiếp tục giảm khiến cho việc tăng tốc tăng trưởng kinh tế trở nên thực tế hơn mỗi ngày
Sự tách rời ngày càng tăng khi tăng trưởng kinh tế ngày càng phát triển và đến một ngưỡng nhất định thì mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế sẽ hoàn toàn không ảnh hưởng lẫn nhau Sự tăng trưởng kinh tế không nhất thiết dẫn đến tăng phát thải khí nhà kính
1.3.1.3 Lý thuyết về tách rời phát thải KNK và tăng trưởng kinh tế
Năm 2005, Tapio đưa ra khái niệm “tách rời” trong nghiên cứu của ông dựa trên lý thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC) Tách rời là nói đến vấn đề tác động của môi trường trong đó nguồn tài nguyên được sử dụng là thước đo tác động tới môi trường có mối quan
hệ gì tới chỉ số kinh tế (George Nikiforos Botzoris, Athanasios T Galanis, Vassilios A Profillidis, Nikolaos E Eliou, 2015) Theo lý thuyết EKC và hướng tách rời của Tapio hướng tới một nền kinh tế phát triển bền vững nơi mà khi thu nhập bình quân đầu người tăng cao hơn, con người có thể đầu tư vào công nghệ sạch và hiệu quả, dẫn đến giảm phát thải khí nhà kính
Trang 24Do đó, việc nghiên cứu và hiểu rõ khái niệm “tách rời” đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải khí nhà kính Trong nghiên cứu của George Nikiforos Botzoris và cộng sự (2015) đề cập tới tách rời là nói đến khả năng của một nền kinh tế tăng trưởng mà những ảnh hưởng môi trường như tiêu thụ năng lượng và
ô nhiễm không khí không tăng tương ứng
Có 2 loại tách rời cơ bản: tách rời tuyệt đối và tách rời tương đối (J Ballingall, D Steel,
P Briggs, 2003) Tách rời tuyệt đối được hiểu là biến môi trường (ví dụ phát thải KNK) giảm và biến kinh tế (ví dụ GDP) tăng Việc cắt giảm tuyệt đối việc sử dụng tài nguyên là rất hiếm (De Bruyn, 2002; Steger và Bleischwitz, 2009) Điều này chỉ có thể xảy ra khi tốc
độ tăng trưởng của năng suất tài nguyên vượt quá tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Trong khi đó với tách rời tương đối cả hai biến không chỉ đều tăng mà tốc độ tăng trưởng của biến môi trường chậm hơn tốc độ tăng trưởng của biến kinh tế biến môi trường còn tăng chậm hơn biến kinh tế Sự khác biệt giữa 2 cách thức này là về sự đánh giá mức độ thay đổi Với cách thức tách rời tuyệt đối không đề cập đến mức độ tăng giảm chậm hay nhanh hơn biến còn lại, ngược lại với cách thức tách rời tương đối thì có
Trong nghiên cứu về môi trường, phương pháp tiếp cận tách rời này đã được áp dụng cho một số lĩnh vực, ví dụ như tách lượng khí thải carbon dioxide bình quân đầu người khỏi thu nhập bình quân đầu người ở các nước phát triển Galeotti, Marzio (2003) dựa vào lý thuyết của Levinson (2001) cho rằng “Tất cả những gì người ta cần làm là chỉ ra rằng có một số quốc gia và một số chất gây ô nhiễm mà chuỗi thời gian ô nhiễm được vẽ theo GDP bình quân đầu người cho thấy xu hướng giảm” Nghiên cứu sử dụng phương pháp đồng liên kết hệ số thay đổi theo thời gian để điều tra mối quan hệ giữa lượng khí thải CO2 -GDP của 12 quốc gia Tây Âu trong một khoảng thời gian dài từ năm 1861 đến năm 2015 Phát hiện chính là độ co giãn theo thu nhập của lượng khí thải CO2 là dương ở tất cả các khía cạnh của các nước được điều tra Ngoài ra, còn tìm thấy bằng chứng ủng hộ việc tách rời tương đối ở 8 trên 12 quốc gia Châu Âu Kết quả nghiên cứu mang lại những ý nghĩa thực tiễn hữu ích:
Thứ nhất, lượng khí thải tăng mạnh khi các khu vực trên thế giới “không được kiểm soát” và áp dụng những đổi mới kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất Thứ hai, tác động tích cực của thay đổi kỹ thuật “xanh” rõ ràng hơn ở chỗ những thay đổi về cường độ phát thải theo thời gian làm giảm độ dốc dương của mối quan hệ môi trường-thu nhập, nhưng không
đủ để biến nó thành tiêu cực Chỉ khi các quy định giới hạn phát thải cùng với cơ chế mua bán phát thải được đưa ra thì tăng trưởng kinh tế và khí phát thải độc hại mới có xu hướng tách rời
Trang 251.3.2 Nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát thải KNK và tăng trưởng kinh tế
1.3.2.1 Nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài
Vấn đề tương quan này đã được thực nghiệm tại quốc gia Pháp trong những năm 1955 – 2016 (Muhammad Shahbaz, 2018) Bài viết đề cập việc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đang có hướng chuyển mình tích cực thì lượng khí thải carbon của Pháp lúc này lại chịu tác động tiêu cực Thế nhưng, việc phát triển tài chính càng tăng đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế sẽ làm giảm đáng kể lượng khí này, từ đó cải thiện được chất lượng môi trường tại quốc gia Ngoài ra, theo Mohammad Salahuddin và Jeff Gow (2014) cho thấy mối quan hệ tích cực giữa tiêu thụ năng lượng và lượng khí thải CO2 cũng như giữa phát triển kinh tế và tiêu thụ năng lượng cả trong ngắn hạn và dài hạn trong giai đoạn 1980 –
2012 của các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC - Các nước có nền kinh
tế chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên tự nhiên, đặc biệt là dầu và khí đốt) Song, các tác giả lại không tìm thấy mối quan hệ đáng kể nào giữa tăng trưởng kinh tế đang phát triển mạnh
và vấn đề phát thải KNK, điều này càng biểu hiện rõ hơn về lý thuyết đường cong Kuznets
De Bruyn và cộng sự (1998) lập luận rằng mặc dù tăng trưởng kinh tế dẫn đến tăng lượng khí thải trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, lượng khí thải có thể giảm theo thời gian nếu
có sự thay đổi về công nghệ và cơ cấu đối với nền kinh tế Nghiên cứu sử dụng phân tích 'cường độ sử dụng' trong kinh tế tài nguyên, một mô hình tăng trưởng thay thế được xác định và ước tính cho ba loại phát thải (CO2, NO và SO2) ở bốn quốc gia (Hà Lan, Anh, Mỹ
và Nước Đức)
Các nghiên cứu của Giovanis (2013), Mohapatra và cộng sự (2016), Luzzati và cộng sự (2018) thấy rằng sự tách rời tương đối rõ ràng hơn ở các nước phát triển Bên cạnh đó, Mikayilov và cộng sự (2018) đã sử dụng dữ liệu bảng của các quốc gia Châu Âu và nhận thấy các quốc gia có bằng chứng về việc tách rời đã tuân theo các chính sách giảm thiểu carbon nghiêm ngặt
Ngoài ra, với bài nghiên cứu của đồng tác giả Nguyễn Thị Tâm Hiền và công sự (2017) cũng đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa môi trường và tăng trưởng kinh tế tại 17 quốc gia thuộc Châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn 2005 - 2011 Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa sử dụng năng lượng và sự suy giảm của môi trường Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ U ngược giữa môi trường và tăng trưởng kinh tế thuộc khu vực này, cùng lúc chỉ ra tác động thuận chiều của năng lượng đến lượng khí thải CO2 - thước đo chất lượng môi trường
Trang 26Theo như nhà nghiên cứu của Trần Lê Xuân An (2016) đã kiểm nghiệm mối quan hệ của hai nhân tố trên trong giai đoạn 1991-2014 cho 14 quốc gia thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương Tác giả đã sử dụng mô hình ước lượng DOLS và FMOLS để kiểm định mối tương quan giữa lượng phát thải khí CO2 và tăng trưởng kinh tế Kết quả đưa ra rằng trong thời gian ngắn thì mối quan hệ giữa các biến không tồn tại nhưng dài hạn thì chúng lại có sự tác động qua lại với nhau
Hơn thế nữa, Thái Lan - một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á với nền công nghiệp hóa đang phát triển trong giai đoạn năm 1971 đến năm 2016 cũng được nghiên cứu bởi tác giả Tomiwa Sunday Adebayo và cộng sự (2021) về vấn đề mối tương quan giữa hai yếu tố trên Nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ARDL để kiểm tra mối quan hệ giữa CO2
và tăng trưởng kinh tế (quá trình đô thị hóa), đồng thời dùng công cụ FMOLS, DOLS và CCR để kiểm định lại độ tin cậy Từ đây, tác giả đã đưa ra được một số kết luận rằng mối tương quan tích cực đã xảy ra giữa các nhân tố, thế nhưng nếu nền kinh tế càng phát triển thì lượng khí thải CO2 lại không còn đáng kể Điều này một lần nữa khẳng định lý thuyết hình chữ U ngược là hợp lí
1.3.2.2 Nghiên cứu thực nghiệm trong nước
Ở Việt Nam, theo bài nghiên cứu của Bùi Hoàng Ngọc và cộng sự (2022) đã tiến hành kiểm nghiệm mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và tình trạng môi trường, kết quả là đem lại sự tương quan hai chiều Cho thấy tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp đã dẫn đến
sự gia tăng phát thải khí CO2 nhưng trong dài hạn, chất lượng môi trường có sự thay đổi tích cực khi GDP được cải thiện
Ngoài ra, mối quan hệ giữa CO2 và tăng trưởng kinh tế cũng được tác giả Nguyễn Đăng Hiễn (2022) quan tâm Nhà nghiên cứu đã thực nghiệm hai nhân tố này ở Việt Nam trong giai đoạn 29 năm kể từ 1990 đến 2018 Bài nghiên cứu đã dùng mô hình VECM kết hợp với kiểm định nhân quả Granger và đưa ra được kết luận rằng vấn đề phát triển kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến tiêu thụ năng lượng trong ngắn hạn cũng như dài hạn, nhưng song
đó nó lại tác động tiêu cực đến lượng phát thải khí CO2
Bài nghiên cứu về sự tương quan của hai nhân tố trên ở nước ta trong giai đoạn 2011 -
2020 của Phạm Hồng Mạnh và cộng sự (2022) đã sử dụng phương pháp phân tích dựa trên
mô hình tự hồi quy vector (VAR) để chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế làm gia tăng cường độ phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và sự gia tăng này có tác động trở lại đến tăng trưởng (tác động dương) Tuy nhiên, nếu mức tăng trưởng tăng lên bình phương thì mối quan hệ nhân quả quả này sẽ mang chiều hướng tiêu cực Điều này thể hiện rõ nét về giả thuyết
Trang 27đường cong Kuznets, tình trạng suy thoái môi trường sẽ giảm trong trường hợp mức thu nhập vượt một ngưỡng nhất định
Trang 28CHƯƠNG 2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Dữ liệu nghiên cứu
Nhằm mục đích đánh giá tác động của phát thải khí nhà kính đến tăng trưởng kinh tế GDP, bài viết sử dụng dữ liệu mức độ sử dụng năng lượng (EC), đô thị hóa (URB) và tổng hình thành vốn (GCF) tại các quốc gia thuộc khu vực Châu Á trong khoảng thời gian từ 1990-2022 Trong khoảng thời gian này, một số dữ liệu là không được công bố đầy đủ sẽ được coi là dữ liệu thiếu Nguồn dữ liệu được thu thập từ World Bank, thuộc dữ liệu thứ cấp Sau đó được xử lý trên phần mềm Excel và thực hiện đánh giá tác động thông qua phần mềm Stata 17 với 43 quốc gia, trong khoảng 32 năm, số lượng quan sát có được là 1419 quan sát
Dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu mô hình tách rời kim cương bao gồm dữ liệu về GDP theo phương pháp ngang giá sức mua biểu thị bằng USD với giá đô la quốc tế hiện tại (GDPppp) từ World Bank, lượng phát thải KNK (triệu tấn CO2 tương đương) được IMF tính toán lại dựa trên NDC của các quốc gia khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 1991-
2020 Việc lựa chọn các chỉ số kinh tế và môi trường tuyệt đối thay cho dùng chỉ số tuyệt đối chia bình quân đầu người như các nghiên cứu khác là vì theo quan điểm của Finel và Tapio (2012) thì khi dân số tăng theo thời gian, giá trị bình quân đầu người sẽ giảm trong khi tác động thực tế lại tăng lên Khi dân số tăng theo thời gian, giá trị bình quân đầu người
sẽ giảm, tuy nhiên tác động thực tế như tăng trưởng kinh tế và tác động môi trường tăng lên, do đó, việc sử dụng các chỉ số tuyệt đối sẽ bắt kịp tình hình thực tế hơn là việc sử dụng bình quân chỉ số kinh tế và môi trường trên đầu người Ngoài tác dụng bắt kịp tình hình thực tế, việc sử dụng các chỉ tiêu này còn tránh được ảnh hưởng của biến đổi dân số và tập trung vào tác động thực tế của tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu (các chỉ số tuyệt đối ví dụ như tổng giá trị kinh tế có thể dễ dàng thu thập và tránh bị phụ thuộc vào dữ liệu dân số) hay chia bình quân đầu người cần yêu cầu dữ liệu dân số chính xác và đầy đủ nhưng trong một số trường hợp, dữ liệu dân số có thể không khả dụng/ không đáng tin cậy do thiếu chính xác Tóm lại, sử dụng các chỉ số tuyệt đối trong nghiên cứu sẽ giúp
đo lường mức tăng trưởng kinh tế và các chỉ số về môi trường một cách toàn vẹn và chính xác hơn
Ngoài ra, với mục tiêu tìm ra mức tăng trưởng kinh tế phù hợp với xu thế tách rời của Việt Nam, bài nghiên cứu sẽ sử dụng thêm số liệu IMF ước tính phát thải KNK dựa theo kịch bản phát triển thông thường của Việt Nam giai đoạn 2022-2030 để phân tích Kịch bản
Trang 29này là giả định cơ sở khoa học về mức phát thải KNK trong điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội bình thường trong tương lai khi chưa thực hiện biện pháp giảm nhẹ phát thải KNK (Theo khoản 8, điều 3, Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn) Tuy nhiên việc không kể đến các biện pháp giảm nhẹ khiến cho lượng phát thải được ước tính trong các giai đoạn sau có thể lớn hơn rất nhiều so với thực
tế khi Việt Nam đang nỗ lực giảm thiểu phát thải
2.2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.2.1 Giả thuyết nghiên cứu
Theo bài viết nghiên cứu thực nghiệm của tác giả Tomiwa Sunday Adebayo và Tola Odugbesan (2021), để xem xét lại mối quan hệ giữa đô thị hóa , lượng khí thải CO2, tổng hình thành vốn, sử dụng năng lượng và tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc chưa được đánh giá bằng các kỹ thuật kinh tế lượng trong thời gian gần đây Mô hình này dựa trên dữ liệu trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 2019 Nghiên cứu hiện tại sử dụng độ trễ phân phối tự hồi quy (ARDL), phương pháp bình phương tối thiểu thông thường động (DOLS)
và phương pháp bình phương tối thiểu thông thường được sửa đổi hoàn toàn (FMOLS) Kiểm định giới hạn ARDL cho thấy mối liên kết dài hạn giữa các biến Bằng chứng thực nghiệm cho thấy lượng khí thải CO2 kích thích tăng trưởng kinh tế Do đó, dựa trên nhận thức về môi trường ngày càng tăng trên toàn cầu, cần phải thay đổi cơ cấu năng lượng ở Hàn Quốc sang năng lượng tái tạo để có thể sử dụng các nguồn năng lượng bền vững và thiết lập một hệ sinh thái bền vững với môi trường Hơn nữa, giả thuyết tăng trưởng nhờ năng lượng đã được xác nhận Kết quả này được hỗ trợ bởi phân tích nhân quả, trong đó cho thấy mối quan hệ nhân quả một chiều từ mức tiêu thụ năng lượng đến GDP ở Hàn Quốc Ngoài ra, có thể thấy mối quan hệ nhân quả một chiều từ lượng khí thải CO2 và mức tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, lượng phát thải khí CO2 và lượng phát thải khí nhà kính có tính chất khá tương đồng, và lượng phát thải khí nhà kính là yếu
tố cần quan tâm trong bài nghiên cứu Từ đây, nhóm tác giả đã chọn ra các yếu tố ảnh hưởng tới sự tăng trưởng kinh tế: phát thải khí nhà kính, sự hình thành vốn, đô thị hóa, sử dụng năng lượng Dựa vào đó, nhóm đưa ra các giả thiết sau:
Trang 30Adebayo (2020) đều đã chứng thực những phát hiện trên của Bilan và cộng sự (2019) là đúng Họ đã tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa phát triển kinh tế và lượng khí thải CO2 (lượng khí thải CO2 là biến số có tính chất tương đồng với phát thải khí nhà kính) Bên cạnh đó, theo Le và Ozturk (2020), kết quả nghiên cứu cho thấy trong 47 thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển từ 1990 đến 2014 đã chỉ ra mối quan hệ tác động tích cực, cùng chiều giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải khí CO2 Từ những kết quả thực nghiệm trên, nhóm nghiên cứu đề xuất giả thiết:
H1: Phát thải khí nhà kính tác động cùng chiều với GDP
b, Tác động của sự hình thành vốn đến GDP
Hiện nay, có một số bài nghiên cứu có kiểm tra về mối quan hệ giữa sự hình thành vốn
và GDP có thể kể đến như: bài nghiên cứu của Olanrewaju (2021), đã nghiên cứu và đưa
ra tác động tích cực, cùng chiều lâu dài giữa biến số GCF (sự hình thành vốn) và GDP ở cả các nước sản xuất dầu mỏ và phi dầu mỏ tại Châu Phi Ngoài ra, theo JI Onyema (2022) nghiên cứu này xem xét tác động của việc hình thành vốn đến phát triển kinh tế ở Nigeria trong giai đoạn 1981- 2017 Dựa trên Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Lucas, nêu rõ mối quan hệ nghịch đảo cho thấy rằng sự gia tăng hình thành vốn sẽ dẫn đến giảm chỉ số nghèo khổ (kém phát triển) hay có thể suy luận rằng sự gia tăng hình thành vốn sẽ làm tăng khả
năng phát triển kinh tế Từ đây, giả thiết nhóm nghiên cứu đưa ra là:
H2: Sự hình thành vốn tác động cùng chiều với GDP
c, Tác động của đô thị hóa tới GDP
Về tác động giữa đô thị hóa tới GDP, hiện nay các bài nghiên cứu trước đây cho ra những kết quả sau: theo Udemba và cộng sự (2020), đã sử dụng phương pháp tiếp cận nhân quả
TY và ARDL để phân tích mối liên hệ giữa đô thị hóa và sản lượng thực tế ở Ấn Độ từ năm
1971 đến năm 2018 Kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy đô thị hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở nước này Tamang (2013) đã sử dụng Đồng liên kết Johansen và VECM
để khám phá mối liên hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế ở 14 quốc gia mới nổi và
13 quốc gia tiên tiến từ năm 1961 đến năm 2009 Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế bị
ảnh hưởng bởi đô thị hóa Vì vậy, giả thuyết của nhóm nghiên cứu đưa ra là:
H3: Đô thị hóa tác động cùng chiều với GDP
d, Tác động của sử dụng năng lượng đến GDP
Trang 31Mối quan hệ giữa sử dụng năng lượng đến GDP đã được khá nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và cho ra kết quả như sau: theo Odhiambo (2009) nghiên cứu về sự tương tác giữa sử dụng năng lượng và tăng trưởng kinh tế tại Tanzaia đã cho thấy mối quan hệ tác động cùng chiều giữa hai yếu tố trên Bên cạnh đó, theo Gozgor và cộng sự (2018) đã xem xét tác dộng của việc tiêu thụ năng lượng và sản lượng sản phẩm thực tế ở 29 nền kinh tế tham gia Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm
2015 Kết quả thực nghiệm cho thấy việc tiêu thụ năng lượng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra giả thiết:
H4: Sử dụng năng lượng tác động cùng chiều với GDP
2.2.2 Mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở các giả thuyết trên, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu như sau (Hình 2.2.2.1):
Hình 2.2.2 1 Mô hình nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được chia làm 2 phần, một là để kiểm định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải KNK tại khu vực Châu Á, hai là nghiên cứu mức độ tách rời của các nước Đông Nam Á sau đó dự đoán kịch bản tương lai mức độ tách rời của Việt Nam
2.3.1 Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa phát thải KNK và tăng trưởng kinh tế GDP các nước châu Á
2.3.1.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu
Trang 32Đề tài dựa trên nghiên cứu của tác giả Tomiwa Sunday Adebayo và cộng sự (2021) Nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình như sau:
𝐺𝐻𝐺𝑖𝑡: biến độc lập (BĐL) đại diện cho lượng phát thải khí nhà kính
𝐺𝐶𝐹𝑖𝑡: biến độc lập (BĐL) đại diện cho sự hình thành vốn (%GDP)
𝑙𝑛𝑈𝑅𝐵𝑖𝑡: biến độc lập (BĐL) đại diện cho sự đô thị hóa
𝑙𝑛𝐸𝐶𝑖𝑡: biến độc lập (BĐL) đại diện cho sử dụng năng lượng
𝑢𝑖𝑡: Sai số hồi quy
2.3.1.2 Giới thiệu biến nghiên cứu
* Biến phụ thuộc
Tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là các biến đại diện cho tốc
độ tăng trưởng của các quốc gia được sử dụng
Phát thải khí
nhà kính
& Adebayo (2020), Bilan (2019)
Trang 33Sự hình
thành vốn
(2021), Zhang (2021)
nhiên của dân
số đô thị
Awosusi (2020), Udemba (2021)
Sử dụng
năng lượng
nhiên của kg dầu tương đương bình quân đầu người
Nathaniel (2020), Shahbaz (2012)
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
2.3.1.3 Quy trình nghiên cứu
Việc hồi quy mô hình được thực hiện trên phần mềm Stata17 gồm các bước sau:
Bước 1: Thu thập dữ liệu và tạo bảng dữ liệu trong Excel
Bước 2: Thống kê mô tả dữ liệu và ma trận tự tương quan
Bước 3: Cắt và xử lý dữ liệu
Bước 4: Hồi quy mô hình theo phương pháp OLS
Bước 5: Dùng kiểm định xttest0 để lựa chọn mô hình OLS hay REM
Bước 6: Hồi quy tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên FEM
Bước 7: Dùng kiểm định Hausman để chọn mô hình FEM hay REM
Bước 8: Khắc phục khuyết tật của mô hình FEM đã chọn
Bước 9: Kiểm tra chiều tác động và mức độ tin cậy
2.3.2 Mô hình ‘tách rời kim cương’ (The Decouling Diamond)
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp “Tách rời kim cương”, để xem xét, phân tích tác động mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và môi trường (cụ thể là lượng phát thải khí nhà kính) với mục đích đưa ra những phương hướng hiệu quả nhằm tách rời 2 yếu tố này Theo công thức của lý thuyết tách rời, mô hình “Tách rời kim cương” được Nufar Finel và Petri
Trang 3428
Tapio xây dựng phép tính dựa trên sự tương quan của tốc độ thay đổi lượng phát thải CO2
và GDP Hai nhà nghiên cứu đã không sử dụng biến số khối lượng vận chuyển, mà thay vào đó là xác định lượng khí thải carbon dioxide trên một đơn vị vận chuyển nhưng ý tưởng
cơ bản của các phép tính vẫn giữ nguyên Từ đây, để đo lường tổng quan hơn về sự ô nhiễm môi trường, người đã thay đổi biến CO2 thành KNK (kí hiệu: GHG)
Kết quả của phép tính này được gọi là chỉ số đàn hồi e:
e = %∆GHG / %∆GDP
Mô hình nghiên cứu được xét trong khoảng thời gian 5 năm (1991 – 1995, 1996 – 2000,
2001 – 2005, 2006 – 2010, 2011 – 2015, 2016 – 2020) là khoảng thời gian vừa đủ để đánh giá được những thay đổi giữa sức khỏe của nền kinh tế và lượng phát thải khí KNK ra ngoài môi trường Từ đó, cho ra kết quả tốc độ thay đổi của hai yếu tố trên có thể được chia làm
3 trường phái tách rời: tách rời yếu, tách rời mạnh, tách rời lặn Tuy nhiên, 1 trường phái
có thể phát sinh trong thực tế đó là ghép nối và mỗi trường phái sẽ cho ra hai kết luận trái
ngược nhau Chính vì vậy mà kết quả nghiên cứu của mô hình đã dự đoán được 8 trường hợp xảy ra
Nguồn: Finel &Tapio (2012) và Vavrek & Chovancova
Tách rời tiêu cực yếu (e>1,2) Tách rời tiêu
cực mạnh (e<0)
Tách rời yếu (0≤e≤0,8)
Tách rời mạnh (e<0)
Tách rời tiêu cực lặn (0≤e≤0,8) Ghép nối lặn (0,8≤e≤1,2)
Tách rời lặn (e>1,2)
Ghép nối
mở rộng (0,8≤e≤1,2) GHG
GDP
H ì n
h 2 3 2
Trang 35Để xây dựng được mô hình này, tác giả cũng phải giả thiết nhiều tình huống diễn ra (xét
cả vấn đề khó có thể xảy ra trong hiện thực) Giả sử chỉ số đàn hồi là 1 (e = 1), điều này có thể hiểu tốc độ thay đổi của cả 2 biến số là như nhau (không tính đến các thay đổi rất nhỏ
có dấu hiệu tách rời biến thiên trong khoảng ±20% xung quanh 1 của các giá trị đàn hồi) Vậy nên các kết quả của chỉ số đàn hồi lúc này được xét trong khoảng 0.8 ≤ e ≤ 1.2 thì sẽ
được xếp vào trường phái ghép nối Trường hợp %∆GDP và %∆GHG đều tăng thì được xếp vào Ghép nối mở rộng; %∆GDP và %∆GHG đều giảm thì được xếp vào Ghép nối lặn
Trường phái này hiểu rằng nếu giá trị của e rơi vào 1 trong 2 tình huống trên có nghĩa là lượng phát thải KNK và tăng trưởng GDP có mối quan hệ một chiều, cụ thể là GDP tăng 1 đơn vị tương ứng với KNK cũng tăng lên 1 đơn vị hoặc GDP giảm 1 đơn vị đồng nghĩa với
phát thải KNK đều giảm, tuy nhiên lượng phát thải sẽ giảm nhanh hơn GDP
Chỉ số đàn hồi lớn hơn hoặc bằng 0 và bé hơn hoặc bằng 0,8 (0 ≤ e ≤ 0,8): Tách rời yếu
– GDP và lượng phát thải KNK đều tăng tuy nhiên GDP tăng nhanh hơn lượng phát thải
(sự phân tách này này yếu vì lượng phát thải tuyệt đối vẫn tiếp tục tăng); Tách rời tiêu cực lặn – GDP và lượng phát thải KNK đều giảm nhưng GDP sẽ giảm nhanh hơn lượng phát
thải
Quy trình nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu đã tiến hành thu thập thông tin trong giai đoạn 31 năm từ 1991 đến
2021 về GDP trên World Bank và KNK trên IMF
Bước 2: Trong thời gian trên nghiên cứu tiếp tục chia thành 6 giai đoạn, mỗi giai đoạn 5 năm là 1991 – 1995, 1996 – 2000, 2001 – 2005, 2006 – 2010, 2011 – 2015, 2016 – 2020
để phù hợp với mô hình nghiên cứu “Tách rời kim cương”
Bước 3: Từ công thức tính chỉ số đàn hồi 𝑒 :
𝑒 =%𝛥𝐺𝐻𝐺
%𝛥𝐺𝐷𝑃
Trang 36Trong đó: %∆𝐺𝐻𝐺 =𝐺𝐻𝐺𝑛+4 −𝐺𝐻𝐺 𝑛
𝐺𝐻𝐺𝑛
%∆𝐺𝐷𝑃 =𝐺𝐷𝑃𝑛+4 −𝐺𝐷𝑃𝑛
𝐺𝐷𝑃 𝑛
Từ đây, nghiên cứu sắp xếp các kết quả 𝑒 của từng giai đoạn vào 1 trong 8 tình huống
thích hợp: Ghép nối mở rộng, Ghép nối lặn, Tách rời tiêu cực mạnh, Tách rời tiêu cực yếu, Tách rời lặn, Tách rời yếu, Tách rời tiêu cực lặn
Bước 4: Theo thông tin dự đoán từ IMF về lượng phát thải KNK từ năm 2022 đến năm
2030 (dữ liệu này đã được nghiên cứu tổng hợp ở trên), tính lần lượt %ΔGHG trong 2 giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030 Với kết quả thu được, tiếp tục áp dụng công thức tính chỉ
số đàn hồi 𝑒 đã nêu, tính đại lượng %ΔGDP trong 2 thời gian trên
Bước 5: Tiếp đó, nghiên cứu tính mức GDP tối thiểu hoặc tối đa mà Việt Nam có thể đạt được trong tương lai vào năm 2025 và 2030 với 4 trường hợp cụ thể mà chỉ số đàn hồi 𝑒 đã nêu ở trên
Bước 6: Áp dụng công thức tính tốc độ tăng GDP bình quân theo thời kỳ (nhiều năm):
𝑑𝐺𝐷𝑃 = ( √𝐺𝐷𝑃𝑛
𝐺𝐷𝑃 𝑡
𝑛−1
− 1) × 100 Trong đó:
𝑑𝐺𝐷𝑃 : tốc độ tăng GDP bình quân năm thời kỳ, từ sau năm gốc so sánh đến năm thứ
n
𝐺𝐷𝑃𝑛 : GDP theo giá so sánh năm cuối (năm thứ n) cua thời kỳ nghiên cứu
𝐺𝐷𝑃𝑡 : GDP theo giá so sánh năm gốc so sánh của thời kỳ nghiên cứu
n : số năm tính từ năm gốc so sánh cho đến năm báo cáo
Dựa vào công thức trên, ta tính mức GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2021 – 2025,
2026 – 2030
Bước 7: Kết luận:
Dựa vào kết quả nghiên cứu xác định được ngưỡng hay giới hạn để đạt được từng mức
độ tách rời theo các trường hợp đã nêu, từ đó đưa ra kiến nghị thích hợp để đạt được mức
độ tách rời phù hợp với tình hình của Việt Nam
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC MÔ HÌNH GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ KHÍ NHÀ KÍNH DỰ BÁO TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG
GDP BÌNH QUÂN TỪNG THỜI KỲ CHO VIỆT NAM 3.1 Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế
3.1.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu
Bảng 3.1.1 1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
sát
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Mô hình nghiên cứu đã thống kê cụ thể từng biến như sau:
lnGDP: biến phụ thuộc có giá trị trung bình là 8.008145, giá trị lớn nhất là 11.49314, giá
trị nhỏ nhất là 3.128967 Từ đây cho thấy sự chênh lệch GDP giữa các giai phát triển của khu vực Châu Á là khá lớn, có thể thấy giá trị trung bình là 8.008145, điều này chỉ ra rằng các nước đều đã có sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong trong nhiều năm từ 1990-2022
GHG: đây là biến độc lập có giá trị trung bình là 456.485, giá trị lớn nhất là 14483.27,
giá trị nhỏ nhất là -7.395629 Sự chênh lệch lượng phát thải khí nhà kính qua các năm là rất lớn, điều này phản ánh nhiều vào mức độ tăng trưởng kinh tế và sản xuất công nghiệp của một quốc gia hay toàn khu vực Vì khi kinh tế phát triển, nhu cầu về năng lượng và sản xuất hàng hóa tăng, dẫn đến việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và phát thải khí nhà kính tăng lên rất nhanh
GCF: đây là biến độc lập có giá trị trung bình là 456.485, giá trị lớn nhất là 14483.27,
giá trị nhỏ nhất là -12.88009 Sự chênh lệch về hình thành thành vốn giữa các nước và các giai đoạn là rất lớn do sẽ có những quốc gia rơi vào tình trạng nợ, gây thâm hụt ngân sách khiến GCF của quốc gia mang giá trị âm Ngược lại, những quốc gia tích lũy các nguồn lực
Trang 38và tài sản tốt sẽ có giá trị GCF lớn Thêm vào đó, giá trị của GCF cũng phụ thuộc vào tính
ổn định chính trị, chính sách phát triển hay nền tảng của mỗi quốc gia
lnURB: đây là biến độc lập có giá trị trung bình là 15.66445, giá trị lớn nhất là 20.61521,
giá trị nhỏ nhất là 10.97042 Từ những chỉ số này cho thấy, tốc độ đô thị hóa giữa các quốc gia trong khu vực Châu Á là khá đồng đều qua các giai đoạn, đi lên theo mặt bằng chung
Vì tốc độ đô thị hóa thường đi đôi với tăng trưởng dân số và di cư từ vùng nông thôn vào thành phố, nên có thể thấy sự tăng trưởng về dân số đang trong giai đoạn không bùng nổ
lnEC: đây là biến độc lập có giá trị trung bình là 7.240276, giá trị lớn nhất là 9.97211,
giá trị nhỏ nhất là 4.082988 Từ chỉ số cho thấy, xu hướng sử dụng năng lượng ngày càng tăng qua từng giai đoạn phát triển kinh tế Điều này cho thấy các hoạt động sản xuất, sinh hoạt có nhu cầu sử dụng năng lượng tăng lên đáng kể từ năm 1990-2022
3.1.2 Phân tích tương quan giữa các biến
Phân tích tương quan cho mối quan hệ tổng quát về các biến trong mô hình, nghiên cứu phản ứng của một biến khi biến kia thay đổi Hệ số tương quan từ -1 đến 1 Thông qua hệ
số tương quan có thể dự báo sự xuất hiện của đa cộng tuyến nếu r lớn hơn 0,8
Bảng 3.1.2 1 Sự tương quan giữa các biến