1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới

86 13 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 8,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (7)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (7)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (8)
    • 4.1. Đối tượng nghiên cứu (8)
    • 4.2. Phạm vi nghiên cứu (8)
  • 5. Kết cấu của đề tài (9)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH, TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN, MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP 4 1.1. Công nghệ tài chính (10)
    • 1.2. Tài chính toàn diện (12)
    • 1.3. Mức độ phát triển tài chính (14)
    • 1.4. Bất bình đẳng thu nhập (15)
    • 1.5. Nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập (17)
  • CHƯƠNG 2. DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Dữ liệu nghiên cứu (24)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (24)
    • 2.3. Giả thuyết nghiên cứu (25)
      • 2.3.1. Công nghệ tài chính và bất bình đẳng thu nhập (25)
      • 2.3.2. Tài chính toàn diện và bất bình đẳng thu nhập (26)
      • 2.3.3. Mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập (27)
    • 2.4. Mô hình nghiên cứu (28)
      • 2.4.1. Biến phụ thuộc (30)
      • 2.4.2. Biến độc lập (30)
      • 2.4.3. Biến kiểm soát (31)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28 3.1. Mô tả tổng quan số liệu nghiên cứu (34)
    • 3.2. Kết quả mô hình hồi quy (35)
      • 3.2.1. Hệ số tương quan của các biến trong mô hình (35)
      • 3.2.2. Kết quả hồi quy và kiểm định các giả thiết của mô hình (36)
  • CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 43 4.1. Kết luận (49)
    • 4.2. Đề xuất giải pháp (51)
    • 4.3. Khuyến nghị cho Việt Nam (52)
      • 4.3.1. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam (52)
      • 4.3.2. Khuyến nghị cho Việt Nam (54)
    • 4.4. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (55)
      • 4.4.1. Hạn chế của nghiên cứu (55)
      • 4.4.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai (55)

Nội dung

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống tác động của công nghệ tài chính, tài chính toàn diện và mức độ phát triển tài chính đến bất bình đẳng thu nhập giúp đưa ra những luậ

Tính cấp thiết của đề tài

Bất bình đẳng thu nhập là một vấn đề quan trọng mà các quốc gia và địa phương cần chú ý Sự xuất hiện của công nghệ tài chính (FinTech) đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu về mối quan hệ giữa FinTech, tài chính toàn diện và bất bình đẳng thu nhập FinTech được xem là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện, từ đó góp phần giảm bất bình đẳng thu nhập Nhiều nghiên cứu cho thấy FinTech giúp tăng cường khả năng tiếp cận tài chính toàn cầu, nhưng tác động cụ thể của nó đối với bất bình đẳng vẫn chưa rõ ràng Mặc dù hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng phát triển tài chính có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lâu dài, mối quan hệ giữa phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập vẫn còn mơ hồ Hơn nữa, tác động của FinTech và tài chính toàn diện đối với bất bình đẳng thu nhập chưa được nghiên cứu rộng rãi, chủ yếu chỉ tập trung ở khu vực Châu Phi.

Bất bình đẳng thu nhập trong quá trình phát triển quốc gia có nhiều nguyên nhân, vì vậy nghiên cứu tác động của công nghệ tài chính, tài chính toàn diện và mức độ phát triển tài chính đến vấn đề này là rất cần thiết Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa những yếu tố trên giúp đưa ra luận cứ khoa học và giải pháp nhằm đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập toàn cầu Đề tài nghiên cứu "Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập" không chỉ mang lại ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn, từ đó cung cấp cơ sở cho các chính sách và khuyến nghị nhằm giảm bất bình đẳng thu nhập thông qua phát triển tài chính và công nghệ tài chính.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm phân tích mối liên hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, sự phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại 157 quốc gia trên toàn cầu.

Nghiên cứu về tác động của công nghệ tài chính đến bất bình đẳng thu nhập cho thấy rằng sự phát triển của công nghệ tài chính có thể làm giảm sự chênh lệch thu nhập thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính Bên cạnh đó, mức độ phát triển tài chính cũng ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập, khi các dịch vụ tài chính toàn diện giúp người dân dễ dàng hơn trong việc tham gia vào nền kinh tế Do đó, việc nâng cao tài chính toàn diện là cần thiết để giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng và xây dựng mô hình định lượng để kiểm tra tác động của công nghệ tài chính, mức độ phát triển tài chính và tài chính toàn diện đến bất bình đẳng thu nhập ở 157 quốc gia trên toàn cầu từ năm 2011 đến 2022, dựa trên các thực nghiệm trong và ngoài nước.

+ Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị các chính sách phù hợp cho từng nhóm quốc gia trong việc thu hẹp bất bình đẳng thu nhập

+ Đánh giá thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam trong giai đoạn 2010-

2022, từ đó đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp định lượng dựa trên dữ liệu thứ cấp từ Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ sở dữ liệu về bất bình đẳng thu nhập thế giới được tiêu chuẩn hóa (SWIID) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) để phân tích các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng thu nhập toàn cầu.

Phương pháp phân tích dữ liệu:

- Dữ liệu được xử lý các bước: Xử lí missing value, thống kê mô tả, ma trận tương quan, hồi quy và kiểm định mô hình

Bài nghiên cứu áp dụng các mô hình hồi quy như hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) và hồi quy tác động cố định (FEM) Để xác định mô hình nghiên cứu phù hợp, các kiểm định White và Hausman được thực hiện Cuối cùng, mô hình được hiệu chỉnh bằng phương pháp GLS sau khi hoàn thành các kiểm định này.

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, các phần Mục lục và Phụ lục, bài nghiên cứu gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập

Chương 2: Dữ liệu, phương pháp và giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và khuyến nghị

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH, TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN, MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP 4 1.1 Công nghệ tài chính

Tài chính toàn diện

Tài chính toàn diện là một khái niệm chưa có sự thống nhất chung, nhưng được hiểu là quá trình đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ tài chính cho các nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt là người có thu nhập thấp (Quỳnh, 2019; Rangarajan, 2008) Theo đó, tài chính toàn diện bao gồm quyền truy cập vào tín dụng, tiết kiệm, thanh toán và bảo hiểm từ các nhà cung cấp dịch vụ chính thức (Cull et al., 2014) Sarma (2016) nhấn mạnh rằng khái niệm này liên quan đến khả năng tiếp cận, tính sẵn có và sử dụng hệ thống tài chính chính thức Theo Ngân hàng Thế giới (2018), tài chính toàn diện không chỉ cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính với giá cả phải chăng mà còn đảm bảo tính bền vững và trách nhiệm trong cung cấp dịch vụ Tại Việt Nam, tài chính toàn diện được định nghĩa là khả năng tiếp cận và sử dụng hệ thống tài chính cho tất cả các thành phần kinh tế (Vân et al., 2018) Điều này thể hiện tính chất đa chiều của tài chính toàn diện, nhằm mở rộng khả năng tiếp cận cho mọi tầng lớp dân cư, giảm bất bình đẳng và tạo cơ hội đồng đều trong nền kinh tế Tài chính toàn diện được đo lường qua ba khía cạnh: khả năng thâm nhập ngân hàng, tính khả dụng của dịch vụ ngân hàng và việc sử dụng hệ thống ngân hàng (Sarma, 2016; Gortsos and Panagiotidis, 2017).

Tài chính toàn diện đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giúp mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho mọi tầng lớp dân cư, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ Nghiên cứu cho thấy, việc gia tăng sử dụng dịch vụ ngân hàng, tín dụng và bảo hiểm không chỉ giảm tình trạng đói nghèo và bất bình đẳng thu nhập mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững Tài chính toàn diện giúp cá nhân và doanh nghiệp cải thiện quản lý tài chính, tăng cường tiết kiệm, và tạo điều kiện thuận lợi cho thanh toán và chuyển tiền an toàn Đồng thời, nó cũng giúp các tổ chức tài chính mở rộng thị trường và giảm rủi ro hoạt động, từ đó nâng cao lợi nhuận Đối với Chính phủ, tài chính toàn diện góp phần giảm chi phí hỗ trợ xã hội và tăng cường minh bạch trong các hoạt động tài chính, góp phần phòng chống tham nhũng.

Theo Ngọc và các cộng sự (2019), tài khoản và hình thức vay, tiết kiệm là hai yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện Tài khoản giúp người dùng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức, với tỷ lệ sở hữu thẻ ghi nợ và tín dụng là chỉ số đánh giá mức độ phổ biến của tài khoản Nhóm tác giả đã sử dụng ba chỉ báo để đo lường: tài khoản, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng cho người từ 15 tuổi trở lên Bên cạnh đó, việc vay và tiết kiệm từ các tổ chức tài chính cũng đóng vai trò thiết yếu trong tài chính toàn diện Để đánh giá vay và gửi, nhóm tác giả áp dụng hai chỉ báo: vay từ tổ chức tài chính và gửi tiền tại tổ chức tài chính, nhằm phân tích cách người trưởng thành quản lý tài chính cho tương lai và đáp ứng nhu cầu hiện tại.

Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các biến số khác nhau để đo lường tài chính toàn diện, trong đó chỉ số của Sarma (2008) được áp dụng rộng rãi với ba khía cạnh: tỷ lệ dân số có tài khoản ngân hàng, số chi nhánh ngân hàng trên 1000 người và tỷ lệ cho vay, tiền gửi trên GDP Mookerjee và Kalipioni (2010) sử dụng số lượng chi nhánh ngân hàng trên 100.000 người trưởng thành, trong khi Neaime và Gaysset (2018) kết hợp số chi nhánh và máy ATM trên 100.000 người trưởng thành Ouechtati (2020) biểu thị tài chính toàn diện qua bốn biến: quyền sở hữu tài khoản, tỷ lệ thâm nhập của tổ chức tài chính, tín dụng và số tiền tiết kiệm Sawadogo và Semedo (2021) kết hợp ba khía cạnh thành một chỉ số duy nhất, gồm máy ATM, chi nhánh ngân hàng và tài khoản ngân hàng Demir và cộng sự (2022) đo lường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính qua tỷ lệ người trưởng thành sở hữu tài khoản, tiết kiệm và vay từ tổ chức tài chính Girma và Huseynov (2023) cũng áp dụng phương pháp tương tự, trong khi Chinoda và Mashamba (2021) sử dụng bốn chỉ số phổ biến để đo lường tài chính toàn diện.

Mức độ phát triển tài chính

Phát triển tài chính là quá trình xây dựng các định chế nhằm cải thiện thông tin và khả năng phân tích trong hệ thống tài chính, đáp ứng nhu cầu mới từ doanh nghiệp và hộ gia đình thông qua việc đa dạng hóa công cụ tài chính Theo Levine (2005), phát triển tài chính bao gồm việc tích lũy và tiết kiệm, phân bổ vốn cho đầu tư, giám sát đầu tư, phân tán rủi ro và trao đổi hàng hóa Hartmann và cộng sự (2007) nhấn mạnh rằng phát triển tài chính liên quan đến đổi mới và cải thiện thể chế, giảm thông tin bất đối xứng, hoàn thiện chức năng thị trường và tăng cường khả năng ký kết hợp đồng World Bank (2012) cũng cho rằng phát triển tài chính cải tiến chất lượng trong các chức năng như cung cấp thông tin đầu tư, giám sát và quản trị doanh nghiệp, tạo điều kiện giao dịch, huy động tiết kiệm và nới lỏng giao dịch hàng hóa Svirydzenka (2016) định nghĩa phát triển tài chính là sự kết hợp giữa chiều sâu thị trường, khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính và hiệu suất của tổ chức cung cấp dịch vụ Sadorsky (2010) cho rằng phát triển tài chính tăng cường hiệu quả kinh tế, giảm rủi ro tài chính và chi phí vay, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng thông qua cạnh tranh và sáng tạo, từ đó nâng cao năng suất lao động.

Phát triển tài chính có thể được đo lường qua nhiều yếu tố như độ sâu tài chính, quy mô, khả năng tiếp cận và sự vững mạnh của hệ thống tài chính (WEF, 2012) Ngoài ra, việc đánh giá khả năng và hiệu quả hoạt động của các thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng, các trung gian và định chế tài chính cũng rất quan trọng Mức độ đa dạng và sự sẵn có của các dịch vụ tài chính là những yếu tố cần xem xét để hiểu rõ hơn về sự phát triển này (Bloch và Tang, 2003; Javid và Sharif).

Sự phát triển tài chính có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau Theo quan điểm của 2016, tín dụng tư nhân trên GDP là chỉ số chính để đánh giá Trong khi đó, Tita và Aziakpono (2016) lại sử dụng tín dụng trong nước và tiền gửi ngân hàng trên GDP làm thước đo Chinoda và Mashamba (2021) đưa ra chỉ số phát triển tài chính (FDI) để đo lường sự phát triển này, tính toán FDI thông qua phân tích thành phần chính trên bảy biến số, bao gồm biên lãi ròng, chi phí chung trên tổng tài sản, tiền mở rộng (M2) trên GDP, tài sản ngân hàng trên tài sản ngân hàng và ngân hàng trung ương, tài sản ngân hàng trên GDP, tín dụng trong nước đối với khu vực tư nhân theo phần trăm GDP và nợ thanh khoản trên GDP.

Bất bình đẳng thu nhập

Bất bình đẳng thu nhập, hay khoảng cách giàu nghèo, là một vấn đề nghiêm trọng tồn tại ở hầu hết các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam Sự khác biệt này không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của nhiều loại bất bình đẳng khác (Hòa và Quang, 2022) Theo David Ricardo (1817), khi lao động dư thừa từ khu vực nông thôn chuyển sang công nghiệp do giới hạn về đất canh tác, năng suất nông nghiệp tăng lên nhưng nhu cầu lương thực co giãn thấp dẫn đến việc lao động trong lĩnh vực nông nghiệp nhận lương thấp hơn so với lao động trong ngành công nghiệp, từ đó tạo ra bất bình đẳng thu nhập.

Theo Kuznet (1955), bất bình đẳng thu nhập thể hiện khi phần lớn dân cư sống dưới mức thu nhập trung bình, trong khi một bộ phận nhỏ có thu nhập cao Tác giả chỉ ra rằng các nước phát triển thường có nhiều người có thu nhập vượt mức trung bình và một nhóm nhỏ rất giàu có Điều này cho thấy rằng các nước kém phát triển thường đối mặt với khoảng cách giàu nghèo lớn hơn so với các quốc gia phát triển.

(2015) cũng định nghĩa bất bình đẳng thu nhập là mức độ mà thu nhập được phân phối không đồng đều giữa một nhóm dân cư

Theo OECD (2011) và Ngân hàng Thế giới (2009), bất bình đẳng thu nhập gắn liền với phân phối thu nhập, là một phần quan trọng trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Quá trình này bao gồm bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, trong đó sản xuất đóng vai trò quyết định Trong nền kinh tế thị trường, phân phối thu nhập diễn ra qua hai hình thức chính: phân phối theo quy mô (hay cá nhân) và phân phối theo chức năng.

Phân phối theo cá nhân hay theo quy mô là phương pháp phổ biến trong kinh tế, tập trung vào việc đánh giá mức độ phân phối thu nhập giữa các hộ gia đình và cá nhân Cách tiếp cận này chủ yếu quan tâm đến số thu nhập mà mỗi cá nhân nhận được, không xét đến nguồn gốc của thu nhập như tiền lương hay tiền công Mục tiêu chính là xác định tính bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các nhóm trong xã hội Trong phân phối theo quy mô, công bằng về thu nhập được hiểu là mỗi cá nhân nhận được thu nhập tương xứng với công sức lao động của họ, nhằm loại bỏ tình trạng những người lao động vất vả vẫn sống trong khó khăn.

Phân phối thu nhập theo chức năng là một phương pháp phổ biến trong nghiên cứu kinh tế, tập trung vào cách thu nhập được phân bổ cho các yếu tố sản xuất thay vì từng cá nhân Phương pháp này giúp xác định tỷ trọng thu nhập quốc dân mà mỗi yếu tố sản xuất nhận được, cung cấp cái nhìn tổng quan về phân bổ thu nhập trong nền kinh tế Nhờ đó, nó hỗ trợ nghiên cứu và đánh giá hiệu quả hoạt động của các yếu tố sản xuất cũng như sự công bằng trong phân phối thu nhập.

Các nhà kinh tế thường sử dụng hệ số Gini để đo lường bất bình đẳng thu nhập, bên cạnh đó, khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất cũng là hai thước đo phổ biến khác.

Thước đo bất bình đẳng thu nhập được tính bằng tỷ lệ giữa tổng thu nhập của 20% người có thu nhập cao nhất và tổng thu nhập của 20% người có thu nhập thấp nhất Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB), nếu 40% dân số có thu nhập thấp nhất chiếm dưới 12% tổng thu nhập xã hội, thì mức độ bất bình đẳng được coi là cao Tỷ lệ từ 12% đến 17% được xem là bất bình đẳng vừa phải, trong khi trên 17% được đánh giá là tương đối bình đẳng Ngoài hệ số Gini, các chỉ số Theil T và L cũng được sử dụng để đo lường bất bình đẳng, mặc dù ít phổ biến hơn do tính phức tạp và yêu cầu kiến thức chuyên môn Các chỉ số này thuộc họ Generalized Entropy, với giá trị dao động từ 0 (bình đẳng tuyệt đối) đến ln(N) (bất bình đẳng tuyệt đối), góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện về phân phối thu nhập trong nền kinh tế.

L biến động từ 0 (bình đẳng tuyệt đối) đến vô cùng (bất bình đẳng tuyệt đối)

Có 5 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập tại một quốc gia, đó là phát triển kinh tế, nhân khẩu học, văn hóa và môi trường, chính trị và yếu tố vĩ mô (Kaasa, 2005) Nhóm yếu tố phát triển kinh tế bao gồm một số chỉ tiêu chính như: GDP bình quân đầu người, tăng trưởng kinh tế, sự phát triển của cơ cấu nền kinh tế và kỹ thuật Trong đó, chỉ tiêu GDP bình quân đầu người và tăng trưởng kinh tế được sử dụng khá phổ biến trong các bài nghiên cứu do dễ dàng thu thập và tính toán Tiêu biểu nhất là bài nghiên cứu của Kuznet (1995), tác giả đã chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng có mối quan hệ hình chữ U ngược Tiếp theo, nhóm yếu tố về nhân khẩu học bao gồm đô thị hóa, tăng trưởng dân số, tuổi tác, trình độ giáo dục của dân số Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng cải thiện trình độ giáo dục làm giảm bất bình đẳng thu nhập và chỉ tiêu tỷ lệ hoàn thành tiểu học thường là thước đo được các nhà kinh tế sử dụng khi nghiên cứu Thứ ba là nhóm yếu tố chính trị như tỷ trọng khu vực tư nhân, khu vực chính phủ và dân chủ hóa Trong đó chi tiêu tiêu dùng chung cuối cùng chung của chính phủ thường được các nhà nghiên cứu sử dụng để đánh giá tác động của khu vực chính phủ đến bất bình đẳng thu nhập Thứ tư, nhóm yếu tố về văn hóa và môi trường bao gồm đất đai, môi trường, tham nhũng Tuy nhiên tác động của nhóm yếu tố này đến bất bình đẳng thu nhập ít được các nhà nghiên cứu sử dụng do khó đo lường, dữ liệu thiếu chính xác và kém minh bạch Cuối cùng là nhóm yếu tố vĩ mô như lạm phát, thất nghiệp, phát triển tài chính, đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là nhóm yếu tố được quan tâm nhiều trong những năm gần đây do quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ.

Nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập

Công nghệ tài chính (FinTech)

Công nghệ thông tin và truyền thông, bao gồm cả FinTech, đóng vai trò quan trọng trong việc giảm bất bình đẳng thu nhập, đặc biệt ở các nước đang phát triển Theo nghiên cứu của Aker và Mbiti (2010), công nghệ tài chính không chỉ tạo ra việc làm mới mà còn mở ra cơ hội thu nhập cho người nghèo, góp phần cải thiện việc thu thuế và dịch vụ của chính phủ, đồng thời giảm thiểu tham nhũng.

Nghiên cứu của Beuermann và các cộng sự (2012) cho thấy việc mở rộng vùng phủ sóng điện thoại di động ở vùng nông thôn Peru đã có tác động tích cực đến phát triển kinh tế, với mức tiêu dùng thực tế của hộ gia đình tăng 11% Đồng thời, tỷ lệ đói nghèo giảm 8 điểm phần trăm và tỷ lệ đói nghèo cùng cực giảm 5,4 điểm phần trăm Đặc biệt, những lợi ích này được chia sẻ rộng rãi giữa các hộ gia đình, bất kể việc họ có sở hữu điện thoại di động hay không.

Nghiên cứu của Asongu và Le Roux (2017) về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) tại 49 quốc gia châu Phi cận Sahara từ năm 2000 đến 2012 cho thấy sự gia tăng sử dụng điện thoại di động và internet có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng bền vững sau năm 2015, được đánh giá qua chỉ số phát triển con người điều chỉnh theo bất bình đẳng Bên cạnh đó, Asongu (2015) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động tái phân phối thu nhập từ việc thâm nhập điện thoại di động ở 52 quốc gia châu Phi, cho thấy rằng việc sử dụng di động mang lại lợi ích cho người nghèo và cải thiện bình đẳng thu nhập.

Nghiên cứu của Asongu và Odhiambo (2019) đã phân tích tác động của việc tăng cường ICT lên bất bình đẳng tại 48 quốc gia châu Phi trong giai đoạn 2004–2014, sử dụng ba chỉ số bất bình đẳng: hệ số Gini, chỉ số Atkinson và tỷ lệ Palma Các chỉ số ICT được xem xét bao gồm tỷ lệ thâm nhập điện thoại di động, thâm nhập internet và thuê bao băng thông rộng cố định, với phương pháp phân tích dựa trên GMM Kết quả cho thấy việc tăng cường thâm nhập internet và thuê bao băng thông rộng cố định có ảnh hưởng tích cực đến việc giảm hệ số Gini và chỉ số Atkinson, trong khi tăng cường thâm nhập điện thoại di động và internet lại làm giảm tỷ lệ Palma.

Nghiên cứu của Asongu và Nwachukwu (2018) về mối tương quan giữa dịch vụ ngân hàng di động và phát triển toàn diện ở 93 quốc gia đang phát triển vào năm 2011 cho thấy dịch vụ ngân hàng di động có liên hệ tích cực với phát triển toàn diện ở một số ngưỡng HDI nhất định Cụ thể, việc sử dụng điện thoại di động để thanh toán hóa đơn có mối tương quan tiêu cực với tình trạng nghèo đói ở các quốc gia có thu nhập trung bình thấp (LMIC), thu nhập trung bình cao (UMIC) và các nước Mỹ Latinh (LA) tại các ngưỡng HDI lần lượt là 0,725, 0,727 và 0,778, cũng như với bất bình đẳng ở UMIC và LA tại ngưỡng HDI 0,646 và 0,761 Đồng thời, việc sử dụng điện thoại di động để gửi/nhận tiền cũng có mối tương quan tiêu cực với tình trạng nghèo đói ở LMIC, UMIC và Trung và Đông Âu (CEE) với ngưỡng HDI 0,631, 0,750 và 0,750, và với bất bình đẳng ở UMIC, CEE và LA với ngưỡng HDI 0,665, 0,736 và 0,726 Tóm lại, việc sử dụng điện thoại di động cho thanh toán hóa đơn hoặc gửi/nhận tiền có liên quan tiêu cực và đáng kể đến bất bình đẳng thu nhập, chủ yếu ở các quốc gia có thu nhập trung bình cao.

Nghiên cứu của Asongu và Odhiambo (2018) cho thấy ngân hàng di động có khả năng giảm bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia có tỷ lệ bất bình đẳng thấp hoặc cao, tuy nhiên, hiệu ứng này phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế, được đo bằng chỉ số phát triển con người Zhang và các cộng sự (2018) nhấn mạnh rằng FinTech giúp thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị bằng cách hỗ trợ doanh nghiệp tại khu vực nông thôn Thêm vào đó, FinTech còn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thực thông qua đổi mới tài chính và công nghệ (Tian và các cộng sự, 2021).

Nghiên cứu của Hodula (2023) đã chỉ ra rằng FinTech có tác động tích cực đến bất bình đẳng thu nhập ở 78 quốc gia từ 2013 đến 2019, với điều kiện các quốc gia này có mức độ bao trùm tài chính cao Tương tự, nghiên cứu của Suri và Jack (2016) tại Kenya cho thấy tiền di động, một hình thức của công nghệ tài chính, đã giúp 2% hộ gia đình thoát nghèo và gia tăng mức tiêu dùng bình quân đầu người.

Demir và các cộng sự (2022) đã sử dụng dữ liệu khảo sát Finex toàn cầu năm

Nghiên cứu được thực hiện trong các năm 2011, 2014 và 2017 đã phân tích mối quan hệ giữa FinTech, tài chính toàn diện và bất bình đẳng thu nhập tại 140 quốc gia và vùng lãnh thổ Kết quả cho thấy FinTech có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến bất bình đẳng thu nhập thông qua tài chính toàn diện Các tác giả đã áp dụng hồi quy lượng tử để xem xét sự khác biệt của hiệu ứng này ở các quốc gia có mức độ bất bình đẳng thu nhập khác nhau, và phát hiện rằng tài chính toàn diện là kênh chính giúp FinTech giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập.

Tài chính toàn diện đóng vai trò quan trọng trong việc giúp một bộ phận dân cư tại các nước đang phát triển thoát khỏi đói nghèo và giảm thiểu bất bình đẳng về thu nhập.

Mookerjee và Kalipioni (2010) cho rằng việc tăng cường tiếp cận dịch vụ ngân hàng có thể giảm thiểu khoảng cách bất bình đẳng thu nhập giữa các quốc gia, trong khi các rào cản ngân hàng lại làm gia tăng sự bất bình đẳng này Dabla-Norris và cộng sự (2015) đồng tình với nhận định này, đồng thời khuyến nghị áp dụng chính sách nới lỏng các hạn chế vay mượn ở giai đoạn đầu, sau đó siết chặt điều kiện cho vay khi bất bình đẳng thu nhập giảm Nghiên cứu của Aslan và các cộng sự (2017) cũng chỉ ra mối liên hệ giữa bất bình đẳng giới trong tiếp cận tài chính và bất bình đẳng thu nhập, dựa trên dữ liệu vi mô từ 146.000 cá nhân.

Nghiên cứu tại 140 quốc gia cho thấy bất bình đẳng trong tiếp cận tài chính có mối liên hệ đáng kể với bất bình đẳng thu nhập Park và Mercado (2015) chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô và đặc thù quốc gia, như thu nhập bình quân đầu người, luật pháp và cơ cấu nhân khẩu học, ảnh hưởng lớn đến mức độ tiếp cận tài chính ở các nước đang phát triển ở Châu Á Họ cũng nhận thấy rằng lạm phát cao có thể làm giảm bất bình đẳng thu nhập nhờ vào hiệu ứng phân phối lại của cải, trong khi luật pháp và giáo dục tốt hơn giúp thu hẹp khoảng cách thu nhập Nghiên cứu của Ageymang-Badu và cộng sự (2018) cho thấy rằng tín dụng từ tổ chức tài chính cho khu vực tư nhân và tài chính toàn diện không phải là yếu tố chính dự đoán bất bình đẳng thu nhập, nhưng các yếu tố như giáo dục, tăng trưởng GDP bình quân đầu người và pháp quyền lại có tác động đáng kể Cuối cùng, Lan và Thuong (2019) cũng xác nhận mối tương quan nghịch giữa tài chính toàn diện và bất bình đẳng thu nhập.

Nghiên cứu của Mushtaq và Bruneau (2019) cho thấy tài chính toàn diện có tác động tích cực đến việc giảm nghèo và bất bình đẳng thu nhập thông qua công nghệ thông tin và truyền thông ở 62 quốc gia từ 2001-2012 Ouechtati (2020) cũng khẳng định rằng số lượng chi nhánh ngân hàng và ngân hàng thương mại ảnh hưởng mạnh mẽ đến bất bình đẳng thu nhập Sawadogo và Semedo (2021) phát hiện rằng tài chính toàn diện có mối quan hệ khác nhau với bất bình đẳng thu nhập ở 28 quốc gia châu Phi cận Sahara, với một số quốc gia không có mối liên hệ rõ ràng Fu và Liu (2023) chỉ ra rằng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính có mối tương quan nghịch với bất bình đẳng thu nhập, đặc biệt ở các khu vực kém phát triển Brei và cộng sự (2023) cũng đồng tình, nhưng lưu ý rằng tài chính phát triển qua thị trường có thể làm tăng bất bình đẳng, trong khi tài chính từ cho vay ngân hàng không có tác động tương tự Hệ thống tài chính cởi mở và dễ tiếp cận có thể nâng cao triển vọng kinh tế và xã hội, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển.

Mức độ phát triển tài chính

Nghiên cứu của Greenwood và Jovanovic (1990) cho rằng bất bình đẳng thu nhập tăng ở giai đoạn đầu phát triển tài chính nhưng giảm ở giai đoạn cao hơn Ngược lại, Galor và Zeira (1993) cùng Banerjee và Newman (1993) cho rằng phát triển tài chính làm giảm bất bình đẳng thu nhập ở mọi giai đoạn Rehman và cộng sự (2008) phân tích 51 quốc gia và phát hiện rằng chi tiêu chính phủ, tỷ lệ biết chữ và độ mở thương mại là yếu tố chính ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập, đồng thời ủng hộ giả thuyết hình chữ U ngược của Kuznets Tuy nhiên, Kappel (2010) cho rằng chi tiêu chính phủ chỉ giảm bất bình đẳng ở các nước thu nhập cao, không ảnh hưởng đến các nước thu nhập thấp, và xác định sự đa dạng sắc tộc cùng phân bổ đất đai là nguyên nhân chính Kim và Lin (2011) lại chỉ ra rằng phát triển tài chính chỉ giảm bất bình đẳng khi đạt đến ngưỡng nhất định, dưới ngưỡng này sẽ gây hại cho người nghèo Batuo và cộng sự (2010) nghiên cứu ở 22 quốc gia châu Phi và tìm thấy bằng chứng ủng hộ giả thuyết rằng phát triển tài chính làm giảm bất bình đẳng thu nhập, trong khi Asongu (2013) cho rằng phát triển tài chính ở châu Phi không giúp ích cho người nghèo Seven và Coskun (2016) nhấn mạnh rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng không mang lại lợi ích cho người thu nhập thấp, đồng thời cho rằng sự phát triển của ngân hàng ảnh hưởng lớn hơn đến bất bình đẳng thu nhập và nghèo đói so với thị trường cổ phiếu.

Nghiên cứu của Trúc (2016) tại Việt Nam với 378 quan sát từ 63 tỉnh thành trong giai đoạn 2002 – 2012 cho thấy hệ số GINI phản ánh rõ nét tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời chỉ ra mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược giữa bất bình đẳng chi tiêu và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Tương tự, nghiên cứu của Hội và Chiên (2017) về tác động của độ sâu thị trường tín dụng đến bất bình đẳng thu nhập cũng chỉ ra rằng sự mở rộng của thị trường tín dụng dẫn đến gia tăng bất bình đẳng thu nhập Điều này cho thấy ảnh hưởng của phát triển tài chính đến bất bình đẳng thu nhập có sự khác biệt, phụ thuộc vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Từ các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy mối liên hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập vẫn chưa được làm sáng tỏ.

DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Dữ liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa FinTech, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập, sử dụng dữ liệu thứ cấp từ 157 quốc gia trong giai đoạn 2011-2022 Các quốc gia được chia thành ba nhóm: 39 quốc gia phát triển, 84 quốc gia đang phát triển và 34 quốc gia chậm phát triển Thời gian nghiên cứu được chọn dựa trên tính khả dụng của dữ liệu FinTech, với tất cả số liệu được thu thập từ Ngân hàng Thế giới (WB).

Cơ sở dữ liệu về bất bình đẳng thu nhập toàn cầu được tiêu chuẩn hóa (SWIID) từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã được sử dụng để thực hiện các phương pháp hồi quy như OLS, FEM và REM Các kiểm định White và Hausman cũng được áp dụng nhằm xác định mô hình nghiên cứu phù hợp Cuối cùng, mô hình GLS sẽ được hiệu chỉnh nếu phát hiện tồn tại khuyết tật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc lựa chọn mô hình phù hợp giữa các phương pháp phân tích như phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), hồi quy tác động cố định (FEM) và hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM).

Hồi quy bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square - OLS) là phương pháp hồi quy cơ bản, nhưng có nhược điểm lớn khi đối mặt với các quan sát bất thường trong dữ liệu Phương pháp OLS thường chỉ cung cấp cái nhìn tổng quát về hàm kỳ vọng trung bình mà không phản ánh đầy đủ tình hình dữ liệu, đặc biệt khi mẫu dữ liệu bất đối xứng hoặc có phương sai không đồng nhất Sau khi thực hiện hồi quy OLS, việc kiểm định độ tin cậy của mô hình là cần thiết để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

Kiểm định đa cộng tuyến:

Ho: Mô hình không tồn tại đa cộng tuyến

H1: Mô hình có đa cộng tuyến

Giá trị VIF nhỏ hơn 10 cho thấy mô hình không gặp phải vấn đề đa cộng tuyến, trong khi giá trị VIF lớn hơn 10 cho thấy có sự tồn tại của đa cộng tuyến trong mô hình (Ramanathan, 2002; Gujarati).

Kiểm định phương sai thay đổi:

Ho: Mô hình không có phương sai thay đổi

H1: Mô hình có phương sai thay đổi

Nếu p-value trong kiểm định hetero lớn hơn 0,05, chúng ta chấp nhận giả thuyết Ho, tức là mô hình không có phương sai thay đổi Ngược lại, nếu p-value nhỏ hơn 0,05, điều này cho thấy mô hình tồn tại phương sai thay đổi.

Kiểm định tự tương quan bằng Wooldridge với giả thuyết:

Ho: Mô hình không có tự tương quan

H1: Mô hình có tự tương quan

Nếu p_value của kiểm định Wooldridge lớn hơn 0,05 thì chấp nhận giả thuyết H0, nếu p_value nhỏ hơn 0,05 thì mô hình có tự tương quan

Tác giả thực hiện hồi quy bằng mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), sau đó áp dụng kiểm định Hausman để xác định mô hình phù hợp với giả thuyết.

Ho: Mô hình REM là phù hợp

H1: Mô hình FEM là phù hợp

Khi thực hiện kiểm định Hausman, nếu p-value lớn hơn 0,05 thì mô hình Random Effects Model (REM) sẽ được coi là phù hợp Ngược lại, nếu p-value nhỏ hơn 0,05, mô hình Fixed Effects Model (FEM) sẽ là lựa chọn hợp lý.

Sau khi xác định mô hình, nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm tra các khuyết tật của mô hình Nếu phát hiện khuyết tật, mô hình sẽ được điều chỉnh bằng phương pháp GLS Đề tài sử dụng phần mềm Stata14 để thực hiện phân tích hồi quy và kiểm định mô hình.

Giả thuyết nghiên cứu

2.3.1 Công nghệ tài chính và bất bình đẳng thu nhập

Nghiên cứu cho thấy FinTech có tác động tích cực đến việc giảm bất bình đẳng thu nhập, đặc biệt thông qua việc sử dụng điện thoại di động để chuyển tiền, giúp giảm nghèo ở các quốc gia có thu nhập trung bình thấp (LMIC), trung bình cao (UMIC) và các nước Trung và Đông Âu (CEE) (Asongu và Nwachukwu, 2018) Hơn nữa, Asongu và Odhiambo (2019) đã phát hiện ra mối quan hệ nghịch đảo giữa ngân hàng di động và bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia có thu nhập trung bình, tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế, được đo bằng chỉ số phát triển con người.

Nghiên cứu của Appiah-Otoo và Song (2021) cho thấy công nghệ tài chính (FinTech) và tín dụng có tác động tích cực đến việc giảm nghèo tại 31 tỉnh của Trung Quốc giai đoạn 2011-2017, nhờ vào việc thúc đẩy phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Tương tự, Beuermann và các cộng sự (2012) phát hiện rằng việc mở rộng vùng phủ sóng điện thoại di động đã góp phần giảm nghèo cùng cực và tăng mức tiêu dùng của hộ gia đình ở nông thôn Peru Hơn nữa, nghiên cứu của Suri và Jack (2016) chỉ ra rằng tiền di động đã giúp 2% hộ gia đình tại Kenya thoát nghèo và nâng cao mức tiêu dùng bình quân đầu người.

Nghiên cứu năm 2020 chỉ ra rằng sự phát triển của FinTech 3.0 từ năm 2000 đã làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập tại Indonesia Sự đa dạng trong các sản phẩm tài chính do FinTech 3.0 mang lại góp phần vào tình trạng này, chủ yếu do sự chênh lệch trong việc tiếp cận và sử dụng công nghệ Tương tự, nghiên cứu của Saraswati và cộng sự (2020) khẳng định rằng sự phát triển của FinTech đã làm tăng bất bình đẳng thu nhập ở Indonesia qua mô hình điều chỉnh từ năm 1990 đến 2017 Dựa trên các tài liệu hiện có, nhóm tác giả đề xuất các giả thuyết mới nhằm làm rõ mối quan hệ giữa FinTech và bất bình đẳng thu nhập.

Công nghệ tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng thu nhập bằng cách cung cấp dịch vụ tài chính cho những nhóm dân cư chưa được phục vụ Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng công nghệ tài chính có thể làm tăng tình trạng bất bình đẳng thu nhập nếu không được quản lý đúng cách Tài chính toàn diện là một yếu tố then chốt trong việc giảm thiểu bất bình đẳng, giúp đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính cần thiết để cải thiện đời sống kinh tế.

Mô hình của Galor và Zeira (1993) chỉ ra rằng thị trường tín dụng không hoàn hảo hạn chế khả năng tiếp cận tài chính của người nghèo Mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch đảo giữa tài chính toàn diện và bất bình đẳng thu nhập, mối liên hệ này có thể khác nhau giữa các quốc gia và phụ thuộc vào các yếu tố như môi trường pháp lý, chất lượng thể chế, mức độ phát triển kinh tế, bản chất thị trường tài chính và chính sách tiếp cận tài chính Nghiên cứu của Kochar (2011) tại Uttar Pradesh, Ấn Độ cho thấy việc tăng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính qua ngân hàng địa phương không làm tăng mức sử dụng dịch vụ của hộ nghèo Ngược lại, Zhang và Posso (2019) phát hiện rằng tài chính toàn diện có tác động tích cực đến thu nhập của hộ gia đình ở Trung Quốc, đặc biệt là đối với các hộ ở phân vị thấp hơn, cho thấy tài chính toàn diện giúp giảm bất bình đẳng.

Tài chính toàn diện có ảnh hưởng tích cực đến bất bình đẳng thu nhập, như ghi nhận ở Sri Lanka (2022) Nghiên cứu của Omar và Inabar (2020) cho thấy tài chính toàn diện giúp giảm nghèo và bất bình đẳng thu nhập tại 116 quốc gia đang phát triển từ 2004 đến 2016 Phạm và cộng sự (2022) chỉ ra rằng tại Châu Âu giai đoạn 2011-2017, tỷ lệ tốt nghiệp trung học và độ mở kinh tế có tác động ngược đến bất bình đẳng thu nhập, trong khi tỷ lệ việc làm có ảnh hưởng trực tiếp Những nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động đa dạng của tài chính toàn diện đối với bất bình đẳng theo thời gian Dựa trên các đánh giá lý thuyết và kết quả trước đó, giả thuyết thứ hai trong nghiên cứu này được đề xuất.

H2a: Tài chính toàn diện làm giảm đáng kể sự bất bình đẳng về thu nhập

H2b: Tài chính toàn diện làm tăng đáng kể sự bất bình đẳng về thu nhập

2.3.3 Mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập

Hiện nay, có hai quan điểm lý thuyết chính về tác động của phát triển tài chính đối với bất bình đẳng thu nhập Giả thuyết hình chữ U ngược của Greenwood và Jovanovic (1990) cho rằng trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, mức độ phát triển tài chính sẽ làm tăng khoảng cách thu nhập, nhưng sau đó sẽ thu hẹp khi nền kinh tế đạt mức bão hòa Ngược lại, giả thuyết tuyến tính của Galor và Zeira (1993) cùng Banerjee và Newman (1993) dự đoán mối quan hệ tuyến tính và nghịch chiều giữa phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập.

Nghiên cứu của Aghion và Bolton (1997) về "thẩm thấu" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập Họ cho rằng, mức độ phát triển tài chính tác động đến bất bình đẳng thu nhập thông qua hai kênh: kênh trực tiếp tương tự như giả thuyết tuyến tính và kênh gián tiếp thông qua việc thúc đẩy chuyển đổi thể chế, từ đó góp phần giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập.

Nghiên cứu năm 2012 chỉ ra rằng mức độ phát triển tài chính có thể giảm bất bình đẳng thu nhập, đặc biệt trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển Tuy nhiên, khi đạt đến một ngưỡng nhất định, sự phát triển tài chính có thể dẫn đến tăng bất bình đẳng thu nhập Từ đó, nhóm tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu thứ ba.

H3a: Phát triển tài chính làm giảm đáng kể sự bất bình đẳng về thu nhập

H3b: Phát triển tài chính làm tăng đáng kể sự bất bình đẳng về thu nhập

Mô hình nghiên cứu

Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là bất bình đẳng thu nhập (IN), trong đó các biến độc lập bao gồm công nghệ tài chính (FT), mức độ phát triển tài chính (FD) và tài chính toàn diện (FI) Bên cạnh đó, các biến kiểm soát như giáo dục (ED), chính sách tái phân phối (RP), dân số (PO), độ mở thương mại (TRA) và tăng trưởng kinh tế (EG) cũng được đưa vào mô hình để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu.

+ 𝛽 7 𝑇𝑅𝐴𝐷𝐸 𝑖,𝑡 + 𝛽 8 𝐸𝐺 𝑖,𝑡 + 𝜀 𝑖,𝑡 β0: Hệ số chặn; β1…β8: Các hệ số; Ɛ: Sai số mô hình; i: Các quốc gia nghiên cứu; t: Năm nghiên cứu

Bảng 1 Các biến sử dụng trong nghiên cứu

Tên biến Ký hiệu Cách đo lường Nghiên cứu Nguồn dữ liệu

Bất bình đẳng thu nhập IN Hệ số Gini (GINI)

(2017), Demir và các cộng sự (2020), Chinoda và Mashamba

(2021), Ashenafi và Dong (2022), Girma và Huseynov (2024)

Sử dụng điện thoại di động để thanh toán hóa đơn (%)

Asongu và Nwachukwu (2018), Asongu và Odhiambo

(2019), Demir và các cộng sự (2020),

Phát triển tài chính FD Chỉ số phát triển tài chính

Demir và các cộng sự

Tài chính toàn diện FI

Tài khoản tại tổ chức tài chính (% tuổi 15+) (ACC)

Allen và các cộng sự

(2016), Demir và các cộng sự (2020), Girma và Huseynov (2024)

Tiết kiệm tại tổ chức tài chính (% tuổi 15+) (SAVE)

Vay từ tổ chức tài chính chính thức (% tuổi 15+) (BOR)

Giáo dục ED Tỷ lệ nhập học trung học

Demir và các cộng sự

Chính sách tái phân phối RP

Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng chung của chính phủ (%

Demir và các cộng sự

Dân số PO Tăng trưởng dân số

Demir và các cộng sự

(2020), Ashenafi và Dong (2022), Girma và Huseynov (2024)

World Bank Độ mở thương mại TRA Thương mại (%

Demir và các cộng sự

(2020), Ashenafi và Dong (2022), Girma và Huseynov (2024)

Tăng trưởng kinh tế EG

Tăng trưởng GDP bình quân đầu người (% hàng năm)

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Bất bình đẳng thu nhập thường được đo bằng hệ số Gini, một công cụ phổ biến trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tài chính và bất bình đẳng De Haan và Sturm (2017) đã chỉ ra rằng hệ số Gini dựa trên thu nhập hộ gia đình trước thuế là chỉ số tốt nhất để đo lường bất bình đẳng thu nhập trước khi có sự phân phối lại qua hệ thống thuế Nhiều nhà nghiên cứu khác như Demir và các cộng sự (2020), Chinoda và Mashamba (2021), Ashenafi và Dong (2022), cùng Girma và Huseynov (2024) cũng đã áp dụng hệ số Gini trong các nghiên cứu của họ về bất bình đẳng thu nhập.

Chỉ số phát triển tài chính được nghiên cứu để đánh giá sự phát triển tài chính theo Demir và các cộng sự (2020) Công nghệ tài chính được đo lường qua tỷ lệ sử dụng điện thoại di động để thanh toán hóa đơn (%) theo Asongu và Nwachukwu (2018), Asongu và Odhiambo (2019), Demir và các cộng sự (2020), và Chinoda và Mashamba (2021) Allen và các cộng sự (2016) đã sử dụng nhiều biện pháp tài chính toàn diện để đo lường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, bao gồm tỷ lệ người trưởng thành (từ 15 tuổi trở lên) sở hữu tài khoản, tiết kiệm và vay từ tổ chức tài chính chính thức Demir và cộng sự (2020) cũng áp dụng cách đo lường tương tự Girma và Huseynov (2024) đồng quan điểm rằng sự toàn diện được đo lường qua ba biến số: tài khoản, tiết kiệm và vay mượn.

Các biến kiểm soát trong nghiên cứu bao gồm: giáo dục, đo lường qua tỷ lệ nhập học trung học; chính sách tái phân phối, xác định qua chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của chính phủ (% GDP); tăng trưởng dân số, được đánh giá bằng tỷ lệ tăng trưởng dân số hàng năm; độ mở thương mại, đo bằng tỷ lệ thương mại so với GDP; và tăng trưởng kinh tế, được tính qua tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm (Demir và các cộng sự, 2020; Ashenafi và Dong, 2022; Girma và Huseynov, 2024).

Nghiên cứu về tác động của giáo dục đối với giảm bất bình đẳng thu nhập vẫn chưa thống nhất Neaime và Gaysset (2018) đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhập học trung học trên 70% tại các quốc gia MENA từ 2002 đến 2015 có mối liên hệ tích cực với việc giảm nghèo Awan và cộng sự (2011) nhấn mạnh rằng giáo dục không chỉ đáp ứng nhu cầu cơ bản mà còn nâng cao mức sống, từ đó giảm tình trạng nghèo đói Hơn nữa, trình độ phát triển con người và khả năng đọc viết tốt giúp người dân có thu nhập thấp tiếp cận các dịch vụ tài chính, góp phần giảm nghèo (Atkinson và Messy, 2013) Nghiên cứu của Girma và Huseynov (2024) cho thấy giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến bất bình đẳng thu nhập với mức ý nghĩa 1%, điều này cũng được Demir và cộng sự (2020) xác nhận.

Chính sách tái phân phối

Nghiên cứu của Doerrenberg và Peichl (2014) cho thấy rằng tăng 1% chi tiêu chính phủ hoặc chi tiêu công xã hội có thể giảm bất bình đẳng sau thuế khoảng 0,3% Tương tự, Hatch và Rigby (2015) xác định bốn chính sách tái phân phối từ năm 1980 đến 2005, cho thấy rằng thuế đối với người giàu, thuế đối với người nghèo, chi tiêu cho người nghèo và các chính sách thị trường lao động đều có tác động tích cực đến việc giảm bất bình đẳng thu nhập Girma và Huseynov (2024) chỉ ra rằng chi tiêu chính phủ có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến bất bình đẳng thu nhập, nhấn mạnh rằng việc phân bổ chi tiêu không công bằng sẽ làm gia tăng khoảng cách thu nhập Cuối cùng, Demir và các cộng sự (2020) khẳng định rằng tái phân phối của chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chênh lệch thu nhập.

Girma và Huseynov (2024) chỉ ra rằng sự tăng trưởng dân số không có tác động đáng kể đến bất bình đẳng, trong khi Neaime và Gaysset (2018) nghiên cứu ảnh hưởng của tài chính toàn diện đối với bất bình đẳng thu nhập và nghèo đói, cùng với tác động của tự do hóa và hội nhập tài chính lên sự ổn định tài chính tại tám quốc gia MENA Kết quả cho thấy dân số có xu hướng làm gia tăng cả bất bình đẳng và nghèo đói, điều này cũng được nhiều nghiên cứu khác khẳng định (Beck và các cộng sự).

Độ mở thương mại ngày càng tăng ở các nước đang phát triển có thể tạo ra nhu cầu lớn hơn về lao động giá rẻ, góp phần giảm bất bình đẳng, nhưng mối quan hệ giữa độ mở thương mại và bất bình đẳng thu nhập vẫn chưa rõ ràng Theo Cornia và Kiiski (2001), thương mại mang lại lợi ích khác nhau cho các nhóm lao động ở các giai đoạn phát triển khác nhau, với lao động phổ thông ở các nước đang phát triển và chủ sở hữu vốn ở các nước phát triển hưởng lợi nhiều nhất Nghiên cứu của Chakrabarti (2000) và Herrero cùng Turégano (2015) cho thấy tham gia vào thương mại có thể giảm đáng kể bất bình đẳng thu nhập, trong khi Lim và McNelis (2014) chỉ ra rằng mở cửa thương mại hiệu quả hơn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc viện trợ nước ngoài trong việc thay đổi bất bình đẳng thu nhập, mặc dù hiệu quả này phụ thuộc vào giai đoạn phát triển.

Brueckner và Lederman (2018) ước tính rằng mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng GDP bình quân đầu người phụ thuộc vào thu nhập ban đầu của các quốc gia, với sự giảm đáng kể ở các mức thu nhập cao hơn Rehman và cộng sự (2008) phân tích dữ liệu từ 51 quốc gia ở các giai đoạn tăng trưởng khác nhau, xác định rằng chi tiêu của chính phủ, tỷ lệ biết chữ và độ mở thương mại là các yếu tố chính dẫn đến bất bình đẳng thu nhập Chinoda và Mashamba (2021) phát triển Mô hình FFI kép mới để nghiên cứu mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện và bất bình đẳng thu nhập ở 25 quốc gia châu Phi, chỉ ra rằng độ mở thương mại và phát triển tài chính có mối tương quan nghịch với bất bình đẳng thu nhập, mặc dù không đáng kể ở mức 5% ngoại trừ các chi nhánh Nghiên cứu cũng cho thấy mối liên hệ tích cực giữa phát triển tài chính, thương mại và tài chính toàn diện.

Chương 2 trình bày về dữ liệu, phương pháp và giả thuyết nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng loại dữ liệu thứ cấp, mẫu nghiên cứu bao gồm thông tin của 157 quốc gia trên thế giới từ năm 2011 đến 2022 và chia thành 3 nhóm quốc gia bao gồm 39 quốc gia phát triển, 84 quốc gia đang phát triển và 34 quốc gia chậm phát triển Tất cả các số liệu được sử dụng đều là dữ liệu thứ cấp vì đều được lấy theo dữ liệu trên Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ sở dữ liệu về bất bình đẳng thu nhập thế giới được tiêu chuẩn hóa (SWIID), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Sau đó từ giả thuyết nghiên cứu, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu cho đề tài Chương 3, tác giả sử dụng sử dụng các phương pháp hồi quy OLS, FEM, REM; và các kiểm định White, Hausman nhằm tìm ra mô hình nghiên cứu phù hợp, cuối cùng là hiệu chỉnh mô hình GLS và đưa ra bảng tổng hợp chiều hướng tác động của công nghệ tài chính, tài chính toàn diện và mức độ phát triển tài chính đến bất bình đẳng thu nhập.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28 3.1 Mô tả tổng quan số liệu nghiên cứu

Ngày đăng: 12/03/2025, 02:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các biến sử dụng trong nghiên cứu - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 1. Các biến sử dụng trong nghiên cứu (Trang 28)
Bảng 2. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trong mô hình hồi quy với - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 2. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trong mô hình hồi quy với (Trang 34)
Bảng 3. Kết quả kiểm định hệ số tương quan Pearson - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 3. Kết quả kiểm định hệ số tương quan Pearson (Trang 36)
Bảng 5. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM với toàn bộ mẫu - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 5. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM với toàn bộ mẫu (Trang 37)
Bảng 6. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM với nhóm quốc gia phát triển - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 6. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM với nhóm quốc gia phát triển (Trang 38)
Bảng 7. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM với nhóm quốc gia đang - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 7. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM với nhóm quốc gia đang (Trang 40)
Bảng 8. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM với nhóm quốc gia chậm - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 8. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM và REM với nhóm quốc gia chậm (Trang 41)
Bảng 10 cho thấy Prob > Chi2 của tất cả nhóm mẫu đều nhỏ hơn 0.05 nên bác bỏ  giả thuyết Ho: mô hình không xuất hiện hiện tượng phương sai thay đổi - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 10 cho thấy Prob > Chi2 của tất cả nhóm mẫu đều nhỏ hơn 0.05 nên bác bỏ giả thuyết Ho: mô hình không xuất hiện hiện tượng phương sai thay đổi (Trang 43)
Bảng 13. Mô hình GLS - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 13. Mô hình GLS (Trang 44)
Bảng 12. Kết quả kiểm tra các khuyết tật của mô hình - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 12. Kết quả kiểm tra các khuyết tật của mô hình (Trang 44)
Bảng 13 cho thấy hầu hết các biến đều không tác động đến hệ số gini. Biến ACC - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 13 cho thấy hầu hết các biến đều không tác động đến hệ số gini. Biến ACC (Trang 47)
Bảng 15. Hệ số bất bình đẳng thu nhập (GINI) giữa các địa phương giai đoạn - Đề tài nghiên cứu khoa học: Mối quan hệ giữa công nghệ tài chính, tài chính toàn diện, mức độ phát triển tài chính và bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia trên thế giới
Bảng 15. Hệ số bất bình đẳng thu nhập (GINI) giữa các địa phương giai đoạn (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w