1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình smart Đánh giá Ảnh hưởng của hiệp Định cptpp Đến hoạt Động xuất khẩu mặt hàng giày dép của việt nam sang thị trường eu

72 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Mô Hình Smart Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Hiệp Định CPTPP Đến Hoạt Động Xuất Khẩu Mặt Hàng Giày Dép Của Việt Nam Sang Thị Trường EU
Tác giả Đậu Linh Chi, Đỗ Thị Thu Hiền, Bùi Việt Hà, Đàm Thị Hà Giang
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Vi Lê
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh tế & Kinh doanh quốc tế
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (12)
  • 2. Tổng quan nghiên cứu (13)
    • 2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước (13)
    • 2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước (16)
    • 2.3. Khoảng trống nghiên cứu (18)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (19)
  • 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (19)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (20)
  • 6. Kết cấu đề tài nghiên cứu (21)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG GIÀY DÉP (21)
    • 1.1. Tổng quan về hoạt động xuất khẩu (22)
      • 1.1.1. Khái niệm (22)
      • 1.1.2. Các hình thức xuất khẩu (22)
      • 1.1.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế (25)
    • 1.2. Tổng quan về mặt hàng giày dép xuất khẩu (27)
    • 1.3. Tổng quan về Hiệp định CPTPP (31)
      • 1.3.1. Lịch sử hình thành Hiệp định CPTPP (31)
      • 1.3.2. Nội dung chính của Hiệp định (32)
      • 1.3.3. Lợi ích khi tham gia Hiệp định CPTPP đối với các nước thành viên (33)
    • 1.4. Quy định của Hiệp định CPTPP đối với mặt hàng da giày xuất khẩu của Việt Nam (34)
      • 1.4.1. Cam kết về thuế quan (35)
      • 1.4.2. Cam kết về hàng rào kỹ thuật với thương mại (36)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP ĐẾN XUẤT KHẨU MẶT HÀNG GIÀY DÉP CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG (21)
    • 2.2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu mặt hàng giày dép của Việt Nam sang thị trường EU sau khi thực thi Hiệp định CPTPP (02/2019 – 02/2024) (42)
  • CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DA GIÀY SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG BỐI CẢNH THỰC THI HIỆP ĐỊNH CPTPP (21)
    • 3.1. Mô hình SMART trong đánh giá tác động của hiệp định CPTPP đến hoạt động xuất khẩu giày dép của Việt Nam (49)
    • 3.2. Kết quả nghiên cứu (54)
    • 3.3. Kết luận nghiên cứu (58)
  • CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DA GIÀY SANG THỊ TRƯỜNG EU (21)
    • 4.1. Định hướng phát triển hoạt động xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trường EU (64)
    • 4.2. Kiến nghị, đề xuất nhằm tăng trưởng xuất khẩu giày dép của Việt Nam (66)
      • 4.2.1. Về phía Nhà nước (66)
      • 4.2.2. Về phía doanh nghiệp (67)
  • KẾT LUẬN (70)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SMART ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KH

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu biến động, Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu Cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, cùng với sự thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế và xu hướng tự do hóa, đã tạo ra những thách thức lớn Để ứng phó, Việt Nam cần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tăng trưởng bền vững và ổn định tình hình chính trị - xã hội.

Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường kinh tế toàn cầu thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP và RCEP Những hiệp định này mở ra cơ hội quan trọng cho xuất khẩu hàng hóa, mang lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế quốc gia Các cam kết giảm thuế quan trong FTA giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận dễ dàng các thị trường lớn như Liên minh Châu Âu (EU) và mở rộng xuất khẩu sang các khu vực phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam.

Công tác hội nhập đã giúp hàng hóa Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, nâng cao giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực và thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu Mô hình xuất khẩu của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, từ việc chỉ xuất khẩu nông sản thô, nay đã chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp có giá trị như gỗ, dệt may, và da giày Thị trường da giày đặc biệt thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng toàn cầu, với sự tham gia của hàng trăm thương hiệu lớn nhỏ từ nhiều quốc gia.

Ngành da giày Việt Nam đang nổi bật như một lĩnh vực xuất khẩu chủ lực, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu và nâng cao vị thế của đất nước trong chuỗi cung ứng toàn cầu Kể từ khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, ngành này đã có nhiều cơ hội phát triển và mở rộng thị trường.

13 ngành hàng đã tận dụng hiệu quả Hiệp định CPTPP, với kim ngạch xuất khẩu tăng từ 10% lên 14% Trong số hơn 150 quốc gia nhập khẩu giày dép từ Việt Nam, EU nổi lên như một thị trường tiềm năng lớn thứ hai, chiếm 29,6% tổng lượng giày dép xuất khẩu.

Trong bối cảnh thực thi CPTPP, việc nghiên cứu “Ứng dụng mô hình SMART đánh giá ảnh hưởng của Hiệp định CPTPP đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam sang thị trường châu Âu” là rất cần thiết để khai thác hiệu quả các cơ hội xuất khẩu Nghiên cứu này không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn, thông qua việc phân tích hệ thống và toàn diện Bài nghiên cứu cũng sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam sang EU.

Tổng quan nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Phạm Mạnh Đức, Nguyễn Xuân Phát và Phạm Trường Sơn (2010) cho thấy các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong ngành da giày Việt Nam có lợi thế hơn về vốn và kinh nghiệm quản lý so với doanh nghiệp trong nước Do đó, hàng hóa của họ có sức cạnh tranh cao hơn Để nâng cao khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp xuất khẩu da giày Việt Nam cần tập trung vào phát triển sản phẩm chất lượng cao, xây dựng thương hiệu uy tín và nhanh chóng giải quyết các thách thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.

Nghiên cứu "Tác động của Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA) đối với ngành giày dép của Việt Nam" của nhóm tác giả Võ Tất Thắng, Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Thị Tường Vi (2018) đã điều tra ảnh hưởng của EVFTA đến ngành giày dép Việt Nam Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Hiệp định này mang lại nhiều cơ hội cho ngành giày dép, giúp tăng trưởng xuất khẩu và cải thiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường châu Âu.

Việc xóa bỏ thuế quan đối với ngành giày dép xuất khẩu của Việt Nam có khả năng gia tăng giá trị xuất khẩu, ngay cả khi chính sách chống bán phá giá được áp dụng Tuy nhiên, các biện pháp phòng vệ thương mại của EU vẫn ảnh hưởng tiêu cực đến nhóm giày dép xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam, cụ thể là HS 6403 Kết quả mô phỏng cho thấy sẽ có sự chuyển dịch đáng kể trong cơ cấu xuất khẩu của các nhóm sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan cao.

Phạm Hồng Nhung (2022) trong nghiên cứu về "Đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng da giày vào thị trường EU trong tiến trình thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)" đã chỉ ra rằng hoạt động xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam có nhiều kết quả khả quan, với một số sản phẩm đủ khả năng duy trì và phát triển thị phần tại thị trường EU Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế và thiếu sót trong quá trình xuất khẩu, cần thiết phải đưa ra các giải pháp thiết thực và hiệu quả để thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh mới.

Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Đức Xuân Lâm và cộng sự (2024) đã áp dụng phương pháp định tính và định lượng để đánh giá tác động của EVFTA đối với xuất khẩu da giày Việt Nam sang EU Qua phân tích, nhóm đã xác định bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến xuất khẩu, bao gồm GDP, dân số, FDI và tỷ giá Cụ thể, nếu GDP tăng 1%, lượng nhập khẩu sẽ tăng 0.5623%; nếu dân số tăng 1%, nhập khẩu sẽ tăng 0.6805%; FDI tăng 1% dẫn đến tăng 0.0042% trong lượng nhập khẩu; và tỷ giá tăng 1% sẽ làm tăng nhập khẩu 0.2184%.

Trong nghiên cứu "Tác động của Hiệp định CPTPP đối với lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam: Cơ hội và thách thức" của tác giả Hà Văn Sự (2019), tác giả phân tích ảnh hưởng của CPTPP đến xuất khẩu Việt Nam, đồng thời đánh giá các cơ hội và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi hiệp định có hiệu lực Nghiên cứu áp dụng mô hình trọng lực để xác định các yếu tố chính tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên CPTPP, tập trung vào các lĩnh vực như thực phẩm, dệt may và da giày Bài viết cũng đề cập đến nền kinh tế mở của Việt Nam, trong đó các ngành công nghiệp gia công đóng vai trò quan trọng.

Hiệp định CPTPP tạo ra cơ hội lớn cho việc thâm nhập vào các thị trường lớn của các nước thành viên, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng GDP.

Nghiên cứu của nhóm tác giả Ngô Văn Vũ, Nguyễn Thuỳ Dương và Phạm Văn Nghĩa (2020) mang tên "Tác động của Hiệp định CPTPP đến nền kinh tế Việt Nam" đã chỉ ra rằng Hiệp định CPTPP tác động đa chiều đến nền kinh tế Việt Nam, bao gồm cả những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực Các lĩnh vực bị ảnh hưởng đáng kể bao gồm môi trường pháp lý, thể chế, cạnh tranh, thương mại hàng hóa, tài chính ngân hàng và mở cửa thị trường mua sắm công.

Nguyễn Thị Oanh (2019) với bài nghiên cứu "Việt Nam tham gia hiệp định CPTPP:

CPTPP là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và đa phương quy mô lớn, mang đến nhiều cơ hội và thách thức cho xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Bài nghiên cứu đã phân tích các cam kết trong CPTPP ảnh hưởng đến lĩnh vực xuất khẩu, đồng thời nêu rõ các cơ hội và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt Tác giả cũng đưa ra khuyến nghị cho Nhà nước và doanh nghiệp trong nước nhằm mở rộng và tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này.

Nghiên cứu của Lê Thị Việt Nga, Doãn Nguyên Minh và Phạm Minh Đạt (2020) cho thấy rằng EVFTA đã ảnh hưởng tích cực đến hoạt động nhập khẩu ô tô của Việt Nam, với việc giảm thuế xuống 0% từ các nước EU dự kiến sẽ tăng 2,89% tổng kim ngạch nhập khẩu ô tô Mặc dù việc giảm thuế sẽ giảm chi phí nhập khẩu và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, nhưng cũng đặt ra thách thức cho các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực sản xuất để cạnh tranh hiệu quả hơn.

Nghiên cứu sử dụng mô hình SMART của Mạnh và Hiếu (2021) đã chỉ ra tác động tích cực của Hiệp định EVFTA đối với xuất khẩu nông sản Việt Nam sang EU, với hai kịch bản mô phỏng Kết quả cho thấy sản phẩm mã HS 03 và HS 08 có mức tăng trưởng giá trị tuyệt đối cao nhất, trong khi mã HS 04 lại ghi nhận tỷ lệ tăng trưởng phần trăm cao nhất Điều này cho thấy tiềm năng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU ngày càng được mở rộng nhờ vào việc giảm thuế theo cam kết của EVFTA, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy sản.

Mô hình SMART được sử dụng để đánh giá tác động của CPTPP lên xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam Nghiên cứu của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Kiên và cộng sự cho thấy CPTPP sẽ mang lại lợi thế cho Việt Nam nhờ vào việc loại bỏ thuế suất đối với sản phẩm gỗ Việt Nam sẽ chủ yếu thu lợi từ việc thay thế các nhà cung cấp ngoài CPTPP, thay vì từ thương mại mới Tác giả cũng đề xuất các khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và cải tiến sản phẩm, từ đó tối đa hóa lợi ích từ các cam kết của CPTPP.

Nhóm tác giả Nguyễn Thu Hằng và các cộng sự (2023) đã nghiên cứu tác động của Hiệp định CPTPP đối với xuất khẩu giày dép Việt Nam bằng mô hình SMART Nghiên cứu chỉ ra rằng, thông qua hai kịch bản liên quan đến sự tham gia của Hoa Kỳ, việc ký kết CPTPP có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của giày dép Việt Nam nhờ vào lợi thế thuế thấp Tuy nhiên, sự rút lui của Hoa Kỳ vào tháng 1/2017 đã làm giảm hiệu quả tổng thể của hiệp định này.

Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu của Gebreyohannes Gebreslassie Gebrewahid (2016) từ đại học Western Michigan đã chỉ ra rằng các rào cản xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành sản xuất giày dép tại Ethiopia chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố Các rào cản này bao gồm chính sách của Chính phủ, nguồn nhân lực, tài chính, chất lượng sản phẩm, và kiến thức tiếp thị Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những rào cản này có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu không chỉ của từng doanh nghiệp mà còn của toàn ngành giày dép Ethiopia.

Nghiên cứu của Abdul Ghafoor, Manan Aslam và Shafqat Rasool (2012) phân tích các yếu tố quyết định xuất khẩu hàng da tại Pakistan Bài báo tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của các biến số chính đến hiệu suất xuất khẩu giày da, sử dụng dữ liệu sơ cấp thu thập từ các nhà xuất khẩu.

Tỉnh Punjab, nơi chiếm gần 90% tổng kim ngạch xuất khẩu da giày từ Pakistan, đóng vai trò quan trọng trong ngành này Nghiên cứu cho thấy rằng giáo dục, kinh nghiệm thương mại, giá trao đổi và chi phí quảng bá sản phẩm đều ảnh hưởng đến xuất khẩu da giày của Pakistan, trong đó giáo dục có tác động lớn nhất đến kim ngạch xuất khẩu.

Phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến xuất khẩu giày dép của Parkistan của

Usman Rafiq (2016) đã nêu rõ những yếu tố ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu da giày của Pakistan, bao gồm số năm kiểm định, kinh nghiệm xuất khẩu, tiêu chuẩn ISO, giá trung bình nguyên liệu thô và tình hình giao thương quốc tế.

Nhóm tác giả Christopher F Corr, Francisco de Rosenzweig, William Moran, Samuel David Scoles và Matt Solomon (2019) đã nghiên cứu tác động của Hiệp định CPTPP đến thương mại toàn cầu Bài nghiên cứu chỉ ra rằng khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, tác động dự kiến sẽ rất lớn, thúc đẩy sự thay đổi đáng kể trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chungding Li và John Whalley (2020) nhận định rằng Hiệp định CPTPP mang lại lợi ích cho hầu hết các nước thành viên thông qua việc hội nhập thương mại, trong khi các nước không phải thành viên sẽ chịu thiệt hại do tác động loại trừ Các tác giả nhấn mạnh rằng nếu các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, EU và Ấn Độ tham gia CPTPP, lợi ích cho các nước thành viên sẽ được gia tăng đáng kể.

Terry Wu và Doren Chadee (2022) trong nghiên cứu "Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP): Hệ lụy đối với Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương" đã phân tích những tác động quan trọng của Hiệp định CPTPP đối với khu vực châu Á, nhấn mạnh vai trò của hiệp định trong việc thúc đẩy thương mại và hợp tác kinh tế giữa các quốc gia thành viên.

Thái Bình Dương đóng vai trò quan trọng trong các khía cạnh kinh tế và chính trị toàn cầu Nhóm tác giả phân tích các kịch bản tương lai của CPTPP, đồng thời chỉ ra những mối đe dọa và cơ hội mà khu vực này có thể đối mặt.

Mô hình cân bằng cục bộ SMART lần đầu tiên được áp dụng bởi Lorenza Jachia và Ethel Teljeur vào năm 1999 để đánh giá khả năng ký kết Thương mại tự do giữa Nam Phi và Liên minh châu Âu.

Cụ thể, kết quả từ việc sử dụng mô hình SMART đã cho thấy việc ký kết giữa hai thị

18 trường này dự kiến sẽ làm tăng 1,4% trên tổng khối lượng thương mại từ Nam Phi sang

EU, kết quả của sự tăng lên này xuất phát từ những cam kết trong FTA và WTO

Mikic và Gilbert (2007) đã áp dụng mô hình SMART để phân tích tác động kinh tế của các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển đất nước thông qua việc khai thác lợi ích từ FTA.

Sushil Kumar và Shahid Ahmed (2014) đã áp dụng mô hình cân bằng từng phần để phân tích tác động của Danh mục nhạy cảm trước Hiệp định SAFTA Kết quả nghiên cứu cho thấy việc loại bỏ danh mục nhạy cảm giữa các nước thành viên SAFTA dự kiến sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gia tăng dòng chảy thương mại trong khu vực.

Khoảng trống nghiên cứu

Hiệp định CPTPP là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, do đó, hiện tại vẫn còn ít nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá tác động của hiệp định này đối với nền kinh tế của các quốc gia thành viên.

Nghiên cứu về tác động của các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là Hiệp định CPTPP, chủ yếu tập trung vào các nước tham gia, với những ảnh hưởng đến kinh tế, phúc lợi và thương mại quốc gia Tuy nhiên, hiện nay còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu đánh giá tác động của hiệp định này đối với từng ngành hàng cụ thể.

Da giày là một trong những mặt hàng công nghiệp hàng đầu của Việt Nam, đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu Mặc dù vậy, các nghiên cứu trước đây chưa khai thác sâu về ngành da giày trong mối quan hệ thương mại với các nước thành viên CPTPP.

Nhóm nghiên cứu đã thu thập và tổng quan các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời chỉ ra khoảng trống nghiên cứu để thực hiện đề tài "Ứng dụng mô hình SMART đánh giá ảnh hưởng của Hiệp định CPTPP đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam sang thị trường EU" Đây là một nghiên cứu hoàn toàn mới, độc lập với các đề tài trước, nhằm cung cấp phân tích toàn diện về tác động của hiệp định thương mại song phương đối với xuất khẩu da giày Nhóm cũng áp dụng các phương pháp tiếp cận phù hợp để nâng cao chất lượng phân tích.

Bài nghiên cứu sẽ làm rõ thông tin về Hiệp định CPTPP, bao gồm cả cơ hội và thách thức trong việc xuất khẩu da giày sang EU Mục tiêu là mở rộng quy mô thị trường và đảm bảo chất lượng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là cho thị trường xuất khẩu.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu này là ứng dụng mô hình SMART để đánh giá và phân tích tác động của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương đối với hoạt động xuất khẩu sản phẩm da giày của Việt Nam sang thị trường EU.

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu da giày của Việt Nam sang thị trường EU

- Phân tích và đánh giá các tác động của Hiệp định CPTPP đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam sang thị trường EU

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mặt hàng da giày sang thị trường EU trong bối cảnh thực thi Hiệp định CPTPP

Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, so sánh và thống kê dữ liệu

Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên việc thu thập, tổng hợp, phân tích và so sánh các dữ liệu thứ cấp

Trong bài nghiên cứu này, chương 1 tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là mặt hàng da giày và Hiệp định CPTPP, sử dụng nguồn tài liệu từ Sciencedirect, Paper Digest và Google Scholar Chương 2 phân tích thực trạng ảnh hưởng của Hiệp định CPTPP đến xuất khẩu mặt hàng da giày của Việt Nam vào thị trường EU trước và sau khi tham gia hiệp định Cuối cùng, chương 3 đánh giá các yếu tố tác động của Hiệp định CPTPP đến xuất khẩu mặt hàng da giày thông qua mô hình cân bằng từng phần SMART, nhằm phân tích số liệu và đưa ra kết luận nghiên cứu.

Chương 4 trình bày các kiến nghị và đề xuất nhằm thúc đẩy xuất khẩu da giày của Việt Nam sang thị trường EU, dựa trên kết quả nghiên cứu từ chương 3, trong khuôn khổ thực thi Hiệp định CPTPP.

Bài nghiên cứu tham khảo dữ liệu và thông tin từ các bài báo học thuật trên các tạp chí như Sciencedirect, Scopus, cùng với các nguồn dữ liệu uy tín như Ngân hàng Thế giới, Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan Dựa trên những nguồn này, nghiên cứu đã tổng hợp các số liệu cần thiết để phục vụ cho quá trình phân tích và nghiên cứu.

5.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Việc xử lý và phân tích số liệu đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và rút ra bản chất của vấn đề nghiên cứu Sau khi thu thập và tổng hợp dữ liệu, bài nghiên cứu sử dụng các bảng thống kê để thực hiện phân tích Đồng thời, các công cụ như Microsoft Excel, SMART/WITS và các phần mềm máy tính khác được áp dụng để hỗ trợ quá trình xử lý số liệu.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG GIÀY DÉP

Tổng quan về hoạt động xuất khẩu

Xuất khẩu là quá trình chuyển giao hàng hóa, dịch vụ hoặc tài nguyên từ một quốc gia sang quốc gia khác Khái niệm này xuất phát từ thực tiễn thương mại quốc tế, nơi các quốc gia cần trao đổi sản phẩm do sự khác biệt về tài nguyên, khí hậu, công nghệ và nhu cầu tiêu dùng.

Xuất khẩu đã xuất hiện từ rất sớm trong các hoạt động thương mại, khi các tuyến đường buôn bán giữa các nền văn minh cổ đại phát triển Ban đầu, xuất khẩu chủ yếu liên quan đến hàng hóa thô như gia vị, lúa mì, vàng và kim loại quý Qua thời gian, khái niệm xuất khẩu đã mở rộng để bao gồm sản phẩm chế biến, công nghệ và dịch vụ, phản ánh sự thay đổi trong nền kinh tế toàn cầu và các mối quan hệ thương mại quốc tế Nghiên cứu về xuất khẩu cho thấy có nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng góc độ.

Xuất khẩu, theo định nghĩa của Cambridge Dictionary, là quá trình gửi hàng hóa đến một quốc gia khác để bán hoặc đưa một sản phẩm từ quốc gia này vào sử dụng tại các quốc gia khác.

Theo Điều 28, Khoản 1 của Luật Thương mại 2019, xuất khẩu hàng hóa được định nghĩa là việc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc vào khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam, nơi được xem là khu vực hải quan riêng theo quy định pháp luật.

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trao đổi hàng hóa, dịch vụ và tài nguyên giữa các quốc gia, từ đó nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế Hoạt động này không chỉ liên quan đến thương mại mà còn tác động đến nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, công nghệ và dịch vụ, mỗi lĩnh vực đều có đặc thù riêng nhưng cùng hướng tới mục tiêu gia tăng giá trị xuất khẩu và cải thiện quan hệ kinh tế quốc tế Do đó, xuất khẩu không chỉ là yếu tố then chốt trong nền kinh tế mà còn là phần thiết yếu trong các chiến lược phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

1.1.2 Các hình thức xuất khẩu

Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, trong đó bên mua và bên bán trực tiếp thương thảo về quyền lợi của mỗi bên theo quy định pháp luật của các quốc gia liên quan Hoạt động này diễn ra đơn giản, với doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện dựa trên nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng, tính toán chi phí để đảm bảo lợi nhuận, đồng thời tuân thủ các chính sách và luật pháp của Nhà nước cũng như quốc tế.

Trong hoạt động xuất khẩu tự doanh, doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu như nghiên cứu thị trường, lựa chọn bạn hàng và phương thức giao dịch Doanh nghiệp phải tự đầu tư vốn để chi trả chi phí kinh doanh và sẽ hưởng toàn bộ lợi nhuận, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm nếu thua lỗ Khi xuất khẩu tự doanh, doanh nghiệp được tính kim ngạch xuất khẩu nhưng cũng phải nộp thuế doanh thu và thuế lợi tức khi tiêu thụ hàng xuất khẩu Thông thường, doanh nghiệp chỉ cần ký một hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài.

1.1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác)

Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là hình thức xuất khẩu giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có chức năng giao dịch ngoại thương Doanh nghiệp trong nước, mặc dù có hàng hóa xuất khẩu, nhưng thiếu khả năng tài chính và đối tác, đã uỷ thác cho doanh nghiệp khác thực hiện xuất khẩu Bên nhận uỷ thác sẽ đàm phán với đối tác nước ngoài để thực hiện thủ tục xuất khẩu và nhận hoa hồng gọi là phí uỷ thác Mối quan hệ giữa hai bên được quy định rõ ràng trong hợp đồng uỷ thác.

Xuất khẩu uỷ thác là hình thức trong đó doanh nghiệp xuất khẩu không cần bỏ vốn hay xin hạn ngạch, đồng thời không phải thực hiện nghiên cứu thị trường tiêu thụ Doanh nghiệp chỉ đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch với đối tác nước ngoài, ký hợp đồng và thực hiện thủ tục xuất khẩu Ngoài ra, doanh nghiệp cũng thay mặt bên uỷ thác để khiếu nại và đòi bồi thường khi xảy ra tổn thất.

Khi nhận uỷ thác, doanh nghiệp xuất khẩu cần lập hai hợp đồng: hợp đồng mua bán hàng hoá với đối tác nước ngoài và hợp đồng nhận uỷ thác với bên uỷ thác.

1.1.2.3 Gia công hàng xuất khẩu

Gia công hàng hóa xuất khẩu là hình thức mà các công ty trong nước nhận tư liệu sản xuất từ các công ty nước ngoài, bao gồm máy móc và nguyên vật liệu Mục tiêu của hình thức này là sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của bên đặt hàng ở nước ngoài.

Hàng hóa được sản xuất sẽ được xuất khẩu ra nước ngoài theo yêu cầu của công ty đặt hàng Hình thức xuất khẩu này đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở các quốc gia có nguồn lực lao động dồi dào như Việt Nam.

Hình thức xuất khẩu tại chỗ bao gồm các mặt hàng như sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị thuê hoặc mượn, nguyên liệu, vật tư dư thừa, và phế liệu thuộc hợp đồng gia công theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Nghị định số 187/2013/NĐ-CP Ngoài ra, hàng hóa cũng có thể là giao dịch giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất hoặc trong khu phi thuế quan, cũng như hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, được chỉ định giao nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam.

Hàng hóa xuất khẩu tại chỗ sẽ không được vận chuyển ra ngoài biên giới lãnh thổ Việt Nam, nhưng khách hàng nước ngoài vẫn có thể mua và sử dụng sản phẩm của mình.

1.1.2.5 Tạm xuất tái nhập, tạm nhập tái xuất

Hình thức tạm xuất tái nhập là quy trình xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó hàng hóa sẽ được nhập khẩu trở lại nước xuất xứ ban đầu.

Tổng quan về mặt hàng giày dép xuất khẩu

1.2.1 Khái quát về mặt hàng giày dép xuất khẩu của Việt Nam

Trong bối cảnh hiện nay, thị trường giày dép Việt Nam trở thành ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển công nghiệp, khai thác tiềm năng từ các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP và RCEP Ngành giày dép không chỉ đóng góp vào hàng hóa xuất khẩu mà còn tạo ra nhiều việc làm cho xã hội Các sản phẩm giày dép xuất khẩu của Việt Nam ngày càng đa dạng và hoàn thiện về chất lượng, đáp ứng nhu cầu quốc tế cao Đặc biệt, giày thể thao, giày tennis, giày bóng rổ và giày tập với đế ngoài làm từ cao su hoặc nhựa, kết hợp với mũ giày từ vật liệu dệt, đã trở thành sản phẩm chủ lực được ưa chuộng Những đôi giày này không chỉ nổi bật về chất lượng và tính năng mà còn thể hiện sự sáng tạo trong thiết kế, thu hút người tiêu dùng toàn cầu Các sản phẩm giày có đế cao su, nhựa hoặc da tổng hợp, kết hợp với phần mũ bằng da, mang lại sự chắc chắn và phong cách thời trang hiện đại Các mẫu giày thể thao, giày chỉnh hình và giày đồ chơi, dù phục vụ mục đích chuyên biệt, vẫn góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng bền vững của ngành xuất khẩu giày dép Việt Nam.

Giày dép xuất khẩu của Việt Nam nổi bật với chi phí sản xuất thấp và tay nghề công nhân cao, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế Lực lượng lao động dồi dào và chi phí thấp giúp giảm giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng ổn định Sản phẩm giày dép Việt Nam, từ giày thể thao đến giày thời trang, đáp ứng yêu cầu về sự đa dạng và tính năng, phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng.

Giày dép Việt Nam đang được 28 cầu của nhiều thị trường, đặc biệt là ở Mỹ và châu Âu Tuy nhiên, ngành công nghiệp này vẫn phải đối mặt với một số thách thức so với các quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước châu Âu.

Việt Nam hiện đang đối mặt với thách thức trong ngành giày dép khi phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu, điều này làm tăng chi phí và giảm tính cạnh tranh Trong khi các quốc gia như Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha và Đức sở hữu công nghệ sản xuất tiên tiến và khả năng tự cung cấp nguyên liệu, Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu giày dép nổi bật trên thị trường toàn cầu như Nike hay Adidas Sản phẩm chủ yếu được xuất khẩu dưới hình thức OEM, thiếu sự nhận diện mạnh mẽ Để nâng cao giá trị gia tăng và đạt được tăng trưởng bền vững, ngành giày dép Việt Nam cần đầu tư vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển thương hiệu riêng trên thị trường quốc tế.

1.2.2 Các thị trường xuất khẩu chính của giày dép Việt Nam

Ngành công nghiệp giày dép Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trên thị trường quốc tế nhờ vào sản phẩm chất lượng cao, thu hút người tiêu dùng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc và Nhật Bản.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu giày dép lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 35% tổng kim ngạch xuất khẩu Năm 2023, giá trị xuất khẩu giày dép sang Hoa Kỳ đạt hơn 7,2 tỷ USD, giảm 25,5% so với năm 2022 do lạm phát và suy thoái kinh tế Các mặt hàng chủ lực bao gồm giày dép thể thao, giày thời trang và giày trẻ em, được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường này.

Biểu đồ 1.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang một số nước trên thế giới năm 2023

29 Đơn vị: Nghìn USD Nguồn: Trade Map

EU là thị trường xuất khẩu giày dép lớn thứ hai của Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, với Đức, Pháp và Ý là ba quốc gia nhập khẩu chính Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã giúp giảm thuế suất, tạo điều kiện thuận lợi cho giày dép Việt Nam, đặc biệt là giày thời trang và giày da cao cấp Ngoài ra, thị trường Châu Á, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, cũng rất quan trọng, với Nhật Bản và Hàn Quốc mỗi nước chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu Đặc biệt, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt khoảng 1,9 tỷ USD trong năm 2023, tăng 9,3% so với năm trước, nhờ sự phục hồi kinh tế và nhu cầu tiêu dùng tăng cao tại đây.

1.2.3 Các thị trường xuất khẩu tiềm năng cho giày dép Việt Nam

Thị trường giày dép tại các quốc gia vùng Vịnh như Ả Rập Xê-út, UAE và Qatar đang chứng kiến sự gia tăng tiêu thụ mạnh mẽ nhờ vào dân số trẻ và thu nhập bình quân đầu người cao Nhu cầu về sản phẩm thời trang, đặc biệt là giày dép, ngày càng lớn, với xuất khẩu mặt hàng này sang Trung Đông tăng hơn 25% trong năm 2023, đạt gần 500 triệu USD Đồng thời, thị trường Châu Phi, đặc biệt là Nam Phi, Nigeria và Kenya, cũng đang nổi lên như một thị trường tiềm năng với sự phát triển kinh tế và tăng trưởng dân số, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng giày dép tăng đáng kể Xuất khẩu giày dép sang châu Phi đã tăng khoảng 20% trong năm 2023.

300 triệu USD Đặc biệt tại thị trường này thì các sản phẩm giày dép giá rẻ và bền được ưa chuộng và sử dụng nhiều

1.2.4 Quy mô xuất khẩu mặt hàng giày dép của Việt Nam qua từng năm

Ngành giày dép là một trong những lĩnh vực xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp khoảng 7% vào tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quốc gia Từ năm 2015 đến 2019, kim ngạch xuất khẩu giày dép tăng trưởng bình quân 11,2% mỗi năm, cho thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ của ngành này.

2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 mà hoạt động xuất khẩu giày dép của Việt Nam ra thị trường thế giới giảm 8,3% so với năm 2019, đạt 16,79 tỷ USD

Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam trong quý III/2021 đạt 2,925 tỷ USD, giảm 47,7% so với quý II/2021 và 26,9% so với cùng kỳ năm 2020 Giày dép là mặt hàng có kim ngạch sụt giảm mạnh nhất trong số các ngành hàng xuất khẩu, giảm 2,67 tỷ USD so với quý II/2021 và 1,08 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2020 Dù vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép trong 9 tháng đầu năm 2021 vẫn đạt 13,31 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2020, mặc dù thấp hơn mức tăng 12,8% của 9 tháng đầu năm 2019 trước khi xảy ra đại dịch Covid-19.

Trong thời gian gần đây, tỷ trọng kim ngạch giày dép nhập khẩu từ Việt Nam đã tăng đáng kể Đặc biệt, đối với thị trường lớn như Liên minh Châu Âu, Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA) đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/08/2020, tạo cơ hội thuận lợi cho sự phát triển của ngành giày dép Việt Nam.

Năm 31 đã được xác định là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành giày dép trong thời gian gần đây Ngành giày dép Việt Nam đã ghi nhận những chuyển biến tích cực trong hoạt động xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa trên thị trường quốc tế.

Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu giày dép của Việt Nam trong tháng 12 đạt hơn 1,8 tỷ USD, giảm 3,6% so với tháng trước, đưa tổng giá trị xuất khẩu năm 2023 xuống còn hơn 20,2 tỷ USD, giảm 15,3% so với năm 2022 Báo cáo của VIRAC chỉ ra rằng quý 2 năm 2023, thị trường giày dép chịu tác động tiêu cực từ sự suy giảm của các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ, EU và Nhật Bản do lạm phát và sức tiêu dùng giảm Đặc biệt, lượng hàng tồn kho trong ngành thời trang đang ở mức cao.

Việt Nam hiện đang đứng thứ 3 thế giới về sản xuất giày dép, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ, và đứng thứ 2 về xuất khẩu với kim ngạch gần 24 tỷ USD trong năm 2023 Dự báo, tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sẽ đạt mục tiêu 26 - 27 tỷ USD vào năm 2024 và 30 tỷ USD vào năm tiếp theo.

Dự báo đến năm 2025, thị trường xuất khẩu giày dép của Việt Nam sẽ đạt 38,4 tỷ USD vào năm 2030, với tốc độ tăng trưởng khoảng 5,6 - 5,8% mỗi năm Trong giai đoạn trung hạn, Mỹ, EU, Trung Quốc và Nhật Bản sẽ vẫn là các thị trường xuất khẩu lớn nhất Việt Nam chủ yếu xuất khẩu ba loại giày dép chính: giày mũ da (mã HS 6403), giày mũ vải (mã HS 6404) và giày cao su & plastic (mã HS 6402).

Tổng quan về Hiệp định CPTPP

1.3.1 Lịch sử hình thành Hiệp định CPTPP

Hiệp định CPTPP - danh từ, trong tiếng Anh được gọi là Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership, viết tắt là CPTPP

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, được ký kết vào tháng 3 năm 2018 Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 với 6 trong tổng số 11 nước thành viên, bao gồm Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand và Singapore CPTPP chính thức có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày 14/01/2019.

Trước đó, vào tháng 03/2010, Hiệp định được đàm phán với sự tham gia của 12 nước thành viên bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand,

Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) bao gồm Australia, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam Sau 7 năm, Hoa Kỳ đã chính thức rút khỏi TPP, cho rằng hiệp định này ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều lợi ích của nước Mỹ Sau đó, hiệp định được đổi tên thành Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Hiệp định CPTPP đã chính thức có hiệu lực tại Peru từ ngày 19/09/2021 và tại Malaysia từ ngày 29/11/2022 sau khi được phê chuẩn vào ngày 05/10/2022 Chile phê chuẩn CPTPP vào ngày 22/11/2022, và hiệp định này có hiệu lực tại quốc gia này từ ngày 21/02/2023 Cuối cùng, CPTPP được phê chuẩn với Brunei vào ngày 13/05/2023 và chính thức có hiệu lực tại đây từ ngày 12/07/2023.

Kể từ khi CPTPP được ký kết, ngày càng nhiều quốc gia và nền kinh tế khác đã tham gia đàm phán và đạt thỏa thuận gia nhập Hiệp định này trong những năm tiếp theo.

Vương quốc Anh là quốc gia đầu tiên chính thức ký thỏa thuận gia nhập CPTPP vào ngày 16/07/2023, sau khi nộp đơn xin gia nhập vào tháng 02/2021 Ngoài ra, Trung Quốc, Ecuador, Costa Rica và Uruguay cũng đã lần lượt nộp đơn tham gia Hiệp định này.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương đã thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và tạo cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ cho các nước thành viên Tuy nhiên, các quốc gia cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình tham gia thương mại quốc tế.

1.3.2 Nội dung chính của Hiệp định

Hiệp định CPTPP kế thừa hầu hết các cam kết từ TPP, nhưng có một số khác biệt quan trọng Những khác biệt này bao gồm việc loại bỏ các cam kết riêng của Hoa Kỳ và tạm hoãn khoảng 20 nhóm cam kết trong 9 Chương của TPP, như Chương 5 về Hải quan, Chương 9 về Đầu tư, Chương 10 về Dịch vụ xuyên biên giới, Chương 11 về Dịch vụ tài chính, Chương 13 về Viễn thông, Chương 15 về Mua sắm công, và Chương 18.

Sở hữu trí tuệ, Môi trường, Minh bạch và Chống tham nhũng là những chủ đề quan trọng trong Chương 20 và Chương 26 Việc sửa đổi thời điểm hiệu lực của cam kết tại Phụ lục II-14-3 của Brunei cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong các cam kết quốc tế.

33 hiệu lực của cam kết tại Phụ lục IV-3 và IV-4 của Malaysia) và một số Thư song phương sửa đổi/điều chỉnh giữa các bên của CPTPP

Hiệp định CPTPP gồm 30 Chương và 4 Phụ lục, đánh dấu sự tham gia của Việt Nam vào một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với tiêu chuẩn cao CPTPP không chỉ mở rộng thương mại hàng hóa mà còn bao gồm dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Bên cạnh đó, hiệp định này cũng chú trọng đến các vấn đề phi thương mại như môi trường và mua sắm công.

1.3.3 Lợi ích khi tham gia Hiệp định CPTPP đối với các nước thành viên

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) bao gồm 12 quốc gia với tổng dân số gần 500 triệu người và GDP vượt 13.000 tỷ USD, chiếm hơn 13,4% GDP toàn cầu CPTPP đang nổi lên như một trong những thỏa thuận thương mại lớn nhất khu vực Thái Bình Dương và toàn thế giới.

Khác với TPP, hiệp định CPTPP với hai từ "Toàn diện" và "Tiến bộ" thể hiện sự đồng thuận cao hơn nhờ vào nội dung hợp tác mở rộng, đồng thời kế thừa các tiêu chí tiêu chuẩn cao của TPP CPTPP đang tạo cơ hội cho nhiều quốc gia và nền kinh tế khác gia nhập, mang lại lợi ích đáng kể cho các nước thành viên.

Tham gia CPTPP mang lại cơ hội tăng trưởng kinh tế cho các nước thành viên, đặc biệt là các quốc gia kém phát triển CPTPP được coi là một FTA “thế hệ mới” với phạm vi toàn diện hơn, khác biệt so với các FTA truyền thống và các Hiệp định WTO, nhấn mạnh sự tự do hóa thương mại rộng rãi hơn.

Thương mại tự do giúp giảm thuế nhập khẩu, làm giảm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp, từ đó người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý hơn Hơn nữa, thông qua hệ thống quy tắc chặt chẽ, CPTPP thúc đẩy sự công bằng giữa các quốc gia thành viên và đảm bảo không có sự phân biệt đối xử giữa các loại hàng hóa.

CPTPP giúp các quốc gia thành viên giải quyết vấn đề việc làm thông qua kết nối thương mại quốc tế, tạo ra cơ hội việc làm mới và mở rộng thị trường Trước khi có các hiệp định thương mại tự do, nhiều quốc gia thường bảo vệ ngành công nghiệp trong nước, dẫn đến hạn chế trong cạnh tranh toàn cầu Sự xuất hiện của CPTPP và các FTA đã hình thành thị trường thống nhất, loại bỏ rào cản thương mại, từ đó tạo ra môi trường kinh doanh năng động và nâng cao hiệu quả nhờ chuyên môn hóa quốc tế.

Hiệp định CPTPP mang lại nhiều lợi ích lớn cho các quốc gia thành viên, thúc đẩy hợp tác toàn cầu và các phương pháp tiếp cận chung trong thương mại quốc tế Với tiêu chuẩn cao và tác động mạnh mẽ, CPTPP dẫn dắt sự phát triển bền vững cho các quốc gia, yêu cầu tuân thủ các quy định nghiêm ngặt và góp phần củng cố việc thực thi cam kết của Hiệp định.

THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP ĐẾN XUẤT KHẨU MẶT HÀNG GIÀY DÉP CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DA GIÀY SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG BỐI CẢNH THỰC THI HIỆP ĐỊNH CPTPP

Mô hình SMART trong đánh giá tác động của hiệp định CPTPP đến hoạt động xuất khẩu giày dép của Việt Nam

3.1.1.1 Phương pháp cân bằng từng phần

Để đánh giá chính sách thương mại, hai mô hình mô phỏng chính được sử dụng là mô hình cân bằng riêng phần (PE) và mô hình cân bằng tổng thể (GE) Những mô hình này là công cụ quan trọng trong việc phân tích tác động của chính sách (John Gilbert, 2017).

Mặc dù mô hình GE có khả năng phân tích tác động của các FTA đối với xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế hoặc các nhóm sản phẩm, nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình PE để đánh giá ảnh hưởng của CPTPP đối với xuất khẩu giày dép của Việt Nam Lý do là vì mô hình PE đơn giản hơn trong việc thực hiện tính toán và áp dụng vào dữ liệu thực tế.

Mô hình PE tập trung vào phân tích một thị trường cụ thể, đánh giá tác động của các thay đổi thuế quan đối với ngành hoặc hàng hóa tại một thời điểm nhất định Nghiên cứu sử dụng Phần mềm Phân tích Thị trường và Hạn chế Thương mại (SMART), một gói mô phỏng trong WITS, cùng với công cụ mô hình hóa PE do Ngân hàng Thế giới và UNCTAD phát triển SMART tích hợp nhiều cơ sở dữ liệu về thương mại, thuế quan và doanh nghiệp để thực hiện các mô phỏng thương mại, cho phép phân tích tác động trực tiếp đến luồng thương mại như doanh thu nhập khẩu, xuất khẩu, và thay đổi giá thế giới Tuy nhiên, nó không xem xét các tác động gián tiếp Brill et al (1997) đã áp dụng mô hình cân bằng từng phần để nghiên cứu hiệu quả của các cơ chế định giá nước ở cấp địa phương.

Vu et al (2020) sử dụng mô hình GSIM để phân tích tác động của CPTPP đối với xuất

Khẩu thủy sản Việt Nam là một ví dụ điển hình về việc áp dụng phân tích cân bằng từng phần, cho thấy hiệp định này đã góp phần tăng 4,33% giá trị xuất khẩu và 2,3% giá trị nhập khẩu Đồng thời, tổng phúc lợi của ngành thủy sản cũng được nâng cao thêm 10,91 triệu USD.

Mô hình cân bằng riêng phần có những hạn chế quan trọng cần được thừa nhận, bao gồm yêu cầu kiến thức về các tham số chính như độ co giãn, và độ nhạy của kết quả đối với các giá trị được chọn Nó không xem xét các tương tác tiềm ẩn trong bối cảnh kinh tế rộng lớn hơn, có thể dẫn đến việc bỏ lỡ các vòng phản hồi quan trọng Hơn nữa, hiệu quả của mô hình phụ thuộc vào việc thỏa mãn các giả định trong khung cân bằng riêng phần, điều này không phải lúc nào cũng đúng trong các tình huống thực tế.

Mô hình SMART yêu cầu các chỉ số đầu vào quan trọng như giá trị nhập khẩu từ mỗi quốc gia đối tác, biểu giá thuế quan áp dụng, và độ co giãn của nhu cầu nhập khẩu, độ co giãn của thay thế nhập khẩu trong thị trường nội địa, cùng với độ co giãn của cung xuất khẩu Các chỉ số về độ co giãn được tính toán dựa trên ba giả định cụ thể.

Giả định 1: Giả định về nhu cầu nhập khẩu được đưa ra bởi Armington

Lý thuyết này cho rằng người tiêu dùng phân biệt giữa hàng hóa nội địa và hàng hóa nhập khẩu dựa trên nguồn gốc Khi giá hàng hóa nhập khẩu giảm, nhu cầu về hàng hóa từ các quốc gia không thuộc Hiệp định thương mại tự do (FTA) vẫn tăng Điều này có nghĩa là nguồn cung giày dép từ Việt Nam không đủ đáp ứng nhu cầu toàn thị trường EU, dẫn đến nhu cầu sẽ được phân bổ từ các quốc gia và nguồn cung cấp khác không thuộc FTA.

Giả định 2: Quy trình tối ưu hóa hai giai đoạn của người tiêu dùng

Giả thuyết thứ hai trong mô hình SMART liên quan đến quy trình tối ưu hóa hai giai đoạn của người tiêu dùng đối với hàng hóa nhập khẩu Trong giai đoạn đầu tiên, tổng chi tiêu của người tiêu dùng sẽ thay đổi tùy thuộc vào mức độ giảm giá của nhu cầu nhập khẩu Cụ thể, khi giá hàng hóa biến động, người tiêu dùng sẽ điều chỉnh tiêu chuẩn tiêu dùng của mình.

Người tiêu dùng sẽ phân bổ chi tiêu giữa các hàng hóa thay thế nhập khẩu khác nhau trong nước sau khi xác định tổng chi tiêu, điều này phụ thuộc vào độ co giãn của nhu cầu đối với sự thay đổi về giá.

Mô hình SMART áp dụng độ co giãn thay thế mặc định là 1.5 cho mọi loại hàng hóa, cho thấy rằng một biến động nhỏ trong giá cả sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong cách phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng.

Giả định 3: Độ co giãn của nguồn cung xuất khẩu là hoàn toàn

Việc áp dụng tính đàn hồi cung xuất khẩu ở mức 99 cho tất cả các loại hàng hóa cho phép phân tích rằng các nhà xuất khẩu có khả năng đáp ứng nhu cầu từ phía nhập khẩu ở mức giá xác định Giả định này rất quan trọng để hiểu ảnh hưởng của việc loại bỏ thuế quan từ thị trường EU trong bối cảnh thực thi hiệp định CPTPP đối với hoạt động xuất khẩu giày dép của Việt Nam.

Mô hình SMART phân tích tác động của chính sách thương mại thông qua nhiều biến số và phân chia các tác động thành hai loại chính: Tạo lập thương mại (Trade creation) và Chuyển hướng thương mại (Trade diversion).

Mô hình thương mại này xem A và B là hai đối tác, từ đó phân tích thị trường nhập khẩu một loại hàng hóa Tổng lượng tiêu thụ q₀ được nhập khẩu từ cả A và B, với lượng nhập khẩu từ A (𝑨 𝟎 ) và B (𝑩 𝟎 ) được xác định tại điểm cân bằng 𝑬 𝟎, nơi giao điểm giữa q₀ và đường biểu diễn mức giá tương đối của hai loại hàng hóa.

Hình 3.1 Khung lý thuyết của SMART

Độ co giãn xuất khẩu là chỉ số phản ánh phần trăm thay đổi trong xuất khẩu khi giá thay đổi 1% Công thức tính toán độ co giãn này được quy định bởi Ngân hàng Thế giới (2010).

Trong mô hình SMART, các quốc gia cạnh tranh để xuất khẩu hàng hóa vào thị trường nội địa, tập trung vào cấu trúc và khối lượng hàng nhập khẩu với mức giá xác định trên thị trường xuất khẩu.

Về độ co giãn cung xuất khẩu, có hai cách tiếp cận để giải quyết mô hình:

- Một là giả định cung xuất khẩu có độ co giãn vô hạn

- Hai là giả định đường cung dốc lên

Kết quả nghiên cứu

3.2.1 Tác động tạo lập thương mại

Kết quả mô phỏng từ mô hình SMART cho thấy tổng giá trị thương mại ước tính đạt khoảng 1,364 triệu USD khi áp dụng kịch bản thuế quan 0% cho mặt hàng giày dép xuất khẩu từ Việt Nam.

EU trong bối cảnh thực thi hiệp định CPTPP Trong đó, nhóm mặt hàng có mã HS

Mã HS 640399, thuộc nhóm giày dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giày bằng da thuộc, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng với tỷ lệ 48,31%.

Trước khi giảm thuế về 0%, các sản phẩm có mã HS 640351, 640359, 640391 và

Việt Nam phải chịu mức thuế suất cơ sở từ 3,5 - 17% cho mã HS 640399, nhưng việc áp dụng kịch bản này đã giúp giảm đáng kể chi phí đầu vào cho sản xuất giày dép, tăng cường sức cạnh tranh so với các đối thủ như Trung Quốc và Ấn Độ, quốc gia không có ưu đãi thuế từ EU Thương mại chủ yếu tập trung vào mã HS 640359 và 640399, chiếm hơn 90% tổng tác động, dẫn đến việc các sản phẩm giày dép sẽ được nhập từ Việt Nam, thay thế cho các nhà cung cấp khác.

Bảng 3.1 Giá trị tạo lập thương mại tính theo từng nhóm hàng

Mã HS Nước XK Nước NK Kim ngạch

Tạo lập thương mại (1.000 USD)

Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên kết quả mô phỏng SMART

Nhóm hàng 640359, mặc dù có kim ngạch thương mại lớn nhất trong số các mặt hàng giày dép xuất khẩu sang EU, đạt hơn 5,678 triệu USD, vẫn cần được chú ý trong các chiến lược phát triển xuất khẩu.

USD, giá trị tạo lập thương mại của nhóm hàng này vẫn khá thấp khi so với nhóm hàng khác như HS 640399

Việc thị trường EU xóa bỏ thuế quan đối với nhóm hàng giày dép HS 6403 từ Việt Nam mang lại lợi ích cho cả hai bên, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức về cạnh tranh Để đạt được hiệu quả thương mại, nhóm hàng này cần tuân thủ các tiêu chuẩn khắt khe trong quy tắc xuất xứ và Chỉ thị an toàn sản phẩm chung (GPSD) Cụ thể, sản phẩm thuộc nhóm HS 6403 phải đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng khi được bán trên thị trường EU, đồng thời hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại như thuốc nhuộm azo và Chromium để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

Việc quy định cụ thể về Perfluorooctane sulphonate (PFOS) và các chất hóa học khác đang ngày càng trở nên nghiêm ngặt Đồng thời, yêu cầu ghi nhãn giày dép cũng phải mô tả đầy đủ ba phần chính của sản phẩm, điều này không chỉ tuân thủ các tiêu chuẩn mà còn phải phù hợp với Công ước CITES Những quy định này đã tạo ra không ít thách thức cho hoạt động xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trường EU, đặc biệt là khi liên quan đến vật liệu từ động thực vật hoang dã.

3.2.2 Tác động chuyển hướng thương mại

Bảng 3.2 Giá trị chuyển hướng thương mại của các nhóm hàng giày dép Việt

Nam xuất khẩu sang EU khi thuế quan được cắt giảm về 0%

Tạo lập thương mại (1.000 USD)

Chuyển hướng thương mại (1.000 USD)

Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên kết quả mô phỏng SMART

Theo số liệu từ mô phỏng SMART, tác động của chuyển hướng thương mại lớn hơn khoảng 40% so với tác động tạo lập thương mại Điều này cho thấy khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng nhờ vào ưu đãi thuế quan, giúp hàng hóa Việt Nam cạnh tranh hơn với sản phẩm nội địa EU Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh từ các đối thủ vẫn còn rất lớn, và mặc dù CPTPP sẽ thúc đẩy xuất khẩu, nhưng chưa đủ để tạo ra bước đột phá nhằm chiếm ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh khác.

Theo mô phỏng từ SMART, khi hiệp định có hiệu lực và thuế suất 0% được áp dụng cho hàng nhập khẩu từ Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu giày dép (HS chương 64) của 10 quốc gia vào EU dự kiến sẽ giảm.

Việc CPTPP có hiệu lực đã dẫn đến sự giảm sút kim ngạch xuất khẩu giày dép của nhiều quốc gia sang EU, đặc biệt là các nước không có hiệp định thương mại tự do (FTA) với khu vực này.

Liên minh châu Âu (EU) vẫn chưa đạt được lợi thế cạnh tranh đủ mạnh Dữ liệu cho thấy rằng Hàn Quốc, Bắc Macedonia, Đài Loan và Singapore là những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất do sự mất thị phần vào tay Việt Nam.

Bảng 3.3 10 nước giảm xuất khẩu các mặt hàng thuộc HS 64 sang EU

Kim ngạch trước CPTPP (1000 USD)

Kim ngạch sau CPTPP (1000 USD)

Mặc dù Singapore là thành viên của CPTPP và có hiệp định FTA với EU, kim ngạch xuất khẩu giày dép của quốc gia này đã giảm 20,677.67 nghìn USD Nguyên nhân chủ yếu là do Singapore đóng vai trò trung gian trong việc tái xuất hàng hóa, và khi Việt Nam được hưởng lợi thế thuế quan trực tiếp, vai trò trung gian của Singapore đã bị suy giảm.

Mặc dù Morocco, Lebanon và Ai Cập đã ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với EU, nhưng họ vẫn phải đối mặt với những tác động tiêu cực Điều này chỉ ra rằng FTA không phải là yếu tố duy nhất quyết định lợi thế cạnh tranh, mà còn phụ thuộc vào mức độ ưu đãi thuế quan, khả năng sản xuất và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Xu hướng này cho thấy CPTPP đã mang lại lợi thế cạnh tranh rõ rệt cho ngành xuất khẩu giày dép của Việt Nam tại thị trường EU, nhờ mức thuế nhập khẩu giảm xuống 0% Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị phần và tăng cường hoạt động xuất khẩu.

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DA GIÀY SANG THỊ TRƯỜNG EU

Ngày đăng: 10/03/2025, 16:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang một số quốc - Ứng dụng mô hình smart Đánh giá Ảnh hưởng của hiệp Định cptpp Đến hoạt Động xuất khẩu mặt hàng giày dép của việt nam sang thị trường eu
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang một số quốc (Trang 39)
Bảng 2.2. Một số chủng loại giày dép xuất khẩu sang EU năm 2015 - Ứng dụng mô hình smart Đánh giá Ảnh hưởng của hiệp Định cptpp Đến hoạt Động xuất khẩu mặt hàng giày dép của việt nam sang thị trường eu
Bảng 2.2. Một số chủng loại giày dép xuất khẩu sang EU năm 2015 (Trang 40)
Bảng 2.3. Tỷ lệ tăng trưởng (%) mặt hàng giày dép của Việt Nam sang thị - Ứng dụng mô hình smart Đánh giá Ảnh hưởng của hiệp Định cptpp Đến hoạt Động xuất khẩu mặt hàng giày dép của việt nam sang thị trường eu
Bảng 2.3. Tỷ lệ tăng trưởng (%) mặt hàng giày dép của Việt Nam sang thị (Trang 45)
Hình 3.1. Khung lý thuyết của SMART - Ứng dụng mô hình smart Đánh giá Ảnh hưởng của hiệp Định cptpp Đến hoạt Động xuất khẩu mặt hàng giày dép của việt nam sang thị trường eu
Hình 3.1. Khung lý thuyết của SMART (Trang 52)
Bảng 3.1. Giá trị tạo lập thương mại tính theo từng nhóm hàng - Ứng dụng mô hình smart Đánh giá Ảnh hưởng của hiệp Định cptpp Đến hoạt Động xuất khẩu mặt hàng giày dép của việt nam sang thị trường eu
Bảng 3.1. Giá trị tạo lập thương mại tính theo từng nhóm hàng (Trang 55)
Bảng 3.2. Giá trị chuyển hướng thương mại của các nhóm hàng giày dép Việt - Ứng dụng mô hình smart Đánh giá Ảnh hưởng của hiệp Định cptpp Đến hoạt Động xuất khẩu mặt hàng giày dép của việt nam sang thị trường eu
Bảng 3.2. Giá trị chuyển hướng thương mại của các nhóm hàng giày dép Việt (Trang 56)
Bảng 3.3. 10 nước giảm xuất khẩu các mặt hàng thuộc HS 64 sang EU - Ứng dụng mô hình smart Đánh giá Ảnh hưởng của hiệp Định cptpp Đến hoạt Động xuất khẩu mặt hàng giày dép của việt nam sang thị trường eu
Bảng 3.3. 10 nước giảm xuất khẩu các mặt hàng thuộc HS 64 sang EU (Trang 57)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w