Mục tiêu Đề tài tập trung nghiên cứu, tuyển chọn, xây dựng và sử dụng một số BTHH trong dạy học chủ đề: Nguyên tố nhóm Halogen – Hóa học lớp 10 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT DIỄN CHÂU 3
LÊ XUÂN HOA ĐT: 0982874969
Năm thực hiện: 2024
Trang 2MỤC LỤC
1 Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức,
kỹ năng cho HS thông qua sử dụng bài tập hóa học 4
1.2.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng 6 1.2.2 Cấu trúc và biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng 7 1.2.3 Phương pháp và công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức,
1.2.4 Một số phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực
2 Thực trạng dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ
Trang 33.3.2 Nguyên tắc xây dựng bài tập hóa học phát triển NLVDKTKN 20 3.3.3 Quy trình xây dựng bài tập hóa học nhằm phát triển
3.4.2 Sử dụng BTHH trong bài dạy ôn tập, luyện tập 31
3.5 Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng
3.6 Thiết kế một số kế hoạch bài học minh họa 33
5 Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của đề tài 46
5.4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của đề tài 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Năm học 2022-2023, chương trình giáo dục phổ thông 2018 được triển khai
ở cấp THPT, đây là một chương trình giáo dục được xây dựng theo hướng mở, lấy người học làm trung tâm Chương trình giáo dục phổ thông mới cho phép địa phương chủ động trong việc triển khai kế hoạch giáo dục theo định hướng giáo dục trên địa bàn mình, cũng như tạo điều kiện cho những nhà biên soạn sách và người dạy phát huy được tính chủ động của họ Ngoài nguyên lý giáo dục nền tảng bao
gồm "học đi đôi với hành", "lý luận gắn liền với thực tiễn", "giáo dục ở nhà trường
kết hợp với giáo dục ở gia đình và xã hội", chương trình còn chịu ảnh hưởng từ
triết lý giáo dục "học để biết - học để làm - học để chung sống - học để tự khẳng
định mình"
Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, ở cấp trung học phổ thông môn Hóa học là môn học thuộc giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, được học sinh lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân Trong đó, bài tập hóa học (BTHH) đóng vai trò rất quan trọng, vừa là nội dung, vừa là mục đích, lại là phương pháp dạy học hiệu quả Trong quá trình dạy học, BTHH được sử dụng trong hầu hết các bài dạy, từ nghiên cứu kiến thức mới tới dạng bài luyện tập, ôn tập, kiểm tra, đánh giá, … BTHH giúp mở rộng và đào sâu kiến thức, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhận thức cũng như phát triển năng lực cho học sinh
Tuy nhiên, BTHH hiện nay đang quá chú trọng đến tính toán, coi nhẹ bản chất hóa học, ít gắn liền với thực tiễn dẫn đến học sinh không hào hứng học tập môn Hóa học và không nhận thấy có sự liên quan giữa kiến thức đã học với thực tế diễn ra trong cuộc sống Do đó, cần phải tuyển chọn và xây dựng được hệ thống bài tập phù hợp nhằm phát triển năng lực cho học sinh
Hoá học 10 giúp học sinh hình thành và phát triển cả ba thành phần của năng lực hoá học, bao gồm nhận thức, tìm hiểu và vận dụng Chương trình Hoá học 10 tập trung vào kiến thức cơ sở hoá học chung Các nội dung này giúp học sinh nhận định tính hệ thống, quy luật của chất và quá trình biến đổi chất qua các chủ đề Do
đó, nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học 10 được coi là một trong các yêu cầu cấp thiết
Nhằm mục đích phục vụ tốt hơn việc dạy học, nâng cao hứng thú và chất lượng học tập môn Hóa học cho học sinh, chúng tôi xin mạnh dạn nghiên cứu đề
tài: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh thông qua hệ thống bài tập chủ đề Nguyên tố nhóm Halogen – Hóa học 10”
Trang 62 Mục tiêu, ý nghĩa, tính mới của đề tài
2.1 Mục tiêu
Đề tài tập trung nghiên cứu, tuyển chọn, xây dựng và sử dụng một số BTHH
trong dạy học chủ đề: Nguyên tố nhóm Halogen – Hóa học lớp 10 nhằm phát triển
năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học ở trường phổ thông
2.2 Ý nghĩa
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng (NLVDKTKN) trong dạy học môn Hóa học cho HS THPT – chương trình GDPT 2018, đặc biệt là dạy và học chủ đề: Nguyên tố nhóm Halogen
- Đề xuất khung NLVDKTKN và thiết kế công cụ đánh giá phù hợp khi sử dụng bài tập đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT 2018
- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập chủ đề: Nguyên tố nhóm Halogen gồm BT trắc nghiệm khách quan và BT tự luận
- Đề xuất các phương pháp dạy học tích cực kết hợp với việc sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển NLVDKTKN một cách phù hợp để đạt hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT 2018
2.3 Tính mới
Đề tài “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh thông
qua hệ thống bài tập chủ đề Nguyên tố nhóm Halogen – Hóa học 10” lần đầu tiên
được nghiên cứu và áp dụng dạy thử nghiệm tại trường THPT Diễn Châu 3, bước đầu đã phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập và góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học ở trường phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Đọc và tiến hành tìm kiếm các nguồn tài liệu như các bộ SGK: Cánh diều, Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo; các SBT, sách tham khảo tương ứng để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu yêu cầu cần đạt, nội dung, cấu trúc môn Hóa học lớp 10, chương trình GDPT 2018, đi sâu vào chủ đề nghiên cứu
- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại hệ thống hóa, khái quát hóa …
3.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tiến hành điều tra, khảo sát, phỏng vấn về thực tiễn dạy học Hóa học tại các trường THPT thuộc huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An, các vấn đề có liên quan đến
đề tài nghiên cứu
Trang 7- Điều tra về mối quan tâm, sự hứng thú của HS với các hiện tượng quan sát được hay đã từng gặp trong thực tiễn cuộc sống
- Phương pháp chuyên gia: trao đổi, thảo luận và xin ý kiến của các chuyên gia như những GV dạy môn Hóa học có nhiều năm kinh nghiệm, …
- Nghiên cứu, tham khảo các BTHH trong các nguồn tài liệu phục vụ công tác giảng dạy
- Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để kiểm nghiệm tính khả thi, hiệu quả của các đề xuất và tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đề ra
3.3 Nhóm phương pháp xử lí thông tin
Sử dụng toán học thống kê để xử lý kết quả TNSP, từ đó rút ra nhận xét, kết luận
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu áp dụng cho học sinh lớp 10A7 tại đơn vị công tác trong năm học 2023 – 2024
- Phạm vi và khả năng nhân rộng cho tất cả các đối tượng học sinh khối 10 thuộc ban khoa học tự nhiên, áp dụng cho dạy học đại trà ở tất cả các trường THPT
Trang 8PHẦN II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng cho
HS thông qua sử dụng bài tập hóa học
1.1 Một số vấn đề chung về năng lực
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm, cách hiểu và phát biểu khác nhau về năng lực cá nhân con người:
Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con
người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể
hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn
- một hay một số dạng hoạt động nào đó
Theo tâm lý học: Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân
phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt
Trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp: Năng lực là khả năng bao gồm kiến
thức, kĩ năng và thái độ thực hiện nhiệm vụ một cách thành công theo chuẩn xác định
Tuy diễn đạt khác nhau nhưng có thể thấy khái niệm năng lực có một số đặc điểm chung:
- Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân,…)
- Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội, …) để có một sản phẩm nhất định
- Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động
cụ thể Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó
Như vậy có thể hiểu năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động
trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như động cơ, thái độ, hứng thú, niềm tin, ý chí, …
Năng lực của cá nhân được hình thành qua hoạt động và được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
Theo Chương trình GDPT mới, giáo dục cần hình thành và phát triển cho
HS 5 phẩm chất và 10 năng lực
Trang 9Năng lực có thể chia thành 2 loại:
- Năng lực chung: là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên sự di truyền của con người, quá trình giáo dục và thông qua trải nghiệm cuộc sống Các năng lực này đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình lao động khác nhau
- Năng lực chuyên biệt: là sự thể hiện có tính chuyên biệt nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao Năng lực chung và năng lực chuyên biệt có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ, bổ sung cho nhau, năng lực riêng được phát triển dễ dàng và nhanh chóng hơn trong điều kiện tồn tại năng lực chung Năng lực có mối quan hệ biện chứng qua lại với tư chất, với thiên hướng cá nhân, với tri thức kĩ năng, kĩ xảo và bộc lộ qua tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Năng lực được hình thành và phát triển trong hoạt động, nó là kết quả của quá trình giáo dục,
tự phấn đấu và rèn luyện của cá nhân trên cơ sở tiền đề tự nhiên của nó là tư chất
Trang 101.2 Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng
1.2.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng
Hiện nay có nhiều khái niệm về NLVDKTKN như:
Theo tác giả Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Đình Xuân (2013), “Năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng là khả năng của bản thân con người tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách áp dụng các KT,
KN, kinh nghiệm đã có vào các tình huống hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng chuyển đổi nó; NLVDKTKN thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh kiến thức”
Theo tác giả Trịnh Lê Hồng Phương (2014), “Năng lực vận dụng kiến thức
kĩ năng vào thực tiễn là khả năng con người sử dụng những KT, KN đã học trên lớp học và thông qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn
đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách có hiệu quả và có khả năng biến đổi nó NL VDKT, KN thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh kiến thức”
Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học 2018, “Năng lực vận
dụng kiến thức kĩ năng đã học là vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết một số vấn đề trong học tập, nghiên cứu khoa học và một số tình huống cụ thể trong thực tiễn” với các biểu hiện như: Vận dụng được kiến thức hóa học để phát
hiện và giải thích được một số hiện tượng trong tự nhiên và những ứng dụng của HH trong cuộc sống; phản biện, đánh giá ảnh hưởng của vấn đề thực tiễn, đề xuất phương pháp giải quyết; định hướng được nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp; ứng xử thích hợp trong những tình huống có liên quan đến bản thân, gia đình, xã hội, bảo vệ môi trường…
Trang 11HS phát hiện được vấn đề học tập, vấn đề thực tiễn, áp dụng được các kiến thức đã lĩnh hội, kết hợp với các kỹ năng vốn có của bản thân nhằm thực hiện giải quyết
các vấn đề học tập, vấn đề xảy ra trong thực tiễn một cách hiệu quả
1.2.2 Cấu trúc và biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng
Cấu trúc của NLVDKTKN gồm:
- Năng lực phát hiện, giải thích các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và ứng dụng của hóa học trong đời sống, sản xuất
- Năng lực phản biện và đánh giá ảnh huởng của một vấn đề trong thực tiễn
- Năng lực vận dụng kiến thức tổng hợp để đánh giá ảnh hưởng của một vấn
đề trong thực tiễn và đưa ra một số phương án để giải quyết vấn đề đó
- Năng lực định hướng nghề nghiệp trong tương lai
- Năng lực ứng xử khi đối diện với các tình huống của bản thân và của xã hội Biểu hiện của NLVDKTKN theo chương trình môn Hóa học 2018
Bảng 1 Biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng đã học
Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết một
số vấn đề trong học tập, nghiên cứu khoa học và một số tình huống cụ thể trong thực tiễn Các biểu hiện cụ thể:
- “Vận dụng được kiến thức hóa học để phát hiện, giải thích được một số hiện tượng tự nhiên, ứng dụng của hóa học trong cuộc sống
- Vận dụng được kiến thức hóa học để phản biện, đánh giá ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn
- Vận dụng được kiến thức tổng hợp để đánh giá ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn và đề suất một số phương pháp, biện pháp, mô hình, kế hoạch giải quyết vấn đề
- Định hướng được nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp THPT
- Ứng xử hợp lý trong các bối cảnh có liên quan đến bản thân, gia đình và cộng đồng, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường
1.2.3 Phương pháp và công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng
a Đánh giá qua quan sát
Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá (ĐG) các thao tác, động cơ, hành vi, kỹ năng thực hành và kỹ năng nhận thức, cách GQVĐ trong tình
huống cụ thể Khi thực hiện đánh giá quan sát cần thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1 Chuẩn bị: Xác định mục tiêu, cách thức thu thập thông tin từ
phía HS Đưa ra các tiêu chí cho nội dung quan sát Thiết lập bảng kiểm hoặc
Trang 12phiếu quan sát
- Bước 2 Quan sát: Quan sát HS thực hiện nhiệm vụ, ghi chú các thông tin
vào phiếu quan sát
- Bước 3 Đánh giá: Đánh giá HS thông qua các thông tin từ quan sát được
Việc ĐG bằng PP quan sát cũng có thể được GV tự do quan sát và ghi trong nhật kí dạy học
b Đánh giá qua hồ sơ học tập
Đánh giá qua hồ sơ là sự theo dõi, trao đổi những ghi chép, lưu giữ của chính HS về những gì các em đã nói, đã làm, cũng như ý thức, thái độ của HS với quá trình học tập của mình cũng như với mọi người… Hồ sơ học tập có thể là vở ghi chép, vở làm bài tập, ảnh chụp, tranh vẽ, bảng biểu …
Qua việc ĐG qua hồ sơ học tập, giúp HS thấy được những tiến bộ của mình
và GV thấy được khả năng của từng HS, từ đó GV có những điều chỉnh phù hợp trong hoạt động dạy học và giáo dục
c Tự đánh giá
Tự ĐG là hình thức ĐG mà HS tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với mục tiêu của quá trình học HS sẽ học cách ĐG nỗ lực và tiến bộ cá nhân, nhìn lại quá trình và phát hiện những điểm cần thay đổi để hoàn thiện bản thân GV sẽ học cách nhìn từ quan điểm của HS, giúp loại bỏ những định kiến của GV về HS
d Đánh giá đồng đẳng
Đánh giá đồng đẳng là một quá trình trong đó các nhóm HS cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ ĐG công việc lẫn nhau, theo các tiêu chí mà GV và HS đã định sẵn nhằm cung cấp các thông tin phản hồi để cùng học hỏi, hỗ trợ lẫn nhau Đánh giá đồng đẳng tạo cho HS có cơ hội làm việc hợp tác, thảo luận, giải thích và thách thức lẫn nhau nên học được cách áp dụng các tiêu chí ĐG một cách khách quan đồng thời phản ánh được năng lực người đánh giá
e Đánh giá qua bài kiểm tra
Đánh giá qua bài kiểm tra là phép ĐG cụ thể mức độ, khả năng thể hiện hành vi học tập của HS Đánh giá qua bài kiểm tra có thể thực hiện thông qua kiểm tra vấn đáp (Hỏi- đáp) và kiểm tra viết trắc nghiệm hoặc tự luận trong thời gian xác định (15’, 45’, .) Kết quả bài kiểm tra cho biết mức độ đạt được của mục tiêu học tập, từ đó giúp GV và HS điều chỉnh việc dạy – học cho phù hợp Bài kiểm tra viết sẽ kiểm tra cùng lúc được nhiều HS, ở trình độ từ thấp đến cao Mặt khác, bài kiểm tra viết còn thể hiện được khả năng trình bày, diễn đạt, bố cục… thuận tiện để ĐG được NL của HS
Như vậy, để đánh giá NL của HS nói chung và NL VDKTKN nói riêng cần đa dạng hóa các hình thức ĐG để tăng tính khách quan và chính xác của quá
Trang 131.2.4 Một số phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng
Để dạy học phát triển phẩm chất (PC), NL cho HS hiệu quả trong môn Hoá học, cần phối hợp và vận dụng linh hoạt sáng tạo các PP và kĩ thuật dạy học (KTDH) khác nhau Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng HS và điều kiện cơ sở vật chất cụ thể mà GV vận dụng các PP và KTDH khác nhau cho phù hợp Trong
đề tài này, chúng tôi chú trọng đến việc sử dụng DHGQVĐ, DHHĐ và sử dụng BTHH định hướng phát triển NL VDKTKN cho HS
a Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học GQVĐ “là phương pháp dạy học mà trong đó người dạy tạo ra những tình huống có vấn đề, hỗ trợ, điều khiển người học phát hiện ra vấn đề và giải quyết vấn đề một cách tự giác, chủ động, tích cực và từ đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện các kỹ năng cần thiết và phát triển năng lực, bên cạnh đó còn giúp người học đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện
và GQVĐ là tình huống gợi vấn đề, khi xuất hiện tình huống có vấn đề thì tư duy mới bắt đầu”
Tình huống có vấn đề là tình huống gợi ra cho học sinh những mâu thuẫn nhận thức giữa những điều đã biết và những điều chưa biết đang cần tìm hiểu, những khó khăn về lý luận, thực hành, mà HS thấy cần vượt qua nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải mà HS phải trải qua quá trình suy nghĩ tích cực, các hoạt động nhằm để biến đổi đối tượng hoạt động…, từ đó giúp người học có nhu cầu muốn biết những kiến thức mới
Thông qua quá trình GQVĐ đề mà GV đưa ra, HS sẽ rèn luyện kĩ năng tư duy, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, đánh giá, phân tích, nhờ đó HS lĩnh hội được nhiều kiến thức hơn và phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới các góc độ khác nhau, bên cạnh đó HS còn phát triển khả năng làm việc cá nhân hay hợp tác trong làm việc nhóm để tìm ra cách GQVĐ nhanh nhất và hiệu quả nhất
- Các bước dạy học giải quyết vấn đề
+ Các bước trong hoạt động phát hiện vấn đề
Bước1 Chuyển giao nhiệm vụ
- GV lựa chọn các KTDH tích cực để tổ chức một tình huống có vấn đề và
Trang 14chuyển giao cho HS một nhiệm vụ phù hợp nhằm gợi ý cho HS phát hiện vấn đề
- HS nhận nhiệm vụ
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ
- HS giải quyết nhiệm vụ
Bước 3 Báo cáo, thảo luận
- HS báo cáo, thảo luận dưới sự định hướng, tổ chức của GV để tìm ra được vấn đề
Bước 4 Phát biểu vấn đề
- HS phát biểu chính xác vấn đề dưới sự hướng dẫn của GV và từ đó đặt mục tiêu để giải quyết vấn đề đó
+ Các bước trong hoạt động đề xuất giải pháp:
Bước1 Chuyển giao nhiệm vụ
- GV yêu cầu HS đề xuất các giải pháp để có thể giải quyết được vấn đề đã nêu
- HS nhận nhiệm vụ
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ
- HS giải quyết nhiệm vụ
Bước 3 Báo cáo, thảo luận
- HS báo cáo, thảo luận dưới sự định hướng, tổ chức của GV, sử dụng các
kĩ thuật đã được lựa chọn để giải quyết vấn đề
Bước 4 Lựa chọn giải pháp
- HS lựa chọn giải pháp phù hợp dưới sự hướng dẫn của GV
+ Các bước trong hoạt động giải quyết vấn đề
Bước 1 Chuyển giao nhiệm vụ
- GV yêu cầu HS thực hiện kế hoạch để có thể giải quyết được vấn đề
- HS nhận nhiệm vụ
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ
- HS giải quyết nhiệm vụ
Bước 3 Báo cáo, thảo luận
- HS báo cáo, thảo luận
Bước 4 Kết luận
- HS nhận định các kết quả sau đó rút ra kết luận dưới sự hướng dẫn của GV
- Tìm hiểu khả năng có thể ứng dụng kết quả đó
Trang 15ngược vấn đề…sau đó giải quyết vấn đề đó nếu có thể, xem xét khả năng áp dụng vào thực tiễn trong cuộc sống, sản xuất
+ Mức độ của DH GQVĐ
Khi vận dụng DHGQVĐ trong dạy học hoá học, GV cần chú ý lựa chọn các mức độ áp dụng cho phù hợp với trình độ nhận thức của HS và nội dung học tập để đảm bảo tính hiệu quả của PPDH này Việc áp dụng DHGQVĐ có các mức độ sau:
Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách GQVĐ, đồng thời GV GQVĐ (qua thuyết
trình, hoặc làm thí nghiệm) HS là người quan sát và tiếp nhận kết luận vấn đề do
GV thực hiện Đây là mức thấp nhất và thường áp dụng cho HS tiểu học Để tăng mức độ tham gia của HS thì tổ chức cho HS cùng GV rút ra kết luận hoặc HS quan
sát GV trình bày và rút ra kết luận dưới sự gợi ý của GV
Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý HS tìm cách GQVĐ và tổ chức cho HS tham
gia GQVĐ, GV và HS cùng đánh giá kết quả và rút ra kết luận
Mức 3: GV gợi ý (cung cấp thông tin, tạo tình huống có vấn đề) để HS phát
hiện vấn đề, hướng dẫn HS GQVĐ, HS tiến hành GQVĐ, GV và HS cùng ĐG kết quả và rút ra kết luận
Mức 4: HS tự phát hiện vấn đề cần nghiên cứu, nêu giả thuyết, lập kế hoạch
và tự lực GQVĐ, tự ĐG và tự rút ra kết luận; GV nhận xét, ĐG và chỉnh lí
Với HS trường THPT thì GV nên chú trọng áp dụng mức 2, 3 và 4, tăng cường sử dụng mức 3, đặc biệt ở các hoạt động hoàn thiện kiến thức và các tiết luyện tập các chuyên đề môn học
+ Ưu điểm và hạn chế của DHGQVĐ
DHGQVĐ được ĐG có những ưu điểm và hạn chế chính như sau:
- Ưu điểm: Tạo điều kiện cho HS phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo,
phát triển NL nhận thức, NL GQVĐ, NLTHTGTN dưới góc độ hoá học; Góp phần phát triển các NL chung, NL cơ bản của người lao đông đảm bảo cho họ phát hiện sớm vấn đề và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống của thế giới hội nhập Kết quả của DHGQVĐ đảm bảo cho HS có KT, KN vững chắc, sâu sắc và HS biết cách chủ động chiếm lĩnh tri thức, biết ĐG kết quả học tập của bản thân và người khác Thông qua đó mà các NL chung, NL chuyên môn, NL đặc thù môn học được hình thành và phát triển
- Hạn chế: Để thực hiện hiệu quả PPDH này đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều
thời gian, HS cần có khả năng tự học, học tập chủ động, tự giác, tích cực Đồng thời một số trường hợp cần có thiết bị dạy học và các điều kiện cần thiết (sử dụng thí nghiệm, phương tiện trực quan…) thì mới đạt hiệu quả nhưng thực tế dạy học
ở nhiều trường phổ thông chưa đáp ứng được các điều kiện này Với những hạn chế đó mà nhiều GV chưa sử dụng thường xuyên PPDH này
Trang 16b Phương pháp dạy học hợp đồng
Dạy học hợp đồng là một HĐHT trong đó mỗi học sinh sẽ được GV giao một hợp đồng gồm các nhiệm vụ học tập, các bài tập bắt buộc thực hiện hoặc tự học khác nhau trong một thời gian nhất định và học sinh tự chủ động phân chia thời gian hợp lý
để thực hiện các nhiệm vụ học tập đó tùy theo khả năng hoàn thành của mình
HS chắc chắn hoàn thành công việc của mình như đã ký với giáo viên đảm bảo về thời gian và tuân theo những điều lệ trong bản hợp đồng đó
* Đặc điểm của PPDH theo hợp đồng
- Học sinh được chủ động trong hoạt động học tập, chủ động về phân chia thời gian cho công việc để đảm bảo hợp đồng được hoàn thành
- HS có thể tự mình giải quyết các vấn đề phát sinh cá nhân giúp tăng cường tính độc lập, tính tự học của HS hoặc kết hợp sự hỗ trợ của HS khác, của nhóm học tập từ đó tăng cường sự hợp tác trong học tập hay của GV trong quá trình học tập
- Giáo viên có thể dựa vào kết quả và quá trình học sinh làm việc để đánh giá từng học sinh, phân hóa được trình độ và nhịp độ làm việc của HS, từ đó có kế hoạch học tập phù hợp tiếp theo cho cả lớp
Bên cạnh đó khi thực hiện dạy học theo PPDH theo hợp đồng, đòi hỏi công tác chuẩn bị của GV công phu hơn, mất nhiều thời gian và công sức để đạt hiệu quả tốt nhất, GV cần lựa chọn nội dung học tập phù hợp, HS cần tự giác và cần thời gian để làm quen với PP học mới
* Quy trình thực hiện PPDH theo hợp đồng:
+ Giai đoạn 1: Chuẩn bị
Bước 1: Lựa chọn nội dung học tập và xác định thời gian học phù hợp với PPDH hợp đồng để đạt hiệu quả dạy và học cao nhất
- Áp dụng: với các bài ôn tập, luyện tập, bài mới có kiến thức đơn giản, độc lập hoặc các bài thực hành thí nghiệm
- Thời gian thực hiện hợp đồng có thể thực hiện trên lớp hoặc ở nhà tùy vào nội dung bài học lựa chọn
Trang 17- Thiết kế các phiếu hỗ trợ (nếu có): Trong quá trình HS thực hiện nhiệm vụ,
có những nhiệm vụ HS có quyền yêu cầu nhận được sự hỗ trợ do đó GV thiết kế các phiếu hỗ trợ với các mức độ khác nhau phù hợp với khả năng của HS
+ Giai đoạn 2: Tổ chức dạy và học theo PPDH hợp đồng
- Bước 1: GV phát hợp đồng cho HS và giới thiệu về nội dung bài học, các
phương pháp học tập ghi trong hợp đồng, giải thích và thống nhất các nội dung trong bản hợp đồng, giải đáp thắc mắc (nếu có)
- Bước 2: HS nghiên cứu các nội dung trong hợp đồng: thời gian, nhiệm vụ
học tập, thứ tự thực hiện nhiệm vụ và kí hợp đồng với GV
- Bước 3: GV tổ chức, hướng dẫn học sinh làm việc theo cá nhân, theo cặp
đôi hoặc theo nhóm để thực hiện các nhiệm vụ trong hợp đồng, hỗ trợ HS khi được
đề nghị hỗ trợ
- Bước 4: GV và HS tiến hành thanh lý hợp đồng và GV nghiệm thu các bản
hợp đồng tại lớp sau đó đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận và tổng kết nội dung học tập hoặc có thể thu lại hợp đồng và kiểm tra đánh giá tại nhà và thông báo kết quả, nhận xét, đánh giá, kết luận và tổng kết nội dung học tập vào tiết học sau
DHHĐ có ưu điểm là cho phép phân hóa nhịp độ và trình độ của HS; tăng cường tính độc lập của HS; tạo điều kiện cho HS được GV hướng dẫn cá nhân; tăng cường học tập hợp tác; các hoạt động học tập trở nên phong phú hơn, lựa chọn đa dạng hơn và tránh chờ đợi, tạo điều kiện cho HS được giao và thực hiện trách nhiệm
1.3 Bài tập hóa học
1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông, “bài tập đuợc hiểu dựa trên mục đích sử dụng, bài tập là bài GV giao cho HS làm để HS vận dụng vào những điều HS đã được học, bài toán là vấn đề cần phải giải quyết bằng các phương pháp khoa học”
BTHH là một dạng BT thuộc bộ môn HH, bao gồm các câu hỏi, các bài toán
HS cần giải quyết, chúng được tuyển chọn một cách khoa học với những nội dung phù hợp, cụ thể, rõ ràng và chính xác HS cần phải nắm được ND kiến thức của môn HH bao gồm những khái niệm, học thuyết, các định luật, quan sát và nêu được các hiện tượng thí nghiệm, những phép toán cơ bản,…, bên cạnh đó, HS phải biết phân tích, suy luận logic mới có thể giải được các bài tập này Ngoài ra, HS còn thu nhận được những kiến thức, kĩ năng qua việc giải các bài tập hóa học đó
Bài tập định hướng phát triển năng lực là bài tập không yêu cầu HS phải ghi nhớ, vận dụng một cách máy móc các kiến thức đã học mà nó gắn với HĐ học của
HS, qua đó giúp HS nắm vững kiến thức, hình thành kĩ năng, hứng thú học tập, giúp phát triển tư duy, khả năng nhận thức, các phẩm chất đạo đức mà HS cần có Ngoài ra, BT định hướng phát triển năng lực còn được giáo viên sử dụng để làm công cụ đánh giá, kiểm tra NL của HS, kết quả đó là căn cứ để các cấp quản lí xác định được mức độ đã đạt được của HS so với mục tiêu mà giáo dục đã đề ra
1.3.2 Ý nghĩa của bài tập hóa học
Trang 18- Ý nghĩa về trí dục: Giúp cho HS hiểu chính xác các khái niệm, củng cố, mở
rộng kiến thức, vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề của bài tập, từ đó giúp HS ghi nhớ kiến thức tốt hơn Bên cạnh đó, BTHH giúp HS không cảm thấy bị nhàm chán khi ôn tập, hệ thống lại các kiến thức lý thuyết đã học
Rèn luyện cho HS kĩ năng sử dụng ngôn ngữ HH, viết PTHH, kĩ năng tính toán, kĩ năng thực hành thí nghiệm, khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải thích những hiện tượng xảy ra trong thực tiễn của cuộc sống, trong quá trình lao động sản xuất và ý thức bảo vệ môi trường
- Ý nghĩa giáo dục: rèn luyện tính kiên nhẫn, cẩn thận cho HS, lòng yêu
thích môn HH, kỹ năng làm việc có kế hoạch, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nơi làm việc
- Ý nghĩa phát triển: rèn cho HS tư duy logic, biện chứng, độc lập, thông
minh và sáng tạo
1.3.3 Phân loại bài tập hóa học
Hiện nay, dựa vào các cơ sở khác nhau, có rất nhiều cách để phân loại bài tập khác nhau, ví dụ: Bài tập học và bài tập đánh giá; bài tập đóng, bài tập mở ở đây, chúng tôi dựa vào các cơ sở và phân loại BTHH như sau:
Sử dụng BTHH nhằm phát triển NLVDKTKN cho HS phổ thông
Trang 19Hoạt động giải bài tập là một trong những hoạt động quan trọng nhằm phát triển NL cho HS trong quá trình dạy và học môn Hóa học Do đó, giáo viên cần có sự chuẩn bị hệ thống bài tập phù hợp để tạo điều kiện phát triển năng lực của học sinh,
từ đó học sinh sẽ hình thành những phẩm chất, tư duy mới để phát hiện được những vấn đề mới, tìm ra các cách giải quyết mới, góp phần tạo ra kết quả học tập tốt hơn
Để đạt được những mục đích đó, giáo viên cần ý thức được mục đích cơ bản của việc giải BTHH, đó không chỉ là việc tìm ra đáp số đúng mà còn là một công
cụ hiệu quả góp phần rèn luyện tư duy hóa học cho học sinh
Qua việc giải các BTHH, học sinh sẽ thường xuyên được rèn luyện sự tự giác trong việc học, từ đó trau dồi và nâng cao hiểu biết của bản thân thông qua các hoạt động tư duy: phân tích, so sánh, khái quát hóa, tổng hợp, trừu tượng hóa … trong quá trình giải BTHH
2 Thực trạng của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng cho
HS thông qua sử dụng bài tập hóa học
Trong dạy học môn Hóa học, bài tập hóa học đóng vai trò rất quan trọng,
vừa là nội dung, vừa là mục đích, lại là phương pháp dạy học hiệu quả Trong quá trình dạy học, BTHH được sử dụng trong hầu hết các bài dạy, từ nghiên cứu kiến thức mới tới dạng bài luyện tập, ôn tập, kiểm tra, đánh giá, … BTHH giúp mở rộng
và đào sâu kiến thức, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhận thức cũng như phát triển năng lực cho học sinh Tuy nhiên, BTHH hiện nay đang quá chú trọng đến tính toán, coi nhẹ bản chất hóa học, ít gắn liền với thực tiễn dẫn đến học sinh không hào hứng học tập môn Hóa học và không nhận thấy có sự liên quan giữa kiến thức đã học với thực tế diễn ra trong cuộc sống Để tìm hiểu việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học hóa học và vai trò của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, chúng tôi tiến hành khảo sát 23 GV và 250 HS lớp 10 tại 03 trường THPT (Diễn Châu 2, Diễn Châu 3, Diễn Châu 4) từ tháng 9 /2023 bằng nhiều phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứu lí luận, điều tra bằng bảng hỏi, thống kê toán học để xử lí số liệu
Bảng 2 Phân bố phiếu điều tra GV và HS tại địa bàn huyện Diễn Châu
Trang 20- Link khảo sát đối với GV: https://forms.gle/CFK8DD2KWDDyaw6r5
- Link khảo sát đối với HS: https://forms.gle/GuE2ukcLTaBRrbbh8
Kết quả khảo sát
* Đối với kết quả điều tra GV:
- 100% các thầy cô giáo thường xuyên và rất thường xuyên cho HS làm bài tập về nhà
- Tỉ lệ các thầy cô sử dụng BTHH trong khi tổng kết, ôn tập, luyện tập và kiểm tra đánh giá là rất cao bên cạnh đó cũng đã có sự chú trọng sử dụng BTHH khi dạy bài mới tuy nhiên cũng chưa nhiều và cũng có sử dụng BTHH khi thực hiện các hoạt động ngoại khóa
- Các nguồn tham khảo chủ yếu là dưới sự chia sẻ với đồng nghiệp, internet, SGk và SBT, bên cạnh đó cũng có một số GV tự biên soạn bài tập theo mục đích
sử dụng của mình
- Khi sử dụng BTHH, đa phần GV chủ yếu yêu cầu HS có thể tái hiện lại hệ thống kiến thức để trả lời các câu hỏi lý thuyết đơn giản gắn với thực tiễn và giải thích được các hiện tượng, sự việc của các câu hỏi lý thuyết mà chưa sử dụng những bài tập giúp HS vận dụng được các kiến thức đó để giải quyết được các vấn đề trong thực tiễn sản xuất như các phương án giảm thiểu rủi ro, tăng năng suất (nếu có) hay giúp HS định hướng nghề nghiệp trong tương lai
- Hiện nay, các nguồn tham khảo BTHH khá nhiều, phong phú nhưng hầu hết
GV đều thấy khó khăn (rất khó khăn 21,74%, khó khăn 52,17%) vì những bài tập tham khảo có chất lượng thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu, mục đích sử dụng Các bài tập thực tiễn thì các thông tin bài tập đưa ra có thể không chính xác, bản thân GV
sẽ khó khăn khi xác nhận thông tin hoặc có những thông tin chưa được chứng thực
- Năm học 2022-2023 là năm học đầu tiên áp dụng chương trình và SGK mới đối với lớp 10, điều đó cũng gây ra không ít khó khăn, bỡ ngỡ cho GV (69,6%) khi bắt đầu thực hiện bởi chương trình mới có nhiều điểm thay đổi đòi hỏi GV cũng phải tìm tòi và thay đổi phần nào cách làm việc của mình Bên cạnh đó, HS lớp 10 lại không được học chương trình mới ở cấp THCS và việc học môn Hóa học ở cấp THCS cũng chưa được chú trọng Điều đó cũng gây nên những khó khăn cho GV khi xây dựng và sử dụng BTHH (rất khó khăn 8,7%; khó khăn 43,48%)
- GV cũng đã chú trọng đến bài tập hóa học liên quan đến thực tiễn cuộc sống, giải thích các hiện tượng tự nhiên
- Hầu hết GV đều nhận biết được tầm quan trọng của việc phát triển NL vận dụng KT, KN cho học sinh trong dạy học hóa học (rất quan trọng 78,26%; quan trọng 21,74%) nhưng bên cạnh đó việc xây dựng, tuyển chọn và sử dụng BTHH có chất lượng nhằm phát triển NL vận dụng KT, KN còn gặp khá nhiều khó khăn, nhất là còn mất nhiều thời gian cho việc tìm kiếm và hệ thống bài tập
Trang 21(91,30% GV được khảo sát), tiếp đó là khó khăn do trình độ HS không được đồng đều, khả năng tư duy còn yếu (78,26% GV được khảo sát) và một số khó khăn khác
* Đối với kết quả điều tra HS:
- Do môn Hóa học là môn các em đã lựa chọn do đó phần lớp HS yêu thích môn hóa học (39,6%) (nằm chủ yếu ở HS các lớp chọn), một phần thì do HS lựa chọn môn Hóa học vì mục đích thi cử và xét tuyển đại học Một số HS không thích một phần do ở cấp THCS môn Hóa học chưa được coi trọng và chú ý nhiều
- HS cũng gặp khá nhiều khó khăn khi học chương trình hóa học 10, (rất khó
khăn 20,0%, khó khăn 40,0%) tuy nhiên lượng kiến thức chưa nhiều nên chủ yếu các em vẫn cảm thấy bình thường trong quá trình tiếp thu kiến thức
- Với một số HS khi chọn môn Hóa học do đáp ứng việc thi cử trong tương lai, nhưng bên cạnh đó cũng có một bộ phận HS đã có sự tìm hiểu và định hướng nghề nghiệp và yêu thích các ngành nghề liên quan đến môn Hóa học (rất thích 16,0%, thích 48,0%)
- Kết quả cũng cho thấy đa phần HS cảm thấy thích thú khi có thể áp dụng các kiến thức môn Hóa học để giải thích các hiện tượng đó (rất thích thú 27,2%, thích thú 46,0%)
- Do môn Hóa học là môn học các em đã lựa chọn do đó đa phần HS có thái
độ tốt khi làm BTHH và có dành thời gian cho việc làm bài tập hóa học ở nhà, và các em HS cũng nhận thấy được các BTHH rất hữu ích cho việc phát triển NL vận dụng KT, KN của mình (rất hữu ích 25,2%, hữu ích 43,6%)
Từ việc phân tích các kết quả điều tra GV, HS ở trên, chúng tôi nhận định rằng việc sử dụng BTHH phát triển NL nhằm phát triển NL vận dụng KT, KN là rất cần thiết cho HS
3.1.1 Yêu cầu cần đạt của chủ đề Nguyên tố nhóm Halogen
Theo chương trình 2018, nội dung và yêu cầu cần đạt của chủ đề được trình bày ở bảng sau:
Trang 22Bảng 2 Cấu trúc, nội dung chủ đề: Nguyên tố nhóm Halogen
- Phát biểu được trạng thái tự nhiên của các nguyên tố halogen
- Mô tả được trạng thái, màu sắc, nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi của các đơn chất halogen
- Giải thích được sự biến đổi nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi của các đơn chất halogen dựa vào tương tác van der Waals
- Trình bày được xu hướng nhận thêm 1 electron (từ kim loại) hoặc dùng chung electron (với phi kim) để tạo hợp chất ion hoặc hợp chất cộng hoá trị dựa theo cấu hình electron
- Thực hiện được (hoặc quan sát video) thí nghiệm chứng minh được xu hướng giảm dần tính oxi hoá của các halogen thông qua một số phản ứng: Thay thế halogen trong dung dịch muối bởi một halogen khác; Halogen tác dụng với hydrogen và với nước
- Giải thích được xu hướng phản ứng của các đơn chất halogen với hydrogen theo khả năng hoạt động của halogen và năng lượng liên kết H–X (điều kiện phản ứng, hiện tượng phản ứng và hỗn hợp chất
có trong bình phản ứng)
- Viết được phương trình hoá học của phản ứng tự oxi hoá – khử của chlorine trong phản ứng với dung dịch sodium hydroxide ở nhiệt độ thường và khi đun nóng; ứng dụng của phản ứng này trong sản xuất chất tẩy rửa
- Thực hiện được (hoặc quan sát video) một số thí nghiệm chứng minh tính oxi hoá mạnh của các halogen và so sánh tính oxi hoá giữa chúng (thí nghiệm tính tẩy màu của khí chlorine ẩm; thí nghiệm nước chlorine, nước bromine tương tác với các dung dịch sodium chloride,
sodium bromide, sodium iodide)
- Nhận xét (từ bảng dữ liệu về nhiệt độ sôi) và giải thích được
xu hướng biến đổi nhiệt độ sôi của các hydrogen halide từ HCl tới
HI dựa vào tương tác van der Waals Giải thích được sự bất thường
về nhiệt độ sôi của HF so với các HX khác
- Trình bày được xu hướng biến đổi tính acid của dãy hydrohalic acid
- Thực hiện được thí nghiệm phân biệt các ion F–, Cl–, Br–, I– bằng cách cho dung dịch silver nitrate vào dung dịch muối của chúng
- Trình bày được tính khử của các ion halide (Cl–, Br–, I–) thông qua phản ứng với chất oxi hoá là sulfuric acid đặc
- Nêu được ứng dụng của một số hydrogen halide
Trang 233.1.2 Nội dung kiến thức và cấu trúc chủ đề Nguyên tố nhóm Halogen
Theo chương trình hóa học phổ thông 2018, nội dung về chủ đề Nguyên tố
cấu trúc và phân bố thời lượng như sau:
3.2 Khung năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh THPT
3.2.1 Cơ sở khoa học để xây dựng khung năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng
- Dựa vào cơ sở lí luận của NL vận dụng KT, KN như đã trình bày
- Dựa vào chương trình GDPT tổng thể năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Chương trình GDPT môn Hóa học năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Mục tiêu, nội dung, cấu trúc chủ đề Nguyên tố nhóm Halogen
- Xem xét NL vận dụng KTKN dưới góc độ GQVĐ
3.2.2 Khung năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng của HS THPT
Quy trình xây dựng:
- Xác định cơ sở KH để xây dựng khung NL vận dụng KT, KN
- Đưa ra các đề xuất những NL thành phần của NL vận dụng KTKN
- Đưa ra những tiêu chí đánh giá các mức độ biểu hiện của mỗi thành phần NL + Mỗi thành phần NL sẽ được đưa ra những mô tả cho mỗi biểu hiện theo những mức độ đạt được
+ Thông qua các chỉ số đo lường để đánh giá NL, nghĩa là phải thông qua việc đánh giá bằng các chỉ báo cụ thể, do đó trong quá trình đánh giá năng lực việc
mô tả những chỉ báo là rất quan trọng
+ Những chỉ số hành vi được xác định dựa vào mức độ hoàn thiện của những thao tác tư duy (chưa HT/ bắt đầu HT; đang phát triển; hoàn thiện) Ở mỗi mức độ
đó sẽ định lượng bằng những mức độ HS thực hiện các nhiệm vụ học tập một cách tương ứng (không thực hiện nhiệm vụ/ thực hiện sai nhiệm vụ; thực hiện nhiệm vụ
Trang 24chính xác tuy nhiên chưa đầy đủ; thực hiện nhiệm” vụ chính xác, đầy đủ)
Từ những nghiên cứu đó, chúng tôi đề xuất ra 3 mức: tốt, đạt, chưa đạt đối với NL vận dụng KTKN của HS
+ Mức độ 3 – Mức tốt – mức độ thực hiện nhiệm vụ đầy đủ, chính xác: HS
có biểu hiện NL vận dụng KTKN một cách thường xuyên, tích cực Khả năng đánh giá, phân tích vấn đề nhanh nhạy, chính xác; tổng hợp và GQVĐ rõ nét, sáng tạo
+ Mức độ 2 – Mức đạt - mức độ thực hiện nhiệm vụ chính xác nhưng còn chưa đầy đủ: HS có biểu hiện NL vận dụng KTKN một cách khá thường xuyên, tích cực; có khả năng đánh giá, phân tích được các vấn đề phức tạp tuy nhiên chưa thể hiện sự sáng tạo cao trong GQVĐ cũng như chưa rõ nét trong việc tổng hợp vấn đề
+ Mức độ 1 – Mức chưa đạt – mức độ thực nhiện nhiệm vụ sai: HS có biểu hiện NL vận dụng KTKN không thường xuyên, chưa tích cực; hạn chế trong khả năng nhìn nhận, đánh giá vấn đề; chưa có khả năng giải thích, đánh giá, phân tích vấn đề đang được đưa ra; không có khả năng tự tổng hợp vấn đề
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các đồng nghiệp và tiến hành thử nghiệm với bảng mô tả các mức độ biểu hiện NL vận dụng KTKN chi tiết cho đến khi có sự nhất trí cao từ phía các đồng nghiệp và các chuyên gia
- Hoàn thiện bảng khung năng lực, bảng mô tả chi tiết những mức độ biểu hiện năng lực vận dụng KTKN của HS
Kết quả cuối cùng của việc nghiên cứu trên, chúng tôi sử dụng các tiêu chí
đánh giá NL vận dụng KTKN cho HS như sau: Phụ lục 3
3.3 Nguyên tắc tuyển chọn, xây dựng hệ thống BTHH phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh
3.3.1 Cơ sở tuyển chọn và xây dựng bài tập hóa học phát triển NLVDKTKN
Chủ đề Nguyên tố nhóm Halogen là chủ đề lý thuyết mà có nhiều nội dung
khó Vì vậy, khi dạy học, giáo viên cần linh hoạt sử dụng PP “tiên đề” nhằm giúp giảm bớt sự phức tạp, sau đó bằng các hoạt động vận dụng, luyện tập để khắc sâu những kiến thức này
Giáo viên cần tuyển chọn được những bài tập hóa học đa dạng, phong phú và nhận thức ở các mức độ khác nhau để giúp HS khắc sâu kiến thức, đồng thời giáo viên có thể đưa ra các bài tập liên hệ với thực tiễn cuộc sống, mở rộng kiến thức làm vốn hiểu biết của học sinh đa dạng, phong phú hơn và không nặng về kiến thức Từ đó, sẽ tăng hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh dễ dàng và sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới
3.3.2 Nguyên tắc xây dựng bài tập hóa học phát triển NLVDKTKN
Bài tập hóa học được tuyển chọn và xây dựng nhằm phát triển năng lực VDKT, KN phải đảm bảo đƣợc các nguyên tắc sau:
Trang 25- Đáp ứng mục tiêu của dạy học, yêu cầu cần đạt của các nội dung dạy học
- Những bài tập hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống và sản xuất phải có bối cảnh gần gũi với HS, phù hợp với kiến thức và kinh nghiệm của HS, khi đó BTHH mới tạo được hứng thú giúp cho HS có nhu cầu tìm hiểu và giải quyết các vấn đề
mà bài tập đặt ra
+ Bài tập hóa học nên có sự cập nhật các vấn đề có tính thời sự nhằm kích thích HS tăng nhu cầu tìm hiểu và mở rộng vốn kiến thức, cũng như giúp HS tăng cường những kĩ năng tìm kiếm và thu thập, lựa chọn thông tin
+ Bài tập hóa học nên có những dạng câu hỏi cho phép học sinh được thể hiện thái độ, quan điểm với vấn đề khoa học
- Đảm bảo được tính chính xác và khoa học của những nội dung kiến thức môn hóa học và các môn học khác có nội dung liên quan
- Hệ thống bài tập cần đảm bảo được tính hệ thống, logic, kế thừa và phát triển + Đảm bảo, phát triển được những thành tố của năng lực vận dụng kiến thức,
kĩ năng vào thực tiễn cuộc sống của học sinh Giáo viên cần xác định đúng được năng lực cần phát triển ở học sinh, phân tích những thành tố của NL, từ đó xây dựng và tuyển chọn các bài tập cho phù hợp
+ Đảm bảo sự phù hợp với đối tượng học sinh, những điều kiện học tập của học sinh vào thực tiễn cuộc sống
+ Bài tập nên được sắp xếp lần lượt theo từng chủ đề, đầy đủ các mức độ nhận thức trong từng chủ đề đó Bên cạnh đó cũng cần xây dựng những bài tập ở mức độ cao hơn mức độ nhận thức của HS, để giúp HS khá giỏi có điều kiện nâng cao dần khả năng nhận thức và trình độ của mình và kích thích sự mong muốn chinh phục và khám phá mục tiêu cao hơn của HS
+ Các bài tập trong hệ thống nên có mối liên hệ với nhau để khi HS làm bài tập sau có thể nhớ lại và liên hệ với bài tập trước đó có nội dung liên quan, từ đó giúp HS khắc sâu hơn kiến thức
+ Không nên đưa các bài tập xa rời thực tiễn và nặng nề về việc tính toán
3.3.3 Quy trình xây dựng bài tập hóa học nhằm phát triển NLVDKTKN
Quy trình xây dựng hệ thống BT nhằm phát triển NL vận dụng KT, KN cho
HS được thực hiện theo các bước sau:
Trang 26Bước 1: Xác định nội dung kiến thức của chủ để cần xây dựng bài tập, mục tiêu, yêu cầu cần đạt của chủ để đó
- Đối với mỗi chủ đề, trước khi xây dựng bài tập, GV cần xác định rõ nội dung kiến thức, mục tiêu, yêu cần cần đạt, kĩ năng, năng lực cần hình thành, thái
độ của học sinh để định hướng khi xây dựng bài tập Bên cạnh đó, đối với những bài tập liên quan đến thực tiễn, GV cũng cần xác định “vấn đề thực tiễn mà bài tập cần giải quyết phải phù hợp với nhận thức của HS và PPDH mà GV đưa ra
Bước 2: Xác định những kiến thức và kĩ năng mà học sinh đã có và từ đó xây dựng bài tập với nội dung chứa đựng những kiến thức, kĩ năng cần được hình thành tương ứng trong nội dung bài tập, hay trong tình huống bối cảnh liên quan thực tiễn đã được lựa chọn để sử dụng
- Giáo viên cần nghiên cứu trước những nội dung có liên quan của chủ đề, tìm hiểu các vấn đề thực tế liên quan từ các nguồn SGK, internet, tài liệu tham khảo…
- Giáo viên cần nắm được mức độ nhận thức của HS, phân hóa được học sinh trong lớp theo các trình độ nhận thức khác nhau, những kiến thức, kĩ năng HS đã được hình thành trước đó để liên hệ với vấn đề cần giải quyết trong bài tập để từ đó giúp HS khắc sâu được kiến thức và nắm bắt kiến thức tốt hơn
Bước 3: Tiến hành thiết kế bài tập và diễn đạt
- Từ vấn đề cần giải quyết và mục tiêu cần đạt được, trước hết phải xác định được hình thức của bài tập hóa học, nghĩa là bài tập hóa học đó ứng với với vấn đề đó thì nên sử dụng hình thức câu hỏi như thế nào: tự luận, trắc nghiệm, điền khuyết Đối với bài tập nhằm phát triển NLVDKTKN thì đều có thể sử dụng các hình thức câu hỏi trên, tuy nhiên tối ưu nhất vấn là câu hỏi tự luận
- Xác định nội dung những kiến thức, kĩ năng và mức độ vận dụng KT đó với mức độ nhận thức của vốn có của học sinh, và những kiến thức mà học sinh đã biết
- Xây dựng các tình huống thực tiễn, những bối cảnh có chứa đựng những mâu thuẫn nhận thức xuất phát từ các nội dung xác định ở trên Các mâu thuẫn đó
có thể được giải quyết bằng nhiều cách và nhiều hướng tiếp cận, …
- Diễn đạt các câu dẫn, câu hỏi cho nội dung phải rõ ràng, trong sáng, cung cấp đầy đủ dữ kiện cần thiết Câu hỏi kích thích được tính tò mò của học sinh, phát huy được tính sáng tạo của học sinh
Bước 4 Tiến hành giải bài tập, làm đáp án, kiểm tra lại tính chính xác, tính khoa học của nội dung, cách trình bày bài tập, câu hỏi
- Đây là bước quan trọng do một bài tập có thể có nhiều cách giải khác nhau
và có thể có nhiều đáp án khác nhau, do đó bước này GV cần tham khảo ý kiến của bạn bè đồng nghiệp, các chuyên gia để đảm bảo tính chính xác, khoa học, tính sư phạm của BTHH đã xây dựng
Trang 27- Cần xây dựng đáp án cụ thể, giáo viên có thể chỉnh sửa đề bài sao cho phù hợp với mục đích hỏi và trả lời đã có giúp cho giá trị bài tập được nâng cao và tăng tính chủ động, tích cực của học sinh
Bước 5: Tiến hành quá trình thử nghiệm, sau đó chỉnh sửa cho phù hợp
- Sau khi hoàn thành xây dựng bài tập, giáo viên cần cho kiểm tra thử nghiệm để một lần nữa đánh giá tính chính xác, tính khoa học và thực tiễn nhất
là những bài tập liên quan đến kiến thức thực tiễn, bởi các thông tin đưa ra đòi phải phải có tính chính xác
- Xác định được độ khó, độ phân biệt học sinh, các đối tượng nào có thể áp dụng và tính khả thi khi sử dụng vào mục đích phát triển NL vận dụng KT, KN cho họa sinh
Bước 6: Hệ thống hóa lại bài tập đã xây dựng
- Các bài tập sau khi đã được hoàn thiện ở bước 5, cần được sắp xếp lại theo hệ thống, đảm bảo tính logic, tính khoa học và tiện lợi, dễ dàng khi sử dụng
3.3.4 Hệ thống bài tập hóa học chủ đề Nguyên tố nhóm Halogen
Để phát triển NL vận dụng KTKN cho HS, trong đề tài này, chúng tôi xây dựng và tuyển chọn được hệ thống các bài tập sau:
Dạng 1 Bài tập giải thích hiện tượng, GQVĐ
Câu 1 Giải thích hiện tượng và viết phương trình hóa học xảy ra (nếu có) cho mỗi
trường hợp sau:
a Cho dung dịch HCl đặc vào ống nghiệm chứa tinh thể KMnO4
b Cho dung dịch H2SO4 đặc vào ống nghiệm chứa tinh thể NaBr
c Cho hồ tinh bột vào dung dịch NaI sau đó sục khí Cl2 tới dư vào
d Cho vài mẩu Cu vào dung dịch HCl rồi sục khí O2 liên tục vào
Câu 2 Sục khí chlorine tới dư vào dung dịch sodium bromide Hãy nêu hiện tượng
xảy ra, giải thích và viết phương trình hóa học minh họa
Câu 3 Sục khí chlorine tới dư vào dung dịch potassium iodide, sau đó người ta
cho hồ tinh bột vào thì không thấy xuất hiện màu xanh Hãy giải thích và viết phương trình hóa học minh họa
Câu 4 Giải thích vì sao lọ bằng thủy tinh không được dùng để đựng hydrofluoric
acid Biết rằng thủy tinh (loại thông thường) là hỗn hợp gồm Na2SiO3, CaSiO3 và SiO2, có thành phần gần đúng viết dưới dạng các oxide là Na2O.CaO.6SiO2
Câu 5 Những thay đổi nào có thể xảy ra khi để hở miệng bình đựng các dung dịch sau đây trong không khí:
Dạng 2 Bài tập gắn với tình huống, thực tiễn, tính toán thực tế
Trang 28Câu 6 Khoảng 71% bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi biển và đại dương, phần
còn lại là lục địa và đảo.Trong tự nhiên halogen chỉ tồn tại ở dạng hợp chất Hợp chất chủ yếu của halogen là muối halide có nhiều trong nước biển Em hãy cho biết hàm lượng nguyên tố halogen nào nhiều nhất trong nước biển?
A Chlorine B Fluorine C Iodine D Bromine Câu 7.Nhu cầu về nước sạch là thiết yếu và cấp
bách của con người, nước sạch được dùng cho
sinh hoạt ăn uống và sản xuất Chất phổ biến
nhất dùng để xử lí nước hiện nay là
A fluorine B chlorine
C oxygen D bromine
Câu 8 Dung dịch HF có khả năng ăn mòn thuỷ tinh là do xảy ra phản ứng hoá học
nào sau đây?
A SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O B NaOH + HF → NaF + H2O
C H2 + F2 → 2HF D 2F2 +2H2O → 4HF + O2
Câu 9 Khi điện phân dung dịch NaCl có màng ngăn, khí chlorine thoát ra có chứa
hơi nước gây ăn mòn thiết bị, dụng cụ chứa, gây khó khăn trong việc vận chuyển và
sử dụng Vì vậy phải tiến hành làm khô khí chlorine ẩm, rồi hóa lỏng vận chuyển đến nơi tiêu thụ Chất nào sau đây dùng để làm khô khí chlorine ẩm?
A Ca(OH)2 khan B H2SO4 đặc C NaOH khan D CaO rắn Câu 10 Cho các phát biểu sau:
(a) Muối iodized dùng để phòng bệnh bướu cổ do thiếu iodine
(b) Chloramine-B được dùng phun khử khuẩn phòng dịch Covid-19
(c) Nước Javel được dùng để tẩy màu và sát trùng
(d) Muối ăn là nguyên liệu sản xuất xút, chlorine, nước Javel
Số phát biểu đúng là
Câu 11 Trong cơ thể người, dịch vị dạ dày có môi trường acid (HCl), pH = 1,6 ÷
2,4 giúp hỗ trợ tiêu hóa
a) Một bệnh nhân bị đau dạ dày do thừa acid được kê đơn thuốc uống có chứa NaHCO3 Viết phản ứng minh họa tác dụng của thuốc
b) Ở 37 oC, tinh bột bị thủy phân thành glucose trong môi trường acid (HCl) có xúc tác enzyme Viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra
Trang 29Câu 12 Làm muối là nghề phổ biến tại
vùng ven biển ở huyện Quỳnh Lưu tỉnh
Nghệ An Một hộ gia đình tiến hành làm
muối trên ruộng chứa 800 000 L nước
biển Giả thiết 1 L nước biển có chứa 26
gam NaCl và hiệu suất quá trình làm
muối thành phẩm đạt 65%
Tính khối lượng muối hộ gia đình thu
được ĐS 135,20 tấn
Câu 13 Nước Javel là hỗn hợp hai muối sodium chloride (NaCl) và sodium
hypochlorite (NaClO) Muối NaClO có tính oxi hóa rất mạnh, do vậy nước Javel có tính tẩy màu và sát trùng Do đó nó thường được dùng để tẩy trắng vải, sợi, giấy và tẩy uế chuồng trại vệ sinh Trong công nghiệp, nước Javel được sản xuất bằng cách điện phân dung dịch sodium chloride nồng độ 20% trong thùng điện phân không có màng ngăn Quá trình này xảy ra hai giai đoạn
Giai đoạn 1: Sodium chloride bị điện phân thành sodium hydroxide và giải phóng
ra bị hấp thụ hoàn toàn Tính nồng độ sodium hypochlorite trong loại nước Javel này ĐS 14,06%
Câu 14 DO (Dessolved Oxygen) là lượng oxygen hòa tan trong nước cần thiết cho
sự hô hấp của các thủy sinh Khi nước bị ô nhiễm do các chất hữu cơ dễ bị phân hủy bởi vi sinh vật thì lượng oxygen hòa tan trong nước sẽ bị tiêu thụ bớt, do đó giá trị DO sẽ thấp hơn so với DO bảo hòa tại điều kiện đó Vì vậy DO được sử dụng như một thông số để đánh giá mức độ ô nhiễm chất hữu cơ của các nguồn nước
Để xác định chỉ số DO trong mẫu nước thải, một sinh viên tiến thành theo phương pháp Winkler như sau: Lấy 250 mL nước thải vào bình có nắp kín rồi thêm vào 1
mL dung dịch hỗn hợp KOH 2 M và KI 2 M, 1 mL dung dịch MnSO4 42% Lúc này sẽ xảy ra phản ứng:
2Mn2+ + O2 + 4OH- 2MnO(OH)2 (1) Thêm vào bình 2 mL H2SO4 2 M sẽ có phản ứng:
MnO(OH)2 + 4H+ + 2I- Mn2+ + I2 + 3H2O (2)
Trang 30Chuẩn độ iodine sinh ra bằng dung dịch Na2S2O3 0,025 M với chỉ thị là hồ tinh bột:
Đến khi dung dịch mất màu xanh (hết I2) thì thể tích dung dịch Na2S2O3 0,025 M
cần dùng là 11,50 mL Tính chỉ số DO (mg/L) của mẫu nước trên ĐS: 9,20
Câu 15 Để xác định hàm lượng khí độc CO trong không khí vùng có lò luyện cốc
người ta làm như sau: Lấy 29,64 lít không khí (có D = 1,2 g/L) Dẫn toàn bộ mẫu khí đó đi từ từ qua thiết bị có ống đựng với lượng dư I2O5 được đốt nóng để oxi hóa toàn bộ lượng CO có trong mẫu thành CO2 và I2, lượng I2 thành hơi và được hấp thụ hết vào bình đựng lượng dư KI tạo ra phức chất KI3 Sau đó chuẩn độ KI3bằng Na2S2O3 thì cần vừa đủ 9,312 mL dung dịch Na2S2O3 0,0022M Theo các phương trình hóa học sau:
5CO + I2O5 I2 + 5CO2
KI + I2 KI3
Biết rằng ppm là số microgam chất trong 1 gam mẫu Tính hàm lượng CO trong
mẫu không khí trên theo số ppm CO ĐS 40,32
Câu 16 Hiện nay, nước biển sâu (Deep Sea Water) được
dùng rộng rãi để phòng ngừa các bệnh lây lan qua đường
hô hấp Nước biển sâu có tác dụng sát khuẩn, kháng viêm,
săn se niêm mạc, phục hồi niêm mạc suy yếu, nhờ đó có
thể ngăn ngừa sổ mũi, ngạt mũi và viêm xoang, … Nước
biển sâu được khai thác ở độ sâu 450 m tính từ mặt biển,
nơi tia nắng mặt trời không chiếu xuống được Quy trình
xử lí khoa học và hiện đại giúp bảo toàn gần như toàn bộ
các nguyên tố vi lượng Để đảm bảo an toàn, sau khi đưa
nước biển sâu lên, nhà sản xuất tiến hành loại trừ vi khuẩn
và giữ lại các nguyên tố vi lượng Nồng độ muối trong
nước biển sâu là 3,5%, khối lượng riêng 1,03 g/mL Để
thu được chế phẩm bán trên thị trường (nồng độ muối
0,9%) thì phải trộn lẫn nước biển sâu với nước tinh khiết
theo tỉ lệ thể tích nào? ĐS 450/1339
Hình 1 Nước biển sâu
75 ml
Câu 17 Dựa vào thông tin dưới đây để trả lời các câu từ 17.1 đến 17.4
Việt nam là quốc gia có bờ biển dài trên 3000 km, nước biển sạch, có nồng độ muối sodium chloride khá cao nên nghề sản xuất muối khá phát triển Một trong
những phương pháp sản xuất muối phổ biến là phương pháp “muối cát” Ưu điểm
của phương pháp này muối thu được có hàm lượng NaCl khá cao, chi phí sản xuất thấp, tiết kiệm được diện tích các cánh đồng muối và giữ được hầu như toàn bộ các chất vi lượng có trong thành phần nước biển ban đầu
Trang 31Phương pháp sản xuất “muối cát” tóm tắt như sau: Nước biển được đưa vào
“sân phơi” qua hệ thống cống mương bằng thủy triều Trên bề mặt “sân phơi” đã
rải một lớp cát mỏng Nước biển ngấm từ dưới lên vào trong lớp cát, dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời, nước sẽ bay hơi, muối kết tinh trên bề mặt các hạt cát tạo ra
“cát mặn” “Cát mặn” được thu lại, rồi nén vào một hệ thống lọc gọi là “chạt lọc” Cho nước biển chảy chậm qua “chạt lọc” để hòa tan muối kết tinh trên các
hạt cát, thu được dung dịch muối có nồng độ cao hơn gọi là “nước chạt” Sau đó múc “nước chạt” lên “ô kết tinh” để phơi thì thu được muối biển kết tinh Muối
được cào, gom và thu lại chuyển vào kho chứa Muối biển được sản xuất bằng phương pháp này có độ tinh khiết khoảng 94%, có chứa các tạp chất gồm cát, MgCl2, MgSO4, CaCl2, CaSO4
Trong công nghiệp, từ NaCl có thể sản xuất được nhiều hóa chất quan trọng
để sử dụng trong công nghiệp, y học, khoa học hoặc cuộc sống hằng ngày Một trong những hóa chất đó là nước Javel Nước Javel là hỗn hợp hai muối NaCl và NaClO Muối NaClO có tính oxi hóa rất mạnh, do vậy nước Javel có tính tẩy màu
và sát trùng Do đó nó thường được dùng để tẩy trắng vải, sợi, giấy và tẩy uế chuồng trại vệ sinh Trong công nghiệp, nước Javel được sản xuất bằng cách điện phân dung dịch muối ăn (nồng độ từ 15 – 20%) trong thùng điện phân không có màng ngăn
Trong cuộc sống hàng ngày, muối biển đươc sử dụng làm gia vị nấu ăn Ngoài
ra nó còn được dùng để sản xuất “muối i-ốt” nhằm giải quyết vấn đề thiếu iodine cho người dân Iodine là nguyên tố vi chất quan trọng để tuyến giáp tổng hợp các hormon điều chỉnh quá trình phát triển của cơ thể Thiếu iodine ở thai phụ dễ xảy
ra sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh non, nếu thiếu iodine nặng trong giai đoạn mang thai trẻ sinh ra sẽ bị đần độn, câm, điếc,…Thiếu iodine ở trẻ em sẽ gây chậm phát triển trí tuệ, chậm lớn, nói ngọng, nghễnh ngãng, Ngoài ra, thiếu iodine còn gây
ra bướu cổ, thiểu năng tuyến giáp ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và hoạt động của cơ thể, giảm khả năng lao động, mệt mỏi, …
“Muối i-ốt” được sản xuất bằng cách thêm một lượng nhỏ iodine (dạng potassium iodide KI hoặc potassium iodate KIO3) vào muối sodium chloride
Câu 17.1: Cho 2 m3 nước biển có nồng độ
3,5%, khối lượng riêng là 1,03 g/mL chảy
qua 1 tấn “cát mặn” chứa 5% NaCl Lấy
toàn bộ “nước chạt” thu được đem lên “ô
kết tinh” để phơi Giả sử rằng 80% NaCl
trong “cát mặn” sẽ bị hòa tan vào nước, 5%
“nước chạt” bị hao hụt, hiệu suất kết tinh
NaCl từ “nước chạt” đạt 90% Tính khối
lượng NaCl (chứa 6% tạp chất) thu được Hình 1: Sản xuất “muối cát” ở
Nghệ An
Trang 32Câu 17.2: Hãy trình bày phương pháp hóa
học để tinh chế một lượng nhỏ loại muối ăn
này thành NaCl tinh khiết sử dụng trong
phòng thí nghiệm Viết phương trình hóa
học của các phản ứng xảy ra
Hình 2: Muối NaCl tinh khiết
được sử dụng trong phòng thí
nghiệm (nguồn internet)
Câu 17.3: Loại nước javel dùng để tẩy vết
bẩn quần áo trên thị trường thường được
đóng vào chai dung tích 1 L có nồng độ
NaClO và NaCl lần lượt là 6% và 5% (d =
1,1 g/mL) Tính khối lượng NaCl nguyên
chất và thể tích nước cần để sản xuất ra
1000 chai nước javel nói trên
Hình 3: Nước javel dùng để tẩy vết
bẩn trên quần áo (nguồn internet)
Câu 17.4:
a) Hãy giải thích vì sao khi sử dụng KI
trộn vào muối ăn thì lượng iodine sẽ bị mất
dần theo thời gian trong quá trình bảo quản
và sử dụng muối?
b) Để xác định hàm lượng iodine (dạng
KIO3) trong một mẫu “muối i-ốt” Một sinh
viên tiến hành như sau:
Cân 30g “muối i-ốt” rồi hòa tan với 90 mL
nước cất (đã đun sôi để đuổi hết oxygen)
trong bình nón 250 mL (có nút nhám) thêm
1ml dung dịch KI 1 M, 1 mL dung dịch
H3PO4 85% Đậy nắp và lắc nhanh mẫu, để
mẫu yên tĩnh nơi tối 5 phút
Sau 5 phút, thêm 1ml dung dịch hồ tinh bột
1%, rồi đem chuẩn độ chậm (4 giây một
giọt) bằng dung dịch Na2S2O3 0,005 mol/L
tới khi mất màu thì thể tích dung dịch
Na2S2O3 đã dùng là 9,0 mL Hãy tính hàm
lượng iodine (mg/kg muối) trong mẫu muối
Hình 4: Thiếu iodine có thể gây nên
bệnh bướu cổ (nguồn internet)
Trang 33A CaCO3 B NaHCO3 C FeO D MnO2
Câu 19 Cho các dung dịch hydrochloric acid, sodium chloride, iodine, ký hiệu
ngẫu nhiên X, Y, Z Một số kết quả thí nghiệm được ghi ở bảng sau:
Z Baking soda, NaHCO3 Có bọt khí bay ra
Các dung dịch ban đầu được kí hiệu tương ứng là
A Z, Y, X B Y, X, Z C Y, Z, X D X, Z, Y
Câu 20 Cho các dung dịch: hydrofluoric acid, potassium iodide, sodium chloride,
ký hiệu ngẫu nhiên là X, Y, Z Khi dùng thuốc thử silicon dioxide và silver nitrate
để nhận biết Y, Z thu được kết quả cho trong bảng sau:
Y silicon dioxide silicon dioxide bị hòa tan
Các dung dịch ban đầu được kí hiệu tương ứng là
A Z, Y, X B Y, X, Z C Y, Z, X D X, Z, Y
Câu 21 Có hai ống nghiệm, mỗi ống chứa 2 ml dung dịch muối X của kali Cho
vài giọt dung dịch AgNO3 vào ống thứ nhất, thu được kết tủa màu vàng Nhỏ vài giọt nước Br2 vào ống thứ hai, lắc đều rồi thêm hồ tinh bột, thấy có màu xanh tím Xác định công thức hoá học của X và viết phương trình hoá học của các phản ứng
Câu 22: Tiến hành một thí nghiệm như
sau: Cho vào ống nghiệm khô một vài
tinh thể potassium permanganate, nhỏ
tiếp vào ống nghiệm vài giọt dung dịch
hydrochloric acid đậm đặc Đậy kín ống
nghiệm bằng nút cao su có đính một
băng giấy màu ẩm như hình vẽ:
Hình 7.11 Thí nghiệm điều chế và thử tính tẩy màu của chlorine
Trang 34a Hãy nêu hiện tượng quan sát được, giải thích?
b Một số học sinh trong quá trình làm thí nghiệm trên thấy nút cao su bị bật ra
Em hãy nêu nguyên nhân và cách khắc phục
c Em hãy nêu một giải pháp để hạn chế tối đa khí chlorinethoát ra môi trường sau khi làm xong thí nghiệm trên và giải thích cách làm
Câu 23 Trong phòng thí nghiệm, khí chlorine được điều chế, làm khô và thu vào
bình theo sơ đồ dưới đây
Hãy đề xuất một dung dịch để sử dụng cho từng mục đích sau:
a) Cho vào bình làm khô để làm khô khí Cl2
b) Tẩm vào bông đậy bình thu khí để hạn chế khí Cl2 bay ra Giải thích và viết phương trình hoá học minh hoạ nếu có
Câu 24 Thực hiện thí nghiệm thử tính tan của hydrogen chloride theo các bước
sau:
- Bước 1: chuẩn bị một bình khô chứa khí HCl, đậy
bình bằng nút cao su có ống thủy tinh xuyên qua
vào một cốc nước
- Bước 2: nhúng ống thủy tinh vào cốc nước, thấy
nước phun vào bình (xem hình bên)
a) Hiện tượng nước phun vào bình cho thấy áp suất
khí HCl trong bình đã tăng hay giảm rất nhanh Giải
thích
b) Sự biến đổi áp suất như vậy đã chứng tỏ tính chất
khí HCl
Câu 25 Có 2 ống nghiệm một ống chứa 20 lít dung dịch muối của sodium cho vài
giọt dung dịch AgNO3 vào ống thứ nhất thu được kết tủa màu vàng nhạt Nhỏ vài giọt nước Cl2 vào ống thứ hai, lắc nhẹ, thêm 1 ml benzene và lắc đều, thấy benzene
từ không màu chuyển sang màu da cam Xác định công thức muối sodium và viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra
Trang 353.4 Một số biện pháp sử dụng bài tập hóa học trong dạy học để phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh
3.4.1 Sử dụng BTHH phối hợp với DHGQVĐ trong bài dạy hình thành kiến thức mới
Bài tập nhằm phát triển NLVDKTKN sử dụng trong nghiên cứu bài mới thường là những BT chứa đựng các vấn đề liên quan đến nội dung học tập cần được HS tìm hiểu, làm rõ trên cơ sở kiến thức môn học Trong bài dạy hình thành kiến thức mới, BT phát triển NLVDKTKN được sử dụng thích hợp trong các hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức và củng cố vận dụng Khi phối hợp với DH GQVĐ, GV sử dụng BT để nêu vấn đề, tổ chức cho HS phát hiện vấn
đề cần tìm hiểu, đề xuất câu hỏi nghiên cứu và vận dụng các KT, KN đã có để lập
kế hoạch và thực hiện kế hoạch GQVĐ Khi HS nhận xét, ĐG quá trình giải BT, trình bày kết luận về vấn đề đã tìm tòi nghiên cứu trong BT thì HS cũng thu nhận được kiến thức mới Từ đó GV sử dụng BT để tổ chức cho HS thực hiện hoạt động vận dụng KT, KN thu nhận được để tìm hiểu vấn đề trong các tình huống có biến đổi giúp HS phát triển, mở rộng kiến thức
3.4.2 Sử dụng BTHH trong bài dạy ôn tập, luyện tập
Sử dụng bài tập định hướng phát triển NL rất thích hợp với kiểu bài dạy ôn tập, luyện tập vận dụng kiến thức nhất là khi sử dụng phối hợp với DHHĐ GV lựa chọn BT để xây dựng hợp đồng học tập cho HS do vậy cần chú ý chọn các bài tập
để đảm bảo tính đa dạng của BT và đáp ứng mục tiêu giáo dục, phù hợp với các nhiệm vụ học tập như: nhiệm vụ bắt buộc – nhiệm vụ tự chọn; nhiệm vụ cá nhân
và nhiệm vụ hợp tác; nhiệm vụ độc lập và nhiệm vụ được hướng dẫn… Sự kết hợp
sử dụng BT định hướng phát triển NL với DHHĐ GV có thể yêu cầu HS tìm hiểu các vấn đề học tập, vấn đề của thế giới tự nhiên có liên quan thông qua các nhiệm
vụ đa dạng và các hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, phù hợp với các mức độ nhận thức của nhiều đối tượng HS Từ các sản phẩm của hoạt động này mà các biểu hiện của NLVDKTKN của HS được biểu lộ và GV có thể ĐG được thông qua các tiêu chí của NL này
Ví dụ 2: Hiện nay, nước biển sâu (Deep Sea
Water) được dùng rộng rãi để phòng ngừa các bệnh lây
lan qua đường hô hấp Nước biển sâu có tác dụng sát
khuẩn, kháng viêm, săn se niêm mạc, phục hồi niêm mạc
suy yếu, nhờ đó có thể ngăn ngừa sổ mũi, ngạt mũi và
viêm xoang, … Nước biển sâu được khai thác ở độ sâu
450 m tính từ mặt biển, nơi tia nắng mặt trời không
chiếu xuống được Quy trình xử lí khoa học và hiện đại
giúp bảo toàn gần như toàn bộ các nguyên tố vi lượng Để
đảm bảo an toàn, sau khi đưa nước biển sâu lên, nhà sản
xuất tiến hành loại trừ vi khuẩn và giữ lại các nguyên tố
vi lượng Nồng độ muối trong nước biển sâu là 3,5%,
khối lượng riêng 1,03 g/mL Để thu được chế phẩm bán
trên thị trường (nồng độ muối 0,9%) thì phải trộn lẫn
nước biển sâu với nước tinh khiết theo tỉ lệ thể tích nào?
Hình 1 Nước biển sâu 75 ml
Trang 36Các biểu hiện của NLVDKTKN được thể hiện qua việc giải BT này gồm:
- Tiêu chí 1: Phát hiện giải thích các hiện tượng thực tiễn có trong bài tập: nước biển sâu (Deep Sea Water) được dùng rộng rãi để phòng ngừa các bệnh lây lan qua đường hô hấp Nước biển sâu có tác dụng sát khuẩn, kháng viêm, săn se niêm mạc, phục hồi niêm mạc suy yếu, nhờ đó có thể ngăn ngừa sổ mũi, ngạt mũi
và viêm xoang, … Nước biển sâu được khai thác ở độ sâu 450 m tính từ mặt biển, nơi tia nắng mặt trời không chiếu xuống được
- Tiêu chí 2: Phân tích, đề xuất khả năng tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra trong bài tập và dự đoán kết quả
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng và công thức tính nồng độ %
- Tiêu chí 3: HS vận dụng kiến thức kỹ năng đã học và kiến thức đề bài cung cấp để giải bài tập
- Tiêu chí 4: Góp phần định hướng nghề nghiệp trong tương lai
3.4.3 Sử dụng BTHH trong kiểm tra, đánh giá
Một trong những khâu quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học môn hóa học nói riêng là việc kiểm tra và đánh giá HS Thông qua kiểm tra, đánh giá,
GV có thể nắm rõ hơn về năng lực VDKTKN của HS, giúp GV phân hóa được HS,
từ đó điều chỉnh phương pháp, nội dung dạy học phù hợp nhằm giúp HS nắm được kiến thức một cách tốt nhất và đạt hiệu quả dạy và học cao nhất
Có thể sử dụng nhiều phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau, phù hợp với nôi dung bài học và đối tượng học sinh trong suốt quá trình dạy và học như: kiểm tra viết, kiểm tra vấn đáp, thực hành… Các bài kiểm tra nên đa dạng hình thức, nội dung, tăng cường các bài tập thực tiễn, phát triển tư duy, kích thích niềm yêu thích và hứng thú học tập của HS
Ví dụ: Các đề kiểm tra 15 phút và 45 phút phần phụ lục 5 và 6
3.4.4 Sử dụng BTHH cho HS tự học ở nhà
BT về nhà là nhiệm vụ cần thiết giúp HS ghi nhớ và áp dụng kiến thức đã học, giúp các em ghi nhớ và khắc sâu về các kiến thức đó, bên cạnh đó, HS có cơ hội liên hệ với thực tế cuộc sống nhiều hơn
Các dạng bài tập được chia thành từng dạng Nếu gặp khó khăn khi giải bài tập ở từng dạng, HS cần đọc kỹ phần phương pháp, nắm vững các kiến thức có liên quan và các phương pháp giải, hiểu rõ các bài tập mẫu và sau đó mới tiến hành giải các bài tập tương tự HS có thể tham khảo đáp án để kiểm tra xem mình làm đúng hay sai Dạng bài tập nào bản thân chưa nắm vững thì dành nhiều thời gian hơn cho dạng bài tập đó
Trong mỗi dạng, các bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó Nếu thấy câu hỏi
đó tương đối dễ thì HS chỉ cần nhẩm nhanh và kiểm tra đáp án HS nên tập trung
Trang 37các bài toán khó thì không nên quá lo lắng, có thể chia nhỏ bài toán, suy nghĩ từng phần và nhớ chú ý vào các dữ kiện cốt lõi Nếu vẫn chưa tìm ra hướng giải quyết
có thể trao đổi với bạn bè, thầy cô
Sau khi làm bài tập tự luận, HS bắt tay vào làm bài tập TNKQ Đây là phần bài tập để HS tự tìm phương pháp giải; giúp HS kiểm tra kiến thức, kỹ năng giải bài tập và củng cố kiến thức đã học ở từng bài
HS không thể bỏ qua phần bài tập tổng hợp và nên làm bài taaph tổng hợp song song Bài tập tổng hợp không chỉ giúp HS kiểm tra kiến thức, kỹ năng vận dụng KTKN và củng cố kiến thức đã học ở các phần mà còn giúp HS tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức
3.5 Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho HS
3.5.1 Phiếu đánh giá theo tiêu chí
- Mục đích: Giúp GV có cơ sở để quan sát các hoạt động học tập của HS, từ
đó dựa vào những tiêu chí của NLVDKTKN để đánh giá kiến thức, kĩ năng và NLVDKTKN cho HS trong quá trình dạy học với những mục tiêu đã đề ra
- Yêu cầu: Phiếu đánh giá cần bám sát các tiêu chí của năng lực VDKTKN,
các tiêu chí cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu
- Quy trình thiết kế:
+ Xác định mục tiêu, lựa chọn thời điểm, đối tƣợng quan sát và đánh giá + Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và đối tƣợng, tiến hành xây dựng các tiêu chí để quan sát đánh giá
+ Hoàn thiện phiếu, các mức độ dùng để đánh giá cho phù hợp
- Phiếu đánh giá theo tiêu chí NLVDKTKN của HS (dành cho GV)–Phụ lục 4
3.5.2 Bài kiểm tra
- Bài kiểm tra 15 phút – phụ lục 5
- Ma trận và bài bài kiểm tra 45 phút – phụ lục 6
3.5.3 Phiếu tự đánh giá của HS - phụ lục 7
3.6 Thiết kế một số kế hoạch bài học minh họa
KHBD – HYDROGEN HALIDE MUỐI HALIDE – PP HỢP ĐỒNG
I MỤC TIÊU
1 Năng lực
1.1 Năng lực chung
- Năng lực tự chủ tự học: HS nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ, trả lời câu hỏi
tìm hiểu về hydrogen halide và muối halide (1)