LỜI CAM ĐOAN CỦA NHÓM TÁC GIẢ Chúng em xin cam kết rằng đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu sự tác động của sở hữu nước ngoài tới ổn định của hệ thống Ngân hàng thương mại tại Việt Na
Trang 11
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
DỰ THI CẤP KHOA HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2023
Trang 2LỜI CAM ĐOAN CỦA NHÓM TÁC GIẢ
Chúng em xin cam kết rằng đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu sự tác động
của sở hữu nước ngoài tới ổn định của hệ thống Ngân hàng thương mại tại Việt Nam”
là công trình nghiên cứu, tìm hiểu của chúng em và được hoàn thiện dưới sự chỉ dẫn
tận tình của
Mọi nội dung nghiên cứu, dữ liệu và kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học đều
hoàn toàn đảm bảo tính chính xác, trung thực và chưa được công bố dưới bất kỳ hình
thức nào trước đây Những số liệu, bảng, biểu, sơ đồ phục vụ cho việc phân tích, nhận
xét, đánh giá đều được trích dẫn rõ nguồn tài liệu tham khảo Chúng em xin được chịu
trách nhiệm hoàn toàn về đề tài nghiên cứu khoa học này
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2023
Người cam đoan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thời gian ba năm được học tập, rèn luyện tại Học viện Ngân hàng đã giúp cho chúng em được trang bị thêm nhiều kiến thức, kỹ năng và cơ hội để phát triển bản thân Trong quá trình học tập, thầy cô luôn là những người hướng dẫn tận tâm, truyền cảm hứng và động lực cho chúng em Không chỉ tâm huyết trong việc chia sẻ những kiến thức chuyên môn, thầy cô còn truyền đạt những giá trị, đạo đức và tinh thần trách nhiệm Nhờ đó, chúng em đã vượt qua những khó khăn, sự nản lòng, rèn luyện cho mình thêm nhiều kỹ năng để đột phá giới hạn của chính mình
Với lòng biết ơn chân thành, chúng em xin được gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô giáo Học viện Ngân hàng Đặc biệt, chúng em xin bày tỏ lòng kính trọng đến đã luôn tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này Đồng thời, chúng em cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đến Học viện vì đã luôn cung cấp môi trường học tập và rèn luyện tuyệt vời Các cơ sở, vật chất, các nguồn tài liệu
đa dạng đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc nghiên cứu và tiếp thu kiến thức của chúng em Bên cạnh đó, Học viện cũng tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa và sự kiện giúp chúng em phát triển kỹ năng mềm, mở rộng mạng lưới xã hội và trải nghiệm thực tế
Chúng em xin kính chúc cô cùng toàn thể thầy cô Học viện Ngân hàng luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công hơn nữa trong sự nghiệp giảng dạy của mình Tuy chúng em là những sinh viên đến từ các khoa khác nhau của Học viện, cụ thể
là Khoa Ngân hàng và Khoa Kinh doanh Quốc tế, nhưng chúng em đã nỗ lực và cố gắng hết sức để hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất Tuy nhiên, do còn hạn chế về mặt thời gian cũng như về kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu nên đề tài của chúng em không thể tránh được việc thiếu sót Vì thế, chúng em kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý đến từ các thầy, cô để bài nghiên cứu khoa học của chúng em thêm phần hoàn chỉnh, có ý nghĩa hơn cả về mặt khoa học và ứng dụng vào thực tiễn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2023
Trang 41 TÍNH CẤP THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU 10
2.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI CỦA NHTM 12 2.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA NGÂN HÀNG 13 2.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NHTM 17 2.4 TÍNH MỚI CỦA NGHIÊN CỨU 19
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể 20
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 21
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI
1.1 Tổng quan về SHNN tại NHTM 22 1.1.1 Các hình thức sở hữu tại NHTM 22 1.1.2 Sở hữu nước ngoài tại NHTM 24 1.1.2.1 Các hình thức SHNN tại NHTM 24 1.1.2.2 Vai trò của SHNN tại NHTM 25 1.2 Tổng quan về ổn định hệ thống NHTM 27
Trang 51.2.1 Khái niệm, vai trò ổn định hệ thống NHTM 27 1.2.2 Đo lường ổn định hệ thống NHTM 31 1.2.2.1 Các chỉ số đo lường tính ổn định của từng ngân hàng riêng lẻ 31
a Dự phòng rủi ro tín dụng 31
b Hệ số đòn bẩy tài chính (LEV) 32
c Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) 32
d Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA) 33
e Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) 34
2.2 Tổng quan về mô hình tác động của SHNN đến ổn định hệ thống NHTM 46 2.3 Lựa chọn mô hình nghiên cứu 49 2.3.1 Mô hình nghiên cứu tác động của SHNN đến ổn định hệ thống NHTM
Trang 6NGOÀI TỚI ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NHTM TẠI VIỆT NAM 54
3.1 Kết quả nghiên cứu dựa trên mô hình ROA 54 3.2 Kết quả nghiên cứu dựa trên mô hình NPL 57
4.1 Khuyến nghị chính sách 62 4.2 Đóng góp về mặt khoa học 73 4.3 Đóng góp về mặt thực tiễn 73
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các hình thức sở hữu của NHTM
Bảng 2.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Bảng 2.2 thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Bảng 3.1 Kết quả hồi quy các nhân tố FOWN, AGE, LEV, GDP, INF tác động đến ROA
Bảng 3.2 Kết quả hồi quy các nhân tố FOWN, ROA, LDR, GDP, INF tác động đến NPL
Bảng 4.1 Tỷ lệ SHNN tại các NHTM tại Việt Nam cập nhật ngày 15/02/2022
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
1 CAR Capital Adequacy Ratio Tỷ lệ an toàn vốn
6 FEM Fixed Effects Model Mô hình tác động cố định
cổ phần của ngân hàng
9 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
10 GDP Gross Domestic Product Tốc độ tăng trưởng kinh tế
11 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân
12 INF Inflation Tỷ lệ lạm phát
13 KNTT Khả năng thanh toán
14 LAR Liquid Asset Ratio Hệ số tài sản lỏng
Trang 920 NHTM Ngân hàng thương mại
21 NIM Net Interest Margin Biên lãi ròng
22 NPL Non Performing Loan Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
23 QLNN Quản lý nước ngoài
24 QMDN Quy mô doanh nghiệp
25 REM Random Effects Model Mô hình tác động ngẫu nhiên
26
ROA Return on Assets
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
27
ROE Return On Equity
Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
28 SHNN Sở hữu nước ngoài
29 TTDT Tốc độ tăng trưởng doanh thu
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU
Sự lan tỏa của việc hội nhập vào nền kinh tế quốc tế trong thời đại ngày càng phát triển của công nghiệp hóa và hiện đại hóa Việc tìm kiếm một thị trường tiềm năng mới luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các NĐT trong và ngoài nước Trong vài thập kỷ qua, đã có nhiều quốc gia tự do hóa chính sách tài chính và khuyến khích sự gia nhập của các NĐT nước ngoài vào hệ thống NH trong nước “Sở hữu nước ngoài”
là một khái niệm rộng, đa nghĩa, đặc biệt nhấn mạnh đến tính sở hữu tài sản nội địa của một NĐT nước ngoài nhằm thu được lợi ích, đồng thời cũng tạo nên một dòng vốn giúp cho sự phát triển kinh tế Hòa vào xu thế đó, hệ thống NHTM ở Việt Nam đã có
sự thay đổi lớn trong 10 năm qua Trước hết, đó là sự xuất hiện của NHTMCP mới sau quá trình đổi mới và tái cấu trúc ngành ngân hàng Thứ hai, Việt Nam đã mở rộng quan
hệ hợp tác và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập với cộng đồng quốc tế, thể hiện qua việc ký kết các điều ước quốc tế và gia nhập WTO, mở ra cơ hội cho các NĐT nước ngoài gia nhập vào thị trường Việt Nam Nhiều NHTM cổ phần bán cổ phần cho NĐT nước ngoài với hy vọng tăng vốn cho các NĐT nước ngoài có kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong cơ chế thị trường của các nước phát triển, có thể chuyển giao công nghệ tiên tiến hỗ trợ hoạt động cho ngân hàng Có thể thấy việc NĐT nước ngoài tham gia vào cơ cấu cổ phần có thể giúp các NHTM cổ phần hoạt động ổn định hơn hay không đang là vấn đề phải được xem xét kỹ lưỡng
Với các nhà hoạch định chính sách thì sự bền vững trong hệ thống NHTM luôn
là vấn đề khó giải quyết và đầy thách thức, là một thách thức an ninh phi truyền thống
mà mọi quốc gia phải đương đầu Gần đây, cuộc khủng hoảng về tài chính đặt ra sự thách thức cấp bách, yêu cầu chúng ta phải xây dựng một bộ khung thống nhất nhằm bảo đảm ổn định về mặt tài chính của hệ thống NHTM và ngăn chặn nguy cơ lan tỏa của khủng hoảng Việc hiểu rõ về sự cần thiết của ổn định tài chính là yếu tố then chốt trong việc phát triển các công cụ phân tích phù hợp cũng như chính sách điều hành an toàn vĩ mô Vì thế, các nhà quản lý phải luôn đặc biệt tập trung vào việc xây dựng các chính sách và quy định nhằm đảm bảo an toàn, trật tự hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng
Trang 11Nghiên cứu này rất kịp thời bởi hệ thống NH Việt Nam hiện nay đang phải chịu
sự ganh đua rất lớn từ các NH trong phạm vi khu vực và thế giới Bên cạnh đó, tỷ lệ
nợ xấu tăng cao và hậu quả rủi ro tín dụng mang lại thiệt hại nghiêm trọng, tác động xấu đến sự bình ổn về mặt tài chính của họ Để phát triển vị thế cạnh tranh, các NH buộc phải mở rộng quy mô, áp dụng công nghệ hiện đại và phương pháp quản trị tiên tiến Như vậy, sự cần thiết từ việc giúp đỡ của các NĐT lớn, có năng lực tài chính mạnh giúp các NH đạt được mục tiêu đề ra là rất lớn Tuy nhiên, tình trạng các NĐT nước ngoài hay còn gọi là các nhà cổ đông chiến lược giúp nâng cao năng lực về mặt tài chính cho các NHTM tại Việt Nam chưa đạt được hiệu quả như mong đợi Thực tế các NĐT nước ngoài, các định chế tài chính quốc tế tham gia vào thị trường Việt Nam khá sớm Mặc dù vậy, trong vòng 10 năm qua, thị phần tổng tài sản của khối NH nước ngoài và liên doanh tại Việt Nam vẫn chỉ loanh quanh ở mức 10% Vấn đề cần quan tâm trong thực trạng room sở hữu của NH nước ngoài là tình trạng chưa sử dụng hết tỷ
lệ trần room 30% tại các ngân hàng Theo báo cáo mới nhất của Viện Nghiên cứu Quản
lý Kinh tế Trung ương (2022), tỷ lệ sở hữu cổ phần của NĐT nước ngoài tại một số NHTM đang tiến gần về mức giới hạn trên 30% Cụ thể, tại thời điểm 30/6/2021, có
19 tổ chức tín dụng có cổ đông là các tổ chức nước ngoài, nắm giữ trên 1% vốn đăng
ký, trong đó NHTM nhà nước có 03/04 NH (Vietcombank, Vietinbank và BIDV có tỷ
lệ SHNN từ 16,7 - 25,5%) và NHTM cổ phần là 16/28 ngân hàng; tỷ lệ sở hữu cổ phần của 11 tổ chức tín dụng chiếm trên 15% trong đó có 5 tổ chức tín dụng có tỷ lệ sở hữu
cổ phần của tổ chức nước ngoài trên 25%
Như vậy, dưới góc độ định tính, dường như có sự tồn tại, giao thoa giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực của hình thức SHNN đến sự ổn định của hệ thống NHTM Việt Nam trong những năm gần đây Từ đó đặt ra một câu hỏi mang tính cấp thiết: SHNN sẽ ảnh hưởng ở mức độ nào tới hiệu quả hoạt động của NHTM? Cần hành động gì để giúp hệ thống NHTM tối ưu hóa sự ổn định, bền vững và toàn diện? Vậy
nên, nhóm tác giả lựa chọn “Nghiên cứu sự tác động của sở hữu nước ngoài tới ổn
định của hệ thống Ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
Trang 122 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI CỦA NHTM
Sở hữu nước ngoài (Foreign Ownership), bao gồm nhiều khía cạnh, đặc biệt nhấn mạnh đến tính sở hữu tài sản nội địa của một NĐT nước ngoài nhằm thu được lợi từ nước đó và đồng thời cũng tạo nên một dòng vốn giúp cho nền kinh tế tăng trưởng Theo pháp luật ở đa số các nước trên thế giới, NĐT nước ngoài là các cá nhân không mang quốc tịch của nước sở tại và tổ chức nước ngoài được thành lập theo quy định của pháp luật nước này nhưng hoạt động tại nước khác với mục đích đã được xác định trước Vậy nên việc các NĐT nước ngoài đầu tư vào các NHTM sẽ không phải là các NĐT nhỏ lẻ mà họ sẽ phải góp vốn để sở hữu được số cổ phiếu đủ lớn để trở thành các nhà cổ đông chiến lược cho NHTM
Sở hữu nước ngoài là một phương thức sở hữu vốn được giới nghiên cứu và phân tích quan tâm trong thời gian gần đây, phổ biến rộng rãi trong nền kinh tế hiện đại, hội nhập quốc tế, từ cấp độ cá nhân đến doanh nghiệp Những nghiên cứu đã sử dụng nguồn
dữ liệu quốc tế để so sánh thực nghiệm về tính tối ưu của các NH trong và ngoài nước,
và nhận ra rằng các NH nước ngoài hoạt động một cách hiệu quả và cạnh tranh hơn trong các nước đang phát triển so với NH trong nước Trong nghiên cứu của Yalama, Aydin, Sayim (2007); Kabir, Douma và George (2006); Olga Bilyk (2009); Wijaya và Murhadi (2020); Gurbuz và Aybars (2010); Zraiq và Fadzil (2018) đã khẳng định sự
có mặt của quyền SHNN giúp tăng cường tính hiệu quả của NH Phương pháp hồi quy OLS được Zraiq và Fadzil (2018) dùng để kiểm tra tác động của cấu trúc sở hữu vốn (bao gồm quyền sở hữu vốn từ gia đình và quyền SHNN) đến kết quả tại 228 NH ở Jordan Kết quả cho thấy tỷ lệ quyền SHNN tại các Ngân hàng ở Jordan rất thấp chỉ khoảng 14% Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu nhận định nguồn vốn thiểu số từ quyền SHNN ảnh hưởng tốt tới thành quả NH
Bên cạnh đó, tổn tại không ít kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động tiêu cực của hình thức SHNN đến hệ thống NH trong nước Nghiên cứu của Angkinand và Wihlborg (2010) chỉ ra rằng SHNN có liên quan đến việc chấp nhận rủi ro lớn hơn, tức là kém
ổn định hơn khi được đo bằng chỉ số Z (đại diện cho khoảng cách đến vỡ nợ) ủng hộ giả thuyết lợi thế sân nhà Cụ thể áp dụng phạm vi bảo hiểm tiền gửi và các biến quản trị rõ ràng, chẳng hạn như quyền của cổ đông, chủ nợ, để nắm bắt các biện pháp khuyến
Trang 13khích rủi ro đạo đức của các ngân hàng Hay nghiên cứu về mối liên hệ giữa quyền SHNN với hiệu quả hoạt động của NH sử dụng dữ liệu từ 2,095 NHTM tại 105 quốc gia trong giai đoạn từ 1998 - 2003 của Lensink và cộng sự (2008) cho rằng quyền SHNN có tác động tiêu cực tới kết quả kinh doanh ngân hàng Nhóm đã đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các ảnh hưởng xấu này, đó là tăng cường, phát triển hệ thống quản trị trong ngân hàng
Về phía trong nước, kết quả của công trình nghiên cứu về tác động của SHNN đến rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian 2009 - 2015 của Võ Xuân Vinh, Mai Xuân Đức (2017) chỉ ra rằng, SHNN càng lớn thì rủi ro thanh khoản của NHTM sẽ càng hạn chế và ngược lại Đánh giá này vô cùng cần thiết trong việc bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm để chứng tỏ vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc quản trị rủi ro thanh khoản hay hoạt động khác ở các NHTM Việt Nam Mới đây, Hà Xuân Thạch (2021) kiểm tra mối liên hệ giữa quyền SHNN với hiệu quả hoạt động của NH với sự tham gia điều tiết của biến đòn bẩy tài chính và
số năm hoạt động của ngân hàng Tác giả chỉ ra rằng, NĐT nước ngoài khi đầu tư vốn vào các NH tại Việt Nam, không chỉ tăng cường việc kiểm soát trong điều hành hoạt động, hạn chế những nhược điểm của vấn đề đại diện, mở rộng quy mô vốn mà còn giúp cải thiện kết quả hoạt động Điểm đặc biệt nghiên cứu tìm ra là các NH với kết quả hoạt động khác nhau sẽ chịu ảnh hưởng của quyền SHNN khác nhau Cụ thể, quyền SHNN tác động tới kết quả kinh doanh trong NH có kết quả kinh doanh cao thì phản ứng tốt hơn so với các NH có kết quả kinh doanh kém Qua đó có thể kết luận rằng, các NH với cấu trúc hoạt động lớn, ngành nghề kinh doanh đa dạng, thu hút, kết quả hoạt động tốt và các chỉ số thanh toán tiềm năng sẽ là nơi hấp dẫn đối với NĐT nước ngoài
2.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA NGÂN HÀNG
Lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với sự bền vững của hệ thống tài chính là lĩnh vực ngân hàng Các NH có chức năng là trung tâm trong quá trình tạo tiền và trong hệ thống thanh toán Ngoài ra, tín dụng NH là một nhân tố cựu kì thiết yếu trong việc tài trợ, đầu tư và tăng trưởng hệ thống NH có liên quan đến siêu lạm phát và suy thoái trong lịch sử nền kinh tế Vì vậy, để bảo toàn tiền tệ và tài chính sự ổn định NH trung ương và cơ quan giám sát có mối quan tâm đặc biệt trong việc đánh giá tính bền vững của hệ thống NH Một số nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra những đánh giá về
Trang 14sự ổn định của hệ thống NHTM Tuy nhiên, cuộc tranh luận về những yếu tố có ảnh hưởng chính xác đến sự ổn định tài chính trong lĩnh vực này vẫn đang tiếp tục
Một hệ thống được xem là ổn định nếu mức độ biến thiên của nó vẫn trong tầm kiểm soát và có khả năng quay trở lại trạng thái ban đầu sau khi bị lệch khỏi trạng thái này do chịu tác động của các chỉ số đánh giá mức độ rủi ro và hiệu quả (các nhân tố bên ngoài) Trong lĩnh vực NH, mối liên kết chặt chẽ giữa các NH sẽ tạo ra một hệ thống NH hoàn chỉnh nhằm bổ trợ nhau trong các vấn đề về tín dụng và thanh khoản
Có thể nói rằng chỉ cần một mắt xích trong mối quan hệ này bị tác động xấu thì nó sẽ lây lan ảnh hưởng cho cả một hệ thống NHTM
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đặng và Phạm Thị Châu Loan (2019) kiểm định các chỉ số ảnh hưởng đến ổn định NHTM bao gồm: tỷ lệ nợ xấu, dự phòng rủi ro tín dụng, quản lý chi phí kém hiệu quả, đòn bẩy tài chính, thu nhập ngoài lãi, quy mô NH
và tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất danh nghĩa, tỷ giá hối đoái tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Phương pháp định lượng được sử dụng gồm mô hình tác động gộp, mô hình tác động ngẫu nhiên và mô hình tác động cố định để phân tích dữ liệu của các NH Cụ thể, về tỷ lệ nợ xấu: Tính đến hết quý II/2022,
nợ xấu của Vietcombank ở mức 6,700 tỷ đồng, tăng 9,4% so với đầu năm Trong đó,
nợ có khả năng mất vốn là 4,668 tỷ đồng Đáng chú ý, NH này nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên hơn 500%, tương đương một đồng nợ xấu thì NH đã dự phòng 5 đồng Đây cũng là tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao nhất toàn ngành NH từ trước đến nay Về dự phòng rủi ro tín dụng thì trong quý III, ACB đã dành hơn 820 tỷ đồng để trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, cao gấp 5 lần so với cùng kỳ năm 2020 Lũy kế 9 tháng, dự phòng rủi ro tín dụng tại ACB đạt hơn 2,812 tỷ đồng, gấp 4 lần so với hồi đầu năm Từ báo cáo kết quả kinh doanh của các NHTM cho thấy, nợ xấu là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Tỷ lệ nợ xấu, dự phòng rủi ro tín dụng, kém hiệu quả trong quản lý chi phí có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh và thu nhập ngoài lãi, quy mô của NH có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Bình và cộng sự (2022) được thực hiện dựa trên cơ sở dữ liệu về báo cáo tài chính được kiểm toán, công bố trên website của 24 NHTM niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2017 - 2020, sử dụng
mô hình hồi quy OLS với biến phụ thuộc là tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) – đại
Trang 15diện cho hiệu quả hoạt động và các biến phụ thuộc được chia thành yếu tố bên trong
và bên ngoài Kết quả cho thấy, ROA thuận chiều với quy mô tài sản và tỷ lệ cho vay/tiền gửi của khách hàng; đồng thời, nghịch chiều với tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và sở hữu ngân hàng Ví dụ như Agribank có chỉ tiêu ROA tăng và ở mức đảm bảo an toàn, tăng trưởng tốt Cụ thể, tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) năm 2021 đạt 15,72%, tăng so với năm 2020 là 1,19%; Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản bình quân (ROA) đạt 0,69%, tăng 0,02% Một nghiên cứu do Lê Ngọc Quỳnh Anh, Lê Thị Phương Thanh và Nguyễn Quý Quốc (2020) thực hiện, tiến hành tổng hợp số liệu từ 19 NH Việt Nam giai đoạn từ
2014 đến 2018 nhằm ước lượng mức độ bình ổn tài chính của chúng, qua việc tính toán
hệ số nguy cơ phá sản (z-score) bằng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng, bao gồm mô hình bình phương tối thiểu thông thường, mô hình hồi quy tác động cố định, mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên và mô hình bình phương tối thiểu tổng quát Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, quy mô của NH và tỷ lệ cho vay đối với tiền gửi có tác động tích cực đến sự ổn định tài chính của các NH này Tuy nhiên, biên lãi ròng lại được xem là yếu tố quan trọng và có tác động xấu tới sự bình
ổn tài chính của các NH trong mẫu nghiên cứu Ví dụ NH Công thương Việt Nam (VietinBank), trong quý 2/2022, cho vay khách hàng cá nhân và DN theo đó tăng lần lượt 7,7% và 3,1% so với quý trước Đối với lĩnh vực cho vay khách hàng cá nhân, 6 tháng đầu năm, VietinBank ưu tiên cho vay mua nhà dài hạn Việc này chỉ ra thông qua việc tín dụng trong phân khúc này tăng 28% so với đầu năm
Một báo cáo được thực hiện bởi Phạm Phát Tiến và Nguyễn Thị Kiều Ny (2019)
đã mục tiêu xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của các NHTM tại Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng 7 biến độc lập bao gồm quy mô của ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, thu nhập lãi thuần, vốn chủ sở hữu trên tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ nợ xấu Kết quả ước lượng của nghiên cứu cho thấy phạm vi của NH và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản có mối quan hệ thuận lợi đối với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Trong khi
đó, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng lại có mối quan
hệ nghịch lý với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Tuy nghiên cứu này không tìm thấy bằng chứng về tác động của thu nhập lãi thuần, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu đến biến phụ thuộc Ví dụ, tại thời điểm 31/03/2022, hệ số CAR riêng lẻ và hợp nhất
Trang 16của NH VPBank đạt 15.29% và 15.33%, tăng lần lượt 1.13% và 1.06% so với thời điểm cuối năm 2021, nguyên nhân chủ yếu do vốn tự có tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng của RWA Trong quý 1 năm 2022, hệ số CAR luôn giữ ở mức cao hơn tỷ
lệ an toàn tối thiểu 8% và tỷ lệ mục tiêu tối thiểu theo Tuyên bố Tỷ lệ rủi ro 2022 là 10%
Dựa trên hướng dẫn của Chương trình Đánh giá Khu vực Tài chính (FSAP) năm
2007 do World Bank và Quỹ Tiền tệ Quốc tế nghiên cứu, Nguyễn Thị Minh Huệ (2012)
đã đánh giá sự ổn định của hệ thống NH Việt Nam qua 34 NHTM năm 2010 Nghiên cứu tiến hành phân nhóm 34 NH trên căn cứ vào quy mô hoạt động thành nhóm Big 4 (gồm Vietcombank, Vietinbank, Agribank, BIDV), G12 (gồm Big4, ACB, Sacombank, Maritime Bank, Military Bank, VPBank, VIBBank, Techcombank, Eximbank) Tác giả sử dụng các chỉ số tài chính (FSIs) như Tỷ lệ vốn trên tổng tài sản,
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ trung bình, ROA , ROE, Thu nhập ròng từ lãi trên tổng thu nhập, Chỉ số tiền gửi khách hàng trên tổng dư nợ, tài sản thanh khoản trên tổng tài sản để đánh giá sự lành mạnh tài chính của các ngân hàng Kết quả phân tích đã báo cáo rằng hệ thống NH Việt Nam vẫn để tâm quá nhiều vào hoạt động cho vay Cụ thể, toàn ngành có trên 77% thu nhập là từ hoạt động thu lãi Do đó, các NH cần phải tham gia vào các hoạt động khác trong mảng tín dụng cũng như phi tín dụng để tăng khả năng cạnh tranh Thứ hai, tỷ lệ vốn trên tổng tài sản so với các nước trong khu vực còn thấp Như vậy, sẽ dẫn đến nguy cơ bất ổn nếu như các NH xảy ra rủi ro thanh khoản Bên cạnh đó, Huỳnh Japan (2020) đánh giá sự ổn định tài chính là thông qua chỉ số Z-score Chỉ số này thể hiện rủi ro ở cấp độ hệ thống của NH, xác suất vỡ nợ của NH đó Nghiên cứu này của tác giả đã sử dụng chỉ số Z-score để đo lường rủi ro tổng thể và
vỡ nợ của các NH Chỉ số này dựa trên vốn hóa, lợi ích kinh tế và biến động tài sản của
NH để đánh giá khả năng ổn định tài chính của họ Ngoài chỉ số Z-score, nghiên cứu cũng xem xét tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ nợ xấu là hai chỉ tiêu khác
để đánh giá chất lượng tín dụng trong cùng giai đoạn Nếu NH mà không có khả năng tài trợ cho các công cụ bảo vệ như hệ số an toàn vốn, thì họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chống lại bất kỳ thách thức tài chính nào Trong khi đó, lợi nhuận của NH
có ít tác động đến sự ổn định tài chính Tuy nhiên, rủi ro cho vay có thể gây nguy hiểm đến sự ổn định trong hệ thống ngân hàng, tuy rủi ro này có thể có độ trễ lớn Do đó,
Trang 17chỉ số Z-score tại Việt Nam chưa thể phản ánh đầy đủ thông tin về chu kỳ tín dụng và chất lượng tín dụng trong ngành ngân hàng
Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2021) xem xét tính tương quan của 6 chỉ số tài chính bao gồm tỷ lệ dự trữ thanh khoản, tỷ lệ nợ xấu, hệ số an toàn vốn, tỷ lệ vốn chủ sở hữu,
tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô NH để đánh giá thành quả kinh doanh và mức ổn định của ngân hàng Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp là các báo cáo thường niên của 19
NH niêm yết trên sàn HOSE, HNX và UPCOM từ 2015 tới 2019 Kết quả báo cáo chỉ
ra có tương quan tuyến tính giữa 3 chỉ số tài chính đối với thành quả hoạt động của NH niêm yết ở Việt Nam Trong đó, chỉ số tài chính tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản (CAP)
có tác động tích cực đến thành quả hoạt động, trong khi hệ số an toàn vốn (CAR) và
hệ số chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động (CIR) có tác động tiêu cực Việc này hàm
ý rằng các NHTM nếu muốn tăng trưởng nhanh dựa trên quy mô mà vẫn đáp ứng mức
độ an toàn vốn cần có giải pháp song trùng như vừa tăng cường cắt giảm chi phí hoạt động, vừa lựa chọn tỷ lệ an toàn vốn tối ưu, phù hợp với quy mô của NH
2.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NHTM
“Sở hữu nước ngoài” là một loại hình sở hữu, là sự tham gia vốn của các nhà đầu
tư nước ngoài nhằm tạo nên một tác động đến với hệ thống NHTM, tuy nhiên giải pháp này lại mang tính 2 mặt tích cực và tiêu cực Trong một bài phân tích hồi quy dữ liệu bảng được áp dụng khi nghiên cứu một mẫu quan sát gồm 171 NHTM từ khu vực MENA (khu vực Trung Đông - Bắc Phi) trong khoảng thời gian từ 2006 đến năm 2021 của Lassoued và cộng sự (2016) đã chỉ ra tỷ lệ SHNN làm giảm mức độ gánh chịu rủi
ro của các NH Điều này có nghĩa là việc không chấp nhận rủi ro của các NH, việc chỉ loanh quanh trong vùng an toàn sẽ không tạo nên tính lợi ích, thu được nhiều lợi nhuận cho NHTM
Thị trường NH ngày càng trở nên quốc tế thông qua tự do hóa tài chính và kinh
tế nói chung hội nhập Bằng việc sử dụng dữ liệu cấp NH cho 80 đất nước trong giai đoạn 1988 - 1995, Claessens và cộng sự (1998) kiểm tra mức độ SHNN trên thị trường
NH quốc gia Họ so sánh biên lãi ròng, chi phí chung, thuế đã trả, và khả năng sinh lời của các NH nước ngoài và trong nước Các chức năng so sánh của các NH nước ngoài và các NH trong nước rất khác nhau trong việc phát triển ở các nước tiên tiến,
có thể vì một cơ sở khách hàng, các thủ tục NH khác nhau và các chế độ pháp lý và
Trang 18thuế: Ở các nước đang phát triển, các NH nước ngoài có xu hướng lợi nhuận lớn hơn,
tỷ suất lợi nhuận cao hơn và thuế cao hơn thanh toán hơn so với các NH trong nước Ở các nước công nghiệp, chính các NH trong nước có lợi nhuận lớn hơn, tỷ suất lợi nhuận cao hơn và cao hơn các khoản nộp thuế Ở các tài liệu về nước ngoài ngân hàng; mà sự gia nhập của các NH nước ngoài có thể làm thị trường NH quốc gia cạnh tranh hơn, do
đó buộc các NH trong nước phải hoạt động hiệu quả hơn Claessens và cộng sự (1998) chỉ ra điều đó thúc đẩy tỷ lệ sở hữu NH của nước ngoài thực sự khiến lợi nhuận và chi phí chung giảm trong các NH thuộc sở hữu trong nước - do đó: ảnh hưởng chung của gia nhập NH nước ngoài có thể tích cực
Quyền sở hữu và cạnh tranh trong lĩnh vực NH là những mối quan tâm về chính sách trên toàn thế giới hiếm khi được kiểm tra toàn diện Nhóm tác giả Manthos D Delis, Sotirios Kokas, and Steven Ongena (2014) đã quan sát mẫu nghiên cứu trên phạm vị 131 quốc gia trong vòng 13 năm từ 1995 đến 2013, đối sánh NH quyền sở hữu với hơn 50,000 ước tính hàng năm của NH về sự ảnh hưởng thị trường của từng ngân hàng Tại cấp NH riêng lẻ, quyền sở hữu không giải thích được sức mạnh thị trường
Ở cấp quốc gia, ở một khía cạnh khác, tỷ lệ sở hữu NH nước ngoài có tác động tích cực và quan trọng đến thị trường NH quyền lực bởi vì các NH nước ngoài tham gia thông qua sáp nhập hoặc mua lại và không thông qua đầu tư vào lĩnh vực xanh Nhóm tác giả cũng đã phát hiện rằng tác động tích cực của sự hiện diện của các NH nước ngoài đối với sức mạnh thị trường yếu hơn đáng kể ở các nước có các NH có vốn hóa tốt
Xem xét các tác động của sự thâm nhập của NH nước ngoài đối với tăng cường kinh tế từ quan điểm phân bổ nguồn lực ở các nước tiếp nhận, nhóm tác giả Ji Wu và cộng sự (2009) sử dụng số liệu về NH tổng hợp, được xây dựng từ bảng cân đối kế toán cấp NH và báo cáo về thu nhập của hơn 1,200 NH trong 35 nền kinh tế trẻ của Châu Á, Châu Mỹ Latinh và Đông và Trung Âu cho giai đoạn 1996 - 2003 Bằng cách
áp dụng mô hình OLS tổng hợp và các mô hình hiệu ứng cố định, các tác giả đã trình bày bằng chứng nhất quán rằng ảnh hưởng của việc hình thành tổng vốn cố định đối với tăng trưởng sản lượng cao hơn trong một nền kinh tế có mức độ thâm nhập NH nước ngoài rõ rệt hơn so với nền kinh tế có độ thâm nhập của NH nước ngoài nhỏ hơn Phát hiện này cho thấy rằng các NH nước ngoài đóng một vị trí quan trọng trong việc phân chia vốn một cách hiệu quả hơn, do đó dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Trang 19hơn Một trong những hàm ý chính sách chính của những phát hiện của tác giả trong bài nghiên cứu này là các NH nước ngoài có thể đóng vai trò là một kênh trong việc nâng cao hội nhập kinh tế của các nền kinh tế trẻ với các nền kinh tế trung là quê hương của các NH nước ngoài
Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, Chính phủ đã nới lỏng dần các rào cản đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực tài chính - ngân hàng, điển hình là cho phép thành lập
NH 100% vốn nước ngoài từ năm 2011 Điều này dẫn đến gia tăng sự hiện diện của các NH nước ngoài (bên cạnh NH liên doanh và chi nhánh, văn phòng đại diện của các
NH nước ngoài đã có mặt trước đó) Việc gia nhập thị trường nội địa của các NH nước ngoài tạo ra hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, quản trị và vốn nhưng cũng làm gia tăng mức độ ganh đua trong ngành NH Phạm Quốc Việt (2020) đã tiến hành kiểm tra và kết luận sự hiện diện của NH nước ngoài làm giảm hiệu quả hoạt động của các NHTM trong nước, đồng thời tác động kết hợp của hiệu ứng lan tỏa và hiệu ứng cạnh tranh gây ra tác động tích cực đối với ngành NH Việt Nam (thông qua mẫu dữ liệu của 31 NHTM trong nước trong giai đoạn 2009 - 2018) Kết quả này đưa đến gợi ý chính sách
là cần phải thúc đẩy cạnh tranh và đưa vào các sản phẩm thay thế, nhằm khai thác tốt lợi ích từ sự gia nhập của các NH nước ngoài
Mô hình phân tích thực nghiệm với biến tương tác của tính chất sở hữu NH theo phương pháp Panzar-Rosse được sử dụng để đánh giá mức độ cạnh tranh của NH nước ngoài và NH trong nước cho giai đoạn 1992 - 2007 và giai đoạn 2008 - 2013 của Nguyễn Thanh Phong (2016) đã cho thấy kết quả nghiên cứu là mức độ cạnh tranh của
NH nước ngoài cao hơn NH trong nước và thâm nhập của NH nước ngoài đã góp phần gia tăng tính cạnh tranh của thị trường NH Việt Nam
2.4 TÍNH MỚI CỦA NGHIÊN CỨU
Nói đến tác động của SHNN đến sự ổn định của hệ thống NHTM tại Việt Nam, hiện nay chưa có một bài báo cáo nào đi sâu rộng về vấn đề này Do đó, dựa trên nội dung sơ bộ từ các bài nghiên cứu trước, nhóm nghiên cứu kết hợp, bổ sung thêm ba đóng góp mới sau đây về đề tài:
Thứ nhất, nhóm đã xem xét đến đầu tư gián tiếp thông qua việc NH nước ngoài nắm giữ cổ phần của NH trong nước Đối tượng nghiên cứu gồm cổ đông nước ngoài
Trang 20sở hữu cổ phần của NHTM tại Việt Nam và các NHTMCP thuộc sở hữu của nước ngoài Phản ánh rõ bản chất, tổng quan nhất về SHNN
Thứ hai, có nhiều NH niêm yết và dữ liệu về thị giá cổ phiếu được công khai minh bạch Đó là cơ sở để sử dụng thước đo hiệu quả hoạt động theo tiếp cận thị trường nhằm đánh giá sâu rộng hơn vấn đề nghiên cứu
Thứ ba, bài nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào đánh giá tác động của SHNN tới sự ổn định của hệ thống NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2022 Từ đó hướng tới mục tiêu cải tiến và đề xuất giải pháp tối ưu hóa cho các NHTM tại Việt Nam
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu tổng quát
Bài nghiên cứu về phân tích tác động của sở hữu nước ngoài tới sự ổn định của
hệ thống Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, từ đó đưa ra những khuyến nghị, giải pháp phù hợp với thực tiễn nền kinh tế Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
Để nắm bắt được diễn biến về sức khỏe của các ngân hàng, hay nói cách khác là
sự cân bằng về khía cạnh tài chính của họ, chúng ta cần xây dựng được các chỉ tiêu đánh giá sao cho phù hợp Nhiệm vụ này gồm:
- Hệ thống hóa các lý luận chung về ảnh hưởng của SHNN đến sự ổn định của
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Thước đo ổn định trên góc độ riêng lẻ và hệ thống được đo lường qua các chỉ tiêu nào?
- Câu hỏi 2: Sở hữu nước ngoài ảnh hưởng thế nào tới ổn định hệ thống NHTM
ở Việt Nam?
- Câu hỏi 3: Đề xuất các khuyến nghị thu hút đầu tư nước ngoài hướng tới sự ổn định tài chính tại NHTM ở Việt Nam?
Trang 214 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về sự ổn định của hệ thống NHTM Việt Nam và tác động của SHNN tới ổn định của hệ thống NHTM tại Việt Nam
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá tác động của SHNN tới ổn định của hệ thống NHTM tại Việt Nam
- Phạm vi thời gian: 2012 - 2022
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết này sử dụng các phương pháp phân tích định tính để xử lý thông tin và
dữ liệu đã được thu thập Đầu tiên, phương pháp phân tích thống kê được áp dụng, bao gồm việc tổng hợp các nghiên cứu trước nhằm hiểu rõ hơn về quá trình tăng trưởng toàn diện Thứ hai, phương pháp so sánh, bao gồm việc so sánh chuỗi dữ liệu, được sử dụng để phân tích các dữ liệu thống kê phụ thuộc nhằm đánh giá tình hình SHNN và
ổn định của NHTM tại Việt Nam Qua đó, các bất cập trong thực tế được xác định để
từ đó đề ra những giải pháp khắc phục
Phương pháp định lượng qua việc chạy mô hình hồi quy tuyến tính để đánh giá
đo lường mối quan hệ của các biến số tăng trưởng bao trùm trong mô hình
6 ĐỀ CƯƠNG BÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1 Tổng quan về tác động của SHNN đến ổn định của hệ thống NHTM Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả đánh giá về tác động của SHNN tới ổn định hệ thống NHTM tại Việt Nam
Chương 4 Kết luận và khuyến nghị chính sách
Trang 22CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI
ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NHTM 1.1 Tổng quan về SHNN tại NHTM
1.1.1 Các hình thức sở hữu tại NHTM
NHTM là một loại hình NH chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp và cá nhân NHTM đã trở thành một phần không thể thiếu của nền kinh tế thế giới Các NH này cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính để giúp các doanh nghiệp phát triển, mở rộng và tăng trưởng Các dịch vụ của NHTM cũng hỗ trợ khách hàng cá nhân trong việc quản lý tài chính và tiền tệ của họ Theo thống kê của World Bank (2021), các NHTM đang trở thành một phần không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu Chúng tài trợ cho nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau và là nhà tài trợ lớn cho các
NH lớn trên thế giới Ngoài ra, các NHTM cũng cung cấp dịch vụ thanh toán và chuyển khoản trên toàn cầu, giúp tăng cường sự kết nối giữa các thị trường tài chính khác nhau Mặc dù NHTM có vị trí trọng tâm trong nền kinh tế toàn cầu, nhưng chúng cũng gặp phải nhiều thách thức Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, nhiều NHTM đã phá sản hoặc phải được chính phủ cứu trợ để tránh sự sụp đổ của nền kinh tế
Tóm lại, NHTM là một phần trọng yếu của nền kinh tế toàn cầu Chúng cung cấp dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp và cá nhân, hỗ trợ phát triển kinh tế và tăng trưởng Mặc dù vậy, chúng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức và cần được quản
lý cẩn thận để tránh các tình huống rủi ro tài chính
Theo Thống kê của NHNN (2021) về hình thức sở hữu thì NHTM được chia thành 5 loại:
Trang 23Bảng 1.1 Các hình thức sở hữu của NHTM
Khái niệm Mục đích NHTM Nhà
nước
Là NHTM do Nhà nước thành lập và là chủ sở hữu duy nhất
Điều phối, hướng dẫn hoạt động của các NHTM khác trong việc cung cấp và đáp ứng nhu cầu vốn
Là cơ chế trực tiếp hỗ trợ NH Trung ương trong việc thực hiện chính sách tiền tệ NHTM cổ
phần
Là một thể loại NH phổ biến rộng rãi trên thế giới, được tổ chức dưới hình thức các NĐT mua cổ phần của NH phát hành và trở thành cổ đông của chúng, với
sự chấp thuận của các thành viên góp vốn
Tối đa hóa lợi ích kinh doanh cho cho NH và các chủ sở hữu tư nhân
NH liên
doanh
Là một hình thức liên kết giữa sở hữu trong nước và SHNN, được tạo lập dựa trên cơ sở các hợp đồng liên doanh
Mở ra cơ hội hợp tác giữa hai nền kinh tế, hai hệ thống tài chính
Mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu
Tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng và chủ sở hữu
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Trang 241.1.2 Sở hữu nước ngoài tại NHTM
1.1.2.1 Các hình thức SHNN tại NHTM
Sở hữu nước ngoài là một thuật ngữ trong lĩnh vực tài chính và kinh tế, được định nghĩa là quyền sở hữu hoặc kiểm soát tài sản của một công ty hoặc cá nhân đối với các tài sản nằm ngoài lãnh thổ quốc gia mà họ đang sinh sống hoặc thực hiện kinh doanh Trong một bài nghiên cứu năm 2013 về kiểm soát rủi ro tài chính, tác giả M.H Do, B Zeghal và T Kryzanowski (2013), đã đề cập đến SHNN như một trong các yếu tố đóng góp vào việc phát triển và thành công của các công ty đa quốc gia Họ nhấn mạnh rằng,
để có thể quản lý tốt rủi ro tài chính, các công ty cần phải đánh giá kỹ càng những rủi
ro có thể phát sinh từ SHNN và có các biện pháp đối phó phù hợp Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất những lời khuyên cho các nhà quản lý về cách tăng cường khả năng quản lý rủi ro và giảm thiểu các tác động tiêu cực của SHNN đối với hoạt động kinh doanh của công ty
Quyền SHNN là một cách thức sở hữu nguồn vốn, từ đó, các công ty có tỷ lệ phần trăm vốn nhất định của NĐT nước ngoài vào thị trường trong nước (Zraiq và Fadzil, 2018; Al-Matari và cộng sự, 2017) Trao đổi cổ phần và sở hữu tỷ lệ đầu tư nước ngoài
là một hình thức giao dịch được hình thành từ rất sớm và phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường mà theo đó, các bên tham gia giao dịch có thể tận dụng được giá trị cộng hưởng từ thương hiệu, tài chính, thị trường và các ưu thế của nhau Tại lĩnh vực tài chính ngân hàng, các NHTM tiếp nối nhau lên lộ trình tìm kiếm NĐT chiến lược nước ngoài và coi đây như là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công trong hoạt động kinh doanh và quảng bá thương hiệu của mình Các hình thức SHNN tại NHTM bao gồm:
a NHTM có cổ phần nước ngoài
NHTM cổ phần (NHTMCP) là một loại hình NH được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu Được gây dựng thông qua việc các NĐT mua cổ phần của NH và đóng vai trò cổ đông, với sự chấp thuận của các thành viên góp vốn Mục tiêu thực hiện của NHTMCP
là nâng cao lợi nhuận một cách tối đa cho NH và các chủ sở hữu tư nhân Điều này dẫn đến tính linh hoạt và độ phản ứng cao tới biến động thị trường của các NHTMCP NHTM cổ phần nước ngoài xuất hiện khi NHTM nước ngoài mua cổ phần của NH trong nước và tham gia vào các quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh và đầu
tư phát triển
Trang 25b NH liên doanh
NH liên doanh là một hình thức liên kết giữa sở hữu trong nước và SHNN, được thành lập thông qua các hợp đồng liên doanh Đặc điểm của NH liên doanh là trụ sở chính đặt tại một quốc gia và chấp hành theo yêu cầu pháp luật của quốc gia đó Tương
tự như các loại NH khác, NH liên doanh được quyền kinh doanh bằng cả đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài và có các quyền lợi và trách nhiệm tương ứng với quy định pháp luật của mỗi quốc gia NH liên doanh được thành lập thông qua việc góp vốn liên doanh giữa NH trong nước và NH nước ngoài, trong đó tỷ lệ sở hữu của đối tác nước ngoài không vượt quá 50%
c Chi nhánh NH nước ngoài
Chi nhánh NH nước ngoài là một đơn vị phụ thuộc của một NH nước ngoài nằm tại quốc gia khác, không có đặc điểm pháp nhân, và chịu trách nhiệm đối với mọi cam kết và nghĩa vụ của chi nhánh trong quốc gia đó Nói cách khác, đó là một phần của
NH một quốc gia nhưng làm việc tại một quốc gia khác, được tạo lập dưới sự điều chỉnh của pháp luật của quốc gia mà nó đặt chi nhánh Mục tiêu chính của việc tạo lập nên các chi nhánh NH tại nước ngoài là nới rộng thị trường, xây dựng danh tiếng, củng
cố uy tín và tối đa hóa lợi nhuận cho NH cũng như các cổ đông
d NH 100% vốn nước ngoài
NH 100% vốn nước ngoài là một loại NH được tổ chức với vốn điều lệ hoàn toàn thuộc sự sở hữu của các đối tác nước ngoài Đối tác này có thể đại diện cho nhiều quốc gia khác nhau, tuy nhiên, điều quan trọng là phải có ít nhất một đối tác chiếm trên 50% vốn điều lệ và được gọi là NH mẹ, có vai trò giám sát và điều hành kinh doanh của
NH NHTM 100% vốn nước ngoài được tạo lập, tổ chức dưới hình thức một công ty TNHH một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên và được công nhận là một đơn vị pháp nhân độc lập
1.1.2.2 Vai trò của SHNN tại NHTM
Hiệu ứng lan tỏa và hiệu ứng cạnh tranh
Sự xuất hiện của các công ty đa quốc gia làm tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nước thông qua cơ chế lan tỏa (Girma và cộng sự, 2001) Các NH nước ngoài sẽ chuyển giao quản lý, công nghệ cho các NH trong nước, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động cao hơn và tiền lương thực tế cao hơn Người tiêu dùng sẽ hưởng lợi qua giá thấp hơn và chính phủ có thể thu thuế cao hơn Hiệu
Trang 26ứng lan tỏa quản trị, công nghệ, nhân sự và vốn từ các NH nước ngoài giúp các NH trong nước tăng hiệu quả hoạt động và giảm chi phí (Claessens và cộng sự, 2001) Sự hiện hữu của các NH nước ngoài làm tăng tính cạnh tranh theo 2 hình thức là cạnh tranh về vốn liên quan đến tài sản và cạnh tranh thông qua hoạt động thị trường tới doanh nghiệp nói chung và NH nói riêng (Blomström, 1986; Cho, 1990) Đồng thời, làm giảm sự độc quyền của các NHTM lớn trong nước qua những thay đổi trong cơ cấu cạnh tranh của ngành Ngân hàng Ngoài ra, với sự tăng lên không ngừng của các
NH nước ngoài, buộc các nhà cai quản NH trong nước chủ yếu quan tâm nhiều hơn vào việc gia tăng hiệu suất kinh doanh cũng như làm giảm thiểu chi phí để tăng tính cạnh tranh bằng việc sử dụng các phương pháp hiệu quả hơn (Berger và Hannan, 1998)
Sự cạnh tranh lớn có thể làm hạn chế hiệu quả và chi phí của các NHTM trong nước (Berger và Hannan, 1998; Claessens và cộng sự, 2001)
Chuyển giao nguồn lực về vốn, công nghệ và kỹ thuật quản lý
Những cách thực hiện chuyển giao công nghệ (bao gồm cả năng lực quản lý và marketing) khó đo lường hơn so với các luồng chảy vào và phần lớn việc chuyển giao
đã diễn ra ở công ty mẹ ở nước ngoài và các chi nhánh của chúng Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tầm quan trọng của hoạt động chuyển giao công nghệ trong nội bộ những công ty như thế tùy thuộc vào những chuyển giao từ các phía khác nhau
Tăng năng suất, thu nhập quốc dân, thúc đẩy cạnh tranh và hiệu quả kinh tế
Việc có được những công ty có hiệu quả với năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế có thể đưa lại một sự khai thông quan trọng, tiềm tàng cho việc chuyển giao các kỹ năng quản trị và công nghệ cho các nước chủ nhà Điều này có thể xảy ra ở bên trong một ngành công nghiệp riêng rẽ, trong đó có những người cung ứng các đầu vào cho các chi nhánh nước ngoài, những người tiêu dùng trong nước đối với các sản phẩm của chi nhánh này và những đối thủ cạnh tranh của chúng, tất cả đều muốn lựa chọn những phương pháp kỹ thuật có hiệu quả hơn Nó cũng có thể diễn ra một cách rộng rãi hơn trong nội bộ nền kinh tế thông qua sự tăng cường có kết quả của chúng, tất cả đều muốn lựa chọn những phương pháp kỹ thuật có hiệu quả hơn Nó cũng có thể diễn
ra một cách rộng rãi hơn trong nội bộ nền kinh tế thông qua sự tăng cường có kết quả công tác đào tạo, kinh nghiệm của lực lượng lao động và thông qua sự khuyến khích
có thể có đối với các ngành hỗ trợ tài chính và kỹ thuật có khả năng dẫn tới sự hạ thấp toàn bộ chi phí công nghiệp Đầu tư nước ngoài cũng phần nào thúc đẩy, cải thiện cán
Trang 27cân thanh toán, đặc biệt khi doanh nghiệp tại quốc gia nhận đầu tư tăng thu lợi nhuận
từ hoạt động xuất khẩu
Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước
Khi đầu tư, các NĐT nước ngoài gia nhập vào các thị trường vốn hiện có mà các NĐT trong nước chiếm giữ phần lớn thị phần, tuy nhiên ưu thế này sẽ không kéo dài đối với NĐT trong nước khi nguồn lực, công nghệ của NĐT nước ngoài vượt trội hơn Chính vì vậy, muốn tồn tại, các NĐT trong nước phải đổi mới cả quá trình sản xuất của mình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ bằng việc cải tiến công nghệ và nâng cao trình
độ, phương pháp quản lý nhằm tồn tại bền bỉ trên thị trường đó Đây chính là một trong các thử thách tất yếu của nền kinh tế thị trường đối với các nhà sản xuất trong nước, với quy luật là không có kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu không tự làm mình mạnh lên để tồn tại, phát triển trong cơ chế đó
Tiếp cận với thị trường nước ngoài
Nếu như là trước đây khi chưa có FDI, các doanh nghiệp trong nước chỉ biết đến
có thị trường trong nước, nhưng khi có FDI thì họ được làm quen với các đối tác kinh
tế mới từ nước ngoài Họ chắc chắn sẽ nhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có và ngược lại họ cũng đang cần những cái ỏ nơi đối tác đang có Điều này dẫn tới nhu cầu phải nâng cao hợp tác giữa NH trong nước và ngoài nước mà hệ quả của nó là có nhiều sản phẩm của một quốc gia được xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho đất nước, đồng thời cũng cần phải nhập khẩu một số loại mặt hàng mà trong nước đang cần Việc trao đổi thương mại này sẽ lại thúc đẩy các công cuộc đầu tư quốc tế giữa các nước vối nhau Như vậy, quá trình đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế có quan hệ biện chứng,
là một quá trình luôn luôn thúc đẩy nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển
NH được hiểu là “sự ổn định của hệ thống tài chính và ngân hàng, đảm bảo hoạt động liên tục, hiệu quả, an toàn và ổn định của hệ thống NH trong tình trạng bình thường và
Trang 28trong trường hợp khẩn cấp” Trong khi đó, theo the World Bank (2016), ổn định hệ thống NH là “khả năng của hệ thống tài chính và NH để chịu đựng rủi ro và áp lực từ bên ngoài và duy trì hoạt động bình thường” Để đảm bảo ổn định hệ thống ngân hàng, các yếu tố quan trọng như giám sát tài chính, quản trị rủi ro, chính sách tiền tệ, quản lý tài chính công, cải cách hệ thống NH, được sử dụng Trong việc duy trì sự ổn định
hệ thống NH, NH trung ương có vai trò vô cùng quan trọng Theo IMF (2005), “NHTW
là cơ quan có chức năng chủ đạo trong việc đảm bảo ổn định tài chính, quản lý rủi ro, giám sát tài chính, cung cấp dịch vụ thanh toán an toàn, hỗ trợ hệ thống ngân hàng, cung cấp thông tin về tài chính và thực hiện các chính sách tiền tệ phù hợp” Trong nỗ lực đảm bảo ổn định hệ thống NH, các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới, IMF và các cơ quan quản lý tài chính đang giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc hỗ trợ các quốc gia trong việc phát triển và thực hiện duy trì hệ thống NH ổn định Theo FED (2021), một hệ thống tài chính được coi là ổn định khi các tổ chức tài chính - ngân hàng, tiết kiệm và cho vay, và các nhà cung cấp dịch vụ và sản phẩm tài chính khác và thị trường tài chính có thể cung cấp cho các hộ gia đình, cộng đồng và doanh nghiệp các nguồn lực, dịch vụ và sản phẩm mà họ cần để đầu tư, phát triển và tham gia vào một nền kinh tế vận hành tốt Theo đó, các yếu tố quan trọng trong hệ thống tài chính như thị trường tài chính, các định chế tài chính, hạ tầng tài chính, phải vận hành các nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả, đồng thời đảm bảo phân bổ nguồn lực của nền kinh tế một cách thông suốt Các nhà tài chính cũng đồng ý rằng việc quản
lý rủi ro là một trong những yếu tố quan trọng đối với ổn định hệ thống ngân hàng Trong nhiều trường hợp, rủi ro sẽ dẫn đến suy thoái của hệ thống tài chính và gây ra ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế
Qua đây, nhóm nghiên cứu xin phép được tổng hợp một khái niệm tổng quát nhất
về ổn định hệ thống NH, làm tiền đề và kim chỉ nam xuyên suốt bài nghiên cứu: Ổn định hệ thống NH là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực tài chính, nhằm đảm bảo hoạt động liên tục, ổn định và hiệu quả của hệ thống NH, là một yếu tố thiết yếu trong việc đảm bảo sự phát triển mạnh mẽ và bền bỉ của nền kinh tế Để đảm bảo ổn định hệ thống ngân hàng, các biện pháp như giám sát tài chính, quản lý rủi ro, chính sách tiền
tệ, quản lý tài chính công và cải cách hệ thống NH cần được áp dụng Ngoài ra, vai trò của NH trung ương và sự ủng hộ của các tổ chức tài chính quốc tế cũng vô cùng quan trọng trong việc duy trì ổn định hệ thống NH trên toàn cầu
Trang 29b Vai trò
Dựa vào khái niệm được phân tích ở trên, có thể nói sự ổn định của hệ thống NH được xem là một trong những yếu tố chủ yếu giúp bảo đảm hoạt động của nền kinh tế
và đi lên bền vững Theo WB (2016), một hệ thống tài chính ổn định có khả năng phân
bổ hiệu quả các nguồn lực, đánh giá và quản lý rủi ro tài chính, duy trì mức việc làm gần với tỷ lệ tự nhiên của nền kinh tế và loại bỏ các biến động giá tương đối của tài sản thực hoặc tài chính sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định tiền tệ hoặc mức việc làm Vai trò của
ổn định hệ thống NH đóng góp vào sự bảo đảm trật tự an ninh kinh tế, chống lại sự rối loạn tài chính và giảm thiểu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
Theo Abhishek Behl và Sushma Nayak (2018), duy trì sự ổn định tài chính trong lĩnh vực ngân hàng thông qua hệ thống quản lý rủi ro hoạt động tốt là một cách tiếp cận chiến lược trong thế giới toàn cầu ngày nay, nơi các rủi ro đã trở nên đa dạng hơn bao giờ hết Trong thực tế, để đảm bảo sự cân bằng của hệ thống NH, việc đánh giá và quản lý rủi ro được coi là rất thiết yếu Ví dụ, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng đã gây ra sự sụp đổ của các kế hoạch do IMF tài trợ trước đây Đặc biệt, sau các cuộc khủng hoảng năm 1994 và cuối năm 2000, người ta nhận thức rõ hơn rằng hệ thống ngân hàng có thể gánh chịu những khoản lỗ khổng lồ, xói mòn vốn không thể vượt qua
và trở thành gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế Do đó, việc thiết lập một nền tảng ngân hàng ổn định hơn với khung quản lý rủi ro phù hợp để chống chọi với các cú sốc vĩ mô
là cấp thiết Điều này góp phần ổn định chung nền kinh tế bởi hệ thống ngân hàng là xương sống của hệ thống kinh tế của một quốc gia
Hệ thống NHTM đóng vị trí không thể thiếu trong hệ thống tài chính, với vai trò trọng tâm trong việc tạo tiền, xử lý thanh toán, đầu tư tài chính và thúc đẩy sự vươn lên tầm vóc kinh tế Tuy nhiên, hệ thống NH cũng có thể truyền bất ổn sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua sự sụp đổ của thị trường giữa các ngân hàng, cơ chế thanh toán không ổn định và giảm nguồn cung tín dụng cùng với hiện tượng tiền gửi bị đóng băng Điều này dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực kéo dài tới nền kinh tế thực và tạo ra chi phí đáng kể để khắc phục khủng hoảng tài chính Đó chính là lý do
vì sao các nhà hoạch định chiến lược quan tâm đặc biệt đến sự thiết lập những quy định, chính sách nhằm tiến tới an toàn kinh doanh của các ngân hàng
Sự bất ổn định của NH ảnh hưởng đáng kể lên quá trình truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế, bong bóng bất động sản, mức độ vay nợ cao cũng
Trang 30như tính kém hiệu quả của khu vực doanh nghiệp đã tác động tiêu cực đến những nỗ lực của NH Trung ương trong việc kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô, đặc biệt khi cần xác định thời điểm, mức độ và quy mô của các công cụ chính sách tiền tệ Trước hoàn cảnh kinh tế - tài chính toàn cầu luôn biến đổi một cách nhạy cảm, sự thành công của chính sách tiền tệ, tài khóa và vĩ mô phụ thuộc vào khả năng của các cơ quan chức năng trong xây dựng các chính sách phù hợp và đồng bộ, trên cơ sở nắm vững các kênh truyền dẫn tài chính - vĩ mô thông qua hệ thống NHTM Do đó, sự cân bằng tài chính của các NHTM đóng vai trò cầu nối, phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách tài khóa, tiền tệ, an toàn vi mô và vĩ mô, nhằm hoàn thiện mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời
kỳ Sự ổn định chiếm vị trí đáng kể trong việc hạn chế nguy cơ và khả năng hứng chịu các biến động, giúp các NHTM duy trì hoạt động kinh doanh một cách liên tục và bền vững Điều này đảm bảo dòng tiền và lợi nhuận của NH được bảo đảm Hơn nữa, tình trạng tài chính ổn định tạo cơ hội tiềm năng hơn cho cả NĐT và người gửi tiền, đồng thời bổ sung nguồn vốn với mức giá ổn định cho người vay mượn Đây là những yếu
tố quan trọng đóng góp vào môi trường kinh doanh chung và sự phát triển bền vững của ngành NH theo (Nguyễn Thị Kiều Nga và Trần Huy Hoàng, 2021) Các nghiên cứu đã chỉ ra sự ổn định hệ thống NH được liên kết với sự phát triển kinh tế bền bỉ Ví
dụ, một báo cáo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (2012) đã lên tiếng về việc cải thiện sự
ổn định của hệ thống NH có thể giúp nâng cao hoạt động tài chính và tăng trưởng kinh
tế Trong khi đó, các cuộc khủng hoảng tài chính trước đây đã chỉ ra những hậu quả tiêu cực của việc không đảm bảo ổn định của hệ thống ngân hàng, như ảnh hưởng đến việc cho vay, làm suy giảm khả năng thanh toán và tăng tỷ lệ phá sản
Tổng kết lại, ổn định hệ thống NH nói chung và NHTM nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo ổn định của nền kinh tế, giảm thiểu tác động xấu của khủng hoảng tài chính Trong bối cảnh của việc thúc đẩy sự ổn định tài chính,
hệ thống NH được xem như là “trái tim” của hệ thống tài chính Ổn định hệ thống NH giúp đảm bảo rằng các hoạt động của NH được thực hiện một cách tối ưu, nâng cao sự tin cậy và nâng khả năng của nó trong việc hỗ trợ nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn
1.2.2 Đo lường ổn định hệ thống NHTM
1.2.2.1 Các chỉ số đo lường tính ổn định của từng ngân hàng riêng lẻ
Đo lường tính ổn định của từng NH riêng lẻ thường liên quan đến việc đánh giá khả năng của NH đó để duy trì hoạt động một cách ổn định và đáng tin cậy trong thời gian
Trang 31dài Bên cạnh các yếu tố tham khảo được từ nghiên cứu của Allen N Berger và Christa H.S Bouwman (2013), nhóm tác giả thêm một số biến để mở rộng phạm vi nghiên cứu
và xem xét mức độ tác đến tính ổn định của các NHTM
a Dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro tín dụng (Loan Loss Reserves) là số tiền mà một NH dự trữ để đối phó với các khoản nợ có nguy cơ mất nợ hoặc chưa trả đúng hạn Đây là một phần quan trọng của việc quản lý rủi ro hoạt động tín dụng trong ngân hàng Công thức tính toán dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm:
Khi một NH có độ dự phòng rủi ro tín dụng lớn hơn, điều này có nghĩa là họ đang chuẩn bị cho một số tiền lớn hơn để đối phó với các khoản nợ có thể không trả được của khách hàng Điều này hàm ý rằng ngân hàng đang đương đầu với nhiều rủi ro tài chính hơn, do đó tính ổn định của hệ thống NH là thấp hơn
Ngược lại, một mức độ dự phòng rủi ro tín dụng thấp hơn thường cho thấy rằng
NH đang tin tưởng vào năng lực chi trả của người mua và cho rằng rủi ro tài chính của
họ là thấp Tuy nhiên, nếu NH không đủ chuẩn bị dự phòng rủi ro tín dụng, họ có thể đối mặt với những tình huống nguy hiểm và có thể gặp thách thức trong quá trình giải quyết các khoản nợ Do đó, mức độ dự phòng rủi ro tín dụng thấp hơn có thể tác động tới tính bình ổn của mạng lưới NH
Trong báo cáo của Khwaja và Mian (2005), nhờ việc ứng dụng thông tin từ các
NH Pakistan, nhà nghiên cứu đã triển khai một nghiên cứu để khảo sát ảnh hưởng của mức độ dự phòng rủi ro tín dụng đến sự bình ổn tài chính của các NH Kết quả khảo sát đã trình bày rằng mức độ dự phòng rủi ro tín dụng càng lớn, càng góp phần vào việc tăng tính bình ổn của các NH Điều này tương đương với việc việc tăng cường khả năng dự phòng rủi ro tín dụng có thể góp phần trọng yếu trong việc bảo vệ và duy trì sự bình ổn tài chính của các NH
Trang 32b Hệ số đòn bẩy tài chính (LEV)
Hệ số đòn bẩy tài chính (Financial Leverage Ratio) là một chỉ số được sử dụng
để đo lường mức độ sử dụng vốn vay của một tổ chức tài chính, chẳng hạn như một ngân hàng hoặc một công ty tài chính Nó thể hiện mức độ tỷ lệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu của tổ chức đó Công thức tính:
LEV = Tổng nợ phải trả / (Tổng nợ phải trả + Tổng VCSH)
Hệ số đòn bẩy tài chính cung cấp thông tin về mức độ sử dụng vốn vay so với vốn chủ sở hữu của một tổ chức tài chính Mức độ đòn bẩy tài chính cao có thể đồng nghĩa với việc ngân hàng sử dụng nhiều vốn vay so với vốn chủ sở hữu, trong khi mức
độ đòn bẩy thấp cho thấy ngân hàng dựa nhiều vào vốn chủ sở hữu
Ngoài ra, LEV cao có thể tăng nguy cơ cho hệ thống ngân hàng khi mà các khoản
nợ trở nên không thể trả đủ và có thể gây ra khủng hoảng tài chính Điều này có thể làm suy yếu ổn định tài chính và khả năng chịu đựng của ngân hàng trong môi trường kinh tế khó khăn Trong các nghiên cứu, Harris và Raviv (1990), Wiwattnakantang (1999), Chen (2004) nhận thấy, quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính có mối quan
hệ thuận chiều Điều này hàm ý rằng, các ngân hàng lớn thường có tỷ lệ nợ cao hơn, hay đòn bẩy tài chính lớn hơn các ngân hàng nhỏ do mức độ chấp nhận và quản trị rủi
ro tốt hơn
c Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR)
Hệ số an toàn vốn tối thiểu (Minimum Capital Adequacy Ratio) là một chỉ số quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng, đo lường mức độ an toàn tài chính của một ngân hàng CAR được tính bằng tỷ lệ giữa tổng số vốn của NH và các khoản nợ tín dụng rủi
ro Tính theo phương pháp Basel, CAR phải đạt ít nhất 8% để đảm bảo NH đủ khả năng chi trả các khoản nợ khi có rủi ro CAR phản ánh khả năng của NHđể đáp ứng các yêu cầu về vốn của các quy định của ngành ngân hàng, nhằm đảm bảo tính ổn định tài chính và sự phát triển bền vững của ngân hàng CAR được tính bằng công thức:
CAR = Tổng số vốn (tính cả vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn không có lãi suất) / Tổng số khoản nợ rủi ro (bao gồm cả nợ có đòi hỏi, nợ không có đòi hỏi và
Trang 33cao hơn thường có khả năng hồi phục tốt hơn trong các trường hợp khó khăn NH có CAR thấp hơn có thể gặp bất lợi trong việc giải quyết các rủi ro tài chính và có thể có nguy cơ phá sản trong trường hợp gặp phải áp lực tài chính
Một nghiên cứu của Chen và cộng sự (2017) trên các NH tại Trung Quốc cũng cho thấy rằng CAR thấp hơn có ảnh hưởng đến rủi ro tài chính và có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của ngân hàng Các tác giả cũng nhấn mạnh rằng đối với các ngân hàng, việc duy trì mức CAR tối thiểu an toàn là rất quan trọng để đảm bảo tính ổn định tài chính và hạn chế rủi ro
d Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA)
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (Return on Assets) là một chỉ số về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, Mark A Peterson và cộng sự (2008) lập mô hình hóa động lực học của ROA nhằm đánh giá khả năng sinh lời của NH thông qua tỷ suất sinh lời trên tài sản Nina và cộng sự (2020) lựa chọn dùng phương pháp OLS bình phương nhỏ nhất thông thường với các lỗi tiêu chuẩn mạnh, phù hợp với bảng điều khiển cụ thể tự tương quan Nghiên cứu của các tác giả dựa trên cơ sở dữ liệu bảng bao gồm 13 các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu trong khoảng thời gian 18 năm từ 2000 đến 2017 Kết quả thực nghiệm cho thấy có một mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa ROA hoặc ROE và GDP tăng trưởng giúp ổn định các NH Các nhà giám sát thường dựa vào chỉ số ROA để biết được chính xác số vốn đầu bỏ ra để kinh doanh và lợi nhuận ròng mang về là bao nhiêu Chỉ số ROA càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng/doanh nghiệp càng tốt
ROA = (Lợi nhuận ròng hay lợi nhuận sau thuế dành cho cổ đông / Tổng số vốn
đầu tư của doanh nghiệp) x 100
Một ROA cao thường cho thấy NH hoạt động hiệu quả và có khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh Một nghiên cứu của Trần Thị Hoa và cộng sự (2017) tại Việt Nam cho thấy rằng ROA có ảnh hưởng tích cực đến tính ổn định tài chính của ngân hàng, và các NH có ROA cao hơn thường có tính ổn định tài chính cao hơn Nghiên cứu của Berger và DeYoung (1997) đã thực hiện một nghiên cứu trên 119 NH ở Hoa
Kỳ và cho thấy rằng ROA cao có liên quan mật thiết đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Trang 34e Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity) là chỉ số thể hiện khả năng sinh lời và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Các NĐT thường coi trọng đến chỉ số này vì họ quan tâm đến khả năng thu được lợi nhuận với từng đồng vốn mà
họ bỏ ra
Khi ROE càng cao thì lợi nhuận mà NH tạo ra càng lớn so với VCSH của nó Theo Nguyễn Hữu Tài và Nguyễn Thu Nga (2017), rủi ro tín dụng có thể làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Điều này chứng minh mối quan hệ ngược chiều giữa ROE và rủi ro tín dụng Vì vậy, ảnh hưởng của ROE đối với sự ổn định tài chính
dự kiến sẽ có tác động cùng chiều
ROE = (Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu) x 100
ROE cao hay thấp sẽ có ảnh hưởng đến tính ổn định của một NHTM Một ROE cao thường cho thấy NH đang có hiệu quả về mặt tài chính, do đó có khả năng tăng trưởng và đạt được lợi nhuận cao hơn trong tương lai Tuy nhiên, một ROE quá cao có thể chỉ ra rằng NH đang tăng cường rủi ro để đạt được lợi nhuận cao hơn, điều này có thể tạo ra sự không ổn định trong tương lai
Hong Liu và cộng sự (2019) cho rằng ROE thấp có ảnh hưởng đến tính ổn định của NHTM Ahmad Ismail và cộng sự (2012) cũng cho rằng ROE cao có tác động tích cực đến lợi nhuận và tính ổn định của ngân hàng
g Tỷ lệ nợ xấu (NPL)
Tỷ lệ nợ xấu (Non-performing loan ratio) là một chỉ số thường được sử dụng trong lĩnh vực tài chính, đo lường tỷ lệ giữa số tiền nợ không trả được so với tổng số tiền cho vay của một tổ chức tài chính Tỷ lệ nợ xấu phản ánh khả năng của tổ chức tài chính để quản lý và thu hồi các khoản nợ Nếu tỷ lệ nợ xấu tăng, tổ chức tài chính có thể sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý tài sản và có thể dẫn đến các vấn đề về thanh khoản và tài chính Tỷ lệ nợ xấu được tính bằng công thức:
NPL = (Tỷ lệ nợ xấu / Tổng dư nợ) x 100
Nợ xấu thường được định nghĩa là các khoản nợ mà người mượn đã không trả tiền lãi và gốc trong vòng 90 ngày trở lên Tỷ lệ nợ xấu càng thấp thì tình hình tài chính của tổ chức tài chính càng tốt và ngược lại Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các tổ chức tài chính khác nhau có thể có định nghĩa khác nhau cho nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
Trang 35Người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu không chỉ để đánh giá mức độ nợ quá hạn,
mà còn để phân tích chất lượng tín dụng thực sự tại ngân hàng Tổng nợ xấu của NH bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển và nợ trong hạn Chỉ tiêu này cho thấy tình trạng chất lượng tín dụng tại NH và đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng trong quá trình cho vay và thu hồi nợ của ngân hàng Khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao, điều này chỉ ra rằng chất lượng tín dụng của NH kém, và ngược lại
Tỷ lệ nợ xấu cao thường cho thấy sự không ổn định của hệ thống ngân hàng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa tỷ lệ nợ xấu và tính ổn định của hệ thống ngân hàng Ví dụ, nghiên cứu của Allen và đồng nghiệp (2016) cho thấy rằng các NH với tỷ lệ nợ xấu cao có nguy cơ cao hơn gặp khó khăn tài chính và có khả năng bị phá sản
Ngoài ra, tỷ lệ nợ xấu cao cũng có thể là dấu hiệu của một hệ thống NH không tốt, vì nó có thể cho thấy các NH đang cho vay không có chính sách cho vay chặt chẽ
và quản lý rủi ro tốt
1.2.2.2 Các chỉ số phản ánh tính ổn định dưới góc độ hệ thống
Đo lường ổn định hệ thống ngân hàng thương mại là quá trình đánh giá khả năng của ngân hàng để duy trì hoạt động một cách bền vững, an toàn trong môi trường kinh doanh Sau khi tham khảo các yếu tố từ nghiên cứu của George G Kaufman, Randall
S Kroszner (2009), nhóm tác giả bổ sung thêm một số yếu tố để có thể đánh giá tính
ổn định dưới góc độ hệ thống một cách chuẩn xác hơn
a Chỉ số an toàn vốn
Mặc dù hệ số an toàn vốn thường được biết tới là một chỉ số thể hiện tính ổn định của mỗi NHTM, tuy nhiên trên thực tế thì chỉ số này lại đánh giá về mức độ ổn định của cả hệ thống NHTM nhiều hơn Nguyễn Thị Nguyệt Nga và Kiều Huy Hoàng (2021)
từ việc thực hiện nghiên cứu từ 30 mẫu NHTM tại Việt Nam từ năm 2007 đến 2019 đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn đã đưa ra kết luận rằng tỷ lệ an toàn vốn càng cao phản ánh khả năng hấp thụ các khoản lỗ tốt hơn, cũng như thể hiện tính ổn định của hệ thống NHTM cao hơn Tương tự như trong nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ lệ an toàn vốn lên khu vực các ngân hàng nội địa ở Ghana của Madugub và Ibrahima (2019) cũng cho ra kết quả ảnh hưởng tích cực tới tính ổn định
và khả năng sinh lời của khu vực các ngân hàng nước ngoài, tuy nhiên đối với khu vực các ngân hàng trong nước lại chưa thấy có tác động nào rõ ràng
Trang 36Từ lâu, chỉ số an toàn vốn đã được NHNN Việt Nam sử dụng để phản ánh mức
độ ổn định của hệ thống NHTM Tại Việt Nam hiện nay, NHNN đã quy định áp dụng CAR theo tiêu chuẩn Basel II với tỷ lệ tối thiểu là 8% trên toàn hệ thống để đảm bảo
và quản lý tính ổn định và giám sát rủi ro của các NHTM Việc kiểm soát tỷ lệ CAR
sẽ giúp đảm bảo được tính thanh khoản và tín dụng cho ngành NH được phát triển bền vững
b Chỉ số rủi ro thanh khoản
Chỉ số rủi ro thanh khoản là tỷ lệ giữa tổng giá trị các khoản vay của ngân hàng
và tổng giá trị các khoản tiền gửi từ khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định Công thức tính chỉ số rủi ro thanh khoản như sau:
LDR = (Tổng giá trị các khoản vay) / (Tổng giá trị các khoản tiền gửi)
Công thức này cho phép tính toán tỷ lệ giữa các khoản vay và khoản tiền gửi của ngân hàng, giúp đánh giá mức độ sử dụng nguồn vốn của ngân hàng và đo lường khả năng thanh toán của ngân hàng dựa trên tỷ lệ này
LDR cao có thể gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng, đặc biệt trong tình huống ngân hàng không đủ tiền mặt để đáp ứng yêu cầu rút tiền của khách hàng Điều này có thể làm suy yếu sự tin tưởng của người gửi tiền và gây ra sự mất cân đối trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tương tự, LDR cũng có thể ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng của ngân hàng Một LDR cao có thể đồng nghĩa với việc ngân hàng đang sử dụng quá nhiều nguồn vốn tiền gửi của khách hàng để cho vay, có thể dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng cao Điều này làm suy yếu khả năng thu hồi nợ và tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng Mặt khác, một LDR cân đối và thích hợp có thể giúp tăng tính ổn định tài chính của ngân hàng Khi LDR được quản lý một cách cẩn thận và theo nguyên tắc bền vững, ngân hàng có thể duy trì sự cân đối giữa nguồn vốn và hoạt động cho vay, giảm thiểu rủi ro và tạo ra sự ổn định trong tài chính
Điều này cũng đã từng được nhấn mạnh trong nghiên cứu của Martinez - Miera
và Repullo (2010) Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa LDR và tính ổn định của
hệ thống ngân hàng trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy LDR cao có thể tạo ra rủi ro tài chính cho hệ thống ngân hàng, đặc biệt trong thời gian khủng hoảng Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một mức LDR quá thấp cũng có thể đe dọa tính ổn định của hệ thống ngân hàng bởi việc hạn chế khả
Trang 37năng cung cấp tài trợ cho hoạt động kinh doanh Kết luận của nghiên cứu là LDR cần được quản lý một cách cân đối để đảm bảo tính ổn định của hệ thống ngân hàng trong thời gian bình thường và trong tình hình khủng hoảng
c Chỉ số rủi ro tín dụng
Madugub và Ibrahima (2019) nhận thấy khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong toàn bộ
hệ thống ngân hàng ở Ghana sẽ làm tăng rủi ro cao hơn, dẫn đến tình trạng yếu kém về tài chính cho cả ngân hàng và khách hàng Sự thật này cũng được các nhóm tác giả nhận định khi mà nợ xấu gia tăng cũng làm sai lệch việc phân bổ tín dụng và làm giảm niềm tin của thị trường ngân hàng nói riêng, do đó làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh
tế nói chung (Cucinelli, 2015; Jorda, Schularick và Taylor, 2013; Peek và Rosengren,
2000, 2005)
Đại diện NHNN Việt Nam cho biết, tại thời điểm cuối năm 2022, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn ngành ngân hàng ở mức 1.92% Nhưng theo số liệu từ báo cáo tài chính quý IV/2022 của 27 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán, nợ xấu có chiều hướng tăng Điều này cảnh bảo rằng tỷ lệ nợ xấu hiện nay của cả hệ thống NHTM đang
ở mức trên 1% (mức quy định) sẽ tạo ra những ảnh hưởng xấu đáng kể về tính hoạt động ổn định
1.3 Tác động của SHNN đến sự ổn định hệ thống NHTM
Sở hữu nước ngoài đối với ngành NH là một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến ổn định hệ thống NHTM Trên thế giới, hình thức sở hữu vốn góp nước ngoài được nghiên cứu có nhiều tác động cả tích cực lẫn hạn chế đối với NH nội địa trong các nước đang phát triển Cụ thể, sự hiện diện của vốn SHNN được xem là nhân tố để cải thiện lợi thế chi phí so sánh có liên quan tới sản xuất và xử lý thông tin (Okuda và Suvadee, 2006) Sự góp vốn này cũng đem lại lợi ích ở cấp vĩ mô, đặc biệt tăng lợi nhuận của NH (Shen, Lu và Wu, 2009) Người ta dự đoán rằng tỷ lệ sở hữu nước ngoài của các công ty sẽ trở thành một trong những nguồn tăng trưởng và phát triển quan trọng ở các nền kinh tế đang phát triển Các công ty có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao hơn
sẽ hiệu quả hơn so với các công ty không có hoặc có tỷ lệ sở hữu nước ngoài nhỏ (Blomstrom và Sjoholm, 1999) Tuy nhiên, SHNN và tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài nên được giới hạn bởi nhiều quy định cho phép hạn chế để bảo vệ các NH nội địa (Susanto
và Rokhim, 2011) Theo lập luận của Kurniawan (2004) và Levine (1996) cho rằng, các NH lớn và có vốn SHNN sẽ tiếp tục thâu tóm các NH tư nhân có quy mô nhỏ và
Trang 38có ảnh hưởng lớn đến thị trường NH trong tương lai Theo đại diện CIEM, cùng với việc tăng tỷ lệ sở hữu của NĐT ngoại là sự cam kết lâu dài và chuyển giao kinh nghiệm, năng lực của các cổ đông chiến lược Nhờ đó, đã góp phần nâng cao năng lực tài chính hoạt động an toàn, ổn định và có hiệu quả hơn cho các tổ chức tài chính trong thời gian qua
Ngoài ra, các NH có sở hữu của nhà nước và sở hữu của nước ngoài có mức độ ảnh hưởng lớn hơn và chi phí phá sản thấp hơn so với các NH sở hữu tư nhân Tuy nhiên, các NĐT nước ngoài lại không có vai trò nhiều trong việc quyết định các vấn
đề quan trọng của NH (đặc biệt tại các NH mà có sở hữu của nhà nước và nhà nước là
cổ đông chi phối), từ đó không thể nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, giúp cải thiện quản trị rủi ro ngân hàng, tăng tính minh bạch trong hoạt động công bố thông tin Trong bối cảnh nhằm tăng cường khả năng huy động vốn của các NH đáp ứng tiêu chuẩn Basel II cho các NHTM; đặc biệt là hỗ trợ thực hiện hiệu quả các cam kết về giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần của NĐT nước ngoài tại các NHTM trong các FTA đặc biệt là EVFTA, thì các NHTM nên cân nhắc xem xét điều chỉnh tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần của NĐT nước ngoài
Sở hữu nước ngoài vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực đến sự ổn định của hệ thống NHTM, đồng thời có thể ảnh hưởng đến nhiều chỉ số ổn định tài chính của hệ thống NH như sau:
1.3.1 Về mặt tích cực
Thứ nhất, SHNN giúp các NHTM tiếp cận được một nguồn vốn lớn, công nghệ phù hợp để tăng năng suất và cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao trình độ quản
lý Nói cách khác, SHNN giúp các NHTM tìm NĐT chiến lược mới hoặc NĐT chiến
lược hiện hành góp thêm vốn để tăng quy mô vốn chủ sở hữu, mở rộng kinh doanh, tăng tổng tài sản và lợi nhuận Đây là một điều hết sức cần thiết vì công nghệ là điều cốt lõi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số quốc gia đang phát triển
Ví dụ, một nghiên cứu của Claessens và Van Horen (2014) cho thấy SHNN giúp các NHở châu Á tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Theo một nghiên cứu của Hong và cộng sự (2016), sự hiện diện của các NĐT nước ngoài trong hệ thống NHTM
có thể cung cấp nguồn vốn dồi dào và đa dạng hóa nguồn lực, giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng của các NHTM Việc các NĐT nước ngoài đầu tư vào các NHTM còn là cầu nối trung gian mở ra các cơ hội hợp tác với các cá nhân và tổ chức nước ngoài có
Trang 39chuyên môn, kinh nghiệm và tiềm lực tài chính mạnh để giúp các NHTM trong nước đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, chuẩn hóa các quy trình về mặt nghiệp vụ, mở rộng thị trường Bên cạnh đó, việc tham gia của các tổ chức nước ngoài sẽ giúp các quốc gia tận dụng được những thành tựu của khoa học và công nghệ trên thế giới, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về công nghệ so với thế giới, đồng thời mang đến những dịch
vụ và trải nghiệm tốt hơn cho người dùng
Thứ hai, sự có mặt của SHNN có tác động tích cực đến một số hoạt động của
NH trong nước thông qua cạnh tranh khách hàng, cung ứng vốn và năng lực quản trị Ví dụ, một nghiên cứu của Cull và Martinez Peria (2010) cho thấy SHNN giúp các
NH ở các nước đang phát triển cải thiện quản trị tài sản và nâng cao chất lượng tài sản Hiệu ứng lan tỏa quản trị, công nghệ, nhân sự từ cổ đông nước ngoài giúp các NHTM trong nước tăng hiệu quả hoạt động và giảm chi phí (Claessens và cộng sự, 2001) Một nghiên cứu khác của Lee (2008) từ mẫu dữ liệu NH ở Hàn Quốc đã đưa ra bằng chứng
về hệ nghịch biến của SHNN và rủi ro của ngân hàng Nicoló và Loukoianova (2007) cũng cung cấp bằng chứng về tác động ngược chiều giữa SHNN và rủi ro của ngân hàng
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, SHNN tại các quốc gia đang phát triển tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Nghiên cứu trực tiếp trên mẫu các NHTM sử dụng dữ liệu từ 1996 đến 1998, Mathieson và Schinasi (2000) đã tìm thấy tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của các NH nước ngoài cao hơn các NHTM nội địa hoạt động ở Hungary, Ba Lan và Cộng hòa Séc Majnoni và cộng
sự (2003) kết luận, các NHTM nước ngoài có khả năng sinh lợi cao hơn các NHTM nội địa Xem xét thêm tác động của tăng trưởng kinh tế lên mối tương quan giữa SHNN
và hiệu quả hoạt động của NHTM, Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) cung cấp bằng chứng cho thấy, ở các nước phát triển, các NHTM nước ngoài có khả năng sinh lợi thấp hơn các NHTM nội địa, trong khi điều ngược lại xảy ra ở các nước đang phát triển khi mà các NHTM nước ngoài lại có xu hướng sinh lợi tốt hơn các NHTM nội địa
Thứ ba, sự SHNN đóng góp vào việc bổ sung kiến thức về thị trường cho các
NHTM Trước đây, khi chưa có sự tham gia của NĐT nước ngoài, các NH chỉ có kiến
thức về thị trường trong nước Tuy nhiên, kể từ khi có sự tham gia của NĐT nước ngoài, các NH đã có cơ hội làm quen với các đối tác kinh tế mới đến từ nước ngoài Sở
Trang 40hữu nước ngoài mang đến cho các NH một số lợi thế về tài chính và kinh nghiệm từ các hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, đồng thời giúp cải thiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nhờ đó, lợi nhuận được tăng cường và sự tồn tại trên thị trường cũng được đảm bảo Một nghiên cứu của Berger và DeYoung (1997) cho thấy SHNN giúp các NH giảm thiểu rủi ro tín dụng và tăng cường khả năng chống lại các cuộc khủng hoảng tài chính Như vậy, SHNN cũng có thể giúp giải quyết các vấn đề liên quan đến rủi ro tài chính của các ngân hàng
Thứ tư, với vai trò là một cổ đông trong công ty, NĐT nước ngoài có thể sử dụng quyền kiểm soát quá trình ra quyết định, nhằm giảm thiểu mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và nhà quản lý Mặt khác, Nhà đầu tư nước ngoài có thể đem đến sự đa
dạng và sự cân đối trong quản lý, vượt qua sự khác biệt văn hóa, quốc gia và tiếp cận công nghệ, kỹ thuật Họ cũng có tiềm lực tài chính lớn và có thể mang lại lợi ích cho chính phủ của quốc gia đó (Lau và Tong, 2008) Lassoued, Sassi và Attia (2016) tìm
ra rằng SHNN trong các NH ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi có thể đóng góp vào việc tăng tính ổn định của hệ thống ngân hàng Cụ thể, SHNN giúp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro và phát triển năng lực vận hành của ngân hàng, từ đó giảm thiểu nguy cơ sụp đổ hệ thống ngân hàng
Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng cho thấy SHNN còn có thể đóng góp tích cực vào việc tăng cường khả năng đối phó với rủi ro tín dụng của các NHTM Trong một nghiên cứu khác của Li và cộng sự (2017), kết quả cho thấy rằng SHNN trong các NHTM có thể giúp cải thiện tình trạng tín dụng bằng cách tăng cường khả năng cấp tín dụng và hỗ trợ phát triển các hoạt động tài chính Ngoài ra, SHNN còn có thể giúp tăng cường sự đa dạng hoá của các NHTM, giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng Tóm lại, SHNN
có thể có tác động tích cực đến ổn định hệ thống NHTM, giúp tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng, đóng góp vào sự đa dạng hóa nguồn lực và cải thiện tình trạng tín dụng của các NHTM Tuy nhiên, việc SHNN cần được quản lý và kiểm soát